Một trong những giống nhãn cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế ựó là giống nhãn chắn muộn HTM-1.Giống nhãn này có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGÔ THỊ TÚ QUYÊN
BÓN LÁ ðẾN NĂNG SUẤT, PHẨM CHẤT GIỐNG NHÃN CHÍN MUỘN HTM-1 TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM RAU HOA QUẢ GIA LÂM-HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Ngô Thị Tú Quyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành bản luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận ñược sự giúp ñỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến PGS.TS Vũ Quang Sáng, người
ñã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Viện Sau ñại học, khoa Nông học, bộ môn Sinh lý thực vật - trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tạo mọi ñiều kiện thuận lợi giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Xin cảm ơn gia ñình, ban bè và ñồng nghiệp ñã giúp ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Tác giả
Ngô Thị Tú Quyên
Trang 41.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 3
2.2 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây nhãn 13
2.4 Những nghiên cứu chung thúc ñẩy quá trình ra hoa ñậu quả và
3.1 ðối tượng ñịa ñiểm, thời gian nghiên cứu 40
4.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 nồng ñộ khác nhau ñến năng
suất, chất lượng của nhãn muộn HTM-1 47 4.3.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất chất lượng quả nhãn
Trang 6DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới [69] 9 2.2 Năng suất nhãn của Thái Lan và Trung Quốc qua các năm [69] 10 2.3 Diện tích, sản lượng nhãn của một số ñịa phương một số năm gần ñây 12 2.4 Giá bán nhãn một số năm gần ñây tại Trung tâm Nghiên cứu thực
2.5 Một số chỉ tiêu về kích thước lá của giống nhãn chín muộn
2.6 Một số ñặc ñiểm và thời gian ra lộc của cây 16 2.7 ðặc ñiểm ra hoa của giống nhãn chín muộn HTM-1 18 2.8 Lượng phân bón hoá học cho vườn nhãn kinh doanh - Viện Nông
2.9 Lượng phân bón cho cây theo tuổi (kg/cây) 25 2.10 Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển của cây 35 2.11 Tình hình sâu bệnh hại trên cây nhãn HTM-1 39 4.1 Ảnh hưởng của GA3 nồng ñộ khác nhau ñến khả năng giữ quả ở
các công thức thí nghiệm qua các ngưỡng thời gian khác nhau 48 4.2 Ảnh hưởng của GA3 nồng ñộ khác tới ñộng thái tăng trưởng quả
4.3 Ảnh hưởng của GA3 ñến các yếu tố cấu thành năng suất 53 4.4 Ảnh hưởng của GA3 tới thành phần cơ giới quả 55 4.5 Ảnh hưởng của GA3 tới một số chỉ tiêu chất lượng quả 56 4.6 Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế của việc sử dụng GA3 nồng ñộ
khác nhau (Tính cho 1ha tương ñương với 400 cây) 58 4.7 Ảnh hưởng của α- NAA 40ppm và GA3 ñến khả năng giữ quả của cây 60
Trang 74.8 Ảnh hưởng của α- NAA 40ppm và GA3 ở nồng ñộ khác nhau ñến
4.9 Ảnh hưởng của α- NAA 40 ppm và GA3 ở nồng ñộ khác nhau ñến
4.10 Ảnh hưởng của α- NAA 40ppm và GA3 ở nồng ñộ khác nhau tới
4.11 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng α –NAA và GA3 trên cây nhãn
muộn HTM-1 (Tính cho 1ha tương ñương 400 cây) 67 4.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng giữ quả của cây 69 4.13 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất và
4.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến thành phần cơ giới quả 72 4.15 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến chất lượng quả 74 4.16 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá trên cây nhãn
muộn HTM-1.(Tính cho 1ha tương ñương với 400 cây) 74
Trang 8
4.5 Ảnh hưởng của α- NAA 40ppm và GA3 ở nồng ñộ khác nhau ñến
4.6 Bảng ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng giữ
4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất của cây 71
Trang 9
1 MỞ đẦU
1.1 đặt vấn ựề
Cây nhãn (Dimocarpus longan Lour) là cây ăn quả quen thuộc với
người Việt Nam Cây nhãn nhiều tuổi nhất ựược trồng cách ựây trên 300 năm tại chùa Hiến phường Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên [17] Quả nhãn ựược xếp vào loai quả ngon có giá trị dinh dưỡng cao Cùi nhãn có hàm lượng ựường tổng số chiếm 12,38 Ờ 22,55%, trong ựó ựường khử là 3,85 - 10,16%, hàm lượng axit 0,09 - 0,10%, hàm lượng Vitamin C từ 43,12 Ờ 163,70 mg/3100g, hàm lượng Vitamin K chiếm 196mg/100g Ngoài ra trong cùi nhãn còn chứa các chất khoáng như Ca, P, Fe, ựều là những chất cần thiết cho cơ thể con người [48,2] Quả nhãn có thể dùng cho ăn tươi, làm ựồ hộp sấy khô, làm long nhãn, ựều là những sản phẩm ựược nhiều người tiêu dùng
ưu chuộng
Các sản phẩm từ quả nhãn còn ựược sử dụng làm thuốc quý trong đông y như long nhãn, hạt nhãn, vỏ quả Long nhãn có thể sử dụng làm thuốc bổ ựiều trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trắ nhớ, mất ngủ hay hoảng hốt [39] Nhãn là cây cung cấp nguồn mật quan trọng có giá trị dinh dưỡng, có giá trị y học cao Gỗ nhãn ựược dùng ựể ựóng các ựồ gia dụng có
ựộ bền cao, chất lượng thẩm mỹ tốt [48] Nhãn là cây phổ thắch nghi rộng nên
có thể trồng ựược ở nhiều vùng sinh thái khác nhau
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá ựược trao ựổi mạnh
mẽ giữa các vùng miền trong nước và cả nước ngoài, các sản phẩn từ nhãn
ựã trở thành mặt hàng có giá trị trên thị trường, nhất là với thị trường Trung Quốc Trồng nhãn mang lại giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác Do ựó ựã hình thành nhiều vùng nhãn lớn như Hưng yên, Sông
Mã Ờ Sơn La, Sóc Trăng, đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long.v.v Nhãn lồng
Trang 10Hưng Yên từ lâu ựược coi là loại quả nổi tiếng nhất, là một trong những loại quả quý hiến vua Quả nhãn lồng Hưng Yên ựược Lê Quý đôn mô tả: Ộ Mỗi lần bỏ vào miệng thì trong răng lưỡi ựã nảy ra vị thơm tựa như thấm nước ngọc của trời choỢ[10] Cây nhãn lồng gắn bó mật thiết với ựời sống, kinh tế
xã hội, là tài sản vật chất và tinh thần của người Hưng Yên
Tuy nhiên, phát triển nhãn gặp không ắt khó khăn, có thể kể ựến như: sản xuất nhỏ lẻ không tập trung thành vùng lớn, không ựồng bộ về giống, mức
ựộ thân canh không ựồng ựều, dẫn tới sản lượng thu hoạch không lớn, giảm sức cạnh tranh, ựiều này càng khó hơn khi ra nhập AFTA, WTO, nơi ựòi hỏi cao về các tiêu chuẩn hàng hóa
Trong những năm gần ựây, cây nhãn là loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao, chắnh vì vậy mà ở nhiều vùng biết ựến như một cây xoá ựói giảm nghèo và ựóng góp ựáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế cho nhiều ựịa phương
ở miền Bắc Một trong những giống nhãn cho năng suất cao và hiệu quả kinh
tế ựó là giống nhãn chắn muộn HTM-1.Giống nhãn này có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, cho năng suất cao, chất lượng quả ngon Quả nhãn to ựạt 55- 60 quả/kg, tỷ lệ phần ăn ựược trung bình 67,5%, ựộ Brix là 21,9%, thời gian thu hoạch từ 1-9 ựến ngày 20-9 Trong khi
ựó giống nhãn muộn của Hưng Yên cũng chỉ giữ trên cây tối ựa ựến ngày
15-9 khi giống nhãn Hưng Yên bắt ựầu khô, nhạt thì nhãn HTM-1 vẫn chưa ựến
ựộ chắn So với nhãn muộn của Thái Lan, Trung Quốc, nhãn HTM-1 cũng không thua kém về chất lượng quả và tắnh ổn ựịnh Hiện nay ựã có 7 loại nhãn muộn, ựánh số từ HTM-1ựến HTM-7, Trong ựó giống HTM-1 ựã ựược hội ựồng Khoa học Công nghệ - Bộ NN& PTNT công nhận cùng với 2 giống của tỉnh Hưng Yên và cho phép trồng rộng rãi ở miền Bắc
Nhưng có một khó khăn rất lớn ựối với người trồng nhãn là nhãn thường chắn tập trung, thời vụ thu hoạch ngắn Khi ra hoa, kết quả nhãn bị
Trang 11rụng nhiều mẫu mã xấu, sâu bệnh gây hại dẫn ựến năng suất không ổn ựịnh, ảnh hưởng ựến thu nhập của người nông dân Vì vậy, việc nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tác ựộng ựến quá trình sinh trưởng và phát triển rất cần thiết ựể góp phần nâng cao năng suất phẩm chất và hiệu quả kinh tế của cây nhãn, chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài:
ỘNghiên cứu ảnh hưởng của GA3, α-NAA và phân bón lá ựến năng suất ,
phẩm chất giống nhãn chắn muộn HTM-1 tại Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm rau hoa quả Gia Lâm- Hà NộiỢ
1.2 Mục ựắch, yêu cầu của ựề tài
1.2.1 Mục ựắch
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh và ảnh hưởng của một
số chất ựiều hòa sinh trưởng nhằm tăng năng suất quả nhãn, trên cơ sở ựó tìm
ra một số giải pháp kỹ thuật nhằm bổ sung xây dựng quy trình chăm sóc theo hướng sản suất hàng hóa
1.2.2 Yêu cầu
- đánh giá hiện trạng sản suất và kỹ thuật trồng chăm sóc cây nhãn tại vùng nghiên cứu
- Xác ựịnh ảnh hưởng nồng ựộ GA3 thắch hợp cho năng xuất, phẩm chất cao
- Xác ựịnh ựược công thức phối hợp α-NAA 40ppm với nồng ựộ GA3 thắch hợp nhất
- Xác ựịnh ựược loại phân bón lá thắch hợp cho cây nhãn muộn HTM -1
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- đề tài có ý nghĩa trong việc xác ựịnh một số yếu tố ảnh hưởng ựến sự
sinh trưởng, phát triển của quả, trên cơ sở này có thể xác ựịnh ựược các
Trang 12biện pháp kỹ thuật ñiều chỉnh sự sinh trưởng, phát triển quả nhãn theo hướng mong muốn
- Khẳng ñịnh ñược tầm quan trọng của khâu kỹ thuật trồng thâm canh cây nhãn nói riêng và cây ăn quả nói chung
- Kết quả của ñề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo ñể
hoàn thiện qui trình thậm canh nhãn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác ñịnh ñược nồng ñộ của một số chất ñiều tiết sinh trưởng và phân bón lá nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất quả giống nhãn chín muộn HTM-1
- Kết quả thu ñược qua nghiên cứu góp phần bổ sung xây dựng quy trình thâm canh cây nhãn ở miền Bắc
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng luôn tồn tại cơ chế ñiều hòa
các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với ñiều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Cơ chế này do các chất ñiều hòa sinh trưởng có trong cây, nó ñiều chỉnh các hoạt ñộng sinh lý cũng như sự hình thành các cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ có tác dụng quyết ñịnh tới năng suất thu hoạch
Năng suất chất lượng sản phẩm thu hoạch của cây ăn quả phụ thuộc vào giống, khả năng sinh trưởng phát triển và sự tác ñộng của ñiều kiện tự nhiên cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác Biện pháp kỹ thuật hợp lý có tác ñộng rất lớn ñến cây trồng phát triển ñược tiềm năng năng suất, thậm chí nâng cao chất lượng sản phẩm thu hoạch Ngược lại nếu tác ñộng không hợp lý sẽ gây thiệt hại không nhỏ trong sản xuất Vậy cần có biện pháp ñiều chỉnh quá trình sinh trưởng phát triển của cây, ñảm bảo ổn ñịnh năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch, ñồng thời kéo dài chu kỳ kinh doanh của vườn quả
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây nhãn
Theo nhiều nhà khoa học thì nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, ñời Hán Vũ ðế cách ñây hơn 2000 năm, ñã có sách ghi chép về nhãn [35,2] Một số ý kiến cho rằng nguồn nhãn có từ Ấn ðộ, nơi trồng nhiều nhãn thuộc vùng tây Ghats có ñộ cao 1000m [64]
Nhãn ñược trồng ở nhiều nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan,
Ấn ðộ, Malaisia, Philippin, Việt Nam … Cho ñến cuồi thế kỷ 19 nhãn mới ñược ñưa trồng ở châu Mỹ, Châu Phi, Châu ðại Dương ở các vùng Nhiệt ñới và Á nhiệt ñới
Trang 14Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều nhãn nhất trên thế giới, diện tắch nhãn của Trung Quốc ựến năm 1995 ước tắnh khoảng hơn 8 vạn ha, các ựịa phương trồng nhãn nhiều và tập trung là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng đông,
Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Hải Nam Trong ựó Phúc Kiến là nơi trồng nhãn nhiều và lâu ựời nhất, chiếm khoảng gần 50% diện tắch của cả nước Ở ựây còn tồn tại nhiều cây nhãn cổ thụ trên 100 năm tuổi, ựặc biệt có một số cây trên
380 năm tuổi Ở Quảng Tây, nhãn ựược trồng nhiều hai bên ựường từ Phúc Châu ựến Hạ Môn có chiều dài hơn 300 km, có nơi mở rộng ựến 30 Ờ 40km Ở Quảng đông, nhãn ựược trồng nhiều tập trung ở vùng Châu Giang [34]
Ở Thái Lan, giống nhãn ựược nhập từ Trung Quốc và ựược trồng với diện tắch tương ựối lớn với khoảng 31.855 ha [48] nhãn ựược trồng chủ yếu ở các tỉnh phắa Bắc, đông Bắc và vùng ựồng bằng miền Trung, nổi tiếng nhất là
ở các vùng như: Chiềng Mai, Lam Phun, Prae Nhãn Thái Lan chủ yếu ựược tiêu thụ trong nước, ngoài ra còn xuất khẩu sang thị trường Malaisia, Philippin, Xingapo, Hồng Kông và các nước Tây Âu[42,69]
Ở Việt Nam, cây nhãn ựược trồng lâu ựời ở Phố Hiến, xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên có tuổi thọ trên 300 năm Theo giáo Vũ Công Hậu thì
có thể Miền Bắc nước ta là một trong những vùng quê hương của cây nhãn [17]
Những năm gần ựây, đảng và Nhà nước ựang có chủ trương ựẩy mạnh trồng cây ăn quả, cải tạo vườn tạp trên các vườn ựồi trung du và miền núi, công tác này vừa giúp người dân ựịa phương có nguồn thu nhập từ nghề làm vườn, góp phần ựòi giảm nghèo, phủ xanh ựất trống ựồi núi trọc, cải tạo môi trường, môi sinh Với ưu thế là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, diện tắch trồng nhãn ựang ựựơc mở rộng hầu khắp các vùng trên cả nước: đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phắa Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, một số tỉnh Miền
Trang 15Trung và Tây Nguyên Cho ñến nay ñã hình thành nhiều vùng nhãn tập trung có diện tích lớn như Hưng Yên, Sông Mã - Sơn La, Vĩnh Châu – Sóc Trăng, Cao Lãnh - ðồng Tháp, ðồng Phú – Vĩnh Long Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2005 diện tích nhãn cả nước là 120.300 ha, sản lượng ñạt 628.800 tấn Trong ñó ñồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn nhất (47.700 ha), sản lượng (413.000 tấn) [42]
2.1.2 Phân loại và giống nhãn
Ở Việt Nam, sự phân loại các giống nhãn còn mang tính chất tương ñối, ở các tỉnh phía Nam các giống nhãn phong phú hơn miền Bắc nhưng cây thường bé hơn, ra quả sớm hơn, có nhiều vườn có diện tích lớn và thường ñược chia thành 2 nhóm chính: Nhóm nhãn cùi mỏng, hạt to và nhóm cùi dày, hạt nhỏ [40] Các giống nhãn ñược trồng nhiều ở miền Nam là: Nhãn tiêu da bò, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn tiêu lá bầu, nhãn long, nhãn giồng da bò, nhãn Vĩnh Châu
Giống nhãn xuồng cơm vàng và tiêu lá bầu có nguồn gốc ở Bà Rịa-Vũng Tàu và huyện Chợ Lách – Bến Tre ñã ñược Viện nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam tuyển chọn là 2 giống có năng suất cao và chất lượng tốt Hai giống này ñã ñược Bộ NN & PTNT công nhận và ñưa ra phổ biến rộng trong sản xuất [44]
Ở Miền Bắc, do ñặc ñiểm khí hậu có một mùa ñông lạnh nên các giống nhãn ở ñây chỉ cho thu hoach một vụ quả trong năm Theo Viện Nghiên cứu rau quả [54] thì các giống nhãn cũng ñược xếp vào hai nhóm chủ yếu:
-Nhóm nhãn cùi: Nhãn lồng, nhãn cùi, nhãn cùi gỗ, cùi hoa nhài, cùi ñiếc, hương chi, bàm bàm, ñường phèn
- Nhóm nhãn nước: Nhãn nước, ñầu nước cuối cùi, nhãn thóc và nhãn trơ Dựa vào thời gian thu hoạch có thể chia nhãn thành 3 nhóm
Trang 16- Nhóm chắn sớm: Thời gian thu hoạch từ 15-30/7
- Nhóm chắnh vụ: Thời gian thu hoạch từ 10/8 Ờ 25/8
- Nhóm chắn muộn: Thời gian thu hoạch từ 25/8 Ờ 15/9
Thông qua các hội thi cây nhãn ưu tú và ựiều tra tuyển chọn nhãn tại Hưng Yên, Lào Cai, Yên Bái của Viện Nghiên cứu Rau quả [57], tại Hưng Yên của Viện cây lương thực và thực phẩm Hải Dương [29], tại Yên Sơn, Tuyên Quang của Trường ựại học Nông lâm Thái Nguyên [54] rất nhiều cây nhãn ựầu dòng có năng suất cao, ổn ựịnh, phẩm chất tốt ựược Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận Các cây này ựều thuộc nhóm nhãn cùi và ựây là nguồn vật liệu khởi ựầu quý giá cho công tác chọn tạo giống mới
để tuyển chọn các giống nhãn tốt bổ sung vào cơ cấu giống, năm 1999 Viện nghiên cứu rau quả phối hợp với sở KHCN & MT Hưng Yên tổ chức cuộc thi tuyển chọn các giống nhãn tốt và ựã tuyển chọn ra ựược một số giống nhãn ngon [54], qua một thời gian trồng và theo dõi ựã tuyển chọn ựược một
số giống nhãn chắn muộn (PH Ờ M99.1.1, PH Ờ M99.1.2, HTM 1) Các giống này ựã ựược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và ựã cho năng suất cao, ổn ựịnh ở nhiều ựịa phương [22]
Trung Quốc có các giống: đại Ô Viên, Thạch Hiệp, Trữ Lương, Phúc Nhãn, Ô Long Linh, đông Bắch, Quảng Nhãn, Băng đường Nhục [33,34] Ngoài các giống nhãn trên, ở Trung Quốc còn có một số giống nhãn ựặc biệt khác như giống long nhãn tháng 12 vì hàng năm ựến tháng 3 âm lịch cây ra hoa kết quả nhưng phải ựến tháng 12 quả mới chắn, quả to, vỏ mỏng, cùi dày
và nhiều nước, một giống khác nữa là nhãn không hạt vì quả chỉ có vỏ và cùi
mà không có hạt, cùi ngọt sắc [50]
Bằng công tác lai tạo, Zujin Xu ựã tạo ra ựược dòng lai chắn muộn có
Trang 17chất lượng cao ỘYouyi 106 Ợ, dòng này ựược ựánh giá từ năm 1995 tại Viện nghiên cứu Cây ăn quả Putian
Ở Thái Lan có các giống nhãn: Daw, Chompoo, Hacw, Baidum, Talub Nak, Phetsakon, Biew Ờ kiew [69]
Các giống nhãn ở đài Loan ựược xếp thành 3 nhóm giống: giống chắn sớm, giống chắn chắnh vụ và giống chắn muộn Các giống ựược trồng chủ yếu gồm: nhãn vỏ ựỏ, nhãn vỏ xanh, nhãn trên có vỏ phấn, nhãn tháng 10,
Honhko, Fengko và Chinhko [47,69]
2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới
Ở Trung Quốc, cây nhãn ựược trồng tập trung chủ yếu ở các tỉnh duyên hải vùng đông Nam: Phúc Kiến, đài Loan, Quảng đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, ngoài ra còn trồng lẻ tẻ ở Vân Nam và Quý Châu Riêng Phúc Kiến, diện tắch trồng nhãn trên 11300 ha (năm 1997) và sản lượng năm cao nhất (1995) là 50,7 nghìn tấn
Bảng 2.1: Diện tắch và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới [69]
Sản lượng nhãn của Thái Lan năm 1990 ựạt 123.000 tấn và ựến năm
1998 ựạt 238.000 tấn, chủ yếu trồng ở Miền Bắc, đông Bắc và vùng ựồng bằng Miền Trung, nổi tiếng nhất là các vùng Chiềng Mai, Lam Phun và Prae
Trang 18Thái Lan là nước xuất khẩu nhãn lớn nhất trên thế giới (khoảng 50% tổng sản lượng nhãn cả nước) Năm 1997, sản lượng nhãn xuất khẩu của Thái Lan là 135.923 tấn (bao gồm nhãn tươi, nhãn sấy khô, nhãn ñông lạnh và nhãn ñóng hộp) với giá trị 201 triệu USD Các nước nhập khẩu nhãn chính của Thái Lan là Hồng Kông, Indonesia, Singapo, Canada, Malaysia, Trung Quốc, Anh, Pháp[48] Diện tích nhãn của Úc năm 1995 khoảng 200 ha, cho ñến năm 2000
ñã có khoảng 72.000 cây ñã ñược trồng mới Ở Mỹ, nhãn ñược trồng tập trung ở phía nam Florida và các giống nhãn ñược ñem từ Trung Quốc sang vào những năm 1940 Sản phẩm nhãn của Mỹ chủ yếu ñược bán ở thị trường ñịa phương Ở các nước khác, nhãn ñược trồng với diện tích nhỏ hơn như Campuchia, Lào, Myanma, Inñonexia, Malaixia Các nước khác như ấn ðộ, Nam Phi diện tích trồng nhãn rất nhỏ vì họ ưu tiên cho cây vải Các giống nhãn ñược trồng chủ yếu nhập từ Thái Lan, Israel và sản phẩm của các nước này là tiêu thụ nội ñịa[69]
Bảng 2.2: Năng suất nhãn của Thái Lan và Trung Quốc qua các năm [69]
(Kg/ha – năm) Tên nước, tỉnh 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Trang 19Ở nước ta cây nhãn ựược trồng chủ yếu ở tất cả các vùng trong cả nước
Theo số liệu thống kê năm 2008 của tổng cục thống kê, trong 3 năm gần ựây,
từ năm 2005-2007, diện tắch trồng nhãn trong cả nước có xu thế giảm Năm
2005, tổng diện tắch nhãn trong cả nước là: 115.074 ha Nhưng ựến 2007, diện tắch trồng nhãn giảm xuống chỉ còn 102.870 ha Ở Miền Bắc nhãn ựược trồng tập trung ở một số vùng như:
* Vùng ựồng bằng sông Hồng, diện tắch trồng 11.943 ha Các tỉnh trồng nhiều là: Hưng Yên (2.766ha), Hà Tây Ờ Hà Nội (2.097ha), Hải Dương (1.878ha), Hà Nam (1.833ha), Hoà Bình (2.364ha)
Ở Miền Nam, diện tắch trồng nhãn tập trung nhiều ở vùng đồng Bằng sông Cửu Long (47.700 ha) và miền đông Nam Bộ (24.800 ha), chủ yếu ở các tỉnh Tiền Giang (9.800 ha), Vĩnh Long (10.700 ha), Sóc Trăng (4.500 ha), Trà Vinh (2.700 ha) [56]
Sản lượng nhãn của nước ta phục vụ chủ yếu nhu cầu tiêu thụ quả tươi
ở trong nước nên giá trị kinh tế không cao Một phần sản phẩm ựược làm long nhãn, sấy khô bán sang Trung Quốc bằng con ựường tiểu ngạch Do ựó rất dễ
có hiện tượng ế ựọng sản phẩm, ựặc biệt là những năm ựược mùa Theo Sở Nông Nghiệp & phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên các sản phẩm nhãn của Hưng Yên ựược tiêu thụ qua 3 con ựường chắnh[2,7,37,39]
- Chế biến thành nhãn hộp : 5%
- Nhãn dùng ựể sấy : 45%
- Nhãn dùng ựể ăn tươi : 50%
Trang 20Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng nhãn của một số ñịa phương một số năm gần ñây
ðồng Bằng sông Cửu Long 55.366 465.681 52.896 425.133 49.070 411.130 47.700 413.000
Nguồn: Số liệu thống kê về Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản Việt Nam năm 2005 [ 42 ]
Trang 21Vấn ñề ñặt ra cho nghề trồng nhãn hiện nay là phải có công nghệ bảo quản mới và cần áp dụng nhiều phương pháp bảo quản như nhà lạnh, chế biến
ñồ hộp, ép nước Mặt khác, cần tìm ñược thị trường tiêu thụ mới và ổn ñịnh,
có như vậy mới kích thích ñược sản xuất phát triển [7,39]
Bảng 2.4: Giá bán nhãn một số năm gần ñây tại Trung tâm Nghiên cứu
thực nghiệm Rau, hoa, quả Gia Lâm [45]
Giá bán TB
Mục ñích sử dụng
Nhãn lồng 20/7- 10/8 5.000 5.500 6.500 Ăn tươi, sấy
Hương Chi 05/8-20/8 8.000 8.000 11.000 Ăn tươi
Nhãn chín
muộn 20/8-15/9 12.000 14.000 18.000 Ăn tươi
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Rau, hoa, quả Gia Lâm –
số liệu thống kê về cây ăn quả – tài liệu tổng hợp và lưu hành nội bộ
Giá bán nhãn biến ñộng theo hàng năm, trên từng loại giống, mục ñích
sử dụng và thời ñiểm thu hoạch Theo trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Rau, hoa, quả Gia Lâm - Viện Nghiên cứu rau quả [45] thì giống nhãn chín muộn có giá bán cao hơn hẳn do ưu thế về thời gian chín muộn, trọng lượng quả lớn (từ 65-80 quả/kg), chất lượng quả tốt
2.2 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây nhãn
2.2.1 Lá nhãn
Lá nhãn thuộc lá kép lông chim, lá ñơn mọc ñối xứng hay so le, thông thường nhãn có từ 3-5 ñôi lá, có giống từ 1-2 ñôi Lá nhãn hình lưỡi mác, mặt
lá xanh ñậm, lưng lá xanh nhạt, cuống lá ngắn, gân chính nổi rõ, lá non màu
ñỏ, tím hoặc nâu tùy thuộc vào giống và thay ñổi theo thời tiết Giò lúc bắt
Trang 22ñầu nhú cho ñến lúc thành thục lá biến ñộng trong khoảng thời gian 40-50 ngày tùy thuộc vào nơi trồng, mùa vụ và ñiều kiện dinh dưỡng Có thể căn cứ vào cấu tạo, hình thái của lá ñể phân biệt ñược các giống [3]
Cây ăn quả là loại cây có khả năng sinh trưởng rất mạnh, cây có bộ rễ tốt sẽ sinh trưởng phát triển tốt, bộ tán khoẻ sẽ cho khả năng quang hợp tốt, tích luỹ nhiều chất dinh dưỡng có ảnh hưởng rất nhiều ñến ra hoa ñậu quả, các chỉ tiêu về kích thước diện tích lá ñược thể hiện ở bảng 2.5
Giống nhãn chín muộn HTM-1 lá có màu xanh vàng, gân lá có mầu nâu
ñỏ, mỏng, ít bóng, phiến lá hơi lượn sóng, chóp ñầu lá hơi tù, phần cuối thịt lá lệch ít, hình dạng lá chét thuôn dài
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu về kích thước lá của
giống nhãn chín muộn HTM-1
Chiều dài
lá (cm)
Chiều rộng lá (cm)
Chiều dài cuống lá (cm)
Số lá chét (lá)
Số ñôi gân (ñôi)
Diện tích lá (cm2)
2.2.2 ðặc ñiểm sinh trưởng của lộc
Cây nhãn có tán tròn hoặc tán hình mâm xôi, xanh quanh năm và có tuổi thọ cao [47] do ñó ngoài việc trồng vì mục ñích kinh tế, nó còn ñược dùng làm cây cảnh hoặc cây bóng mát Ở Trung Quốc có những cây nhãn sống tới
Trang 23400 năm và thời gian có quả kéo dài 80 Ờ 100 năm [51]
Hàng năm nhãn ra lộc nhiều lần, theo quan sát của Ngô Nhân Sơn ở trường Nông Nghiệp Quảng Tây Ờ Trung Quốc [33] ở huyện Bắc Lưu trong ựiều kiện bình thường cây nhãn tơ chưa ra quả 1 năm ra lộc 5 lần Cây trưởng thành bước vào thời kỳ kinh doanh thì thời gian và số lần ra lộc hàng năm thay ựổi theo lượng quả, dinh dưỡng trong cây, tuổi cây, mức ựộ chăm sóc và ựiều kiện ngoại cảnh
Thông thường, nhãn có 4 ựợt lộc (cành) chắnh trong năm là: lộc xuân, lộc
hè, lộc thu, lộc ựông trong ựó cành thu là cành cho quả năm sau [19] Những năm vào ựầu mùa ựông có thời tiết ấm áp và ựủ ẩm thì lộc ựông rất dễ hình thành và phát triển Do cành ựông có thời gian mọc ngắn và trong thời gian mọc có nhiều yếu tố bất lợi nên cành thường yếu, khó có khả năng hình thành cành cho quả ở vụ xuân năm sau Dựa vào mùa vụ phát sinh các cành lộc, nắm ựược quy luật sinh trưởng của từng loại cành ựể ựiều khiển một cách hợp
lý trong quá trình chăm sóc cây là rất cần thiết [14]
Mầm ngọn hay mầm nách của nhãn ựều có thể phát triển thành cành, việc hình thành thân cành của nhãn có những ựặc ựiểm khác với những cây ăn quả khác là khi cây ựã ngừng sinh trưởng, mầm ở ựỉnh ngọn ựược các lá kép non bao bọc, ựến khi gặp ựiều kiện thuận lợi thì các mầm ở ựỉnh lại kéo dài thêm Qua các ựợt lộc trong năm, cứ mỗi ựợt ở phần ngọn lại ựược bao bọc bởi các tầng lá kép, khi các lá này rụng ựi ựể trơ ra một ựoạn trống Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, có màu nâu sẫm và trên vỏ có những ựường vân nứt [50] đánh giá khả năng ra lộc của giống nhãn chắn muộn HTM-1 chúng tôi nhận thấy trong thời kỳ kiến thiết cơ bản các giống nhãn chắn muộn ựều có khả năng ra lộc tương ựối ựồng ựều và ựều có 4 ựợt lộc trong năm Thời gian xuất hiện lộc và thời gian kết thúc lộc ựều chênh lệch không ựáng kể Màu sắc lộc
Trang 24ñều có màu xanh vàng Chiều dài cành lộc dao ñộng trong khoảng từ 21,1 ñến 18,9cm, số lộc trên cành và số lá/ lộc không chênh lệch nhiều
Bảng 2.6: Một số ñặc ñiểm và thời gian ra lộc của cây
Loại lộc Lộc xuân Lộc hè Lộc thu Lộc ñông Thời gian xuất hiện 28/02-06/3 16-19/6 20-29/9 5-10/12 Thời gian kết thúc 25- 05/5 03-05/8 14-25/11 05-15/12 Chiều dài lộc (cm) 21,1 19,8 19,4 18,9
2.2.3 ðặc ñiểm ra hoa của cây nhãn
Vào ñầu mùa xuân, chồi hoa nhú ra từ chồi ngọn cành, phân hoá thêm một bước rồi phát sinh chùm hoa Nhãn ra hoa và kết quả trong cùng một năm Quá trình phân hoá mầm hoa nhãn diễn ra trong thời gian từ ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3, ñây là thời kỳ phát triển chùm hoa [14] Theo Giáo sư Trần Thế Tục [48] có thể chia quá trình phân hoá mầm hoa thành các thời kỳ như sau:
- Chưa phân hoá mầm hoa
Trang 25- Trước khi phân hoá mầm hoa
- Thời kỳ phân hoá trục chính của mầm hoa
- Thời kỳ phân hoá chùm hoa và các nhánh
- Thời kỳ phân hoá các cơ quan của hoa
Thời gian ra hoa của nhãn tuỳ thuộc vào vùng trồng, tuổi cây, giống, hình thức nhân giống và ñiều kiện ngoại cảnh, nhưng thông thường là vào khoảng ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3
Hoa nhãn xếp thành từng chùm mọc ở ngọn và nách lá Chùm hoa có 10 – 20 nhánh chính, mỗi nhánh chính lại có nhiều nhánh nhỏ, trên mỗi nhánh nhỏ thường có 3 hoa và thông thường trên mỗi chùm hoa có từ 2.000 ñến 3.000 hoa [47,48 ] Nhãn có các loại hoa: Hoa ñực, hoa cái là chủ yếu, ngoài
ra còn có hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây, hoa ñực chiếm số lượng nhiều nhất, chiếm ñến 80%, nở nhiều lần và thời gian nở dài
Ở ñiều kiện bình thường, cây nhãn nở hoa trong khoảng từ 30 ñến 45 ngày, thời gian nở của một chùm khoảng 15 ñến 30 ngày và một hoa nở từ 1 ñến 3 ngày Trên một chùm hoa ở các nhánh nhỏ, hoa ở giữa nở trước sau ñó mới ñến các hoa hai bên, thông thường hoa ñực nở trước, tiếp ñến là hoa cái
và kết thúc là hoa ñực Có khi hoa cái nở trước, sau ñó cả hoa ñực lẫn hoa cái cùng nở Cũng có trường hợp hoa ñực và hoa cái cùng nở, sau ñó kết thúc lại
là hoa ñực Nếu so sánh tỷ lệ hoa cái với hoa ñực, thông thường trong các năm tỷ lệ ñó là 1:3,5 – 5,5 Ngoài khí hậu thời tiết thì phân bón có ảnh hưởng rất lớn ñến tỷ lệ hoa ñực, hoa cái của nhãn [53]
ðối với cây ăn quả thì ñặc ñiểm quan trọng nhất là thời gian ra hoa, sự hình thành quả và thời gian chín của quả.Thời gian chín rất quan trọng, nó quyết ñịnh ñến sản phẩm khi bán ra thị trường Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñặc ñiểm ra hoa của giống nhãn chín muộn HTM-1
ðặc ñiểm ra hoa của nhãn không chỉ phụ thuộc vào giống, tuổi cây, mức
Trang 26ñộ thu hoạch quả năm trước mà phụ thuộc rất nhiều vào ñiều kiện tự nhiên như nhiệt ñộ, ñộ ẩm ðiều kiện tự nhiên phụ thuộc rất nhiều vào việc phân hoá mầm hoa và thời gian nở hoa Theo Trần Thế Tục thời gian nở hoa chịu
sự chi phối chặt chẽ của nhiệt ñộ Nhiệt ñộ càng cao thời gian nở hoa càng ngắn, tập trung Ngược lại nếu nhiệt ñộ thấp và ẩm ñộ thấp thuận lợi cho việc phân hoá mầm hoa, làm tăng số cây ra hoa và làm thời gian nở hoa kéo dài Theo dõi ñặc ñiểm ra hoa trên vườn thí nghiệm cho thấy tỷ lệ cây ra hoa so với những năm trước là rất thấp chỉ ñạt 60% vì năm trước do thu hoạch quả muộn số lượng quả nhiều sau ñó lại bị ngập lụt nên ảnh hưởng rất nhiều ñến sinh trưởng của cây vào năm sau Thời gian xuất hiện hoa và nở hoa,, tàn hoa tại vườn khá ñồng ñều giữa các cây trong vườn Thời gian bắt ñầu xuất hiện giò hoa dao ñộng trong khoảng 5-10/2, thời gian bắt ñầu nở hoa từ 10-15/3, nở rộ vào ngày 21-24/3 và kết thúc nở vào 15-20/4
Bảng 2.7: ðặc ñiểm ra hoa của giống nhãn chín muộn HTM-1
2 Ngày bắt ñầu xuất hiện giò hoa 5 – 10/ 2
8 Số hoa cái + hoa lưỡng tính 278,56
9 Tỷ lệ hoa cái,hoa lưỡng tính /chùm (%) 13,47
Trang 27liên quan ñến số lượng hoa và tỷ lệ hoa cái/chùm Qua theo dõi chúng tôi thấy tổng số hoa trên chùm của giống nhãn HTM-1 là 2067,82 hoa, tổng số hoa cái
và hoa lưỡng tính là 278,56 hoa, tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính là 13,47% Trong ñó chiều dài chùm hoa là 30,45cm chiều rộng chùm là 20,23cm, số nhánh chính/chùm là 13,89cm, thứ tự nở hoa hoa ñực nở trước và kết thúc là hoa cái
2.2.4 Quá trình hình thành và phát triển của quả nhãn
Kết quả ñiều tra nghiên cứu cho thấy, số nụ hoa có thể nở hoa ñạt 60 – 90%, số còn lại rụng Số hoa cái không ñậu ñược quả có tới trên 60%, chỉ còn khoảng 10 – 20% là ñậu thành quả Tỷ lệ ñậu quả là khá cao so với một số cây ăn quả khác (cam, chanh thường chỉ ñạt 2,1 – 2,3%, xoài từ 1 – 3% ) Sau khi thụ phấn, thụ tinh xong quả bắt ñầu phát triển Trong tháng ñầu, chiều cao quả phát triển nhanh hơn ñường kính quả, ñồng thời hạt cũng to dần lên, ở thời kỳ sau tốc ñộ phát triển của ñường kính quả nhanh hơn so với chiều cao của quả [19]
Sau khi hoa tàn khoảng 1 tháng thì xảy ra ñợt rụng quả lần thứ nhất, chiếm 40 – 70% tổng số quả rụng Các quả rụng lần này là do thụ phấn thụ tinh không hoàn toàn hoặc do noãn phát triển kém Vào giữa tháng 6 ñến tháng 7 là lần rụng quả sinh lý thứ hai Sau rụng quả lần hai ñến quả chín vẫn còn có rụng quả nhưng số lượng rất ít [50]
Các tỉnh Miền Bắc, nhãn chín vào giữa tháng 7 ñến hết tháng 8, cá biệt
có giống chín muộn sang ñầu tháng 9 Ở Miền Nam nhãn chín rải rác hơn, kéo dài từ tháng 6 cho ñến cuối năm nhưng thời vụ chính là tháng 7, tháng 8
và vụ trái vào tháng 11,12
Trang 282.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây nhãn
2.3.1 Yêu cầu về nhiệt ñộ
Căn cứ vào nguồn gốc và quá trình phát dục thích nghi với ñiều kiện khí hậu Á nhiệt ñới và Nhiệt ñới nên nhãn ñược xếp vào nhóm cây ăn quả
Á nhiệt ñới
ðối với cây nhãn thì nhiệt ñộ là một trong những yếu tố quan trọng tác ñộng ñến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Nhiệt ñộ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng phát triển của cây từ 20 0C trở lên, ở nhiệt ñộ 23-260C cây sinh trưởng mạnh nhất, ở nhiệt ñộ - 10C thì tổn hại ñến cây nhãn Thời gian rét càng kéo dài ở nhiệt ñộ càng thấp thì nhãn càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Vào mùa ñông, nhiệt ñộ có liên quan chặt chẽ ñến quá trình phân hoá mầm hoa của cây nhãn Từ tháng 12 năm trước ñến tháng 1 năm sau nhiệt ñộ thấp khoảng 8-14 C sẽ thuận lợi cho việc phân hoá mầm hoa của cây nhãn Khi nhãn ra nụ, nếu gặp nhiệt ñộ cao, lá ở cành hoa phát triển sẽ ảnh hưởng ñến nụ và hoa, do ñó sẽ ảnh hưởng ñến năng suất Khi hoa nở, nhiệt ñộ thích hợp vào khoảng 20 – 27 C, thời gian này nếu gặp nhiệt ñộ thấp sẽ ảnh hưởng ñến quá trình thụ tinh thụ phấn Vào mùa thu hoạch, nếu gặp nhiệt ñộ cao, phẩm chất quả sẽ tốt (Trần Thế Tục) [48]
2.3.2 Yêu cầu về lượng mưa và ñộ ẩm
Cây nhãn yêu cầu ñộ ẩm phải ñầy ñủ vào thời gian sinh trưởng thân lá
và ñặc biệt khi nhãn ra hoa kết quả, lượng mưa hàng năm cần thiết từ 1300 -
1600 mm Khi cây ra hoa gặp thời tiết nắng ấm, tạnh ráo có lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh, ñậu quả tốt và sẽ cho năng suất cao [47] Nhãn là cây chịu ñược nóng, nếu ngập úng trong 3 – 5 ngày vẫn chịu ñược nhưng nếu ngập lâu hơn bộ rễ bị thối, cây yếu dần và chết
Trang 29Năng suất nhãn thường ñạt cao nhất khi lượng mưa là 1.200 - 1.400mm phân bố vào thời gian từ tháng 3 ñến tháng 6
2.3.3 Yêu cầu về ánh sáng
Nhãn cần ñầy ñủ ánh sáng và thoáng nhưng so với vải, nhãn thích râm hơn Nhãn không chịu ñược những nơi quá khô và ánh sáng gay gắt, nhất là thời kì cây con cần thiết phải làm mái che ñể hạn chế ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp lên cây nhãn Trong tạp chí Pacific garden, ông Barnhant ñã viết:
“chúng tôi nghĩ rằng phải bảo vệ nhãn vì nó không chịu ñược ánh sáng gay gắt và khí hậu khô vào mùa hè của chúng ta, và cũng không chịu ñược giá rét của mùa ñông"
2.3.4 Yêu cầu về ñất ñai
Người Trung Quốc cho rằng ñể thoả mãn yêu cầu về ñất của cây nhãn miễn là không phải ñất bạc màu, khô hạn, không thoát nước, ñất nào cũng trồng ñược nhãn Nói chung nhãn không kén ñất nhưng ưa ñất ẩm, mát, ñất phù sa nhiều màu, do vậy ở miền Bắc các vùng trồng nhãn nổi tiếng ñều tập trung trên ñất phù sa ven sông, có ñộ pH ñất thích hợp khoảng 4,5 – 6
Nhãn là cây không kén ñất, có thể trồng ñược trên nhiều loại ñất (ñất phù sa, ñất cát ven biển, ñất gò ñồi ở trung du và miền núi) [4] Tuy nhiên, với các loại ñất khác nhau thì khả năng sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của quả nhãn cũng khác nhau
Vườn nhãn thí nghiệm ñược trồng ở khu vườn cây bố mẹ tại Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Rau, hoa, quả Gia Lâm ðất ñai ở ñây tương ñối tốt, thuộc ñất phù sa vùng ñồng bằng sông Hồng không ñược bồi ñắp hàng năm,
có ñộ phì khá, thích hợp ñể trồng nhiều loại cây ăn quả Tuy nhiên, do ñặc ñiểm ñịa hình ở ñây thấp nên thường xẩy ra hiện tượng ngập úng cục bộ,
Trang 30mạch nước ngầm cao, do vậy khi thiết kế vườn cây ñã ñược ñào băng líp và xây dựng hệ thống tưới tiêu nước rất thuận lợi cho việc trồng cây ăn quả
2.3.5 Gió bão
Cây nhãn có tán rậm và rộng, thời gian mang quả và thu hoạch từ tháng 5 ñến tháng 7, tháng 8 nên gió tây và bão gây hại rất nhiều, gió tây thường làm ảnh hưởng ñến quá trình thụ phấn thụ tinh, làm rụng quả và quả kém phát triển Bão gây rụng quả, gẫy cành hoặc ñổ cả cây gây nên tổn thất rất lớn cho người trồng nhãn [48]
2.4 Những nghiên cứu chung thúc ñẩy quá trình ra hoa ñậu quả và
năng suất của cây nhãn
Trong sản xuất, việc hiểu biết ñặc tính sinh trưởng phát triển của cây
là cơ sở quan trọng ñể con người tác ñộng bằng biện pháp kỹ thuật nhằm
tạo ñiều kiện thuận lợi cho cây trồng có năng suất và phẩm chất tốt Do vậy cần thiết phải có hiểu biết về ñặc tính sinh trưởng phát triển của cây, cũng như kéo dài chu kỳ kinh doanh Trên cây ñã có khá nhiều những nghiên cứu, ñánh giá về ñặc ñiểm sinh trưởng của rễ, thân, cành, lá, hoa, quả, của các tác giả trong và ngoài nước
Yếu tố làm ảnh hưởng rất lớn ñến năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của cây nhãn, trong ñó yếu tố kỹ thuật rất quan trọng sau ñó là yếu
tố khí hậu Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật, ứng dụng một số loại chất ñiều tiết sinh trưởng và phân bón qua lá ñể thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng ra hoa ñậu quả của nhãn ñã thực hiện nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất và mang lại hiệu quả cao cho người nông dân
Nhãn là cây trồng có năng suất không ổn ñịnh, có năm ñược, năm mất mùa bởi nguyên nhân là nhãn ra hoa không ñều, năm có năm không Vấn ñề
Trang 31ựã này ựược các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.Theo Vũ Mạnh Hải [16 ] khi xây dựng mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn tại vùng ựồng bằng sông Hồng ựã kết luận: các mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn với 4 nhóm yếu tố tác ựộng Xử lý ra hoa, kỹ thuật cắt tỉa, sử dụng chế phẩm phân bón lá và thuốc phòng trừ sâu hại ựã thể hiện ựược ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế mang lại cho người trồng nhãn ở vùng ựồng bằng sông Hồng
Nguyễn Mạnh Dũng [13] ựã chia quá trình sinh trưởng phát triển của nhãn, vải thành 3 giai ựoạn khác nhau:
Giai ựoạn 1: Tắnh từ thời ựiểm sau khi thu hoạch quả cho ựến trước khi cây ra hoa Giai ựoạn 2: Từ khi cây ra hoa ựến lúc ựậu quả
Giai ựoạn 3: Từ khi có quả non ựến lúc thu hoạch
đối với mỗi giai ựoạn ựều có quy trình kỹ thuật chăm sóc riêng Nếu áp dụng ựúng phương pháp chăm sóc theo giai ựoạn này, một số vườn cây ựã cho năng suất cao gấp 3 lần ựối những vườn nhãn chăm sóc bình thường và cao gấp nhiều lần so vứi những vườn nhãn không ựược chăm sóc
Fengxin Huang, Weiwen Liu và Jun Sheng Luo-2000 ựã áp dụng thành công quy trình kỹ thuật thâm canh cho năng suất và chất lượng cao của giống nhãn Chuliang trên 6 mô hình trình diễn ở Quảng đông trong 3 năm liên tục
- Bồi dưỡng 2 ựợt chồi sau thu hoạch
- Áp dụng biện pháp tổng hợp ựể tăng khả năng phân hoá hoa
- Ngăn chăn sự hình thành chồi sinh dưỡng ựể làm tăng tỷ lệ ra hoa
- Tỉa thưa quả ựể nâng cao chất lượng quả
- Phòng trừ sâu bệnh hại
Trang 322.4.1 Nghiên cứu về phân bón
Qua phân tích sơ bộ, Viện nông học Quảng Tây (1990-1991) thấy: Cứ sản xuất ra 1000 kg nhãn tươi thì cây nhãn lấy ñi trong ñất 4,01 - 4,8 kg N; 1,46 - 1,58 kg P2O5; 7,54 – 8,96 kg K2O Tỷ lệ N: P: K là 1: 0,28 - 0,37: 1,76 - 2,15 Trong sản xuất, có thể căn cứ vào năng suất ñể bón phân Hàng năm cứ thu hoạch 100kg quả nhãn tươi thì phải bón 2 kg N; 1kg P2O5 và 2 kg K2O Dưới ñây là bảng liệt kê lượng phân bón cho cây nhãn kinh doanh 6 - 7 năm tuổi ở Viện Nông Học Quảng Tây
Phân bón rất cần thiết cho nhãn, nếu không cây sẽ sinh trưởng phát triển kém, không ra quả ñược hoặc thường xuyên có hiện tượng ra quả cách năm Theo ðường Hồng Dật [10], lượng phân bón thay ñổi tuỳ thuộc vào tình trạng sinh trưởng và phát triển của cây, vào ñộ phì nhiêu của ñất Tuỳ theo từng nơi
mà thay ñổi dạng phân cho phù hợp, có thể áp dụng lượng phân bón cho vụ chính như sau [9]
Bảng 2.8: Lượng phân bón hoá học cho vườn nhãn kinh doanh -
Viện Nông Học Quảng Tây (1990-1991)
Chủng loại và lượng phân bón (kg/cây)
Trang 33ðối với cây 1-3 năm tuổi, lượng phân bón cho mỗi gốc trong năm là 300g N; 50-100g P2O5, 400-500g K2O Số lần bón chia ra như sau:
100-Trước khi ra hoa: Bón 1/3 ñạm và 1/3 kali
Khi quả lớn 1cm: Bón 1/3 ñạm và 1/3 kali
Trước khi thu hoạch quả khoảng 1 tháng: Bón 1/3 kali
Sau khi thu hoạch quả: Bón 1/3 ñạm + toàn bộ lân
Hàng năm cần bón thêm phân chuồng hoai mục cho nhãn với lượng khoảng 10-20 kg/gốc
Theo Giáo sư Trần Thế Tục [46,47] có thể bón phân cho nhãn theo tuổi của cây
Bảng 2.9: Lượng phân bón cho cây theo tuổi (kg/cây)
Tuổi cây
Loại phân
1- 4 năm 5 -10 năm Trên 10 năm
Phân lân Văn ñiển 0,3 - 0,4 0,5 - 0,7 1,0 - 1,5 ðạm sunfat 0,5 - 0,7 1,0 - 1,5 2,0 - 3,0 Clorua kali 0,3 - 0,4 0,5 - 0,7 1,2 - 1,8
Trang 34toàn bộ phân hữu cơ, 80-90% phân lân và toàn bộ lượng phân ñạm, lân, kali còn lại
2.4.2 Nghiên cứu về các biện pháp ñiều khiển sinh trưởng, phát triển, ra
hoa, ñậu quả
Ngoài phương pháp bón phân vào ñất, người ta có thể bón phân trực tiếp qua lá non, các lá, lộc non ñều có sức hấp thụ phân bón mạnh và nhanh Ở Trung Quốc, các loại phân bón qua lá thường dùng là urê, kali, phosphat, supe lân, cloruakali
Nghiên cứu cải tiến phương pháp bón phân bằng cách phun phân lên lá
ñể cho lá trực tiếp hấp thu chất dinh dưỡng qua các lỗ khí khổng ñã ñược thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Tác dụng của phân bón qua lá là cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng ña lượng và vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây trồng, ñặc biệt là vào các thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cây cần tập trung chất dinh dưỡng ñể tạo hoa, quả và nuôi hạt Dùng phân bón lá tốn rất ít về số lượng mà hiệu quả lại cao, năng lượng trong quá trình vận chuyển lại ñược tiết kiệm ñến mức tối ña, nhờ vậy có thể dùng trên ñất xấu, ñất mặn, ñất nghèo dinh dưỡng, có khả năng giữ nước, giữ phân kém Phun phân bón lá trong thời gian bị hạn giúp cho cây tăng khả năng chống chịu, duy trì ñược các quá trình hoạt ñộng sinh lý của cây trong những mức ñộ nhất ñịnh
Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ñã cho thấy: Trong quá trình ra hoa, ñậu quả, phun các chất kích thích sinh trưởng qua lá có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng trọng lượng quả và năng suất trên cây Các loại phân Thiên Nông ñã hạn chế ñược sự rụng trái non, phân Komix, Supe pzing K ñã làm tăng trọng lượng trái và màu sắc vỏ trái của những cây ñược xử lý sáng ñẹp hơn [31]
Trang 35Vũ Văn Liết, Cao Anh Long, Nguyễn Quang Thạch [30] ñã xử lý Spray -
N - Grow (SNG) và bón Bill’s perfect fertilize (BPF) cho cây nhãn nhận thấy: SNG + BPS có tác dụng làm tăng kích thước quả rõ rệt nhưng khối lượng quả tăng không rõ vì cùi có hàm lượng nước thấp hơn ñối chứng, tỷ lệ cùi tăng, tỷ
lệ hạt giảm, vỏ quả sáng bóng và năng suất quả tăng trung bình 10,69% Theo Trần Thế Tục [47,50] biện pháp làm tăng khả năng ñậu hoa, ñậu quả của vải, nhãn tốt nhất là phun thuốc ñậu quả ñó là các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, Axit boric, Sun phát ñồng Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng phun khi hoa bắt ñầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, giảm
tỷ lệ rụng quả non Viện nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam ñã tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón NPK ñến năng suất và phẩm chất nhãn tiêu da bò” và rút ra kết luận: Năng suất nhãn tăng lên một cách có ý nghĩa ở công thức bón phân NPK cao so với công thức ñối chứng:
450 - 240 - 330; 350 - 180 - 270, (N - P2O5 - K2O g/cây/vụ) + phân hữu cơ Các công thức bón lượng kali cao và bón thêm phân hữu cơ ñã làm gia tăng
ñộ Brix (%), màu sắc vỏ trái cũng sáng ñẹp hơn [21] Hai nhóm yếu tố là các loại phân bón lá và chế phẩm sinh học ñều có tác ñộng ñến việc chống rụng quả non, tăng trọng lượng quả và làm tăng năng suất của giống nhãn chín muộn HC4 Trong ñó, kích phát tố Thiên nông và Cimbat thể hiện ưu thế vượt trội hơn cả [58]
Các chất ñiều hoà sinh trưởng ñóng vai trò quan trọng trong quá trình
ñiều khiển sinh trưởng, phát triển của cây ðiều chỉnh toàn bộ cơ thể thực vật, ảnh hưởng ñến các hoạt ñộng sinh lý của cây, duy trì mối quan hệ thống nhất giữa các cơ quan trong toàn bộ cơ thể Bằng việc xử lý ngoại sinh chất ñiều hoà sinh trưởng cho cây trồng có thể nâng cao ñược năng suất phẩn chất nông sản [36]
Trang 36Theo Nghê Diệu Nguyên ñưa ra các biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng ra hoa ñậu quả vải Khi cây có thể ñã ra lộc ñông nên dùng các biện pháp cắt ñứt rễ, làm lộ rễ, khoanh vỏ, bấm ngọn hoặc dùng thuốc Ngoài ra có thể dùng hoá chất riêng rẽ hoặc hỗn hợp ñể bảo vệ quả , theo thí nghiệm của Trung Dương Vỹ, thời kỳ quả non sau khi hoa cái nở rộ 21 ngày phun 2,4 D nồng ñộ 5ppm hỗn hợp với Gibbein 20ppm có tác dụng bảo vệ quả rõ rệt [33]
Vũ Mạnh Hải và cộng sự trong các thí nghiệm nghiên cứu về ảnh hưởng của một số hoá chất ñến sự rụng quả vải ñã khẳng ñịnh: Phun kép urê 1%, NAA 20ppm có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng quả ñáng kể
Nguyễn Thi Thanh (2000) [37] khi nghiên cứu về các biện pháp tăng
tỷ lệ ñậu quả của một số giống vải ở Phú Hộ ñã ñưa ra nhận xét: ðối với những cây vải có ñặc tính sinh trưởng mạnh, biện pháp khoanh vỏ có ý nghĩa
rõ rệt trong việc làm giảm sự phát lộc ñông, xúc tiến sự phân hoá mầm hoa tốt
và phương pháp khoanh xoắn ốc có hiệu quả cao nhất
Phun Ethrel nồng ñộ 1000ppm, GA3, IAA phối hợp với Ethrel, GA3phối hợp với Ethrel làm tăng tỷ lệ ra hoa cái và tăng tỷ ñậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Sử dụng thuốc trừ bệnh Rhidonim MZ và Oxyclorur ñồng trong thời kỳ ra hoa cũng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, do vậy cũng ñã cải thiện năng suất vải và phun Oxyorua ñồng cho hiệu quả cao hơn Trên cây nhãn các công trình nghiên cứu về tác ñộng của chất ñiều tiết sinh trưởng cũng ñược thúc ñẩy và ñã có nhiều kết quả
Theo nghiên cứu của Hoàng Cầm và cộng sự (2000-2003) ñiều khiển nhãn ra hoa tại Hưng Yên với các biện pháp như, khoanh, thít thân cành, phun hoá chất qua lá và tưới gốc cho thấy: Phun KNO3 qua lá, tưới KNO3 qua gốc
có khả năng cho nhãn ra hoa ở mức ñộ cao, nồng ñộ xử lý từ 0,3-0,6 % ở thời
Trang 37gian xử lý trong các tháng có nhiệt ựộ trung bình (15-18 0 C) khoảng tháng 9 ựến tháng 12 Cũng theo nghiên cứu của Viện Rau quả khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng KCLO3 ựến khả năng ra hoa ựậu quả của nhãn trên các cành có ựộ tuổi khác nhau cho thấy liều lượng thắch hợp nhất là 90g/cây và cành ở ựộ tuổi 50-60 ngày cho hiệu quả cao nhất [56]
Ở các tỉnh Miền Nam ựã sử dụng rộng rãi KCLO3 xử lý cho nhãn tiêu
da bò ra trái vụ: Sau khi thu hoạch quả chăm bón cho cây chu ựáo, cây rẽ ra ựợt lộc, cành khoẻ Khi lá trên cành chuyển màu xanh ựậm tiến hành xử lý KCLO3 sau xử lý phải tưới ựẫm nước vào gốc liên tục trong 7 ngày [32]
Theo kinh nghiệm của ông Năm Y [32] cần kết hợp các biện pháp kỹ thuật với một số loại phân bón cũng như hoá chất ựể làm cho nhãn ra hoa ựồng loạt và năng cao ựược năng suất nhãn, hoá chất quan trọng nhất là KCLO3 ( Clorat kali)
Theo Wong, nồng ựộ xử lý KCLO3 tuỳ thuộc vào các yếu tố: tán cây ựất ựai, nguồn nước, tình trạng của cây, giống nhãn [69]
để có quả trái vụ vào Tết Nguyên đán ựầu tháng 8 âm lịch, ở Miền Nam dùng Ethphon 0,1 % phun ướt ựều cho lá nhãn Lá này sẽ xanh ựậm hay xanh nhạt hay lá hơi co lại một chút Khoảng 30 ngày xử lý hoa hình thành [56]
Hiện nay nhãn ựược bán ở Thái Lan quanh năm, có ựược như vậy là do tác ựộng của các biện pháp kỹ thuật sản xuất trái vụ Việc sử dụng những giống nhãn ra hoa trái vụ và sử dụng các hoá chất ựể thúc ựẩy nhãn ra hoa trái
vụ ựã ựược nhiều người quan tâm nghiên cứu
Giberelin có tác dụng thúc ựẩy cây con phát triển, cây lớn mọc nhiều mầm mới, nâng cao tỷ lệ ựậu quả, kắch thắch quả lớn nhanh, phòng vỏ quả suy thoái làm cho quả chắn chậm lại Khi phun GA3 cho vải ở thời kỳ hoa cái và sthời kỳ quả non nồng ựộ 50-100ppm khi hoa nở sẽ nâng cao tỷ lệ ựậu quả,
Trang 38tăng khối lượng quả Phun GA3 nồng ñộ 250-300ppm vào lúc nở hoa và quả non cũng có tác dụng bảo vệ quả và thúc quả lớn [36]
Chen và cộng sự (1984) ñã chỉ ra rằng GA3 ( nồng ñộ 100mg/ lít) và Ethrel (500-1000 mg/ lít) ñã làm tăng khả năng ra hoa khi phun vào thời kỳ phân hoá mầm hoa Các chất ñiều tiết sinh trưởng cũng làm kích thước số hoa, lượng hoa cái và làm giảm lá dị hình trên chùm hoa Năng suất trung bình của các công thức thí nghiệm trong 2 năm là 2,8 tấn/ha ( dối chứng), 7,5 tấn/ha ( GA3- 100mg/ lít) và 5,5 tấn/ha (Ethel – 100mg/ha)
Theo Singh (1969), phun GA3 nồng ñộ 25 và 50mg/l vào tuần thứ 4 sau khi ñậu quả làm tăng kích thước quả, ở nồng ñộ 75 mg/l ñã làm tăng kích thước quả ñồng thời pH và axit ascobic tăng
Năm 1976, Khan và cộng sự ñã dùng GA3 nồng ñộ 100ppm,α –NAA 20ppm, 2,4,5 –TP10ppm phun trên vải vào giai ñoạn quả bằng hạt ñậu ñã làm giảm tỷ lệ rụng quả, GA3 50ppm có tác dụng giữ quả tốt, GA3 100pm làm tăng kích thước quả
Vào những năm mùa ñông ấm, có mưa nhiều lộc phát triển Lộc ñông
sẽ phát triển cạnh tranh dinh dưỡng ảnh hưởng ñến phân hoá mầm hoa, năm sau ít quả ðể khống chế lộc ñông ở Trung Quốc thường sử dụng các cách: cắt tỉa kịp thời, bón phân hợp lý, cuốc lật ñất làm ñứt rễ hoặc phun Ethrel 400ppm khi lộc ñông mọc dài 5-10 cm
Theo Viện nghiên cứu Rau quả, cần khống chế lộc ñông bằng cách hạn chế nước, chất dinh dưỡng hoặc phun chất ñiều hoà sinh trưởng Khống chế lộc ñông bằng cách phun B9 nồng ñộ 1000ppm hoặc Ethrel nồng ñộ 400- 800 ppm phun ở bộ phận lá non, phun 1-2 lần cách nhau 7-10 ngày Ngoài ra có thể dùng tay vặt bỏ khi lộc ñông dài 5-10cm hoặc làm ñứt rễ khi lộc dài 3cm trong khu vực hình chiếu của tán, cuốc sâu từ 20-30cm
Trang 39Cùng với nghiên cứu các biện pháp ñiều tiết quá trình ra hoa thì quá trình duy trì khả năng ñậu quả, phát triển quả cũng ñược nghiên cứu
ðể chống rụng quả trong thời kỳ quả non, xử lý bằng việc phun α-NAA 0,025 % (250ppm), kích phát tố Thiên Nông khi quả bằng hạt ñậu xanh
Ngoài việc xử lý bằng hoá chất thì việc sử dụng biện pháp cơ giới nhằm ñiều chỉnh chất ñiều hoà sinh trưởng nội sinh cũng ñã ñược nghiên cứu khoanh vỏ là biện pháp làm tăng khả năng ñậu quả của nhãn [36]
Chất ñiều hoà sinh trưởng còn ñược sử dụng làm tăng khả năng ra rễ khi triết cành nhãn như IBA- Indol Butiric axit, NAA- naphtyl axetic axit Ở Hawai người ta phun NAA…cho nhãn ñể kích thích sự ra hoa rất có hiệu quả
Qua những kết quả nghiên cứu ñó cho thấy:
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây nhãn yêu cầu khá chặt chẽ về ñiều kiện thời tiết khi hậu, nhất là các yếu tố nhiệt ñộ, lượng mưa ðây là những yếu tố cơ bản quyết ñịnh khả năng phân hoá mầm hoa, phát triển hoa, phát triển quả
Ngoài một số tự nhiên như giống, ñiều kiện thời tiết khí hậu, ñặc biệt là mùa ñông ñủ lạnh và khô ñể ngừng sinh trưởng, chuyển giai ñoạn, thì một số ñiều kiện do con người tác ñộng ñúng lúc và hợp lý cũng có thể giúp cho cây vượt qua ñiều kiện bất thuận sẽ thuận lợi cho quá trình ra hoa ñậu quả cũng như phát triển quả
Sự rụng quả là một trong những nhân tố gây năng suất thấp và thất thường trên cây nhãn Nguyên nhân là do ñiều kiện thời tiết khi hậu, chế ñộ
nước dinh dưỡng, sâu bệnh hại
Khi nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao và
ổn ñịnh năng suất nhãn Nguyễn Thị Bích Hồng [23] ñã kết luận:
Trang 40- Về xử lý ra hoa ñối với những cây ra quả cách năm khoanh vỏ trước lập xuân 45 ngày có tác dụng tốt ñến hầu hết các chỉ tiêu như số hoa/chùm, tỷ
lệ hoa cái, số quả, năng suất Xử lý NaClO3 có tác dụng kích thích nhãn ra hoa trong ñiều kiện không thuận lợi và liều lượng 100g - 120g/cây (cây 6 năm tuổi) cho kết quả tốt nhất
- Về kỹ thuật cắt tỉa: Cắt tỉa sau thu hoạch kèm theo tỉa lộc, tỉa hoa và tỉa quả ñã làm cho quả to hơn và năng suất cũng cao hơn so với biện pháp chỉ cắt tỉa sau thu hoạch và cắt tỉa theo phương pháp ñốn phớt Tất cả các công thức cắt tỉa ñều có kết quả tốt hơn so với ñối chứng là không cắt tỉa
- Xử lý KClO3 có tác dụng kích thích khả năng phân hoá hoa và có quan
hệ mật thiết ñến tuổi cành xử lý, trong ñó liều lượng thích hợp là 90g/cây (cây
5 năm tuổi) và các cành ở ñộ tuổi 50-60 ngày tuổi có hiệu quả cao nhất [32]
ñã nghiên cứu xử lý nhãn ra hoa bằng 3 cách:
- Cách 1: Khấc cành (thích hợp cho nhãn tơ) ñể nhãn ra hoa chắc chắn hơn trước khi khấc cành 1 tuần phun 2 lần TOBASUN, chiều rộng vết khấc 6
- 12 mm và khi khấc xong bôi ngay thuốc Rhidomil ñể sát trùng Khoảng
25-35 ngày sau nhãn sẽ ra hoa ñồng loạt
- Cách 2: Tưới hoặc rải KClO3 ở gốc (thích hợp cho nhãn từ 3-5 tuổi) lượng thuốc KClO3 cần dùng là 100-120 g/cây có ñường kính tán 2,5 m Có thể rải hoặc hoà KClO3 vào 10 lít nước, tưới quanh hình chiếu tán cây, sau khi xử lý trong vòng 1 tuần cứ 2 ngày tưới nước 1 lần cho thuốc thấm ñều vào ñất và sau 25 - 35 ngày nhãn sẽ ra hoa
- Cách 3: Khấc cành kết hợp với rải KClO3 (thích hợp cho nhãn lớn tuổi): Khi lộc có màu xanh ñọt chuối thì khấc cành nhẹ, vết khấc rộng 4 mm, 5 ngày sau rải hoặc tưới KClO3 với hàm lượng là 40g/cây có ñường kính 2,5m Với cách này cây sẽ ra hoa triệt ñể hơn mặc dù cành hoa có ngắn hơn cách 2 và