1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”

89 527 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Huyền My
Người hướng dẫn PGS,TS,NGƯT Nguyễn Thị Mơ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 496,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những thông tin chung nhất về ODA của Australia với Việt Nam và ODA trong một số lĩnhvực viện trợ nổi bật và các đặ

Trang 2

Thương mại Quốc tế……….7

cho Việt Nam…………17

Chương 2: Thực trạng ODA của Australia vào Việt Nam thời gianqua……….33

2

Trang 3

1 Đánh giá chung về tình hình ODA của Australia cho ViệtNam………33

2 Đánh giá cụ thể về tác động của ODA Australia cho ViệtNam… ……….42

Trang 4

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sửdụng ODA của Australia cho Việt Nam ……… 76

1 Những giải pháp đối với chính phủ Australia………

76

đầu tư hiệu quả vào ViệtNam……… 76

thu hút ODA củaAustralia………81

sử dụng hiệu quả ODA củaAustralia………85

3 Nhóm giải phápkhác……….88

Kếtluận……….90Tài liệu tham khảo……… 91

4

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trên đà phát triển kinh tế trong những năm gần đây, với sự biến đổimạnh mẽ của nền kinh tế thế giới,Việt Nam cũng đã và đang đổimới đường lối phát triển kinh tế của mình Cùng với quá trình thựchiện các chương trình cải cách kinh tế toàn diện với sự phối hợp cáccông cụ chính sách vĩ mô, chính sách ngoại giao cởi mở và việcchuyển sang nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam tới bước phát

triển mạnh mẽ trong quan hệ kinh tế đối ngoại

Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, bộ mặt kinh tế, xãhội đã có những biến đổi rõ rệt nhưng xét một cách toàn diện, ViệtNam còn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách thức để cóthể đổi mới và thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

Để vượt qua những khó khăn thách thức đó Việt Nam không chỉphải huy động mạnh mẽ nội lực của toàn đất nước mà còn cần có sựhợp tác và trợ giúp từ các nguồn lực bên ngoài Một trong nhữngnguồn trợ giúp đó là Nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA).Nguồn viện trợ này đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trìnhxây dựng đất nước hiện nay Đóng góp một phần không nhỏ trong

số ODA tương đối lớn vào Việt Nam hiện nay là nguồn ODA của

Australia

ODA của Australia dành cho Việt Nam đã có nhiều đóng góp tíchcực đối với nền kinh tế nước ta theo đà phát triển quan hệ songphương giữa hai nước Đặc biệt, thời gian gần đây Australia cónhiều chương trình viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam với

Trang 6

số vốn trung bình mỗi năm khoảng 70 triệu đô la Australia (AUD).

Số lượng ODA này đóng góp một phần không nhỏ trong các lĩnhvực đời sống và kinh tế quan trọng của Việt Nam, đem lại nhiều kếtquả khả quan Tuy nhiên, trong quá trình viện trợ cũng không tránhkhỏi những khó khăn và trở ngại do chúng ta chưa có kinh nghiệm

trong lĩnh vực này

Xuất phát từ thực tế trên, em đã quyết định nghiên cứu đề tài “Hỗtrợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam – Thựctrạng và giải pháp” Đây thực sự là một vấn đề cần thiết và cấp báchđối với nước ta hiện nay khi mà quan hệ Việt Nam - Australia đã và

đang có những bước tiến đáng kể

2 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu chương trình viện trợ phát triển chính thức của

Australia cho Việt Nam

- Đánh giá thực trạng ODA của Australia vào Việt Nam trong

những năm vừa qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút ODA của

Australia vào Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những thông tin chung nhất

về ODA của Australia với Việt Nam và ODA trong một số lĩnhvực viện trợ nổi bật và các đặc thù trong hoạt động ODA củaAustralia dành cho Việt Nam trong các lĩnh vực đó, cụ thể là hoạtđộng hỗ trợ phát triển ODA trong quản lý nhà nước; ODA trongphát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng, ODA trong y tế và giáo dục;ODA trong bảo vệ môi trường; và ODA trong bảo vệ quyền phụ nữ

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu của khoá luận giới hạn ở các nghiên cứu tổngquan về ODA của Australia với Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại

đây

4 Phương pháp nghiên cứu:

Khoá luận đã sử dụng tổng hợp các phương pháp của duy vật biệnchứng, các phương pháp thống kê toán, phương pháp phân tích kinh

tế, phương pháp cân đối để nghiên cứu

5 Bố cục của khoá luận:

Nội dung của khoá luận gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề chung về Hỗ trợ phát triển chính thức

(ODA) của Australia với Việt Nam

Chương II: Thực trạng ODA của Australia vào Việt Nam thời gian

qua

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và

sử dụng ODA của Australia ở Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỖ TRỢ PHÁTTRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA AUSTRALIA CHO VIỆT

6 trên thế giới với hơn 7,6 triệu km2

Với số dân hơn 19,6 triệu người (thống kê tính đến tháng 6/2002),Australia là một xã hội đa văn hóa gồm những người bản xứ và các

cư dân di cư đến từ hơn 160 nước trên thế giới

Giống như các nước khác thuộc khối liên hiệp Anh, về chính trị,Australia theo thể chế Quân chủ, người đứng đầu với quyền lực caonhất là Nữ hoàng Tuy nhiên, do đặc thù lịch sử phát triển là 1 xãhội đa văn hoá, thực chất Australia là một nước Cộng hoà LiênBang Người đứng đầu là Toàn quyền Australia do Nữ hoàng bổnhiệm Cơ cấu bộ máy chính trị của quốc gia với người lãnh đạo làThủ tướng Quốc hội được chia làm 2 nhánh: Tư pháp và Toà án tối

Trang 9

-đô la, thể hiện một mức tăng 3% Hỗ trợ phát triển chính thức theo

dự toán của Australia so với tỷ lệ tổng thu nhập quốc dân trong năm2002-2003 sẽ là 0,25% Như vậy việc này đã đưa Australia thườngxuyên ở vị trí trên mức trung bình của các nước tài trợ (2001) là

0,22%

1.2 Vị thế của Australia trong Thương mại Quốc tế:

Australia là một trong số những nước có nền kinh tế phát triển cao.Tổng GDP của Australia trong năm 2002 đạt 726 tỷ USD Cùng vớiviệc khẳng định vị thế kinh tế của mình trên trường quốc tế bằngchính các thành tựu kinh tế đạt được, Australia vẫn không ngừngchú trọng phát triển các chiến lược kinh tế đối ngoại, các chươngtrình viện trợ nhằm nâng cao vị trí và ảnh hưởng của mình đối vớicác nước khác Chương trình viện trợ của Australia với việc hỗ trợcác nước đang phát triển giảm đói nghèo đã đạt được những mứcphát triển bền vững Trọng tâm của chương trình tại vùng Châu Á -Thái Bình Dương thể hiện sự tham gia mạnh mẽ của Australia vớikhu vực và cam kết làm việc trong mối quan hệ đối tác để đáp ứngnhững thách thức phát triển quan trọng trong khu vực này Australia

là một trong những nhà tài trợ hàng đầu cho khu vực Thái BìnhDương Australia cũng đáp ứng hào phóng những yêu cầu về khắcphục khủng hoảng và cứu trợ nhân đạo và đóng góp có lựa chọncho những nhu cầu phát triển ở Nam Á, châu Phi và Trung Đông.Trên bình diện kinh tế, Australia đã và đang trở thành một đối táckinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn

thế giới

1.3 Vị thế của Australia đối với Việt Nam

Trang 10

Australia và Việt Nam tuy là hai đất nước thuộc hai châu lục vớihai hệ thống chính trị khác nhau nhưng lại có mối quan hệ thânthiết, gắn bó Tình hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Australia khôngngừng được củng cố và phát triển qua chặng đường hơn hai támnăm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (26/12/1973).Đặc biệt 10 năm gần đây đã chứng kiến sự khởi sắc trong quan hệhai nước với những chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao hainước, cụ thể là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướngJohn Haward và chuyến thăm Australia của Thủ tướng Phan VănKhải tháng 4/1999; nhiều hiệp định về kinh tế, thương mại được

ký kết; đầu tư của Australia vào Việt Nam và kim ngạch thươngmại song phương không ngừng gia tăng Hai nước đã ủng hộ vàchia sẻ quan điểm trên một số diễn đàn quốc tế: Australia ủng hộViệt Nam gia nhập ASEAN, giúp Việt Nam trong quá trình thamgia APEC, ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO; Việt Nam ủng hộ

Australia gia nhập ASEM

Chính phủ Australia luôn coi trọng quan hệ và mong muốn thúc đẩyhợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thể hiện rõ và sinh động qua việntrợ phát triển chính thức dành cho Việt Nam Từ năm 1991 đến nayAustralia dành cho Việt Nam 772 triệu đôla Australia (AUD) viện

trợ ODA

Về thương mại, trong nhiều năm qua, kim ngạch thương mại giữahai nước tăng trung bình 40%/ năm Năm 1993, kim ngạch xuấtnhập khẩu giữa hai nước đạt 336,8 triệu AUD, trong đó Việt Namxuất 251,3 triệu AUD, nhập 115,5 triệu AUD, so với năm 1990 tănggấp 9 lần Sang năm 1994, tổng kim ngạch tăng lên 23,5% đạt452,9 triệu AUD (tăng 15%), nhập 163,5 triệu AUD (tăng 41,5%).Năm 1995, kim ngạch chung đạt 500 triệu AUD, tức là vẫn giữ

Trang 11

nhịp độ như năm trước, trong đó hàng Việt Nam xuất sangAustralia là 340 triệu AUD, hàng nhập là 210 triệu AUD Kimngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng từ 32,3 triệu USD năm

1990 lên mức kỷ lục 1 tỷ AUD (trên 600 triệu USD) năm 1998 vớinhững mặt hàng trao đổi ngày càng phong phú Tổng kim ngạchbuôn bán hai chiều năm 2001 là 1.310,5 triệu đô la Mỹ, trong đóxuất khẩu của Việt Nam đạt 1.041,8 triệu đô la Mỹ Các mặt hàngxuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Australia là những mặt hàng

có chứa hàm lượng nguyên liệu và lao động cao: dầu thô, hải sản,giày dép, quần áo, quả và hạt tươi hoặc khô, nhựa Các mặt hàngnhập khẩu chủ yếu của Việt Nam: sữa và các sản phẩm từ sữa, ngũcốc và các sản phẩm kể cả lúa mỳ, nhôm, thiết bị và máy điện tử,dầu thực vật, các loại thuốc, động cơ mô tô, máy phát điện

Về đầu tư, tính đến thời điểm cuối tháng 9/2001, Australia là nướcđứng thứ 14 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào ViệtNam với 110 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đầu

tư đăng kýí là 1.044 triệu đô la Mỹ Số dự án còn hiệu lực là 73 dự

án với tổng vốn đầu tư đăng kíý là 752 triệu USD, vốn pháp định

523,6 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 539 triệu USD (Nguồn:

Trang 12

và giao thông vận tải Trong bối cảnh khủng hoảng khu vực mấynăm vừa qua, Australia vẫn tiếp tục đầu tư vào Việt Nam mà điểnhình là tập đoàn Telstra đã tăng đầu tư vào Việt Nam 40 triệu USD

và chọn Hà Nội làm trụ sở chính của Châu Á

Về hợp tác phát triển, năm tài chính 2001/2002 là năm thực hiệncuối cùng của kỳ cam kết 236 triệu đô la Australia giai đoạn1998/1999-2001/2002 Tỡnh hỡnh giải ngõn thực tế vượt mức cam

kết ban đầu khoảng 66 triệu đô la Australia (Nguồn: AusAID Information) Về mức cam kết của Chính phủ Australia dành cho

Việt Nam giai đoạn tới: Theo thông báo của AusAID, do khó khăn

về tài chính nhất là không dự báo được tỡnh hỡnh nờn từ nayAustralia sẽ khụng cam kết theo tài khoỏ 4 năm mà việc phân bổngân sách hàng năm tuỳ thuộc vào tỡnh hỡnh thực hiện của từng dự

ỏn, chương trỡnh cụ thể và phụ thuộc vào ngõn sỏch hàng năm củaChính phủ Australia dành cho viện trợ Đối với Việt Nam, mứcviện trợ hàng năm sẽ vào khoảng 66 triệu đô la Australia, không kểcác chương trỡnh hợp tỏc khu vực Ngoài ra, do tỡnh hỡnh ngõnsỏch bị hạn chế nờn trong một vài năm tới sẽ tạm thời chưa xem xétcác đề xuất mới, trừ một số dự án nhỏ nếu phù hợp và có thể lồngghép thực hiện trong khuôn khổ Quỹ CEG Các dự án đó ký kết sẽtiếp tục triển khai theo cam kết nhưng có thể sẽ kéo dài thời gian

thực hiện hơn so với dự kiến

Về lĩnh vực hợp tỏc: Phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn và quản lýnhà nước, giáo dục và đào tạo vẫn là những lĩnh vực trọng tâmtrong chương trỡnh hợp tỏc phỏt triển Việt Nam - Australia Hợptỏc trong lĩnh vực y tế được thực hiện thông qua việc triển khai dự

án Phũng chống HIV/AIDS khu vực Châu Á Giai đoạn 2 dự ánTăng cường năng lực theo dừi và đánh giá dự án (VAMES) được

Trang 13

thực hiện có ý nghĩa quan trọng trong tiến trỡnh hài hoà thủ tục

giữa Chớnh phủ Việt Nam với cỏc nhà tài trợ

Quan hệ hợp tác giữa hai nước đang được mở rộng sang cả an ninh,quốc phòng Hai bên đã tiến hành hàng năm Đối thoại chính thức

về an ninh khu vực; Trao đổi tùy viên quân sự và hợp tác chống tộiphạm, ma túy Hợp tác hai nước trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật,thanh niên, du lịch, thể thao cũng ngày càng được mở rộng, gópphần tăng cường hiểu biết và hữu nghị giữa nhân dân hai nước.Bước vào thế kỷ 21, hai nước Việt Nam và Australia có một hànhtrang đáng kể để tăng cường hơn nữa tình hữu nghị và hợp tácnhiều mặt Đó là sự chân thành, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau Đó

là ý nguyện cùng xây dựng hòa bình, hợp tác vì thịnh vượng vàphát triển của mỗi nước cũng như của khu vực Châu Á - Thái Bình

Dương và toàn thế giới

2 ODA của Australia cho Việt Nam:

2.1 Khái quát chung về ODA:

Hiện nay, một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầutrong chính sách phát triển kinh tế của các nước đang phát triển làviệc huy động vốn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Các nguồn vốn được huy động ở đây gồm có vốn trong nước

và vốn đầu tư nước ngoài

Trong phần vốn của nước ngoài, bên cạnh nguồn vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) với vai trò to lớncủa nó, còn phải kể đến nguồn Viện trợ phát triển chính thức(Official Development Assistance - ODA) đó và đang góp phần

không nhỏ vào công cuộc phát triển đất nước

Trang 14

Khái niệm về ODA:

Viện trợ phát triển chính thức ODA là tất cả các khoản viện trợkhông hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay với thời giandài và lãi suất thấp) của Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống LiênHợp Quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chínhquốc tế (Ngân hàng thế giới - WB, Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF, Ngânhàng phát triển Châu Á - ADB ) gọi chung là các đối tác viện trợnước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ

nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của các nước này

Viện trợ là việc nguồn lực được chuyển từ nước này sang nướckhác dựa trên các điều khoản được thỏa thuận Nước cấp viện trợgọi là nước viện trợ (Donor) Nước tiếp nhận gọi là nước nhận việntrợ (Recipient) Nguồn viện trợ được cung cấp cho nhiều mục đíchkhác nhau thông qua nhiều kênh khác nhau Nguồn ODA cung cấpcho các nước nhận viện trợ được hiểu là sự trợ giúp bằng tiền, vật

tư, thiết bị, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức (cung cấpchuyên gia, đào tạo cán bộ ) dưới các hình thức viện trợ khônghoàn lại hoặc viện trợ cú hoàn lại được thực hiện theo những thỏathuận ký kết bằng văn bản Về cơ bản, ODA có ba hình thức: Việntrợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại và viện trợ không hoàn lại

kết hợp cho vay

Viện trợ không hoàn lại: là nguồn viện trợ cấp không, không

phải trả lại Đối với loại viện trợ này thường là hỗ trợ kỹ thuật,chuyển giao công nghệ, tri thức, kinh nghiệm thông qua các hoạtđộng của các chuyên gia quốc tế Đôi khi viện trợ này cũng có thể

là viện trợ nhân đạo (lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc men )thì chúng khó có thể huy động vào mục đích đầu tư phát triển vìngay cả nơi vật tư cho không cũng có đơn giá rất cao Thêm vào đó

Trang 15

cần nhận thấy rằng các khoản viện trợ không hoàn lại thường kèmtheo một số điều kiện về tiếp nhận, đơn giá Đặc biệt nhiều đối tácviện trợ cung cấp với các điều kiện ràng buộc khắt khe về chính trị(xu hướng này đã ngày càng giảm đi trong những năm gần đây) mànhiều Chính phủ không thể thỏa mãn hoặc nếu cố tình chấp nhận sẽgây nên tình trạng lệ thuộc về chính trị hoặc mất ổn định, ảnhhưởng tới chủ quyền quốc gia, một vấn đề đang trở nên không thể

chấp nhận được trong thời đại ngày nay

Viện trợ có hoàn lại: thực chất là các khoản vay tín dụng ưu

đãi với điều kiện “mềm” Với các khoản vay ưu đãi vốn ODA cóthể sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển Tính chất ưu đãi của

các khoản vay này thể hiện ở chỗ:

Lãi suất của các khoản vay trong khuôn khổ ODA là lãi thấp,

thường dưới 3%/ năm.

Thời gian cho vay của các khoản vay này dài Hầu hết các khoản vốn vay ODA của Chính phủ đều có thời hạn kéo dài trên

20 năm Thời hạn thanh toán là thời hạn từ khi ký kết hiệp định

vay đến khi bên vay trả hết tiền vay gốc.

Thời gian ân hạn: là thời hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên Đây chính là thời gian hoàn trả nợ mà nước tài trợ dành cho nước nhận viện trợ để tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy hiệu quả của vốn vay, tạo điều kiện trả nợ Thời gian ân hạn của các khoản vay ưu đãi tùy thuộc vào các nhà tài trợ và tùy vào đối tượng nhận viện trợ, Nhật Bản thường có thời gian ân hạn là

10 năm, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là 3 đến 4 năm (chưa trả gốc, chỉ phải trả lãi), Ngân hàng thế giới (WB) là 10 năm, Ngân hàng

phát triển Châu á (ADB) là 5 đến 7 năm.

Trang 16

Viện trợ không hoàn lại kết hợp cho vay: Bao gồm một phần

cấp không, một phần thực hiện theo hình thức vay tín dụng.Như vậy, có thể phân biệt được ODA với các nguồn vốn nướcngoài khác như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay vay nợ nướcngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình kinh tế trong đó mộthay nhiều tổ chức kinh tế của nước này đầu tư sang nước khácnhằm mục đích xây dựng những công trình mới hoặc hiện đại hóa

mở rộng các xí nghiệp hiện có Về nguyên tắc, doanh nghiệp đóđược trực tiếp tham gia quản lý tài sản của mình, hoạt động này cónhiều hình thức như Hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập các xínghiệp liên doanh, các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài ODA vàFDI khác nhau ở chỗ cùng là nguồn đầu tư từ nước ngoài nhưngqua đầu tư trực tiếp các nước phát triển tiếp nhận được công nghệhiện đại sau đó cải tiến, phát triển thành công nghệ của mình, mặtkhác phía nhận đầu tư còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức quản

lý của nước đầu tư Hơn nữa các công ty nước ngoài còn giúpdoanh nghiệp địa phương tiếp cận được vào thị trường thế giớithông qua liên doanh và mạng lưới thị trường rộng lớn của họ

So với nguồn vay nợ nước ngoài, ODA khác ở chỗ vay nợ nướcngoài không có các điều kiện ưu đãi về lãi suất hay thời gian ân hạn

mà đó chỉ đơn thuần là khoản vay phải trả với lãi suất bình thường.Đặc điểm của ODA:

Xét về bản chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc khônghoàn lại theo những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩmquốc dân từ một quốc gia giàu sang quốc gia nghèo Mục tiêu cơbản của ODA là thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và đóng gópvào việc cải thiện mức sống ở các nước đang phát triển

Trang 17

Thực tế cũng chứng minh được rằng ODA đóng một vai trò quantrọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của nước nhậnviện trợ nếu những quốc gia này sử dụng ODA một cách hợp lý.Tuy nhiên, thực chất của việc viện trợ còn bao hàm cả những yếu tốtiêu cực Các nước phát triển-nước viện trợ không cung cấp mộtcách vô tư các khoản viện trợ, đó không đơn thuần là một sự việntrợ để giúp nước nghèo thoát khỏi lạc hậu để cùng nhau phát triển.Nhìn một cách phiến diện thì việc các nước giàu cung cấp ODAcho các nước nghèo là một việc làm mang ý nghĩa tốt đẹp nhưngbên trong nó là cả một vấn đề và đó cũng chính là các đặc điểm đểphân biệt ODA với các nguồn vốn khác từ nước ngoài.

ODA gắn với chính trị và là một trong những phương tiện để thựchiện ý định chính trị, đồng thời nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sựkiểm soát của dư luận xã hội ở cả nước tài trợ lẫn nước nhận việntrợ Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ODA được sử dụng để lôi kéothêm đồng minh vì có sự đối đầu Đông - Tây nhằm cân bằng lựclượng Kể từ khi hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu - Liên Xô

cũ tan rã, chiến tranh lạnh chấm dứt, các nhà tài trợ vẫn vận dụngODA vào mục đích chính trị, tuy nhiên bản chất của hiện tượng đãthay đổi nhiều Đó là lợi ích chính trị phải đi đôi với lợi ích kinh tế,thương mại, phải vì mục tiêu cuối cùng là tăng cường phát triểnkinh tế song song với quan hệ chính trị trên cơ sở hợp tác đối thoại,

Trang 18

nước nhận viện trợ Các quốc gia hoặc khước từ các điều kiện ràngbuộc hoặc có thể có chế độ chính trị được coi là thù địch thì sẽ nằmngoài diện được cấp ODA Sự phân biệt đối xử có chủ định trongviệc cấp ODA là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạngphân bổ không đồng đều nguồn ODA giữa các nước đang phát triển

và giữa các khu vực trên thế giới

Nước tiếp nhận ODA phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợnhư là thực hiện các cải cách kinh tế theo mẫu mà bên viện trợ đưa

ra Điển hình là Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMFthường chỉ viện trợ cho các nước đang phát triển khi những nướcnày cam kết thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo tiến trình vàtiêu chuẩn mà các tổ chức này yêu cầu Trên thực tế, những môhình của các tổ chức này phần lớn dựa theo mô hình nước phát triểnnên ít tính khả thi, ít mang lại kết quả Do vậy dẫn tới tình trạngnước nhận hoặc là phải nhập khẩu hàng hóa, thiết bị, nguyên vậtliệu của nước tài trợ hoặc phải nhận từ nơi mà nước tài trợ yêu cầu.Nước nhận viện trợ phải chịu rủi ro đồng tiền nước viện trợ Nếuđồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền nước tiếp nhận thu đượcthông qua xuất khẩu (nguồn thu nhập để trả nợ) thì nước nhận việntrợ sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ xung phát sinh do chênh lệchgiá ở thời điểm vay và thời điểm trả nợ Nước tiếp nhận thườngkhông có quyền trong việc lựa chọn đồng tiền để vay ODA, cũngkhông có quyền sử dụng tiền địa phương để làm đơn vị viện trợ màbuộc phải vay bằng tiền nước cấp ODA Chẳng hạn, hiến pháp NhậtBản quy định rõ chỉ cho vay viện trợ bằng đồng JPY (Yên Nhật).Như vậy, thực chất ODA không phải là món quà biếu không, bêntrong mục đích tương trợ, giúp đỡ để cùng nhau phát triển là sự đấutranh không ngừng nghỉ vì quyền lợi của chính mình Không thể

Trang 19

đòi hỏi các nước phát triển phải cung cấp viện trợ một cách vô tưcho các nước nghèo mà không được gì Chính vì vậy, việc họ đưa

ra các điều kiện ràng buộc đối với các nước nhận viện trợ khi cấpODA là điều tất yếu Vấn đề đặt ra là các nước nhận viện trợ phải

có những chính sách ngoại giao hợp lý, khéo léo để vừa thu hútđược ODA cho phát triển kinh tế nhưng lại không đi lệch hướngđường lối chính trị và không làm mất lòng các nhà tài trợ

2.2 Đặc điểm ODA của Australia cho Việt Nam:

Mục tiêu chung của Chương trình hỗ trợ phát triển Việt Nam trongkhuôn khổ ODA của Australia vào Việt Nam là xoá đói giảmnghèo, phát triển Kinh tế xã hội bền vững Đặc điểm nổi bật củachương trình ODA của Australia với Việt Nam là các khoản việntrợ thường là những khoản viện trợ không hoàn lại Các khoản việntrợ này được thực hiện thông qua các chương trình viện trợ nhằm

đạt được mục tiêu lớn nhất nói trên

Phần lớn các dự án do Australia tài trợ cho Việt Nam đều có cácchuyên gia hay người tình nguyện của Australia sang Việt Nam trựctiếp hướng dẫn thực hiện Ví dụ, hơn ba trăm công nhân, kỹ sư,chuyên gia của Australia sang Việt Nam trong dự án xây dựng cầu

Mỹ Thuận; sáu người tình nguyện trong “Chương trình các nhà đại

sứ trẻ” Điều này chứng tỏ Australia có quan tâm thực sự tới hiệuquả trực tiếp của các chương trình chứ không chỉ bỏ một khoản tiền

tài trợ để phía nhận viện trợ tùy ý sử dụng

Ngoài ra, với quan điểm của AusAID là cần phải có sự tham giađóng góp vốn của cả hai phía thì các dự án mới có thể mang tínhkhả thi và đạt được hiệu quả cao, lâu dài nên có thể nói các dự án

Trang 20

được Australia viện trợ đều có sự tham gia đóng góp vốn từ cả hai

phía Australia và Việt Nam

Một đặc điểm cơ bản nữa là tất cả các dự án do Australia tài trợphải phù hợp với các chính sách của AusAID về giới tính, phát

triển, dân số và môi trường

Dự án về Quản lý Nhà nước đều hướng tới mục tiêu chung nhất làcủng cố năng lực của một số bộ phận ngành và cơ quan Nhà nước

có liên quan, nhằm nâng cao tính hiệu quả, công minh, chính trựctrong chính sách quản lý, phát triển và dịch vụ ở Việt Nam Cáchoạt động dự án tập trung vào 4 lĩnh vực: Phát triển kinh tế tư nhân,hội nhập kinh tế, sử dụng hiệu quả những nguồn lực công cộng,thúc đẩy hệ thống tư pháp và luật pháp công minh, rõ ràng và dễ

tiếp cận

Các lĩnh vực ưu tiênCác lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA:

1 Vốn ODA khụng hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho những

chương trỡnh, dự ỏn thuộc cỏc lĩnh vực:

a) Xoỏ đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng

sâu, vùng xa;

Trang 21

b) Y tế, dõn số và phỏt triển;

c) Giỏo dục, phỏt triển nguồn nhõn lực;

d) Cỏc vấn đề xó hội (tạo việc làm, cấp nước sinh hoạt, phũng

chống dịch bệnh, phũng chống cỏc tệ nạn xó hội);

đ) Bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển các nguồn tàinguyên thiên nhiên; nghiên cứu khoa học và cụng nghệ, nõng cao

năng lực nghiờn cứu và triển khai;

e) Nghiên cứu chuẩn bị các chương trỡnh, dự ỏn phỏt triển (quy

hoạch, điều tra cơ bản);

g) Cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơquan quản lý Nhà nước ở Trung ương, địa phương và phát triển

thể chế;

2 Vốn ODA vay được ưu tiên sử dụng cho những chương trỡnh,

dự ỏn thuộc cỏc lĩnh vực:

a) Xoỏ đói giảm nghốo, nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn;

b) Giao thụng vận tải, thụng tin liờn lạc;

c) Năng lượng;

d) Cơ sở hạ tầng xó hội (cỏc cụng trỡnh phỳc lợi cụng cộng, y

tế, giỏo dục và đào tạo, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường);đ) Hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất nhằm giải quyết cỏc vấn đề

kinh tế - xó hội;

e) Hỗ trợ cỏn cõn thanh toỏn;

Quy định về sử dụng và giải ngân ODA:

Trước yêu cầu cấp thiết của việc phải có một khung pháp lý điềuchỉnh các hoạt động ODA hỗ trợ bởi chính phủ Australia nói riêng

Trang 22

cũng như hoạt động ODA nói chung, Chính phủ Việt Nam đã banhành các nghị định, quy chế cũng như các thông tư hướng dẫn vềquản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, trong đú quyđịnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng ODA chotừng thời kỳ, phê duyệt danh mục và nội dung chương trỡnh, dự ỏnODA yờu cầu tài trợ và chương trỡnh, dự ỏn ODA thuộc thẩmquyền phờ duyệt của Thủ tướng Chính phủ, điều hành vĩ mô việcquản lý, thực hiện các chương trỡnh, dự ỏn ODA, ban hành cỏc vănbản quy phạm pháp luật về việc quản lý và sử dụng ODA.Cùng vớicác văn bản pháp quy khác, nghị định 17/2001/NĐ-CP đã thiết lậpmột hệ thống văn bản hướng dẫn khá cụ thể về việc sử dụng và giải

hội ưu tiên

2 Chớnh phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA trên cơ sởphõn cấp, tăng cường trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽgiữa các cấp, các cơ quan quản lý ngành và địa phương

3 Quỏ trỡnh thu hỳt, quản lý và sử dụng ODA phải tuõn thủ

những yờu cầu dưới đây:

a) Chớnh phủ nắm vai trũ quản lý và chỉ đạo, phỏt huy cao độtớnh chủ động và trách nhiệm của cơ quan chủ quản và cơ quan,

đơn vị thực hiện;

b) Bảo đảm tớnh tổng hợp, thống nhất và đồng bộ trong cụng tỏc

quản lý ODA;

Trang 23

c) Bảo đảm sự tham gia rộng rói của cỏc bờn cú liờn quan, trong

đó cú cỏc đối tượng thụ hưởng;

d) Bảo đảm tớnh rừ ràng, minh bạch về quyền hạn và trỏch nhiệm

của cỏc bờn cú liờn quan;

đ) Bảo đảm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và Nhà tài trợ.Nghị định 17/2001/Né-CP của Chớnh phủ ngày 4 thỏng 5 năm

2001 về việc ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợphát triển chính thức (ODA) (có hiệu lực từ ngày 19 tháng 5 năm

2001 thay thế Nghị định 87/CP)

Với 8 chương, 46 điều, Nghị định 17/CP đó đề cập một cách tươngđối chi tiết toàn bộ quá trỡnh từ thu hỳt, vận động đến thực hiện vàtheo dừi, đánh giá các chương trỡnh, dự ỏn ODA Nột mới củaNghị định so với Nghị định 87/CP trước kia thể hiện ở một số điểm

sau:

1 Có sự điều chỉnh lại thứ tự ưu tiên các lĩnh vực sử dụng ODAvới định hướng ưu tiên cao nhất là xoá đói giảm nghèo, nôngnghiệp và phát triển nông thôn, đặc biệt tại các vùng nông thôn,

miền núi, vùng sâu, vùng xa (éiều 3.1.a, 3.2.a)

2 Tăng cường phân cấp phê duyệt dự án trên cơ sở xác định rừtrỏch nhiệm của cỏc bờn liờn quan nhằm đảm bảo việc quản lý nhànước chặt chẽ nguồn vốn ODA Cụ thể, mức phê duyệt của thủtrưởng các cơ quan chủ quản đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật đượcnâng từ dưới 500.000USD lên dưới 1.000.000USD (Mức phêduyệt các dự án đầu tư được điều chỉnh theo Nghị định 52/CP).Quy chế cũng quy định rằng những người có thẩm quyền phê duyệtnày “phải căn cứ vào các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA và căn cứvào hiệu quả kinh tế-xó hội của chương trỡnh, dự ỏn ODA, danh

Trang 24

mục chương trỡnh, dự ỏn ODA đó được Chính phủ phê duyệt vàchịu trách nhiệm cá nhân về quyết định của mỡnh” (éiều 20.2) Ngoài ra, Quy chế cũng quy định các mức phân cấp cụ thể cho việcphê duyệt những điều chỉnh, bổ sung nội dung chương trỡnh, dự ỏnODA trong quỏ trỡnh thực hiện Cụ thể, tại éiều 29 cú quy định đốivới các chương trỡnh, dự ỏn thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủtướng Chính phủ, Cơ quan chủ quản được phép phê duyệt mọi sửađổi, bổ sung về mức vốn không vượt quá 10% tổng vốn đó đượcphê duyệt hoặc không quá 1.000.000 đôla Mỹ đối với dự án đầu tư

và 100 nghỡn đôla Mỹ đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật; Tương tự,đối với các chương trỡnh, dự ỏn thuộc thẩm quyền phờ duyệt của

Cơ quan chủ quản, Chủ dự án được phép phê duyệt mọi sửa đổi, bổsung về mức vốn không vượt quá 10% tổng vốn đó được phê duyệthoặc không qúa 500.000 đôla Mỹ đối với dự án đầu tư và 50 nghỡn

đôla Mỹ đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật

3 Ban chuẩn bị chương trỡnh, dự ỏn ODA và Ban quản lý dự ỏnODA được quy định cụ thể về tổ chức, trách nhiệm và quyền hạn.éiều 13 Quy chế về Ban chuẩn bị chương trỡnh, dự ỏn ODA đó quyđịnh một loạt các nhiệm vụ cho Ban này trong đó bao gồm việcnghiên cứu các quy định của phía Việt Nam và bên tài trợ về quátrỡnh chuẩn bị, thực hiện chương trỡnh, dự ỏn và lập kế hoạchchuẩn bị chương trỡnh, dự ỏn ODA trỡnh cơ quan chủ quản phêduyệt Những nội dung trên nếu được thực hiện tốt sẽ có tác độngtích cực tới tiến độ triển khai các chương trỡnh, dự ỏn ODA vàkhắc phục một trong những nguyờn nhõn lớn gõy chậm trễ cho việc

tiến hành cỏc dự ỏn hiện nay

Cũng là một điểm mới khác của Nghị định, Quy chế có một điềukhoản riêng quy định về Ban quản lý chương trỡnh, dự ỏn ODA

Trang 25

(éiều 25) éiều khoản này cũng quy định Bộ Kế hoạch và éầu tư sẽ

có hướng dẫn cụ thể về quy chế mẫu chức năng, nhiệm vụ của các

Ban quản lý dự ỏn

4 éồng bộ hoỏ với cỏc văn bản quy phạm pháp luật khác có tínhđặc thù của dự án ODA Ví dụ, tại giai đoạn thẩm định dự án, trongQuy chế có quy định rằng “trong quá trỡnh thẩm định, cơ quan chủtrỡ tổ chức thẩm định phải xem xét các nội dung đó thoả thuận vớiNhà tài trợ, ý kiến thẩm định của Nhà tài trợ hoặc đại diện của Nhàtài trợ, ý kiến đồng thuận hoặc ý kiến khác nhau giữa các bên phảiđược phản ánh trong báo cáo thẩm định” (éiều 18.6) hoặc trong quỏtrỡnh chuẩn bị dự ỏn, Quy chế quy định rằng ngoài các nội dungbắt buộc theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, báocáo nghiên cứu tiền khả thi các chương trỡnh, dự ỏn ODA đầu tưphải có thêm nội dung mang tính chất đặc thù của chương trỡnh, dự

ỏn cú sử dụng vốn ODA như “lý do sử dụng vốn ODA, thế mạnhcủa Nhà tài trợ về cụng nghệ, kinh nghiệm quản lý, tư vấn chínhsách thuộc lĩnh vực được tài trợ hoặc đánh giá các điều kiện ràngbuộc theo quy định của Nhà tài trợ đối với chương trỡnh, dự ỏn

ODA”

5 So với Nghị định 87/CP, Nghị định 17/CP đó bổ sung thờmcỏc quy định về vốn bao gồm vốn chuẩn bị chương trỡnh, dự ỏnODA (éiều 5.12.a và 12), vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thựchiện chương trỡnh, dự ỏn ODA (éiều 5.12.b và 26), vốn ứng trước

để thực hiện chương trỡnh dự ỏn ODA (éiều 27) làm cơ sở cho việclên kế hoạch và giải ngân nguồn vốn đối ứng cần thiết cho dự án.Việc thể chế hoá các quy định liên quan đến các loại vốn này vàotrong Nghị định mới thực chất là tạo cơ sở pháp lý cho việc xácđịnh nguồn, lập kế hoạch và giải ngân các loại vốn này từ các

Trang 26

nguồn thích hợp đó được đưa vào kế hoạch, kể cả từ Ngân sách nhànước, tránh tỡnh trạng nhiều dự ỏn vỡ thiếu hoặc gặp khú khăn vềvốn đối ứng của phía Việt Nam mà bị chậm trễ so với tiến độ Ví

dụ, điều 26 Quy chế có ghi rằng “Các chương trỡnh, dự ỏn ODAđều phải được đảm bảo đủ vốn đối ứng để chuẩn bị thực hiện vàthực hiện Nguồn vốn và cơ chế sử dụng vốn đối ứng phải được quyđịnh trong quyết định phê duyệt văn kiện chương trỡnh, dự ỏnODA Vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trỡnh,

dự ỏn ODA thuộc diện ngõn sỏch Nhà nước cấp phát do Cơ quanchủ quản bố trí đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ quy định trongvăn kiện chương trỡnh, dự ỏn ODA đó được cấp có thẩm quyền phêduyệt, phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và điềuước quốc tế về ODA đó ký kết” và “éối với các chương trỡnh, dự

ỏn ODA khụng kịp bố trớ vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sáchhàng năm hoặc có nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng, Chủ dự án và

Cơ quan chủ quản phải có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và éầu tư, BộTài chính yêu cầu xem xét, quyết định tạm ứng vốn đối ứng từnguồn dự phũng ngõn sỏch Trung ương và sau đó sẽ khấu trừ vào

kế hoạch vốn đối ứng của kỳ kế hoạch tiếp theo”

Tương tự như vậy, quy định về vốn ứng trước trong Quy chế (éiều27) xỏc định rằng “Trường hợp có nhu cầu cấp thiết về vốn ứngtrước để thực hiện một số hạng mục của chương trỡnh, dự ỏn đóđược cam kết tài trợ từ nguồn vốn ODA, Bộ Tài chính chủ trỡ phốihợp với Bộ Kế hoạch và éầu tư xem xét, quyết định tạm ứng vốn từnguồn ngân sách Nhà nước trên cơ sở văn bản giải trỡnh của Cơquan chủ quản và văn bản thoả thuận của Nhà tài trợ Phần vốn này

sẽ được Bộ Tài chính thu hồi lại khi giải ngân vốn ODA phân bổ

cho hạng mục đó”

Trang 27

6 Bổ sung thờm cỏc nhiệm vụ cú tớnh chất quản lý vĩ mụ chocỏc cơ quan quản lý nhà nước về vốn ODA éõy là cỏc chức năng

có tính hướng dẫn và hỗ trợ cơ quan các cấp trong quá trỡnh vậnđộng, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, như chức năng biênsoạn và hướng dẫn thực hiện các tài liệu nghiệp vụ cho quá trỡnhthực hiện cỏc chương trỡnh, dự ỏn ODA đối với các nội dung cụngviệc mà ngành mỡnh quản lý Vớ dụ, Bộ Kế hoạch và éầu tư cónhiệm vụ "biên soạn và phổ biến các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ

về vận động, chuẩn bị, thẩm định, quản lý thực hiện cỏc chươngtrỡnh, dự ỏn ODA cú tớnh đến yêu cầu hài hoà thủ tục với các nhàtài trợ" (éiều 38.10) hay Bộ Tài chớnh cú nhiệm vụ "Biờn soạn vàphổ biến cỏc tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về giải ngân và quản lýtài chớnh đối với các chương trỡnh, dự ỏn ODA" (éiều 39.5)

7 Theo dừi, đánh giá chương trỡnh, dự ỏn ODA Khắc phụckhõu yếu trong cụng tỏc theo dừi và đánh gía chương trỡnh, dự ỏnODA trước đây, Nghị định 17/2001/Né-CP đó cú riờng một chương

VI với 4 éiều quy định về chế độ báo cáo, quyền hạn và trách nhiệmcủa các cơ quan liên quan cũng như của Ban quản lý chương trỡnh,

dự ỏn ODA trong cụng tỏc này éõy là bước tiến đáng kể so với cácNghị định 20/CP và 87/CP trước đây Hoạt động theo dừi, đánh giá

dự án đó được thể chế hoá trong chương này có tính chất bắt buộcvới mọi chương trỡnh dự ỏn thụng qua quy định “kế hoạch, tổ chứcthực hiện và kinh phớ theo dừi, đánh giá trích từ nguồn vốn ODAhoặc nguồn vốn đối ứng phải được xác định trước trong văn kiệnchương trỡnh, dự ỏn ODA và phải phự hợp với tớnh chất của từng

loại chương trỡnh, dự ỏn” (éiều 33.3)

Quyết định 64/2001/Qé-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2001 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng

Trang 28

nguồn viện trợ phi chớnh phủ nước ngoài (VTPCP) (thay thế Quyết

định số 28/1999/Qé-TTg ngày 23 thỏng 2 năm 1999)

So với Quyết định 28, Quyết định 64 đó nõng mức phân cấp phêduyệt các khoản VTPCP, theo đó các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơquan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủtrưởng cơ quan Trung ương của các tổ chức nhân dân (hoặc cấp cóthẩm quyền quyết định thành lập đối với các tổ chức không có cơquan Trung ương) được quyền phê duyệt các chương trỡnh, dự ỏn

cú mức vốn dưới 500.000 USD, các khoản viện trợ phi dự án có giátrị dưới 200.000 USD và mọi khoản cứu trợ khẩn cấp đó cú địa chỉ

cụ thể

Quy trỡnh thu hỳt, quản lý, sử dụng ODA được tiến hành theo các

bước chủ yếu sau:

1 Xây dựng danh mục các chương trỡnh, dự ỏn ưu tiên vận động

và sử dụng ODA

2 Vận động ODA

3 Đàm phỏn, ký kết điều ước quốc tế khung về ODA

4 Thụng bỏo điều ước quốc tế khung về ODA

5 Chuẩn bị văn kiện chương trỡnh, dự ỏn ODA

6 Thẩm định, phê duyệt nội dung chương trỡnh, dự ỏn ODA

7 Đàm phỏn, ký kết, phờ chuẩn hoặc phờ duyệt điều ước quốc tế

cụ thể về ODA

8 Thực hiện chương trỡnh, dự ỏn ODA

9 Theo dừi, đánh giá, nghiệm thu, quyết toán và bàn giao kết quả

chương trỡnh, dự ỏn ODA

Trang 29

Quy định về giải ngân ODA:

Giải ngân ODA là một vấn đề quan trọng và nhạy cảm, không chỉ làmối quan tâm của nước nhận viện trợ mà ngay cả đối với các nhàtài trợ Chính vì vậy, quy trình quản lý kế hoạch giải ngân ODAliên quan đến nhiều Ban, ngành chức năng như Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Ngoại giao và đòi

hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan đầu mối trong việc thu hỳt,

điều phối, quản lý ODA, cú nhiệm vụ:

1 Chủ trỡ phối hợp với Bộ Tài chớnh tổng hợp và lập kế hoạchgiải ngõn vốn ODA, bố trớ đầy đủ và kịp thời vốn chuẩn bị chươngtrỡnh, dự ỏn ODA, vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện đốivới các chương trỡnh, dự ỏn ODA thuộc diện được Nhà nước cấpphát từ ngân sách trong kế hoạch vốn hàng năm; cựng với Bộ Tàichớnh chủ trỡ, phối hợp với cỏc cơ quan có liên quan xác định phần

dự phũng hợp lý trong ngõn sỏch Trung ương khi xây dựng dự toánngân sỏch hàng năm trỡnh Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội đểgiải quyết những nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng cho chương

trỡnh, dự ỏn ODA

2 Chủ trỡ việc theo dừi, đánh giỏ, kiểm tra tỡnh hỡnh quản lý,thực hiện và hiệu quả hoạt động các chương trỡnh, dự ỏn ODA; đônđốc, hỗ trợ việc thực hiện các chương trỡnh, dự ỏn ODA; làm đầumối trong việc xử lý cỏc vấn đề cú liờn quan đến nhiều Bộ, ngành;kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định biện phỏp xử

lý cỏc vấn đề về ODA thuộc thẩm quyền quy định

3 Xõy dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống thụng tin theo dừi,đánh giỏ hiệu quả sử dụng, tỡnh hỡnh giải ngõn cỏc chương trỡnh,

Trang 30

dự ỏn ODA; tạo điều kiện chia xẻ thụng tin và khai thỏc cú hiệu

quả hệ thống này

4 Bỏo cỏo tổng hợp theo định kỳ (6 thỏng, một năm) và theo yờucầu đặc biệt của Đảng và Nhà nước về tỡnh hỡnh quản lý, thực hiệncỏc chương trỡnh, dự ỏn ODA và hiệu quả thu hỳt, sử dụng, giải

ngõn ODA

Bộ Tài chớnh cú nhiệm vụ:

1 Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, quyhoạch thu hút, sử dụng ODA và điều phối các nguồn vốn ODA;hướng dẫn chuẩn bị nội dung chương trỡnh, dự ỏn ODA cú liờnquan đến điều kiện sử dụng vốn, quản lý tài chớnh, phõn tớch và

đánh giỏ hiệu quả sử dụng, giải ngõn vốn ODA

2 Chuẩn bị nội dung đàm phán chương trỡnh, dự án ODA vốnvay với Nhà tài trợ; theo uỷ quyền của Chủ tịch nước hoặc Thủtướng Chính phủ, tiến hành đàm phỏn cỏc điều ước quốc tế cụ thể

về ODA vốn vay

3 Đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước hoặc Chínhphủ nước Cộng hoà Xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong cỏc điều ướcquốc tế cụ thể về ODA, kể cả trong trường hợp Chủ tịch nước hoặcThủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho một cơ quan khác chủ trỡ đàm

phỏn cỏc điều ước quốc tế nêu trên

4 Quản lý tài chớnh đối với các chương trỡnh, dự ỏn ODA:a) Chủ trỡ, phối hợp với cỏc cơ quan liên quan xây dựng quy chếquản lý tài chớnh đối với chương trỡnh, dự ỏn ODA trỡnh Thủ

tướng Chính phủ quyết định;

Trang 31

b) Chủ trỡ, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan

có liên quan chuẩn bị trỡnh Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cơ chếtài chính trong nước áp dụng cho các chương trỡnh, dự ỏn ODA;c) Quy định cụ thể thủ tục rỳt vốn và quản lý rỳt vốn của cỏcchương trỡnh, dự ỏn ODA trờn cơ sở quy định của phỏp luật hiệnhành và quy định tại cỏc điều ước quốc tế về ODA đó ký với Nhà

tài trợ;

d) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp và lập kế hoạchgiải ngân nguồn vốn ODA, bố trí đầy đủ và kịp thời vốn chuẩn bịchương trỡnh, dự ỏn ODA, vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thựchiện đối với các chương trỡnh, dự ỏn ODA thuộc diện được Nhànước cấp phát từ ngân sách trong dự toán ngân sách hàng năm; cấpphỏt đầy đủ, đúng tiến độ vốn đối ứng cho các chương trỡnh, dự ỏnODA thuộc diện được Nhà nước cấp phát từ ngân sách; cùng với

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trỡ, phối hợp với cỏc cơ quan cú liờnquan xỏc định phần dự phũng hợp lý trong ngõn sỏch Trung ươngkhi xây dựng dự toán ngân sách hàng năm trỡnh Thủ tướng Chínhphủ và Quốc hội để giải quyết những nhu cầu đột xuất về vốn đốiứng cho chương trỡnh, dự ỏn ODA.Tổ chức cho vay lại và thu hồiphần vốn cho vay lại của các chương trỡnh, dự ỏn ODA thuộc

diện được Nhà nước cho vay lại

d) Bố trí vốn ngân sách Nhà nước để trả nợ cỏc khoản ODA vốn

vay khi đến hạn

e) Theo dừi, kiểm tra cụng tỏc quản lý tài chớnh trong việc sửdụng vốn ODA; tổ chức hạch toán kế toán ngân sách Nhà nước đốivới nguồn vốn ODA; tổng hợp số liệu rỳt vốn, thanh toỏn và trả nợ

Trang 32

đối với chương trỡnh, dự ỏn ODA bỏo cỏo Chớnh phủ và thụng

bỏo cho cỏc cơ quan liên quan

5 Biên soạn và phổ biến các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về giảingõn và quản lý tài chớnh đối với các chương trỡnh, dự ỏn ODA

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ:

1 Phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung đàmphán; theo sự uỷ quyền của Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chínhphủ, tiến hành đàm phỏn cỏc điều ước quốc tế cụ thể về ODA với

tổ chức tài trợ, bàn giao vốn và toàn bộ các thông tin liên quan đếnchương trỡnh, dự ỏn ODA cho Bộ Tài chớnh sau khi cỏc điều ước

quốc tế cụ thể về ODA có hiệu lực

2 Phối hợp với Bộ Tài chớnh lựa chọn và chỉ định các ngân hàngthương mại để uỷ quyền thực hiện việc giao dịch thanh toỏn đốingoại đối với nguồn vốn ODA, uỷ quyền cho vay lại và thu hồi vốn

trả nợ ngân sách trong trường hợp cần thiết

Tổng hợp theo định kỳ (6 thỏng, một năm) và thụng bỏo cho

Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan về tỡnh hỡnh rỳt vốn vàthanh toỏn thụng qua hệ thống tài khoản của cỏc chương trỡnh, dự

ỏn sử dụng vốn ODA mở tại cỏc ngõn hàng

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ODA CỦA AUSTRALIA VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN

tư nước ngoài nói chung và ODA nói riêng phục vụ cho phát triển

Từ năm 1990 đến năm 2001 Australia cam kết dành cho Việt Nam

536 triệu AUD viện trợ không hoàn lại cho các chương trình và dự

án về giáo dục và đào tạo, y tế, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng

Trang 34

Năm 2002 là năm kỷ niệm 10 năm quan hệ hợp tác phát triển ViệtNam - Australia Trong 10 năm qua, viện trợ của Australia choViệt Nam được cung cấp theo chu kỳ 4 năm và được định hướngtheo các ưu tiên của Việt Nam và theo Chiến lược hợp tác phát triểnViệt Nam - Australia trong từng chu kỳ này Giai đoạn 1994-1998,Australia đó cung cấp cho Việt Nam 200 triệu đô la Australia Trong giai đoạn 1998 - 2002, Australia cam kết viện trợ 236 triệu

đô la Australia Riêng năm 2002, viện trợ của Australia dành choViệt Nam đạt khoảng 73,3 triệu đôla Australia (60,126 triệu viện

trợ song phương và 13,074 triệu viện trợ khu vực)

Hoạt động viện trợ của Australia tập trung vào việc giúp Việt Namgiảm nghèo đói, phát triển bền vững và cụ thể nhằm vào các lĩnh

vực ưu tiên sau đây:

- Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm cả lĩnh vực cấp

nước và vệ sinh môi trường),

- Quản lý nhà nước

- Y tếVới sự hỗ trợ của Chính phủ Australia , trong những năm qua,nhiều dự án ODA đó được triển khai và mang lại hiệu quả thiếtthực điển hỡnh như dự án Cầu Mỹ Thuận và dự án cấp nước 5 thị

xó (Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Vĩnh Long và Trà Vinh).Australia là nước cung cấp cho Việt Nam nhiều học bổng du họcnhất thông qua chương trỡnh Học bổng phỏt triển Australia (ADS)

được thực hiện liên tục hàng năm

Trong tương lai, Australia sẽ không cam kết viện trợ theo từng giaiđoạn 4 năm mà sẽ tiến hành phân bổ ngân sách hàng năm tuỳ thuộc

Trang 35

vào tỡnh hỡnh thực hiện của từng dự ỏn, chương trỡnh cụ thể vàphụ thuộc vào ngân sách hàng năm của Chính phủ Australia dànhcho viện trợ éối với Việt Nam, mức viện trợ hàng năm sẽ vàokhoảng 66 triệu triệu đô la Australia , không kể các chương trỡnh

hợp tỏc khu vực

Hiện nay, hai phớa Việt Nam và Australia đang tích cực chuẩn bịcho việc hoàn thiện bản Chiến lược hợp tác phát triển Việt Nam -Australia giai đoạn 2002-2006 Các lĩnh vực phát triển nôngnghiệp, nông thôn, quản lý nhà nước, giáo dục và đào tạo vẫn lànhững lĩnh vực trọng tâm trong chương trỡnh hợp tỏc phỏt triểnViệt Nam - Australia Hợp tỏc trong lĩnh vực y tế sẽ tiếp tục với

cỏc dự ỏn đang triển khai và dự án hợp tác khu vực

Phù hợp với xu hướng phân cấp mạnh mẽ của Chính phủ Việt Namtrong công tác quản lý các dự án đầu tư, các dự án do Chính phủAustralia tài trợ cũng sẽ được giao cho các địa phương trực tiếpquản lý Một số dự án lớn được cam kết triển khai trong giai đoạntới gồm dự án Cấp nước và vệ sinh môi trường cho 3 thị xó đồngbằng sông Cửu Long, Chương trỡnh phỏt triển nụng thụn tại tỉnh

Quảng Ngói và Quỹ Quản trị quốc gia

Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia (AusAID) là tổ chức quản lý

và điều hành các chương trỡnh viện trợ phỏt triển Tổ chức này cúnhiệm vụ đưa ra các khuyến nghị về chính sách và hỗ trợ cho hoạtđộng của Bộ trưởng phụ trách các vấn đề phát triển và hợp tác vớicác quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệp Australia , các tổchức phi chính phủ (NGOs) và các tổ chức quốc tế nhằm xây dựng

và quản lý cỏc chương trỡnh xoỏ đói giảm nghèo một cách có hiệu

quả

Trang 36

AusAID là một cơ quan hành chính độc lập trực thuộc Bộ Ngoạigiao và Thương mại, có trách nhiệm báo cáo trực tiếp cho Bộtrưởng Bộ này về mọi khía cạnh của các hoạt động và chính sách

viện trợ

Bảng: Dòng ODA của Australia vào Việt Nam 1991-2002

Đơn vị: Triệu AUD

1991-1993

1994

1993- 1995

1994- 1996

1995- 1997 LượngOD

1998- 2000

1999- 2001

2000- 2002 LượngOD

2001-A

Nguồn: Australia's Overseas Aid Program 2001-2002

Nhỡn Bảng 1 cho thấy, số lượng ODA cam kết của Australia vàoViệt Nam tăng dần lên qua các năm và không hề có sự suy giảmnào Nếu đem so sánh với Indonesia, nước nhận viện trợ lớn thứ haicủa Australia sẽ thấy mặc dù số lượng viện trợ vào nước này tươngđối lớn nhưng con số viện trợ này tăng giảm một cách thất thường(Năm 1995-1996: 129,9 triệu AUD; năm 1996-1997 xuống còn104,2 triệu AUD; sang năm 1997-1998 chỉ nhận được 99,6 triệuAUD; 1998-1999 lại tăng lên 126,5 triệu AUD ) Phép so sánh nhỏnày nhằm mục đích chỉ ra rằng Việt Nam đã từng bước đạt đượcnhững tiến bộ đáng kể, tạo được niềm tin cho Chính phủ Australia.Nếu chia khoảng thời gian 1999-2001 ra làm ba giai đoạn viện trợ:1991-1994; 1994-1997; 1997-2001, ta có thể thấy lượng ODA của

Trang 37

Australia vào nước ta đã tăng lên gần gấp đôi trong giai đoạn

1994-1997 (gần 200 triệu AUD) so với cùng một khoảng thời gian

1990-1994 (100 triệu AUD) Năm 1998, tuy có khó khăn về tài chính vàphải giảm viện trợ cho nhiều nước, Australia vẫn quyết định tăngviện trợ phát triển cho Việt Nam lên 236 triệu AUD trong giai đoạn1998-2001 so với 200 triệu AUD giai đoạn 1994-1997 ODA màAustralia dành cho Việt Nam tài khóa 2001-2002 là 73,3 triệu AUD(tương đương 40 triệu USD), tương đương với mức ODA Australia

dành cho Việt Nam tài khóa 2000-2001 là 73,2 triệu AUD (Bảng 1) Việt Nam là một trong bốn nước được Australia viện trợ ODA

lớn nhất

Các dự án ODA của Australia trong năm 2001-2002 tập trung chocác chương trình và dự án: “Phát triển nông thôn mới để giúp khuvực này hưởng các dịch vụ y tế (300.000 USD cho phòng chốngAIDS), nông nghiệp (dự án 74,45 triệu AUD- tương đương 38 triệuUSD cho phát triển trồng các loại quả mới phù hợp với điều kiệnkhí hậu và đất đai ở Tây Nguyên, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang trong

3 năm 2001-2003 thông qua Thông tin nghiên cứu nông nghiệpquốc tế của Australia) và cơ sở hạ tầng tốt hơn”, cải cách thể chếtrong các khu vực tư nhân, hội nhập kinh tế, sử dụng các nguồn lực

và cải cách hệ thống luật pháp, cải cách thể chế và chính sách đốivới các cơ quan hành chính của Việt Nam, ưu tiên cho lĩnh vực hộinhập kinh tế (giúp cho Việt Nam rút ngắn khoảng cách với cácnước ASEAN khác) và hỗ trợ mạnh mẽ cho ngành giáo dục (dự án700.000 USD thành lập Viện ngôn ngữ Australia liên doanh với

trường đại học Ngoại ngữ Hà Nội)

Ngoài số lượng ODA cam kết nêu trên, mỗi năm Việt Nam cònnhận được khoảng 11 triệu AUD từ chương trình viện trợ của

Trang 38

Australia cho khu vực, từ các tổ chức phi Chính phủ và từ cácchương trình viện trợ khẩn cấp Như vậy, trung bình mỗi năm ViệtNam nhận được khoảng 70 triệu AUD và trở thành nước nhận việntrợ phát triển lớn thứ ba của Australia Đây là một thành công lớnkhông phải chỉ là những con số mà còn là sự ghi nhận của Australiađối với những thành quả đổi mới của Việt Nam Trong bối cảnhkhủng hoảng khu vực, thiên tai ở trong nước và những yếu tố bấtlợi khác nhưng năm 1998 kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăngtrưởng, chính trị xã hội ổn định, kinh tế vĩ mô ổn định, đây là cácđiều kiện cực kỳ quan trọng để các nhà tài trợ trong đó có Australiacông nhận và tiếp tục cam kết hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt

Nam với số lượng lớn

Chính phủ Australia nhận thấy, mặc dù là một trong những nướcnghèo nhất khu vực Nam Á nhưng Việt Nam có một tiềm năngtương đối lớn Kể từ khi Chính phủ Việt Nam đưa ra chính sách đổimới năm 1986, đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt Tuynhiên, nửa số dân Việt Nam đặc biệt là những người dân ở vùngnông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn phải sống trong cảnh khó khăn,nghèo nàn, họ cần và rất cần sự giúp đỡ, quan tâm, đầu tư để thay

đổi cuộc sống

Tổ chức phát triển quốc tế của Australia (Australia Agency forInternational Development-gọi tắt là AusAID) là cơ quan thực hiệncác chương trình viện trợ phát triển quốc tế của Australia AusAIDphối hợp một cách chặt chẽ với các cơ quan tiếp nhận viện trợ củaViệt Nam để đảm bảo chắc chắn rằng nguồn viện trợ đến được nơi

có nhu cầu lớn nhất đồng thời đáp ứng được các nguyên tắc pháttriển của Australia AusAID thường xuyên duy trì giám sát cácchương trình viện trợ của mình và phối hợp với các nhà tài trợ

Trang 39

chính khác để đảm bảo rằng các chương trình viện trợ của Australiađược thực hiện một cách có hiệu quả nhất, mang lại kết quả khả

quan nhất

Để giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo AusAID đặt ra các mục tiêu

sau:

Thứ nhất, tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực để nâng cao

khả năng phát triển của đất nước từ trung hạn lên dài hạn

Thứ hai, tăng cường cung cấp các dịch vụ tốt hơn cho khu vực nông

thôn, đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm cải thiện đời

sống cho dân nghèo

Thứ ba, ủng hộ chương trình cải cách của Chính phủ Việt Nam, đưa

ra các hoạt động mang tính chiến lược, tăng cường khả năng quản

lý, phát triển các hệ thống tư vấn về xây dựng chính sách nhằmnâng cao tính hiệu quả và trách nhiệm của Chính phủ

Các hoạt động trợ giúp rất đa dạng của AusAID đã làm thay đổicuộc sống của hàng triệu dân Việt Nam Dù đôi khi có những khókhăn trở ngại tưởng chừng như không thể vượt qua được nhưngtrên thực tế đã đạt được những tiến bộ thực sự ODA của các nướcnói chung và của Australia nói riêng đã phần nào giúp nâng cao tuổithọ trung bình của người dân Việt Nam lên trên 63 tuổi và giảmmột nửa tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi trong ba thập kỷ qua.Đây là một bằng chứng rõ ràng rằng các chương trình viện trợ này

có tác dụng trực tiếp tới đời sống người dân Việt Nam

Các chương trình viện trợ song phương của Australia tập trung vào

bốn lĩnh vực: Phát triển nguồn nhân lực; Phát triển khu vực nông thôn và cơ sở hạ tầng; Chăm sóc sức khỏe; Quản lý Nhà nước.

AusAID luôn khẳng định một điều rằng các chương trình viện trợ

Trang 40

này không phải là giải pháp tạm thời mà là giải pháp mang tính dàihạn Tất cả các chương trình viện trợ của Australia đều đề cập, xemxét, phân tích nguyên nhân gây ra sự nghèo đói để từ đó đề rahướng giải quyết nhằm mục tiêu thay đổi cuộc sống cho người dânnghèo đói, khổ cực Ngoài ra trong các chương trình viện trợ pháttriển của Australia có hai vấn đề mấu chốt luôn được quan tâm vàAustralia coi đó là những yêu cầu cơ bản đối với sự phát triển bềnvững là vấn đề cải thiện quyền của phụ nữ và vấn đề bảo vệ môi

trường

Vấn đề cải thiện quyền của phụ nữ, theo AusAID, mặc dù quan

niệm về phụ nữ đã thay đổi và dù đã có những thành tựu lớn laotrong việc thiết lập các điều luật đảm bảo quyền lợi cho phụ nữcũng như bình đẳng về địa vị xã hội song phụ nữ vẫn là nhữngngười chịu nhiều thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ ở những vùng nôngthôn và các dân tộc thiểu số Phụ nữ ít khi được đề bạt vào những vịtrí có tính chất quyết định hay lãnh đạo trong lực lượng lao động,tiền lương của họ thường thấp hơn của nam giới, họ được đi học íthơn và phải làm hầu hết các công việc thấp kém trong xã hội Chính

vì vậy các dự án của AusAID cam kết ủng hộ phụ nữ tham gia vàoviệc ra quyết định và tham gia vào các hoạt động của dự án cũng

như giúp phụ nữ đạt được sự bình đẳng trong xã hội

Vấn đề bảo vệ môi trường: Sự gia tăng dân số, việc phát triển mở

rộng trong nông nghiệp và công nghiệp, quá trình đô thị hóa giatăng không ngừng kết hợp với khả năng quản lý còn yếu kém đangđặt ra một sức ép lớn đối với môi trường tự nhiên của Việt Nam.AusAID mong muốn giúp người dân Việt Nam tăng cường hơn nữa

sự hiểu biết về môi trường, về nguy cơ đang đe dọa môi trường

Ngày đăng: 07/11/2013, 02:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng: Dòng ODA của Australia vào Việt Nam 1991-2002 - Đề tài “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Australia cho Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”
ng Dòng ODA của Australia vào Việt Nam 1991-2002 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w