1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Việt Nam và giải pháp cho những năm tiếp theo

53 644 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (oda) của Việt Nam và giải pháp cho những năm tiếp theo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 295 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công cuộc xây dựng đất nước tất các nguồn vốn đều vô cùng quan trọng, nó sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tạo điều kiện phát huy hết tiền lực của đất nước.

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

Trong công cuộc xây dựng đất nước tất các nguồn vốn đều vô cùngquan trọng, nó sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tạo điều kiện phát huy hếttiền lực của đất nước trong đó chúng ta không thể không kể đến nguồn vốnODA

Ngoài tính chất ưu đãi, vốn ODA khác so với hai loại vốn trên là: ODAchỉ là sự chuyển nhượng vốn mang tính chất trợ giúp từ các nước phát triểnsang các nước đang phát triển Đặc điểm này cho thấy nguồn vốn ODA lànhân tố quan trọng tạo nên các cơ hội phát triển cho các nước nghèo và kémphát triển

Về thực chất ODA cũng là một khoản nợ nước ngoài mà các nước nhậntài trợ cần phải trả Vì thế, việc quản lý và sử dụng ODA sao cho có hiệu quảphù hợp với các mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước là một yêucầu khách quan

Chính vì nguồn vốn ODA có đặc biệt quan trọng với đất nước chúng ta

vì vậy em đã chọn đề tài: “Quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Việt Nam và giải pháp cho những năm tiếp theo” làm đề tài

của mình Tuy nhiên, Vì sự hiểu biết còn nhiều hạn chế nên nội dung của đềtài không tránh khỏi những sai sót Do vậy, em mong nhận đươc sự giúp đỡ,chỉ bảo thầy cô để cho đề tài của em thêm hoàn thiện

Trang 2

CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn (ODA)

I Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

1 khái niệm:

ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official DevelopmentAssistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợphát triển chính thức

Năm 1972, OECD, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra kháiniệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính làthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiệntài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ khônghoàn lại chiếm ít nhất 25%”

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ cácnước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển Liên hiệp quốc, trongmột phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nướcphát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững vềkinh tế và xã hội của các nước đang phát triển

Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thứcban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của ChínhPhủ thì ODA được định nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt

là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc ChínhPhủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủnước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặcliên chính phủ”

Một cách khái quát, chúng ta có thể hiểu ODA bao gồm các khoản việntrợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chínhphủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc

Trang 3

hệ thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tếdành cho các nước đang và chậm phát triển.

Trên thế giới, ODA đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ gần đây, bắt đầu

từ kế hoạch MacSall của Mỹ cung cấp viện trợ cho Tây Âu sau chiến tranhthế giới thứ II Tiếp đó là hội nghị Colombo năm 1955 hình thành những ýtưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển Sau khi thành lập, tổ chứchợp tác kinh tế và phát triển (OECD) năm 1961 và Ủy ban hỗ trợ phát triển(DAC), các nhà tài trợ đã lập lại thành một cộng đồng nhằm phối hợp với cáchoạt động chung về hỗ trợ phát triển trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầuĐông – Tây, thế giới tồn tại ba nguồn vốn chủ yếu:

- Liên Xô và Đông Âu

- Các nước thuộc tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

- Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ

Về thực chất, ODA la sự chuyển giao một phần GNP từ các nước pháttriển sang các nước đang phát triển Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kêu gọi cácnước phát triển dành 1% GDP để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển

và ảnh hưởng tại các nước và khu vực tiếp cận ODA

Các nước đang phát triển đang thiếu vốn nghiêm trọng để phát triển kinh

tế xã hội Vốn ODA là một trong các nguồn vốn ngoài nước có ý nghĩa hếtsức quan trọng, nó giúp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước Tuynhiên, ODA không thể thay thế được vốn trong nước mà chỉ là chất xúc tác

Trang 4

ODA có hai mặt: Nếu sử dụng một cách phù hợp sẽ hỗ trợ thật sự cho côngcuộc phát triển kinh tế xã hội, nếu không đó sẽ là một khoản nợ nước ngoàikhó trả trong nhiều thế hệ Hiệu quả sử dụng ODA phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, mà một trong số đó là công tác quản lý và điều phối nguồn vốn này Nghịđinh số 20 của Chính phủ khẳng định ODA cho Việt Nam là một trong nhữngnguồn quan trọng của ngân sách Nhà nước được sử dụng cho những mục tiêu

ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Tính chất ngânsách của ODA thể hiện ở chỗ nó được thông qua Chính phủ và toàn dân đượcthụ hưởng lợi ích do các khoản ODA mang lại

Việc cung cấp ODA được thực hiện thông qua các kênh sau đây:

+ Các tổ chức quốc tế cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

+ Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

Xu hướng của nguồn vốn ODA những năm gần đây:

ODA là nguồn vốn vay ưu đãi, không phải vốn vay mang tính thương mại, nên trong tổng số vốn vay bao giờ cũng có hai phần Một phần là cho

không, chiếm ít nhất 25%, còn lại là phần vay ưu đãi với lãi suất thấp (dưới3%, trung bình 1-2%/ năm), hoặc không lãi suất, thời gian trả nợ dài hạn (25-

40 năm), kèm theo thời gian ân hạn (08-10 năm) Ví dụ, Ngân hàng phát triển

châu Á (ADB) cho Việt Nam vay 55 triệu USD năm 2004 để "phát triển giáo dục trung học cơ sở", với thời hạn 32 năm, 8 năm ân hạn, lãi suất 1% năm

trong thời gian ân hạn và 1,5%/ năm trong thời gian sau đó

Trang 5

các nước nhận ODA phải là những nước có thu nhập dưới mức trung bình tính theo chuẩn của Liên hiệp quốc hay còn gọi là các nước đang phát triển.

Năm 2005 theo tài liệu của UNDP, hiện nay có 20% dân số thế giới sống mỗingày chỉ có 1USD Do vậy, ODA chủ yếu dùng để phát triển kinh tế, xã hộithuần tuý và không mang tính lợi nhuận nhằm để giúp các nước đang pháttriển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo Lĩnh vực được đầu

tư nhiều nhất bằng ODA là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và xãhội, y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, ô nhiễm môitrường

Bảng 1 ODA của các nhà tài trợ chính giai đoạn 1990-2003

những nước phát triển nhất thế giới, cũng như các tổ chức phi chính phủ nhưUNDP, WB, ADB, IMF và các tổ chức khác thì cũng do nhóm các nước này

chi phối, đóng góp và có ảnh hưởng lớn Nhìn vào Bảng 1 ta thấy lượng ODA

cung cấp của các nước nhóm G7 chiếm tỷ trọng lớn, bình quân hơn 70% tổngODA thế giới Năm 1990 ODA thế giới là 54,3 tỷ USD thì nhóm G7 đónggóp 42,4 tỷ USD, chiếm 78,08% và đến năm 2003 vẫn chiếm 72,31%, tươngđương 49,9 tỷ USD Trong số các nước viện trợ ODA thì Mỹ là nhà viện trợlớn nhất, sau đó là đến Nhật Bản Riêng năm 1995 ODA của Mỹ thấp nhất chỉ

Trang 6

đạt 7,4 tỷ USD, chiếm 12,56% và năm nhiều nhất là 2003 với 16,3 tỷ USD,chiếm 23,62% tổng ODA của thế giới.

ODA không ổn định, khối lượng có xu hướng giảm Giai đoạn 1990-2002

ODA thế giới tăng liên tục trên 7%/ năm, riêng năm 1992 đạt mức cao nhất kể

từ 1990-2002 với 62,4 tỷ USD và đột ngột tăng lên năm 2003 với 69 tỷ USD,tăng 18,35%, tương đương 10,7 tỷ USD so với 2002 Từ năm 1997 -2001mức ODA của thế giới ở mức thấp, trong đó năm 1997 ở mức thấp nhất là

48,5 tỷ USD do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (xem Bảng 1).

Ngoài ra, để giải thích cho lý do sụt giảm ODA cả về con số tuyệt đối và

tương đối những năm 1990 vì có liên quan đến ba sự kiên sau: các vấn đề ngân sách ở các nước OECD, chiến tranh lạnh kết thúc và nguồn vốn tư nhân

đổ vào các nước đang phát triển tăng mạnh

Trong những năm gần đây, các nước OECD đang phải đấu tranh để kiểmsoát thâm hụt ngân sách và kiềm chế gia tăng chi tiêu của chính phủ Mặc dùviện trợ cho nước ngoài chiếm một phần rất nhỏ của ngân sách, nhưng nó làmột trong những nội dung đầu tiên phải cắt giảm Trong giai đoạn 1991-1997,tất cả các nhà tài trợ lớn đều giảm tỷ lệ viện trợ trong GNI của mình Mỹ lànước giảm viện trợ mạnh nhất vào năm 1997 viện trợ của nước này chỉ còn0,08% GNI Thuỵ Điển và các nước Bắc Âu khác có truyền thống là nhữngnước hào phóng cũng chỉ đóng góp 1% GNI cho viện trợ Nhưng, trong sốcác nước lớn thì Pháp là nước duy nhất đóng góp hơn 0,45% Năm 1997 cácnước OECD chỉ đóng góp được 0,22% GNI Chiến tranh lạnh kết thúc đã ảnhhưởng tới quyết định của một số nước do đó có nguy cơ mất đi sự hỗ trợ tolớn của chính phủ các nước tài trợ

Năm là, ODA do chính nước nhận viện trợ quản lý và sử dụng nhưng luôn có sự giám sát từ phía nhà tài trợ, tuy nhiên sự giám sát này không trực tiếp Chính vì nguyên nguyên nhân này mà ODA đôi khi sử dụng kém hoặc

Trang 7

không hiệu quả nếu như nước tiếp nhận ODA thiếu hoặc chưa nhận thức đượctrách nhiệm của mình trong việc quản lý và sử dụng nguồn viện trợ này saocho hiệu quả Hơn nữa, cùng với sự ưu đãi từ nguồn viện trợ này như việc vay

ưu đãi với lãi suất thấp, chỉ bằng 1/10 so với vốn vay thông thường và mộtphần cho không, thời gian trả nợ dài gồm cả thời gian ân hạn là 40-50 năm.Điều kiện ưu đãi này đã dẫn đến một số người có tư tưởng xem nhẹ hiệu quả

sử dụng ODA với tư cách là khoản vay cần phải trả nợ Thực tế điều này đãxảy ra với một số nước châu Phi như Cộng hoà dân chủ Cônggô hoặc vụ ánPMU 18 ở Việt Nam vừa qua

ODA có quá nhiều nhà tài trợ trong khi ít chú trọng đến sự phối hợp.

Điều này gây ra khó khăn và quá tải về năng lực của bộ máy công quyền chonước nhận viện trợ về thủ tục cũng như sự phối kết hợp giữa nhiều các nhà tàitrợ với nhau về cùng một lĩnh vực, một dự án, một công trình trong cùng mộtnước Đôi khi dẫn đến sự trùng lặp về đòi hỏi từ phía các nhà tài trợ Điểnhình là vùng cận Sahara châu Phi phải giao dịch với hơn 30 nhà tài trợ, hàng

tá các tổ chức phi chính phủ khác; Etopia nhận viện trợ 37 nhà tài trợ trongnăm 2003 Mỗi nhà tài trợ mang đến hàng tá dự án; Việt Nam cũng vậy vớihàng chục, hàng trăm các nhà tài trợ song phương, đa phương và tổ chức phichính phủ khác

Trang 8

Bảng 2 ODA của thế giới phân bổ theo khu vực qua một số năm

ODA phân bố không đều giữa các khu vực trên thế giới Bảng 2 thể hiện

tiểu vùng Sahara châu Phi là khu vực nhận được ODA lớn nhất của thế giớichiếm trên 33% và có giảm chút ít về sau nhưng không đáng kể Khu vực nàythuộc điểm nóng về nạn đói và suy dinh dưỡng trên thế giới hiện nay với tỷ lệnghèo 41,1%, giảm 6% so với năm 2000 Khu vực thấp nhất nhận được ODAviện trợ là châu Âu, nhưng có xu hướng tăng lên từ 2,9% lên 4,3% và 7,8%năm 2000-2001 Đặc biệt, khu vực Trung Đông và Bắc Phi có xu hướnggiảm từ 20,9% xuống 13% và đến năm 2000-2001 còn 10,5% Những nămgần đây khu vực châu Á chiếm tỷ lệ ODA cao nhất do đạt được tốc tăngtrưởng kinh tế cao và ổn định như Trung Quốc và Ấn Độ

Việt Nam hiện vẫn là nước đang phát triển với thu nhập đầu người dưới

1000 USD/ năm, nên Việt Nam cũng là một trong những nước nhận viện trợnguồn vốn ODA hàng năm và trong phạm vi bài viết này tôi xin nêu lên mộtvài đặc điểm điển hình của nguồn vốn ODA ở Việt nam giống với những đặcđiểm đã nêu ở trên Cụ thể là nguồn vốn ODA của Việt Nam thu hút được chủyếu từ các nước phát triển thuộc nhóm OECD, trong đó Nhật Bản là đối tác

Trang 9

quan trọng nhất và lớn nhất với tổng vốn ODA viện trợ cho Việt Nam từ 1993đến 2007 đạt gần 10 tỷ USD, thứ hai là WB đạt gần 8 tỷ USD, thứ ba là ADBhơn 4 tỷ USD Trong giai đoạn 1993-2008, nguồn vốn ODA cho Việt Nam

chủ yếu được viện trợ trong các ngành và lĩnh vực sau (Xem Biểu đồ 3) Giao

thông Vận tải và bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA lớn nhấtvới tổng giá trị ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD Năng lượng và công nghiệp làlĩnh vực lớn thứ hai với tổng số vốn đã ký đạt trên 7,6 tỷ USD Lĩnh vực nôngnghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo lớn thứ ba đạttổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học

kỹ thuật là những lĩnh vực lớn thứ tư với tổng số vốn đã ký kết đạt khoảng 4,3

tỷ USD Điều đáng lưu ý nữa là hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 50 nhà tàitrợ song phương và hàng chục nhà tài trợ đa phương, trong đó mỗi nhà tài trợlại có những quy trình, thủ tục và phương pháp quản lý riêng; mặt khác đôikhi những quy trình, thủ tục, và cách quản lý này lại khác với những quy địnhcủa pháp luật Việt Nam Ngoài ra, còn có sự trùng lặp về các thủ tục giữa cácnhà tài trợ trong cùng một dự án, một lĩnh vực Tất cả những điều này gây ragây khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý cho Việt Nam, cũng như gây

ra sự chồng chéo về thủ tục và lẵng phí không cần thiết

2 Các loại hình ODA

2.1 Xét theo mục đích ODA gồm các hình thức chủ yếu sau:

- Hỗ trợ cán cân thanh toán:

Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ nhưng đôi khi

là hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu) Ngoại tệ và hàng hoá chuyển trong nướcqua hình thức này được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách

- Hỗ trợ chương trình (còn gọi là viện trợ phi dự án):

Trang 10

Là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cungcấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định

để thực hiện nhiều nội dung khác nhau của một chương trình

- Hỗ trợ dự án:

Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hỗ trợ

cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật Trên thực tế có trường hợp một dự án kết hợp cảhai loại hình hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật

2.2 Xét theo hình thức tiếp nhận vốn

- Viện trợ không hoàn lại: Thường là hỗ trợ kỹ thuật, chủ yếu là chuyểngiao công nghệ, kiến thức, kinh nghiệm thông qua các hoạt động của chuyêngia quốc tế Đôi khi viện trợ này là hoạt động nhân đạo như lương thực, thuốcmen hoặc các loại hàng hoá khác nên chúng rất khó huy động vào các mụcđích đầu tư phát triển Thêm vào đó các khoản viện trợ không hoàn lại thườngkèm theo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá mà nếu nước tiếp nhận

có vốn chủ động sử dụng thì chưa chắc đã phải chấp nhận những điều kiệnnhư vậy hoặc không sử dụng với đơn giá thanh toán cao gấp 2-3 lần Do đókhi sử dụng các nguồn vốn ODA cho không, cần hết sức thận trọng

- Các khoản vay ưu đãi ODA có thể sử dụng cho mục tiêu đầu tư pháttriển Tính chất ưu đãi của khoản vay này thể hiện ở khía cạnh sau:

+ Lãi suất thấp

+ Thời gian vay dài

+ Thời gian ấn hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên khá dàithường khoảng 5-10 năm trở lên

Thông thường các nước tiếp nhận ODA để đầu tư vào các dự án kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đờisống, tạo môi trường hạ tầng cơ sở để tiếp tục thu hút vốn đầu tư

Trang 11

3 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển.

Đối với tất cả các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá đất nước thì vốn

là một yếu tố một điều kiện tiền đề không thể thiếu Nhất là trong điều kiệnhiện nay, với những thành tựu mới của khoa học và công nghệ cho phép cácnước tiến hành công nghiệp hoá có thể rút ngắn lịch sử phát triển kinh tế khắcphục tình trạng tụt hậu và vận dụng được tối đa của lợi thế đi sau

Nhưng để làm được những điều đó thì nhu cầu về nguồn vốn là vô cùnglớn trong khi đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá thì tất cả cácnước đều dựa vào nguồn vốn bên ngoài mà chủ yếu là ODA và FDI

Trong đó ODA là nguồn vốn của các Chính phủ, các quốc gia pháttriển, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động với mụctiêu trợ giúp cho chiến lược phát triển của các nước đang và chậm phát triển

Do vậy, nguồn vốn ODA có những ưu đãi nhất định, do những ưu đãi này màcác nước đang và chậm phát triển trong giai đoạn đầu của công cuộc côngnghiệp hoá đất nước thường coi ODA như là một giải pháp cứu cánh để vừakhắc phục tình trạng thiếu vốn đầu tư trong nước, vừa tạo cơ sở vật chất banđầu nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi để kêu gọi nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư trongnước phát triển Như vậy, có thể nói nguồn vốn ODA có vai trò quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển, điều

đó được thể hiện như sau:

- ODA có vai trò bổ sung cho nguồn vốn trong nước Đối với các nướcđang phát triển các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA là nguồntài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển

Trong thời kỳ đầu của các nước NIC và ASEAN Viện trợ nước ngoài

Trang 12

Đài loan: trong thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hoá đã dùng viện trợ

và nguồn vốn nước ngoài chiếm 50% tổng khối lượng vốn đầu tư trong nước.Sau khi nguồn tiết kiệm trong nước tăng lên, Đài loan mới giảm sự lệ thuộcvào viện trợ

Hàn Quốc: có được nguồn viện trợ từ Mỹ rất lớn chiếm 81,2% tổngviện trợ của nước này trong những năm 70-72 nhờ đó mà giảm được sự căngthẳng về nhu cầu đầu tư và có điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêukinh tế

Còn ở hầu hết các nước Đông Nam Á sau khi giành được độc lập, đấtnước ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, để phát triển cơ sở hạ tầng đòihỏi phải có nhiều vốn và khả năng thu hồi vốn chậm Giải quyết vấn đề nàycác nước đang phát triển nói chung và các nước Đông nam Á nói riêng đã sửdụng nguồn vốn ODA

Ở Việt Nam ODA đóng vai trò rất quan trọng trong chương trình đầu tư côngcộng, làm nền tảng cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gần đây của ViệtNam Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đã phát triển mạnh ở Việt Nam trongthập kỷ qua nhờ công cuộc đổi mới với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt7,5%/ năm dự báo của các chuyên gia kinh tế là lạc quan Việt Nam tiếp tụccần một lượng vốn cho tăng trưởng trong giai đoạn 2006-2010, trong khi khảnăng và kinh nghiệm giải ngân đã có một bước tiến đáng kể so với giai đoạn2001-2005

Tuy nhiên, cũng có không ít những khó khăn trong quá trình vận động,thu hút ODA ở giai đoạn sắp tới Đó là, các nước giàu trên thế giới như Mỹ,Nhật Bản, EU đều giữ nguyên hoặc cắt giảm nguồn vốn ODA, trong khinhu cầu vốn cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp lại tăng mạnh,nhất là các nước vùng Trung Đông, châu Phi và các nước đang khắc phục hậuquả động đất, sóng thần

Trang 13

Theo dự báo của các chuyên gia, những nhà tài trợ đã dành cho ViệtNam nhiều vốn ODA (như Nhật Bản, EU ) sẽ tiếp tục tăng hoặc giữ nguyênmức cam kết trong giai đoạn tới Tuy nhiên, đỉnh điểm của việc vận động, thuhút vốn ODA có thể sẽ diễn ra vào các năm 2005- 2006 và giảm dần vào năm2009-2010 “Do vậy, chúng ta phải tranh thủ thời kỳ “hoàng kim” sắp tới đểthu hút càng nhiều càng tốt vốn ODA cho giải ngân vào những năm tiếp saunăm 2010”, một quan chức Bộ KH&ĐT bày tỏ quan điểm.

Thực tế cho thấy, thời gian giải ngân cho mỗi dự án sử dụng vốn ODA,đặc biệt là các dự án xây dựng cơ bản, thường phải mất 5 năm kể từ khi nhàtài trợ cam kết cho đến khi kết thúc dự án Như vậy, giai đoạn 2006-2010 chủyếu sẽ giải ngân phần vốn ODA cam kết trong thời kỳ 2001-2005 “Nguốnvốn đã được đảm bảo chắc chắn, vấn đề còn lại là những nỗ lực giải ngân củachúng ta mà thôi”, vẫn vị quan chức này nói

Theo tính toán, nếu không có gì đột biến thì tổng nguồn vốn ODA giảingân trong giai đoạn 2005-2010 là khoảng 11 tỷ USD Trong năm 2005, mứcgiải ngân sẽ vào khoảng 1,7 tỷ USD và tăng lên 2 tỷ USD vào năm 2006, rồi

ổn định ở mức 2,2 đến 2,3 tỷ USD trong các năm tiếp theo Tuy nhiên, nguồnvốn cam kết có thể giảm từ mức dự kiến 3,5 tỷ USD trong năm nay xuốngcòn trên 2,8 tỷ USD vào năm 2010

Do chúng ta vẫn là nước đang phát triển nên hoạt động quản lý kinh

tế - xã hội ở Việt Nam cho thấy đất nước ta tiếp cận rất tốt nguồn ODA ưu đãidưới hình thức viện trợ không hoàn lại và tín dụng có lãi suất thấp Sự khanhiếm nguồn FDI hiện nay do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã cũnggây ra suy giảm trong tiến trình tiến hành cải cách kinh tế ở Việt Nam, đã tạothêm căng thẳng cho các nguồn lực đầu tư công cộng hỗ trợ thúc đẩy tăngtrưởng trong khi vẫn đảm bảo thúc đẩy các dịch vụ xã hội Do đó, ODA ngày

Trang 14

càng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các chi tiêu phát triển củaChính phủ.

Trên thực tế do tính chất ưu đãi của vốn ODA mà các quốc gia sử dụng

nó thường lo sợ về gánh nặng nợ nần nhưng thực tế thì đó là nỗi lo sợ của cácnước quản lý và sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả Gánh nặng nợ nần

sẽ được giảm rất nhiều nếu biết quản lý để đem lại hiệu quả sử dụng ODAcao

- ODA dưới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nước nhận viện trợtiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồnnhân lực Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tàitrợ là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, trình độ chuyên môn và trình độ quản lýtiên tiến Đồng thời bằng nguồn vốn ODA các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tưcho phát triển nguồn nhân lực vì việc phát triển của một quốc gia có quan hệmật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực

- ODA giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế Đối vớicác nước đang phát triển khó khăn kinh tế là điều kiện không tránh khỏi.Trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một giatăng là tình trạng phổ biến Để giải quyết vấn đề này các quốc gia cần phải cốgắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với ngân hàng thế giới,quỹ tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điềuchỉnh cơ cấu Chính sách này dự định chuyển chính sách kinh tế Nhà nướcđóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triểntheo định hướng phát triển kinh tế khu vực tư nhân Nhưng muốn thực hiệnđược việc điều chỉnh này cần phải có một lượng vốn cho vay mà các Chínhphủ lại phải dựa vào nguồn vốn ODA

- Hỗ trợ phát triển chính thức tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước

Trang 15

đang và chậm phát triển Để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nướcngoài bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó thì chính tại các quốc gia đóphải đảm bảo cho họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng, hệ thốngchính sách, pháp luật ) đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệuquả đầu tư cao muốn vậy đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việcnâng cấp, cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng

Nguồn vốn Nhà nước thực hiện đầu tư này là phải dựa vào ODA bổsung cho vốn đầu tư hạn hẹp của ngân sách của Nhà nước Môi trường đầu tưmột khi được cải thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn nước ngoài Mặt khác việc sửdụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện chocác nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinhdoanh có khả năng mang lại lợi nhuận

4 Bất lợi khi tiếp nhận ODA:

Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lượcnhư mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về

an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều cóchính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế(những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế -chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới) Được thể hiện nhưsau:

- Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng ràothuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩuhàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từngbước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nướctài trợ, yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàinhư cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao

Trang 16

- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũngthường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toànphù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự

án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho cácchuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODAthường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao sovới chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thếgiới)

- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịchđặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộcnước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hóa, dịch vụ do

họ sản xuất

- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưngthông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ýcủa nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể thamgia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODAphải hoàn lại tăng lên

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí, xây dựng chiến lược, quy hoạchthu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý, trình độ quản lýthấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành

dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồnvốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần

II Quản lý ODA

1 Mục tiêu: Quản lý dự án ODA nhằm hạn chế hiện tượng tiêu cực, tham ô

lãng phí làm thất thoát vốn…Quản lý dự án ODA làm làm tinh giảm quy trìnhthủ tục hành chính, thúc đẩy việc thu hút và giải ngân, nâng cao hiệu quả sử

Trang 17

dụng nguồn vốn ODA Đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củađất nước.

2 Nguyên tắc:

- ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách Nhà nước, được sử dụng

để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ưu tiên

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trên cơ sở phân cấp,tăng cường trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các cơquan quản lý ngành và địa phương

- Quá trình thu hút, quản lý và sử dụng ODA phải tuân thủ những yêucầu dưới đây:

+ Chính phủ nắm vai trò quản lý và chỉ đạo, phát huy cao độ tính chủđộng và trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ quan, đơn vị thực hiện + Bảo đảm tính tổng hợp, thống nhất và đồng bộ trong công tác quản lýODA

+ Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan, trong đó

có các đối tượng thụ hưởng

+ Bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch về quyền hạn và trách nhiệm của cácbên có liên quan

+ Bảo đảm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và Nhà tài trợ

- Quá trình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA phải tuân theocác quy định của Luật ngân sách Nhà nước, Quy chế Quản lý và sử dụngnguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Quy chế Quản lý vay và trả nợ nước ngoài

và các chế độ quản lý hiện hành khác của Nhà nước Trường hợp điều ướcquốc tế về ODA đã được ký kết giữa Nhà nước hoặc Chính phủ với nhà tài trợ

có quy định khác thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó

Trang 18

3 Chức năng và quy trình quản lý dự án ODA

3.1 Chức năng quản lí nguồn vốn ODA của chính phủ:

- Thực chất giá trị thực tế của vốn ODA thấp hơn giá trị danh nghĩa của

nó Điều này có nghĩa tính ưu đãi của vốn ODA giảm, chi phí để có vốn này

sẽ tiến gần tới vốn thương mại trên thị trường tài chính, nếu không có sự quản

lý chặt trong thu hút thì chi phí này càng cao

- Nước tiếp nhận dễ bị rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả nguồnvốn ODA Cần phải có sự quản lý nhà nuớc về vốn ODA để sử dụng có hiệuquả hơn

3.2 Quy trình quản lý dự án ODA:

Quản lý và sử dụng, một dự án ODA bao gồm các bước sau:

- Xác định dự án và đánh giá ban đầu

- Chuẩn bị đầu tư

- Thực hiện đầu tư

- Nghiệm thu và đánh giá

Trang 19

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA.

 Xác định dự án và đánh giá ban đầu

Đưa ra những đề xuất chính thức (dự

án đề xuất)

Dự án đề xuất được giám đốc quản lý chương trình quốc gia xem xét đánh giá tiếp

Phê duyệt

dự án

Xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi

Tuyển chọn kí kết với nhà rhầu thực hiện

Theo dõi dự

án vè tài chính hiện vật trong quá trình thực hiện

dự án được lựa chọn

Rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 20

- Xác định dự án và đánh giá ban đầu:

Dự án đề xuất có thể được xác định theo nhiều cách Việc xác định này

có thể thực hiện qua đánh giá ngành hoặc các đoàn chương trình, thông quacách tiếp cận chính thức đối với Đại sứ quán của nước tài trợ tại nước nhậnviện trợ, theo đề nghị của Chính phủ nước tiếp nhận viện trợ hoặc thông quacác cách tiếp cận chính thức với các tổ chức khác

Khi nhận được yêu cầu chính thức đề án sẽ được Văn phòng của nướcviện trợ đánh giá và xem xét xem dự án đề xuất có nằm trong chiến lược quốcgia nêu trong báo cáo quốc gia hay không Nếu đề án phù hợp và đáp ứng cácyêu cầu thông tin tối thiểu đề án sẽ được trình lên giám đốc quản lý chươngtrình quốc gia để đánh giá tiếp

Nếu thấy đề án này có thể phát triển được giám đốc chương trình quản

lý quốc gia sẽ đệ trình Chính phủ phê chuẩn việc sử dụng tiền ngân sách cho

dự án Nếu được phê chuẩn sẽ chính thức hoá việc đưa dự án vào danh mụcchương trình quốc gia và cho phép tiến hành thiết kế chi tiết

- Chuẩn bị dự án và thiết kế:

Giai đoạn hoàn thiện đề án được gọi là giai đoạn chuẩn bị Giai đoạnchuẩn bị này bao gồm một số hoặc tất cả các bước sau đây và kết thúc bằngviệc Bộ trưởng hoặc Đại diện của Bộ Tài chính phê duyệt cho phép thực hiện:

+ Nghiên cứu tiền khả thi

+ Nghiên cứu khả thi

+ Dự thảo văn kiện thiết kế dự án

Văn kiện thiết kế dự án bao gồm kế hoạch chi tiết về chi phí, nguồn lực

và kế hoạch thực hiện Tuy nhiên, phê chuẩn tài chính mới có thể thay chophê chuẩn đưa ra trước đây khi dự án lúc đó còn trong giai đoạn chuẩn bị vàthiết kế

- Thực hiện đầu tư và theo dõi dự án:

Trang 21

Bước đầu tiên của giai đoạn này là thảo luận để đi đến ký kết bản ghinhớ (MOU) thể hiện sự nhất trí giữa hai bên MOU bao gồm các điều khoảntiêu chuẩn, các phụ lục tham chiếu, trong đó mô tả dự án và định số tráchnhiệm của hai bên Dự án sẽ chính thức được triển khai sau khi MOU được kýkết và các nhà thầu đủ tiêu chuẩn được tuyển chọn Nhiệm vụ đầu tiên củanhà thầu chính thực hiện là chuẩn bị văn kiện thực hiện dự án (PID) Quátrình này cho phép nhà thầu xác định những điều chỉnh cần thiết cho dự án từkinh nghiệm ban đầu khi triển khai dự án Dự án sẽ được theo dõi trong quátrình thực hiện Qua công tác theo dõi các nhà tài trợ song phương biết đượctình hình thực hiện sự án có tốt không, nhà thầu thực hiện so với hợp đồng rasao, liệu có đạt được các mục tiêu đặt ra.

- Hoàn thành và đánh giá dự án:

Giai đoạn này bao gồm: Việc chuẩn bị báo cáo hoàn thành dự án (PCR)đối với tất cả các dự án và tiến hành đánh giá sau dự án đối với một số dự ánđược lựa chọn Nhà thầu thực hiện cần chuẩn bị PCR trước khi kết thúc dự án.PCR mô tả thiết kế dự án từ khi xây dựng dự án giai đoạn chuẩn bị đến khi bổsung trong giai đoạn thực hiện Sự chấp thuận báo cáo này của nhà tài trợsong phương đánh dấu thời điểm kết thúc dự án

Sau khi dự án kết thúc có thể phải tiến hành đánh giá sau dự án, mô tảlịch sử của dự án, những thành công của dự án, những thiếu sót và xác địnhnhững bài học đúc kết trong khâu thiết kế và thực hiện dự án phân tích độclập của nhà tài trợ song phương cùng các văn kiện dự án khác có thể rút ranhững bài học và đưa vào cơ sở dữ liệu về bài học kinh nghiệm của nhà tàitrợ, tạo cơ sở để phản hồi thông tin vào hoạch định chính sách và chuẩn bị các

dự án trong tương lai

Trang 22

4 Đánh giá quản lý ODA

4.1 Về môi trường pháp lý:

Trong thời gian qua, bắt đầu từ năm 1993, có sự kiện đánh dấu việc ViệtNam chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ quốc tế thông qua Hộinghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (Hội nghị Paris năm 1993), nhằm tạođiều kiện cho việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chínhthức tại Việt Nam, Chính phủ đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý choviệc quản lý nguồn vốn này Bắt đầu từ Nghị định 20/CP ban hành năm 1994,tiếp đó là Nghị định 87/CP năm 1997, Nghị định 17/2001/NÐ-CP ban hànhnăm 2001…, Chính phủ đã ban hành các văn bản khung pháp lý cao nhất chohoạt động thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn quan trọng này Khuôn khổpháp lý cơ bản của hoạt động Quản lý Nhà nước về nguồn vốn ODA được bổsung, sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện biến đổi của thực tế tiếpnhận và quản lý nguồn vốn ODA

Bên cạnh văn bản khung này, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hànhnhiều văn bản pháp quy khác nhằm quản lý và hỗ trợ hoạt động quản lý Nhànước ở các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực sử dụng nguồn vốn hỗ trợ pháttriển chính thức Trong số này có các văn bản về quy trình rút vốn ODA, thuếgiá trị gia tăng, Quy chế chuyên gia nước ngoài áp dụng đối với các dự án sửdụng vốn ODA

Ngoài ra, do ODA được coi là một nguồn vốn của ngân sách Nhà nước(theo Luật Ngân sách), việc sử dụng nguồn vốn ODA cũng phải tuân theo cácquy định chung của Nhà nước Việt Nam về đấu thầu và quản lý đầu tư và xâydựng trong trường hợp các quy định này không trái với các Ðiều ước quốc tế

mà Việt Nam ký

Trang 23

kết hoặc gia nhập Tương tự, các thủ tục về thuế nói chung hoặc ký kếtthực hiện các Ðiều ước quốc tế về ODA nói riêng cũng nằm trong một khuônkhổ chung của hệ thống pháp luật Việt Nam

4.2 Các hoạt động hỗ trợ trong công tác quản lý Nhà nước về ODA:

Song song với việc kiện toàn về mặt pháp lý, Chính phủ Việt Namcũng đã tiến hành một loạt các hoạt động tích cực, góp phần hỗ trợ công tácquản lý ODA như:

- Chính phủ đã có sự phối hợp với các nhà tài trợ tổ chức hội nghị liênquan đến thể chế ODA, các hội nghị kiểm điểm về tình hình thực hiện các dự

án đầu tư sử dụng vốn ODA

- Nguyên tắc và nội dung của việc phân cấp trong quản lý nguồn vốnODA ở mọi ngành, mọi cấp từ trung ương đến địa phương đã được xác định

rõ ràng hơn về quyền hạn và trách nhiệm của từng đơn vị tham gia

- Chính phủ chỉ đạo kịp thời và cụ thể việc thu hút và sử dụng ODA nhưđảm bảo vốn đối ứng, vấn đề thuế VAT đối với các chương trình, dự ánODA, nhờ vậy nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình

dự án ODA đã được tháo gỡ

- Công tác theo dõi và đánh giá dự án ODA được quan tâm Bộ Kếhoạch và Ðầu tư đã phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi chặt chẽ tìnhhình thực hiện của các dự án ODA, đặc biệt là đối với khoảng 40 dự án ODA

có quy mô vốn lớn, nhằm giải quyết kịp thời những khó khăn gây nên sựchậm chễ trong quá trình thực hiện dự án

- Hệ thống thông tin về ODA đang từng bước được hình thành theohướng chuẩn hoá phục vụ cho công tác phân tích và đánh giá dự án Mỗi cơquan quản lý, thực hiện các chương trình dự án ODA từ Trung ương đến địaphương sẽ phải thành lập đơn vị chuyên trách về theo dõi và đánh giá dự án

Trang 24

quản lý dự án, chưa phát triển thành một hệ thống thông tin bao quát đượctoàn bộ hoạt động tiếp nhận và sử dụng ODA ở Việt Nam

- Năng lực thực hiện và quản lý các chương trình, dự án ODA đã cóbước tiến bộ Bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau và qua thực tế thựchiện dự án, nhiều cán bộ của Việt Nam từ cấp cơ quan quản lý vĩ mô tới cácBan Quản lý dự án đã làm quen và tích luỹ được kinh nghiệm thực hiện vàquản lý nguồn vốn ODA

- Công tác điều phối cũng ngày càng tiến bộ Ðể định hướng vào việcthu hút và sử dụng ODA tập trung cho các mục tiêu phát triển ưu tiên củaChính phủ, ngoài Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010, kếhoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 1996-2000, Chính phủ đã xây dựng cácchương trình đầu tư công cộng (PIP), Quy hoạch tổng thể phát triển côngnghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Quy hoạch thu hút và sử dụngODA phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996-2000 vàđịnh hướng đến năm 2010 và quan trọng gần đây nhất là việc xây dựng Chiếnlược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS) ở Việt Nam.Hiện nay, một số nhà tài trợ đã bày tỏ mong muốn được coi đây là cơ sở để

kế hoạch hoá việc sử dụng nguồn vốn tài trợ của mình liên quan tới xoá đói,giảm nghèo ở Việt Nam

Tuy vậy, công tác quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam cũng còn cónhững mặt yếu kém và đứng trước những khó khăn, thách thức, nhất là ở cackhâu chuẩn bị, tổ chức thực hiện và theo dõi và đánh giá dự án Ðể cải thiệntình hình ở các khâu yếu nói trên, trong thời gian tới, Chính phủ dự kiến triểnkhai các công tác sau:

- Sớm xúc tiến xây dựng để trình ban hành một Nghị định mới về Táiđịnh cư và giải phóng mặt bằng, nhằm giải quyết cơ bản những vướng mắc vềvấn đề này đối với các dự án ODA có xây dựng cơ bản

Trang 25

- Chính phủ Việt Nam mong muốn tiếp tục tiến trình làm hài hoà thủ tụctiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án ODA giữa Việt Nam và cácnhà tài trợ Năm vừa qua, Nhóm 6 nhà tài trợ song phương Châu Âu bao gồm

Hà Lan, Anh, Nauy, Thụy Ðiển, Thụy Sỹ và Phần Lan đã có sáng kiếnNghiên cứu hài hoà thủ tục giữa các nước này với thủ tục của Chính phủ ViệtNam Bên cạnh đó, Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB), và JBIC đã và đang làm việc với Chính phủ Việt Nam về hài hoà thủtục nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện dự án Trên

cơ sở mong muốn tăng cường hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA,giảm bớt các chi phí giao dịch trong việc thực hiện nguồn vốn này cũng nhưlàm giảm nhẹ gánh nặng hành chính cho Chính phủ nước tiếp nhận viện trợ,Hài hoà thủ tục trong thời gian gần đây đã thu hút sự quan tâm ngày càng lớncủa các nhà tài trợ ở Việt Nam

- Kiện toàn hệ thống theo dõi và đánh giá dự án từ các Bộ, ngành trungương tới địa phương nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện và sử dụng hiệu quảnguồn vốn ODA, đưa công nghệ thông tin vào phục vụ công tác quản lý vàtheo dõi dự án

Chính phủ tin tưởng rằng với sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và cácnhà tài trợ sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển nhằm thực hiện được mụctiêu chung, cải thiện và nâng cao hiệu quả và chất lượng sử dụng ODA phục

vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và đấu tranh chống lại đói nghèo ởViệt Nam

Trang 26

CHƯƠNG II: Thực trạng quản lý ODA của Việt Nam 2007-2010

I thực trạng công tác tiếp nhận, điều phối và sử dụng ODA từ năm 2007-2010

1 Tình hình quản lý và sử dụng ODA từ năm 2007-2010

1.1 Thực trạng thu hút nguồn vốn ODA ở Việt Nam

Thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo từ năm

1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã không những thoátkhỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài mà còn tạo ranhững bước tiến vượt bậc với việc cải thiện tình hình chính trị đối ngoại, xử

lý các khoản nợ nước ngoài thông qua Câu lạc bộ chủ nợ Pa-ri, kinh tế trongnước đạt mức tăng trưởng cao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt.Đây là bối cảnh dẫn đến cơ hội để Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế nốilại quan hệ hợp tác phát triển Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho ViệtNam được tổ chức tại Pa-ri dưới sự chủ trì của Ngân hàng Thế giới (WB) vàotháng 11 năm 1993 là điểm khởi đầu cho quá trình thu hút và sử dụng ODA ởViệt Nam

Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu pháttriển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tếthừa nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân7,5%/năm, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuốngcòn trên 10% vào năm 2008, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấubằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo

an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, vànhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác, Những thành tựu mà Việt Nam đạt

Ngày đăng: 20/04/2013, 15:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA. - Quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Việt Nam và giải pháp cho những năm tiếp theo
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w