Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính từ sơ sinh đến 9 tháng tuổi .... Ảnh hưởng của mứ
Trang 1-
NGUYỄN XUÂN ANH
NGHIÊN CỨU MỨC DINH DƢỠNG HỢP LÝ CHO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Thái Nguyên - 2016
Trang 2-
NGUYỄN XUÂN ANH
NGHIÊN CỨU MỨC DINH DƢỠNG HỢP LÝ CHO
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60-62-01-05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Văn Tường
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài trường
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Tường và TS Tăng Xuân Lưu, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong và ngoài trường đã tận tình dạy dỗ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin chân chân thành cám ơn Lãnh đạo, các cán bộ kỹ thuật và các hộ gia đình chăn nuôi bò tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện thắng lợi đề tài này
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn
bè gần xa đã động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2016
Học viên
Nguyễn Xuân Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Công nghệ sản xuất và đặc điểm tinh bò phân ly giới tính 4
1.1.2 Đặc điểm tiêu hóa ở bê 6
1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa ở bê ở giai đoạn bú sữa 6
1.1.2.2 Tiêu hóa của bê ở giai đoạn sau cai sữa 10
1.1.3 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 11
1.1.3.1 Sinh trưởng 11
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và các biện pháp thúc đẩy sinh trưởng - phát dục 14
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về tinh phân lý giới tính 18
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng của bê và các yếu tố ảnh hưởng 21
Trang 61.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng tinh phân ly giới tính 24
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu về chế độ nuôi dưỡng và sinh trưởng của bê 25 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 28
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.1.1 Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính thông qua so sánh với bê sinh ra từ tinh thường 28
2.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính 29
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm 29
2.2.2.2 Thức ăn nuôi bê 30
2.2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 32
2.3 Xử lý số liệu 33
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 34
3.1 Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính và từ tinh thường 34
3.1.1 Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của 2 nhóm bê cái ở thời kỳ bú sữa 34
3.1.1.1 Sinh trưởng của 2 nhóm bê ở thời kỳ bú sữa 34
3.1.1.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái ở thời kỳ bú sữa 40
Trang 73.1.2 Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái ở thời kỳ từ sau cai
sữa đến 9 tháng tuổi 42
3.1.2.1 Sinh trưởng của bê ở giai đoạn sau cai sữa 42
3.1.2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê ở giai đoạn từ cai sữa đến 9
tháng tuổi 47
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính từ sơ sinh đến 9 tháng tuổi 49
3.2.1 Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính ở giai đoạn bú sữa 49
3.2.1.1 Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính 49
3.2.1.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính nuôi với các mức dinh dưỡng khác nhau 55
3.2.2 Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính ở giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi 57
3.2.2.1 Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính ở giai đoạn sau cai sữa 57
3.2.2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái nuôi với các mức dinh dưỡng khác nhau ở giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu nước ngoài
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Yêu cầu chất dinh dưỡng ăn vào của bê cái lai HF tại các
tháng tuổi 26
Bảng 1.2 Khẩu phần nuôi bê cái lai 75%-87,5% HF từ sau cai sữa đến phối giống lần đầu 27
Bảng 2.1 Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp 31
Bảng 3.1 Sinh trưởng tích lũy của bê cái ở giai đoạn từ sơ sinh đến
cai sữa(kg) 34
Bảng 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của 2 nhóm bê cái qua các tháng tuổi ở giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa (g/con/ngày) 37
Bảng 3.3 Sinh trưởng tương đối của bê cái qua các tháng tuổi ở giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa (%) 39
Bảng 3.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái ở giai đoạn bú sữa 41
Bảng 3.5 Sinh trưởng tích lũy của bê cái ở các tháng tuổi giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi (kg) 42
Bảng 3.6 Sinh trưởng tuyệt đối của bê cái qua các tháng tuổi ở giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi (g/con/ngày) 45
Bảng 3.7 Sinh trưởng tương đối của bê cái qua các tháng tuổi ở giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi (%) 46
Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái ở giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi (Tính cho cả lô; n=10) 48
Bảng 3.9 Sinh trưởng tích lũy của bê ở các tháng tuổi từ sơ sinh đến cai sữa với các mức dinh dưỡng khác nhau (kg) 50
Bảng 3.10 Sinh trưởng tuyệt đối của bê ở các tháng tuổi từ sơ sinh đến cai sữa (g/con/ngày) 52
Bảng 3.11 Sinh trưởng tương đối của bê với các mức dinh dưỡng khác nhau ở các tháng tuổi từ sơ sinh đến cai sữa (%) 54
Trang 10Bảng 3.12 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái với các mức dinh dưỡng khác
nhau ở giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 56 Bảng 3.13 Sinh trưởng tích lũy của bê cái ở các tháng tuổi từ cai sữa đến 9
tháng tuổi (kg) 57
Bảng 3.14 Sinh trưởng tuyệt đối của bê với các mức dinh dưỡng khác nhau ở
giai đoạn từ cai sữa đến 9 tháng tuổi (g/con/ngày) 59
Bảng 3.15 Sinh trưởng tương đối của bê ở các tháng tuổi từ cai sữa đến 9
tháng tuổi với các mức dinh dưỡng khác nhau (%) 61
Bảng 3.16 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái với các mức dinh dưỡng khác
nhau ở giai đoạn từ sau cai sữa đến 9 tháng tuổi 62
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của bê cái ở thời kỳ bú sữa 36
Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của bê ở giai đoạn bú sữa 38
Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của bê ở giai đoạn bú sữa 40
Hình 3.4 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của bê cái ở thời kỳ từ cai sữa đến
9 tháng tuổi 44
Hình 3.5 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của bê ở giai đoạn từ cai sữa đến
9 tháng tuổi 46
Hình 3.6 Đồ thị sinh trưởng tương đối của bê ở giai đoạn sau cai sữa đến
9 tháng tuổi 47
Hình 3.7 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của bê từ sơ sinh đến cai sữa với các mức dinh dưỡng khác nhau 51
Hình 3.8 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của bê từ sơ sinh đến cai sữa với các mức dinh dưỡng khác nhau 53
Hình 3.9 Đồ thị sinh trưởng tương đối của bê từ sơ sinh đến cai sữa với các mức dinh dưỡng khác nhau 55
Hình 3.10 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của bê ở giai đoạn 4 - 9 tháng tuổi với các mức dinh dưỡng khác nhau 58
Hình 3.11 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của bê ở giai đoạn 4 - 9 tháng tuổi cai sữa với các mức dinh dưỡng khác nhau 60
Hình 3.12 Đồ thị sinh trưởng tương đối của bê từ cai sữa đến 9 tháng tuổi với các mức dinh dưỡng khác nhau 62
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Những thành tựu khoa học - công nghệ trong lĩnh vực thụ tinh nhân tạo (TTNT) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã góp phần thúc đẩy, tăng nhanh số lượng, chất lượng đàn bò và phát triển chăn nuôi bò cao sản đạt hiệu quả cao Bước đi mới, tiếp theo của TTNT là sự ra đời của công nghệ sản xuất tinh phân biệt giới tính
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và ứng dụng thành công công nghệ sản xuất tinh đông lạnh phân biệt giới tính trên thế giới là một bước phát triển đột phá của công nghệ sinh sản Công nghệ tinh phân ly giới tính ra đời đưa lại hiệu quả kinh tế to lớn cho người chăn nuôi trong sản xuất theo ý muốn một cách nhanh chóng Trong chăn nuôi bò sữa, việc tạo ra đàn
bê cái với số lượng lớn có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng nhanh đàn bò sữa Nếu sử dụng tinh thường (Conventional semen), tỷ lệ bê cái chỉ đạt khoảng 50% tổng đàn bê sinh ra Nhưng khi sử dụng tinh phân ly giới tính (Sexed or Sorted semen) tỷ lệ này đạt tới trên 90% Điều này đặc biệt quan trọng đối với bò sữa, con vật có giá trị kinh tế cao Do vậy, việc sử dụng tinh
bò phân biệt giới tính là lựa chọn tối ưu cho việc tăng nhanh về số lượng và chất lượng đàn bò sữa
Nhằm phát triển nhanh đàn bò sữa chất lượng cao, thúc đẩy tiến bộ di truyền, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong chăn nuôi bò sữa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ sinh học, đặc biệt là sử dụng tinh bò phân biệt giới tinh trong TTNT cho đàn bò sữa ở Việt Nam nói chung
và Ba Vì nói riêng đang được tiến hành
Đây là công nghệ mới được áp dụng vào sản xuất trong chăn nuôi bò sữa ở nước ta
Trang 13Thực tế sử dụng tinh phân ly giới tính trên thế giới cho thấy: Bê cái sinh ra từ tinh phân định giới tính có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn, sinh trưởng chậm hơn và sức khỏe kém hơn so với bê sinh ra từ tinh không phân ly giới tính Do vậy, nhà cung cấp tinh (Tập đoàn Sexing Technology - Hoa Kỳ) khuyến cáo: Khi sử dụng tinh phân ly giới tính, cần đảm bảo điều kiện tối ưu
về nuôi dưỡng, chăm sóc để phát huy tối đa tiềm năng di truyền
Ngoài yếu tố di truyền (genotype), môi trường (environment) là yếu tố quan trọng quyết định giá trị kiểu hình (phenotype) của con vật Trong các yếu tố về môi trường, dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ thể hiện của kiểu gen và giá trị kiểu hình, đặc biệt là năng suất sinh trưởng
Bê sinh ra từ tinh phân biệt giới tính là những cá thể có tiềm năng di truyền cao, đòi hỏi mức độ dinh dưỡng cao hơn so với bê sinh ra từ tinh thường Việc nuôi bê theo quy trình áp dụng tại cơ sở hiện nay có thể chưa đáp ứng yêu cầu về dinh dưỡng nên chưa phát huy hết tiềm năng di truyền của chúng Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này được triển khai
Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng nhằm xác định mức dinh dưỡng tối ưu, phát huy tối đa tiềm năng di truyền về sinh trưởng của bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính nhập khẩu chất lượng cao, đảm bảo khi đưa vào sử dụng có khối lượng thích hợp là rất cần thiết
Với những lý do trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mức
dinh dưỡng hợp lý cho bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được mức dinh dưỡng tối ưu nuôi bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính ở giai đoạn bú sữa và sau cai sữa (5 - 9 tháng tuổi), đảm bảo tốc độ sinh trưởng để khi đến tuổi phối giống lần đầu có khối lượng thích hợp, nhằm phát huy tối đa hiệu quả nguồn gene bò HF cao sản trong điều kiện chăn nuôi ở Ba Vì
Trang 143 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Việc sử dụng tinh phân lý giới tính sẽ giúp tăng nhanh số lượng bê cái sinh ra, làm cơ sở để tăng nhanh đàn bò sữa chất lượng cao
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Công nghệ sản xuất và đặc điểm tinh bò phân ly giới tính
Những thành tựu khoa học công nghệ trong lĩnh vực thụ tinh nhân tạo trên thế giới và ở Việt Nam đã góp phần to lớn trong việc phát triển nhanh đàn bò sữa về số lượng Bước đi tiếp theo của khoa học công nghệ trong lĩnh vực này là sự ra đời của công nghệ sản xuất tinh gia súc đã phân ly giới tinh Đây là bước đột phá trong công nghệ sinh sản gia súc Ngoài những lợi ích
mà thụ tinh nhân tạo mang lại như: Sử dụng ít đực giống, giảm chi phí nuôi đực giống, tăng chất lượng đực giống, khắc phục sự chênh lệch tầm vóc giữa đực và cái, kiểm soát được chế độ sử dụng đực giống, kiểm soát dịch bệnh…; việc áp dụng công nghệ phân ly giới tính đưa lại hiệu quả to lớn cho người chăn nuôi trong việc sản xuất theo ý muốn Trong chăn nuôi lấy thịt, người ta cần gia súc đực để đạt sinh trưởng nhanh, hiệu quả kinh tế cao Trong chăn nuôi lấy sữa, sinh sản, người ta cần nhiều gia súc cái để đạt tốc độ tăng đàn nhanh, tăng số lượng sản phẩm
Việc sản xuất và ứng dụng tinh phân ly giới tính trong chăn nuôi bò sữa
đã được thực hiện thành công ở một số nước tiên tiến trên thế giới như: Hoa
Kỳ, Anh, Nhật Bản, Canada, Thụy Sỹ, Trung Quốc… Trong đó, Hoa Kỳ là nước giữ bản quyền và có công nghệ sản xuất tiên tiến nhất hiện nay Việc ứng dụng công nghệ này là bước nhảy vọt trong công tác chọn giống và nhân giống bò sữa, mang lại lợi nhuận lớn cho các nước phát triển
Ở Việt Nam, việc phát triển nhanh đàn bò sữa có chất lượng cao nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu thụ là yêu cầu cấp bách Vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phôi, tinh phân ly giới tính đang bắt đầu được triển khai
Trang 16Từ những báo cáo sơ bộ đầu tiên về quá trình chọn lọc tinh trùng qua
“Flow cytometer” đã có những ghi nhận đáng chú ý về việc phát triển kỹ thuật chọn lọc dựa trên hàm lượng DNA Ban đầu đó là chọn lọc những tinh trùng mang nhiễm sắc thể X và tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y, sau đó thống kê số bê con sinh ra thông qua quá trình thụ tinh nhân tạo các tinh trùng
đã được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc chân không Một công cụ đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trong phân tích điện quang và sau này
là chọn lọc tế bào nhờ phân tích huỳnh quang Phân giới tinh trùng đã có nhiều cải tiến và chọn lọc có hiệu quả so với 20 năm trước đây Hiện nay, theo như Bestville Sperm Sexing Technology, tinh trùng được xác định với một chuỗi DNA cụ thể và được kích thích bằng một tia laser UV để đo hàm lượng DNA Cho thêm thuốc nhuộm (màu đỏ) vào trong mẫu để xác định những tinh trùng bị chết và chọn lọc ra những tinh trùng sống Hiện nay, tại các cơ sở của công ty Sexing Technologies đều sử dụng tia laser ở trạng thái rắn để kích thích tia UV, phân tách trực giao kép (tại 00 và 900), vòi phun định hướng và thiết bị kỹ thuật điện tử để chọn lọc những tinh trùng mang nhiễm sắc thể X và tinh tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y từ những tiểu quần thể có khoảng 8000 tế bào (lớn hơn 90% so với tinh nguyên), quần thể ban đầu hoạt động có 40.000 tế bào Kết quả của hiệu quả chọn lọc là có khoảng 42% tinh trùng mang nhiễm sắc thể X sống và tinh trùng mang nhiễm sắc thể
Y (sống và chết) so với mẫu ban đầu, có giả thuyết tỷ lệ X:Y là 1:1
Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng ở một số cơ sở tại Việt Nam (Tập đoàn sữa Vinamilk, Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, Công ty cổ phần sữa
Đà Lạt, Trung tâm phát triển chăn nuôi Hà Nội…) cho thấy: Tỷ lệ thụ thai khi
sử dụng tinh phân ly giới tính đạt thấp hơn so với tinh thường
Tình trạng này có thể do một số yếu tố sau:
Một là: Tinh trùng bị stress có thể do đã sử dụng dòng điện trong quá
trình phân tách tinh trùng X và Y (tinh trùng X mang điện -; còn tinh trùng Y mang điện +), thời gian phân tách diễn ra ngoài cơ thể khá lâu, sử dụng phương
Trang 17pháp nhuộm màu kết hợp tia laser, đèn nhuộm huỳnh quang và máy đo dòng chảy tế bào để phân ly các tế bào tinh trùng X và Y
Tinh trùng phải trải qua các công đoạn chính để phân loại:
- Tinh trùng được nhuộm bằng thuốc nhuộm huỳnh quang
- Tinh trùng được đưa vào máy chiếu tia laser Tinh trùng mang nhiễm sắc thể X sáng hơn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y
- Điện trường tách tinh trùng Y tích điện (+) sẽ chạy về cực âm và tinh trùng X mang điện (-) sẽ chạy về cực dương
- Tinh trùng tích điện khác nhau được phân ly bởi thiết bị lệch điện áp cao tần
- Loại bỏ tinh trùng có tính biệt không rõ rệt
Hai là: Lượng tinh trùng có trong cọng rạ 0,25 ml chỉ có ≥ 20 triệu;
trong khi đó ở tinh thường là ≥ 30 triệu
Ba là: Tinh trùng X chứa nhiều hơn 3,6- 3,8% AND so với tinh trùng Y
1.1.2 Đặc điểm tiêu hóa ở bê
1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa ở bê ở giai đoạn bú sữa
- Đặc điểm cấu tạo
Khi sinh ra, bê đã có 2 môi bằng nhau và bắt đầu hoạt động có tác dụng
để bú Răng sữa cũng đã được hình thành đầy đủ
Dạ dày có 4 ngăn nhưng chỉ có dạ mũi khế phát triển mạnh (chiếm 64%), sau đó tốc độ phát triển giảm dần 3 dạ dày trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) ban đầu chỉ chiếm 1/3 tổng dung tích dạ dày, sau đó tốc độ phát triển tăng dần Lúc 8 tuần tuổi, dung tích các dạ dày trước tăng lên gấp 8 lần ban đầu
Trang 18Sự phát triển của dạ cỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hàm lượng Cellulose, hàm lượng protein (nhất là Lizin), hàm lượng axit béo bay hơi (tác động lên thành dạ cỏ) trong thức ăn [1]
- Đặc điểm sinh lý
Khi sinh ra, 3 tuyến nước bọt ở bê bắt đầu hoạt động Độ pH của nước bọt thấp, sau đó tăng dần và đến ngày thứ 6- 7 thì đạt độ pH như trong nước bọt của bò trưởng thành (8- 8,2)
Ở giai đoạn sơ sinh, trong dạ múi khế của bê có các men tiêu hóa sau:
+ Men Kimozin: Có tác dụng tiêu hóa protein của sữa (Cazein) qua quá
trình đông vón
+ Men Pepsin: Xuất hiện sớm nhưng hoạt động còn yếu do lượng HCl hạn chế
+ Men Lipaza: Có vai trò tiêu hóa mỡ sữa đã nhũ hóa
+ Men Amilaza chưa hoạt động
* Sự đông vón sữa
Sau khi bê bú sữa, từ 10 phút đến 1 giờ bắt đầu xảy ra quá trình đông vón sữa Sau 3- 4 giờ, một phần tương dịch của sữa và một phần Cazein đã được tiêu hóa sẽ tách khỏi kết tủa và di chuyển xuống tá tràng Phần kết tủa còn lại tiếp tục được tiêu hóa ở dạ mũi khế
Trong trường hợp bê sơ sinh thải phân nhão là do thiếu HCl hoặc Kimozin Nếu bê bị táo bón là do thiếu MgSO4
- Hoạt động của rãnh thực quản
Rãnh thực quản là một rãnh hở xuất phát từ tiền đình dạ cỏ (được tạo bởi thành của dạ cỏ và dạ tổ ong), đi tới lỗ mở của dạ lá sách và dạ mũi khế Rãnh thực quản có độ dài khoảng từ 8- 12cm
Rãnh thực quản có chức năng đưa thức ăn lỏng (chủ yếu là sữa) từ thực quản đi thẳng vào thẳng dạ múi khế, bỏ qua các dạ dày trước
Trang 19Phản xạ khép rãnh thực quản được hình thành khi bê sử dụng thức ăn lỏng, do tác động của nhóm yếu tố sau:
* Nhóm yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Động tác bú của bê, hàm lượng đường Lactose, Albumin, muối khoáng… có trong sữa Ở bê 1- 4 tuần tuổi, phản xạ khép rãnh thực quản xảy ra hoàn toàn Lúc 4 -8 tuần tuổi, phản xạ này xảy ra không hoàn toàn và trên 8 tuần tuổi thì không có tác dụng
* Nhóm yếu tố bên trong
Các tế bào nhận cảm ở vùng gốc hầu, gốc lưỡi… nhận tín hiệu và truyền theo nhánh thần kinh hướng tâm hầu trên đến trung tâm thành lập phản
xạ ở hành não và tạo nên phản xạ khép rãnh thực quản
Trên thực tế, ở bò trưởng thành đôi khi phản xạ khép rãnh thực quản vẫn hình thành, nhưng chỉ xảy ra trong trường hợp uống nước khi khát nước cực độ
- Vai trò của sữa đầu và cách cho bú sữa đầu
Sữa đầu là sữa được phân tiết trong vòng 2- 3 ngày đầu
Sữa đầu là loại thức ăn duy nhất không thể thiếu được với bê sơ sinh Vai trò của sữa đầu vô cùng qua trọng, bởi:
+ Thành phần khác biệt rõ rệt so với sữa thường
* Sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng cao
Sữa đầu có hàm lượng vật chất khô (VCK) cao gấp hơn 2 lần, protein
và các vitamin A,D cao gấp 5 lần, khoáng cao gấp 2 lần so với sữa thường
* Sữa đầu có các thành phần đặc biệt
Đặc biệt, trong sữa đầu có -Globulin làm tăng sức đề kháng của bê Chỉ sau khi uống sữa đầu, trong máu bê mới xuất hiện kháng thể
γ- Globulin thẩm thấu qua đường tiêu hóa vào máu (trong vòng 62 giờ sau khi sinh) làm tăng sức đề kháng cho bê nghé Điều đáng lưu ý là γ- Globulin không truyền trực tiếp từ máu bò mẹ qua nhau thai trong thời gian
Trang 20mang thai bởi vì nhau thai có cấu trúc đặc biệt, thuộc loại Epitherichoralis có
6 lớp màng mà γ- Globulin không thể thẩm thấu qua được Do đó bê nghé chỉ
có thể thu nhận γ- Globulin thông qua sữa đầu mà thôi
Khả năng hấp thu -Globulin ở bộ máy tiêu hóa của bê giảm dần theo thời gian Sau 4 giờ, tỷ lệ hấp thu đạt 25%, đến 6 giờ tỷ lệ này giảm xuống còn 20%; sau 12 giờ còn 17% và sau 20 giờ chỉ còn 12%
Sữa đầu có độ axit cao (pH thấp) có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh
Ngoài ra, trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy nhẹ cứt su, làm sạch đường tiêu hóa
+ Thành phần của sữa đầu biến đổi nhanh chóng
Hàm lượng protein ở ngày đầu là 16%, ngày thứ 2 là 11-12% và ngày thứ
3 là 8% Đến ngày thứ 4- 5 thì thành phần sữa đầu gần giống như sữa thường
Hàm lượng vật chất khô/lít sữa ở ngày đầu sau khi đẻ là 250- 300 g, đến ngày thứ 5- 6 chỉ còn 120- 140 g
Cho nên, cần phải cho bê nghé bú sữa đầu càng sớm càng tốt để đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Lượng sữa đầu bê nghé thu nhận cần phải đạt từ 10- 12% khối lượng sơ sinh trong lần vắt hoặc bú sữa lần đầu tiên và đảm bảo cho bê nghé bú được 50% khối lượng này sau khi đẻ từ 4- 6 giờ [1]
- Bổ sung thức ăn sớm cho bê
Ngoài sữa mẹ và cỏ thông thường, việc bổ sung các loại thức ăn khác (creep feeds) có thể được áp dụng nhằm cung cấp thêm dinh dưỡng cho bê trước khi cai sữa, nâng cao được khả năng sinh trưởng và tăng khối lượng bê cai sữa
Thành phần thức ăn bổ sung cho bê nghé tốt nhất là hỗn hợp từ các loại hạt và thức ăn bổ sung protein - khoáng Thành phần của thức ăn bổ sung nên chứa từ 2,4 - 2,6 Mcal ME/kg; 13 - 16% protein thô; 0,7% Ca; 0,5% P so với vật chất khô, đảm bảo hàm lượng khoáng vi lượng, vitamin A, D và E cần
Trang 21thiết Để tăng tính ngon miệng cho thức ăn có thể bổ sung thêm cám và rỉ mật đường Cám sẽ giúp cho bê nghé làm quen với các loại thức ăn cứng vì khi
ăn, cám dính vào mõm bê nghé tạo cảm giác ngon miệng cho chúng Việc bổ sung thêm rỉ mật đường (khoảng 3%) sẽ giúp làm giảm bớt lượng bụi cám, tăng lượng thức ăn thu nhận Tuy nhiên, không nên bổ sung rỉ mật đường quá nhiều, như vậy bê nghé dễ bị tiêu chảy Hơn nữa, rỉ mật còn làm dính thức ăn vào máng và các thiết bị phân phối thức ăn
Việc bổ sung thức ăn sớm cho bê có tác dụng: Tăng khối lượng bê khi cai sữa, tăng mật độ chăn thả, bảo vệ được đồng cỏ, giúp bê làm quen với thức ăn hạt để khi cai sữa sẽ dễ dàng hơn, giảm tỷ lệ chết của bê sau cai sữa
Ở giai đoạn bú sữa, dạ cỏ và dạ tổ ong của bê còn kém phát triển Sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản
Sau khi tập cho bê làm quen dần với thức ăn thực vật và chuyển dần từ thức ăn sữa sang thức ăn thực vật Sự phát triển của dạ cỏ được tăng cường và
hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển hoàn thiện dần Quá trình tiêu hóa chuyển dần
từ dạng tiêu hóa bằng men sang dạng hỗn hợp (sữa tiêu hóa bằng men còn thức ăn thực vật tiêu hóa nhờ vi sinh vật) [1]
1.1.2.2 Tiêu hóa của bê ở giai đoạn sau cai sữa
Ở giai đoạn này, cơ quan tiêu hóa đã phát triển hoàn thiện, hệ vi sinh vật dạ cỏ đã phát triển và bắt đầu hoạt động mạnh Lúc này, bê ngừng sử dụng sữa và chuyển hoàn toàn sang sử dụng thức ăn thực vật Rãnh thực quản hầu như ngừng hoạt động và dạng tiêu hóa chuyển từ tiêu hóa bằng men sang tiêu hóa vi sinh vật là chủ yếu
Trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường cả thức ăn và nước đều được
đổ vào tiền đình dạ cỏ
Dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái xoang bụng, từ cơ hoành
đến xương chậu Dạ cỏ chiếm tới 85 - 90% dung tích dạ dày, 75% dung tích
Trang 22đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào lộn và lên men phân giải thức ăn Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ, chất chứa trong dạ cỏ trung bình
có khoảng 850-930g nước/kg nhưng tồn tại ở 2 tầng: tầng lỏng ở phía dưới chứa nhiều tiểu phần thức ăn mịn lơ lửng trong đó và phần trên khô hơn chứa nhiều thức ăn kích thước lớn Ngoài chức năng lên men dạ cỏ còn có vai trò hấp thu Các axit béo bay hơi (ABBH) sinh ra từ quá trình lên men vi sinh vật được hấp thu qua vách dạ cỏ (cũng như dạ tổ ong và dạ lá sách) vào máu và trở thành nguồn năng lượng cho vật chủ Sinh khối vi sinh vật cùng với những tiểu phần thức ăn có kích thước bé (<1mm) sẽ đi xuống dạ múi khế và ruột để được tiêu hoá tiếp bởi men của đường tiêu hoá
Dạ tổ ong là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc cấu tạo trông giống
như tổ ong và có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại Sự lên men trong dạ tổ ong tương tự như trong dạ cỏ
Dạ lá sách có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc), có
nhiệm vụ chính là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, cùng các ion Na+, K+ , hấp thu các axit béo bay hơi trong dưỡng chấp đi qua
Dạ múi khế có hệ thống tuyến phát triển mạnh và có chức năng tương
tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, tức là tiêu hoá thức ăn bằng dịch vị (chứa HCl và men pepsin) [1]
1.1.3 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Trang 23Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng tức là tăng thêm, hoàn thiện chức năng các bộ phận của cơ thể
Sinh trưởng và phát dục là hai mặt của một quá trình: quá trình phát triển của cơ thể
Sinh trưởng và phát dục là 2 quá trình khác nhau, nhưng thống nhất, không tách rời nhau, bồi bổ cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau làm cho cơ thể phát triển ngày càng hoàn chỉnh Đây là 2 quá trình liên tục, nhưng có lúc sinh trưởng mạnh phát dục yếu và ngược lại Hai quá trình này diễn ra song song hỗ trợ lẫn nhau, nghĩa là có sinh trưởng mới có phát dục và ngược lại phát dục sẽ thúc đẩy sinh trưởng Nói một cách khác, sự liên quan giữa 2 quá trình này là
sự liên quan giữa số lượng và chất lượng (Trần Đình Miên và cs, 1992) [9]
- Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng
Để đánh giá năng suất sinh trưởng, người ta sử dụng 3 chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng ở các thời điểm nhất định: Sơ
sinh, 6, 12, 18, 24, 36 tháng tuổi
Đồ thị sinh trưởng tích lũy là một đường cong có hướng đi lên
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước trong
một đơn vị thời gian
Công thức tính:
A =
W1 - W0
t1- t0Trong: W1: là khối lượng cuối kỳ khảo sát
W0: là khối lượng đầu kỳ khảo sát
T1: là thời gian cuối kỳ khảo sát
t0: là thời gian cuối kỳ khảo sát
Để biểu diễn biến động của sinh trưởng tuyệt đối, người ta thường sử dụng biểu đồ cột
Trang 24+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % giữa khối lượng, kích thước tăng lên trong khoảng thời gian nhất định so với khối lượng trung bình trong khoảng thời gian đó
- Các qui luật sinh trưởng- phát dục
Quá trình sinh trưởng- phát dục tuân theo 3 qui luật sau:
+ Qui luật phát triển theo giai đoạn:
* Giai đoạn bào thai: Từ khi hình thành hợp tử đến khi đẻ Bào thai được nuôi dưỡng bằng các chất dinh dưỡng qua máu mẹ và không chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh Giai đoạn này bao gồm 3 thời kỳ: Phôi, tiền thai và bào thai (Nêu thời gian và đặc điểm phát triển ở từng thời kỳ)
* Giai đoạn ngoài thai: Cơ thể chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh Dinh dưỡng được cung cấp thông qua hoạt động của bộ máy tiêu hoá Giai đoạn này chia làm 4 thời kỳ: Thời kỳ bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi
+ Qui luật phát triển không đồng đều:
Sinh trưởng và phát dục của bê thường tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều theo giai đoạn, tuổi và theo giới tính Nó biểu hiện ở
sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng ở từng lứa tuổi
Các bộ phận trong cơ thể cũng phát triển không đồng đều ở các thời kỳ
Sự tích luỹ các loại tổ chức trong cơ thể như: cơ, mỡ cũng khác nhau trong từng thời kỳ Tương tự, các hoạt động chức năng của từng cơ quan và toàn bộ
cơ thể không đồng đều ở các thời kỳ
Trang 25+ Qui luật phát triển theo nhịp điệu (chu kỳ):
Tính chu kỳ thể hiện trong hoạt động sinh lý của cơ thể, của hệ thần kinh (khi hưng phấn, khi ức chế) có liên quan tới quá trình trao đổi chất (đồng hoá và dị hoá) Do vậy sự phát triển của cơ thể có tính chu kỳ
Tính chu kỳ thể hiện rõ nhất ở hoạt động sinh dục của các cá thể cái
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và các biện pháp thúc đẩy sinh trưởng - phát dục
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng- phát dục
Sinh trưởng là tính trạng số lượng, chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố
di truyền (genotype) và môi trường bên ngoài (Environment) Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tính quy luật, đảm bảo cho cơ thể phát triển đạt tỷ lệ hài hoà và cân đối
+ Yếu tố di truyền
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tích lũy các chất mà quan trọng là protein Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là tốc độ và phương thức hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Williamson và Payner, 1978) [45]
Người ta lấy chỉ tiêu tăng trưởng làm chỉ tiêu sinh trưởng Sự tăng trưởng bắt đầu từ khi trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành, sự sinh trưởng chia ra làm 2 giai đoạn chính là trong thai và ngoài thai Theo Trần Đình Miên và cs (1992) [9] giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của mẹ, giai đoạn ngoài bào thai sự tăng trưởng mang tính di truyền của đời trước nhiều hơn Nuôi dưỡng tốt bò, bê sẽ tăng trưởng cao, sinh sản sớm, cho nhiều sữa ở giai đoạn tiết sữa và nhiều thịt ở giai đoạn nuôi thịt và vỗ béo Trong thời kỳ bú sữa, khả năng sinh tồn của gia súc (điều hoà thân nhiệt, sự tiêu hoá ) chưa phát triển đầy đủ Ragab (1953, dẫn theo Phan Cự Nhân, 1972) [10] tìm thấy tương quan di truyền cao giữa khối lượng mới sinh, khối lượng khi cai sữa và khối lượng cuối cùng
Trang 26Các giống khác nhau thì khả năng sinh trưởng cũng khác nhau Ở những giống bò thịt như Hereford, Santa Gertrudis có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1.000 - 1.200g/ngày, các giống kiêm dụng như Red Sindhi, Brown Swiss khả năng tăng trưởng chỉ đạt 600 - 800g/ngày Ở Pakistan, Chaudhary và McDowell (1987) [23] cho biết khối lượng cơ thể thấp nhất ở bò sữa lai F2 3/4 Jersey là 296,20 ± 31, 58kg và cao nhất ở đàn bò lai F1 1/2 HF là 374,66 ± 67,54kg
Trong cùng một giống các cá thể khác nhau có khả năng sinh trưởng- phát dục khác nhau do tiềm năng di truyền khác nhau
+ Những yếu tố ngoại cảnh chủ yếu
* Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng- phát dục Dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát dục, ngược lại dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu protein, khoáng, vitamin sẽ kìm hãm sinh trưởng và phát dục
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng của bò sữa Khi bò được cung cấp đầy đủ, cân đối
về các chất dinh dưỡng sẽ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trưởng giảm, và hệ quả là ảnh hưởng tốt đến năng suất sữa sau này
Bò sữa có khối lượng lớn, cho sữa nhiều thì nhu cầu dinh dưỡng nhiều hơn so với bò có khối lượng nhỏ, cho sữa ít hoặc không cho sữa Vì vậy khẩu phần thức ăn hợp lý và khoa học sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao
Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc Cho gia súc ăn theo khẩu phần, theo giai đoạn, chế độ vận động thích hợp, chuồng trại sạch đều thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995) [17]
Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như: Nguyễn Kim Ninh (1994, 2000) [12, 13], Vũ Văn Nội và cs (2001) [14], Resendiz và Bernal Santos (1999) [39], Hoàng Thị Thiên Hương (2004) [7] đều có nhận xét chế
độ dinh dưỡng đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của bò sữa
Trang 27Năng lượng và protein là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng trưởng, tiêu tốn thức ăn Các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của năng lượng, protein trong khẩu phần bò sữa của Schingoethe (1996) [42], Vande Haar và cs (1999) [44], Radcliff và cs (1997, 2000) [36,37] đã chứng minh điều đó
Ngoài ra các chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần như khoáng chất, vitamin đều ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của bò sữa Liên quan đến việc đáp ứng các chất dinh dưỡng này, vấn đề phối hợp khẩu phần, thức ăn thô xanh có ý nghĩa quan trọng
* Điều kiện chăm sóc, quản lý
Điều kiện chăm sóc, quản lý cũng gây ảnh hưởng đáng kể sinh trưởng- phát dục Chuồng trại xây dựng đúng kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh; chế độ vận động hợp lý; tắm chải thường xuyên có tác dụng tốt đến quá trình sinh trưởng
Chăm sóc, quản lý tốt gia súc trong giai đoạn còn non sẽ có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và khả năng sản xuất sau này
* Khí hậu, thời tiết
Nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí gây ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và từ đó ảnh hưởng tới sinh trưởng Các yếu tố về điều kiện tiểu khí hậu thích hợp sẽ thúc đẩy sinh trưởng và ngược lại
Các yếu tố stress chủ yếu ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất và sức sản xuất gồm: thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu xấu, khẩu phần không hợp lý, chăm sóc nuôi dưỡng kém, tiêm phòng Khí hậu có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc đặc biệt là ở giai đoạn còn non
Thực tế cho thấy ở vùng khí hậu ôn đới bê sinh trưởng, phát triển tốt hơn ở vùng nhiệt đới Stress nóng, ẩm làm giảm nhiệt nội sinh, giảm thu nhận thức ăn cũng như đòi hỏi tăng thải nhiệt và thay đổi hàm lượng hormon Đinh Văn Cải và cs (2004) [3] cho biết: Nhiệt độ môi trường ở các tỉnh nước ta trung bình là 25 - 330C, ẩm độ môi trường trên 80% Nếu so sánh với môi
Trang 28trường ở Queensland thì nhiệt độ cao hơn 8 - 100C, ẩm độ cao gấp 1,5 - 2 lần, đây là yếu tố bất lợi cho bò HF Nhiệt độ môi trường thích hợp cho bò sữa được ghi nhận là từ - 40C đến + 220C, bê con từ 100C đến 270C Nhiệt độ tới hạn của môi trường đối với bò HF là 270
C, Jersey là 300C và của bò Brahman
là 350C, vượt quá nhiệt độ này sẽ có tác động xấu cho sự ổn định thân nhiệt
Ở phía Nam, khi trời nóng, nhiệt độ môi trường 33 - 360C, vượt quá xa nhiệt
độ thích hợp đối với bò sữa
Hai nguồn chính ảnh hưởng đến nhiệt trong cơ thể bò là nhiệt sinh ra trong cơ thể do hoạt động, sản xuất, trao đổi chất, quá trình lên men ở dạ cỏ để tiêu hoá thức ăn và nhiệt độ môi trường bên ngoài Bò năng suất càng cao, trao đổi chất càng mạnh, nhiệt sinh ra càng nhiều Tiêu hoá thức ăn thô, khó tiêu làm tăng sinh nhiệt ở dạ cỏ Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn nhiệt thải ra từ cơ thể vào môi trường thì thân nhiệt vượt quá 390C và bò xuất hiện stress nhiệt
Bò sữa là động vật đẳng nhiệt, để duy trì được trạng thái ổn định bò cần trạng thái cân bằng nhiệt độ với môi trường (Kadzere và Murphy, 2002) [28]
Do nhiệt độ và độ ẩm rất quan trọng đối với khả năng thích nghi của bò
ở các vùng khí hậu khác nhau nên người ta đã xây dựng chỉ số nhiệt ẩm (THI) liên quan đến stress nhiệt của bò Bò HF sẽ không bị stress nghiêm trọng nếu THI < 72, bị stress nhẹ khi THI = 72 - 78, bị stress nặng khi THI = 79 - 88, bị stress nghiêm trọng khi THI = 89 - 98 và sẽ bị chết khi THI > 98 Chỉ số THI còn phản ánh rằng trong điều kiện độ ẩm càng cao, bò đòi hỏi phải được sống trong điều kiện nhiệt độ thấp để không bị stress nhiệt
Đây là vấn đề khó khăn cho phần lớn các vùng chăn nuôi bò sữa gốc ôn đới Ở Việt Nam, các địa phương vùng cao như Lâm Đồng, Mộc Châu (Sơn La), Tuyên Quang có nhiệt độ bình quân dưới 220C và chỉ số nhiệt ẩm thấp (THI < 72) vì vậy nguy cơ bị tác động trực tiếp của stress nhiệt là không lớn Tuy nhiên khả năng chống stress nhiệt thực tế con còn phụ thuộc vào chỉ số THI từng tháng, từng ngày và thậm chí từng thời điểm trong ngày (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [19]
Trang 29* Bệnh tật
Các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng và các bệnh khác đều gây ảnh hưởng xấu, kìm hãm quá trình sinh trưởng- phát dục
- Các biện pháp thúc đẩy sinh trưởng - phát dục
Để thúc đẩy sinh trưởng- phát dục cần áp dụng các biện pháp chủ yếu như: + Công tác giống: Xác định hình thức nhân giống (nhân thuần hay lai), chọn giống thích hợp để nhân giống, chọn lọc cá thể nghiêm túc và ghép đôi giao phối phù hợp để tạo ra các cá thể có tiềm năng di truyền cao
+ Tạo điều kiện tối ưu về nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý
+ Tạo điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng
+ Đảm bảo công tác vệ sinh, phòng bệnh: Vệ sinh chuồng trại, thân thể, thức ăn nước uống, định kỳ tẩy uế, tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm thường xuyên và đầy đủ, định kỳ tẩy ký sinh trùng đường ruột, ngoài da
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về tinh phân lý giới tính
Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu về công nghệ sản xuất, sử dụng tinh phân ly giới tính và nhiều nước đã áp dụng thành công công nghệ này trong công tác tạo giống, nhân giống bò sữa, bò thịt
Tạo bò sữa, bò thịt bằng công nghệ tinh phân biệt giới tính đã được nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất ở nhiều nước trên thế giới như: Hoa
Kỳ, Anh, Nhật Bản, Canada, Ấn Độ, Australia, Mehico, Indonexia, Trung Quốc… từ những năm 90 của thế kỷ trước
Năm 1996, Công ty XY- Inc Hoa Kỳ là công ty đầu tiên đã sản xuất máy tách tinh trùng “X” và “Y”, cung cấp cho ngành chăn nuôi bò sữa của Hoa Kỳ Công ty này đã liên doanh với công ty Cytomation- Inc và cơ sở nghiên cứu của trường Đại học Colorado State và sự hợp tác thành công đó được duy trì, phát triển cho đến ngày nay
Trang 30Máy MoFlo SXTM được thiết kế đặc biệt để phân loại tinh trùng là một trong những dụng cụ đo tế bào tiên tiến nhất thế giới và được sản xuất bởi DAKCytomation dành riêng cho công ty XY-Inc
Công ty XY- Inc là chủ sở hữu giấy phép trong lĩnh vực phân loại tinh trùng ở động vật có vú trên khắp thế giới với sự ủng hộ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Ngày nay, Công ty XY- Inc đã mở rộng, phát triển và đang dẫn đầu trên toàn cầu trong việc phát triển công nghệ chọn lọc giới tính đối với động vật có vú như: Bò, lợn, ngựa và các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng
Ngày 06/8/1998, con ngựa đầu tiên trên thế giới được sinh ra từ thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng chọn lọc giới tính của Công ty XY-Inc Năm
1999, các nhà nghiên cứu của Công ty XY- Inc đã phối giống cho bò cái và tạo ra bê bằng tinh phân ly giới tính đông lạnh Kết quả này đã mở đường cho việc thương mại hóa công nghệ này trên toàn thế giới
Tháng 10 năm 2005, động vật biển có vú trên thế giới đầu tiên là cá heo mũi to Atlantic được sinh ra ở Sea word ven Diego bằng công nghệ chọn lọc giới tính của Công ty XY- Inc Tháng 10 năm 2006 tại Trung tâm nghiên cứu động vật quí hiếm Audubon ở New Orleans, những chú mèo được sinh ra từ tinh phân ly giới tính Tháng 1 năm 2007, những con chó đầu tiên trên thế giới được sinh ra từ tinh phân ly giới tính bằng công nghệ của Công ty XY- Inc ra đời
Năm 1999, tại Anh lần đầu tiên cho ra đời những con bò cái (Charity, Clover và Cloe) từ tinh phân ly giới tính bằng thụ tinh nhân tạo Cũng trong năm này, lần đầu tiên trên thế giới những con lừa được sinh ra từ tinh phân ly giới tính thông qua thụ tinh nhân tạo
Năm 2000, Công ty Cogent của Anh được Công ty XY- Inc cấp giấy phép đầu tiên được tiếp nhận sản phẩm tinh phân biệt giới tính và đưa vào thị trường
Tại Nhật Bản, năm 2000, Hiệp hội phát triển gia súc Nhật Bản (LIAJ)
Trang 31đã ký kết hợp tác nghiên cứu với Công ty XY- Inc Hiện nay, nhiều trang trại chăn nuôi ở Nhật Bản đang sử dụng tinh phân ly giới tính để sản xuất bê cái đạt xác suất 90%
Tại Australia, năm 2001, Công ty XY- Inc và Trường Đại học Sydney
đã thành công trong nghiên cứu trên cừu Kết quả là con cừu non đầu tiên ra đời bằng tinh đông lạnh phân biệt giới tính sau khi giải đông và thụ tinh nhân tạo cho cừu mẹ
Năm 2002, Công ty XY- Inc kết hợp với các nhà nghiên cứu của Australia đã nghiên cứu thành công trên ngựa, đã tạo ra con ngựa Ballerina từ ngựa mẹ chất lượng cao bằng tinh phân ly giới tính
Năm 2001, Viện nghiên cứu Quốc gia Đức (FAL) đã nghiên cứu sản xuất lợn con từ tinh phân ly giới tính
Tháng 7 năm 2003, XY- Mehico ra mắt và được cấp phép kinh doanh, hợp đồng cung cấp tinh phân ly giới tính với các trang trại chăn nuôi ở nước này
Tháng 2 năm 2004, Công ty XY- Mehico kết hợp với Liên đoàn bò đực sữa Mehico sản xuất tinh bò phân ly giới tính từ bò Mehico bằng công nghệ của Công ty XY- Inc
Năm 2003, Công ty Goyaike, công ty chăn nuôi hàng đầu của Argentina được XY- Inc cấp phép cung cấp tinh chọn lọc giới tính ở Brasil
Tại Trung Quốc, tháng 8 năm 2004, Công ty XY- Inc và DakoCytomation
đã ký thỏa thuận trị giá hơn 10 triệu USD với Công ty Gold Catle Bio- Inc và tập đoàn xuất nhập khẩu giống gia súc quốc gia Trung Quốc (CABS)
Tại Canada, tháng 3 năm 2004, Công ty XY- Inc và L’Alliance Bovitep
đã ký kết thỏa thuận cấp phép thương mại ứng dụng công nghệ phân ly giới tính của Công ty XY- Inc vào chăn nuôi bò ở Canada
Năm 2004, Trung tâm thụ tinh nhân tạo Singosari (Singosari Artificial Insemination Center) thuộc đảo Jawa, Indonexia đã nghiên cứu sản xuất tinh dịch phân ly giới tính Tính đến tháng 8 năm 2006, trong số 47 bê sinh ra từ
Trang 32việc thụ tinh nhân tạo bằng tinh đông lạnh phân biệt giới tính đực (Y Sperm)
đã có 33 bê đực, chiếm tỷ lệ 70,21% Trong số 30 bê sinh ra từ tinh đông lạnh phân biệt giới tính cái (X sperm) có tới 29 bê cái, chiếm 96,66%
Hiện nay, tinh đông lạnh đã phân biệt giới tính được sử dụng ở nhiều tỉnh, thành của Indonesia như: Tây Jawa; Bengkulu; Yogyakarta; Kalimantan… Đã
có 217 bê đực trong tổng số 319 bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính đực, đạt 68,06%; 456 bê cái trong tổng số 561 bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính cái, đạt 81,28%
Tỷ lệ thụ thai phối giống lần đầu khi sử dụng tinh bò phân ly giới tính tại Indonexia là 56,45 % và hệ số phối giống là 1,71
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng của bê và các yếu tố ảnh hưởng
Theo các tác giả nước ngoài, quá trình sinh trưởng của gia súc chịu sự tác động 2 yếu tố chính đó là: Đặc điểm di truyền của giống và môi trường chăm sóc nuôi dưỡng và chọn lọc
Trong thực tế cho thấy các giống khác nhau thì có khả năng sinh trưởng khác nhau Những giống bò thịt như Santa Gertrudis, Hereford có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1000 - 1200 g/con/ngày, trong khi các giống kiêm dụng thịt - sữa như Redsindhi chỉ có thể đạt tốc độ sinh trưởng 600 -
800 g/con/ngày
Eward Sasimonshi (1987) [26] có nhận xét: Khối lượng của động vật phụ thuộc vào bản chất di truyền của loài, giống và các yếu tố: Tuổi, tính biệt, yêu cầu thức ăn và thời tiết khí hậu
Mensikova H và Braner.P (1994) [31] khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng của 71 bò cái tơ giống Czech pied và 91 con lai Red và White Holstein x Czech pied; 79 con lai Ayrshire v ới Czech pied thấy tăng khối lượng/ngày đêm từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi của chúng có sự sai khác là 883g, 927g và 835g/con/ngày; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng tăng tương ứng là 2,23; 2,01; 2,23
Trang 33Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia súc là giống Khi so sánh con lai giữa bò Russian Black pied và Holstein với
bố mẹ, tác giả Ertuev M.M, Koltosova I Y.U (1984) [25] đã cho biết bò lai có khối lượng lớn hơn rõ rệt ở lúc 3, 6, 12 và 18 tháng tuổi Sự khác nhau trung bình từ 11,2 - 21,6 kg/con trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Khối lượng sơ sinh của bê cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng của bê ở giai đoạn 11 tháng tuổi Theo tác giả Dashdamirov.K.Sh (1991) [24] khi nghiên cứu bò đực Aberdeen - Angus (AA), Cubanzebu (Cz),
F1 (AA x Cz) và F2 đã thu được kết quả tương ứng là: K hối lượng sơ sinh trung bình 29,9; 31,3 và 32,0 kg, chênh lệch nhau không nhiều nhưng khi 12 tháng tuổi, khối lượng lại có sự chênh lệch đáng kể tương ứng là: 207,9 kg; 281,6 và 293,8 kg
Khi so sánh con lai F1 của các giống khác nhau: Brown Swiss, Charolais, Chiania, Indo-Brazilian, với bò Zebu, tác giả Montano M và CTV (1991) [33] đã thấy: Sinh trưởng của bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố, bò lai F1 Charolais và Chiania có khối lượng sơ sinh và tốc độ sinh trưởng lớn hơn các bò lai giống khác từ 4 - 10%
Tác giả Saint.M (1991) [41] khi so sánh năng suất sinh trưởng của giống thuần Charolais, Holstein, Mentbeliard, Aberdeen và con lai giữa chúng với bò cái Adama cho thấy sự khác nhau rõ rệt giữa các giống thuần chủng và giống lai, giữa con đực và con cái Khối lượng sơ sinh là 24,8 ± 0,6kg và 30,4 ± 1,1 kg (ở con đực); 23,2 ± 6,6 kg và 30,9 ± 0,09 kg (ở con cái) Tăng trọng trên ngày là 470 ± 22g và 663 ± 17,6g ở con đực và
452 ± 18g và 469 ± 14g ở con cái
Các nghiên cứu của Sung.Y.T và Wang.K.C, (1988) [43] về năng suất của giống bò Redsindhi, Santa Gertrudis và con lai của chúng với bò Taiwan Yellow cho thấy: Khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, khối lượng 1 tuổi ở
bò SG tương ứng là 27,6; 130,7 và 117,7 kg, cao hơn rõ rệt so với các bò khác
Trang 34(20,0 - 24,3; 89,4 - 105,4 và 113 - 138kg) Tốc độ sinh trưởng của bò Redsindhi nhìn chung thấp nhất
Theo Lopez - D và Ruiz - C (1983) [30] khi so sánh về sinh trưởng của
bò tơ lai 5/8 Holstein Friesian - 3/8 Zebu và con lai đời 1 của chúng, đã cho biết: Con lai của chúng có khối lượng sơ sinh cao hơn rõ rệt so với quần thể nhưng không khác nhau rõ rệt giữa hai nhóm ở trọng lượng 120 ngày hoặc tăng trọng/ngày
Theo Abassa K.P và cộng sự (1989) [22 ] khi nghiên cứu trên 1401 bò Gobsa thì hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, 12 và 18 tháng tuổi tương ứng là 0,14; 0,134; 0,33 và 0,15 Các yếu tố như: điều kiện nuôi dưỡng, môi trường, ngoại cảnh, thời tiết, khí hậu, và các vùng sinh thái khác nhau đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của gia súc
Các điều kiện tự nhiên như: Thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ đều ảnh hưởng tới sinh trưởng của bò nhất là đối với cơ thể non Thực tế cho thấy bò ở vùng khí hậu ôn đới có tốc độ sinh trưởng lớn bò ở vùng khí hậu nhiệt đới
Kết quả nghiên cứu của Johnson (1958 - 1961) [27] về khả năng tăng trọng của bò cho thấy: Ở vùng khí hậu nóng bò sinh trưởng chậm hơn so với
bò ở vùng khí hậu ôn đới có nhiệt độ trung bình là 100
C
Lampkin Quaterman (1994) [29] cho thấy bò đực F1 (Hereford x Augus) nuôi dưỡng trong điều kiện nóng ở Imperian bị giảm khả năng sinh trưởng, nhận xét do nhiệt độ môi trường đã liên quan đến quá trình chuyển hoá năng lượng trong cơ thể bò theo giới hạn di truyền của giống
Chu kỳ chiếu sáng cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới tốc độ sinh trưởng của
bò Thí nghiệm của Michigal U.S.A, Sorensen T.M (1984) [32] đã thử nghiệm trên bê có khối lượng sống dưới 360 kg, cho thấy ánh sáng ảnh hưởng đến tăng trưởng của bê, còn đối với bò đã trưởng thành sự thay đổi về cường
độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng ít ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Trang 351.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu sử dụng tinh phân ly giới tính
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu tạo bê từ phôi phân biệt giới tính đã đạt được thành công bước đầu Bùi Xuân Nguyên và cs Ở Viện Công nghệ Sinh
học, Viện Khoa học Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ
xác định giới tính phôi để sản xuất bò sữa cao sản tại Việt Nam” Các tác giả
đã thử nghiệm thành công cấy phôi chọn lọc cho gần 200 bò tại Vĩnh Phúc,
TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai với tỷ lệ đẻ đạt 50- 52%
Bùi Xuân Nguyên cũng đã thực hiện đề tài: “Triển khai công nghệ
thụ tinh ống nghiệm và chọn giới tính bằng PCR vào sản xuất bò sữa cao sản tại Việt Nam”
Hoàng Nghĩa Sơn và cs ở Viện Sinh học nhiệt đới đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu xác định giới tính phôi bò sữa và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm vào sản xuất bò sữa cao sản thích nghi điều kiện Việt Nam”
Tại Trại bò sữa Sông Hậu (Cần Thơ), Phú Lâm (Tuyên Quang) của Công ty sữa VINAMILK và tại Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu
đã sử dụng tinh phân biệt giới tính nhập khẩu phối giống cho đàn bò cái Vào tháng 1 năm 2009, hai con bê đầu tiên tại Việt Nam sinh ra từ tinh phân ly giới tính
Viện Chăn nuôi cũng đã bước đầu nghiên cứu thành công và đã cho
ra đời bê từ tinh phân ly giới tính
Tại Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Viện Chăn nuôi đang nghiên cứu và xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ phôi, tinh giới tính để phục vụ phát triển đàn bò sữa chất lượng cao Hiện nay, Trung tâm đang sử dụng phôi và tinh bò sữa Holstein Friesian đã xác định giới tính của Tập đoàn Sexing Technologies Inc của Hoa Kỳ
Tinh được sản xuất từ những bò đực có chất lượng cao, có hệ phả tối thiểu 3 đời với tiềm năng cho sữa >18.000 kg/chu kỳ (CK) 305 ngày, tỷ lệ
Trang 36mỡ sữa >3,6% và protein >3,5% Tinh được sản xuất dưới dạng cọng rạ (0,25 ml/cọng), mật độ tinh trùng > 20 triệu/cọng và hoạt lực sau giải đông
20 giây > 45% Bò đực giống được nuôi theo quy trình đặc biệt, được kiểm soát chặt chẽ các mầm bệnh Lở mồm long móng (LMLM), lưỡi xanh, bò điên, sẩy thai truyền nhiễm…
Phôi được sản xuất từ bò mẹ có năng suất sữa trên 16.000 kg/CK, tỷ
lệ mỡ >3,5%; protein >3% và VCK > 12% Phôi ở độ tuổi 6-7 ngày ở trạng thái phôi dâu Phôi sau khi giải đông đạt chất lượng loại A > 80%
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu về chế độ nuôi dưỡng và sinh trưởng của bê
Về nuôi dưỡng bê, Vũ Văn Nội và cs (2000) [5] khảo sát chế độ nuôi dưỡng bê cái lai HF tại TP HCM đã đề nghị: Bê lai HF nuôi với chế độ trung bình 4 lít sữa/ngày Tập ăn lúc 14 - 15 ngày Sử dụng thức ăn hỗn hợp và hèm bia pha loãng trong nước đến cai sữa bê, tiêu thụ được 0,2 - 0,7
kg cám và 1 - 3 kg hèm bia/ngày Cai sữa sau 4 tháng Khối lượng bê lúc 6 tháng tuổi đạt 106 kg
Tác giả cũng đã nghiên cứu trên đàn bê nuôi tại Ba Vì và đề nghị: Nuôi bê cái lai HF thâm canh với lượng sữa 550 kg, thời gian cai sữa 6 tháng, khối lượng cai sữa đạt 129 kg Không có thông báo về chỉ ra số lượng thức ăn tinh tiêu thụ
Đinh Văn Cải và Hoàng Thị Ngân (2007) [4] nghiên cứu trên 27 bê cái lai HF với 9 chế độ nuôi dưỡng khác nhau, mức sữa tươi nguyên bơ từ 220-280 và 350 kg, thức ăn tinh hỗn hợp có hàm lượng protein thô 16%; 18% và 20% cho ăn tự do, cai sữa bê ở 12 tuần tuổi Kết quả cho thấy: Nuôi bê lai HF với 280 kg sữa, 85 kg thức ăn tinh có 18% protein thô, cai sữa 12 tuần tuổi, bê lai đạt khối lượng 96,4 kg, tăng trọng trên 785 gam/ngày, đạt yêu cầu làm giống
Hiện nay, trong sản xuất, Công ty sữa Tương lai (Tuyên Quang) nuôi
bê cái thuần HF với tổng lượng sữa 320 kg và thức ăn tinh tự do, cai sữa bê
Trang 37lúc 10 tuần tuổi Không có thông báo chi tiết về khối lượng cai sữa và lượng thức tinh tiêu thụ
Nguyễn Kim Ninh và cs (1985) [11] theo dõi về khả năng sinh trưởng và sản xuất sữa của bò lai F1 (HF x Laisind) tại Ba Vì cho biết: Khối lượng bê sơ sinh là 21 ± 0,41 kg; lúc 6 tháng tuổi đạt 106,0 ± 2,72 kg;
12 tháng tuổi là 150,3 ± 3,30 kg; 18 tháng tuổi là 206,4 ± 7,67 kg và sản lượng sữa bò lai F1 (HF x Laisind) trong giai đoạn 1985 - 1990 là: Lứa 1 sản lượng sữa là 1823 ± 48,3 kg; lứa 2 trung bình là 1825 ± 48,2 kg; lứa 3 trung bình là 1959 ± 33,7kg
Vũ Văn Nội và cs (2000) [5], khảo sát chế độ nuôi dưỡng bê cái lai
HF tại TP.HCM đã đề nghị tiêu chuẩn, khẩu phần nuôi bê lai HF từ 7 - 15 tháng tuổi như Bảng 1.1 Trong một nghiên cứu khác tại Ba Vì tác giả đề nghị nuôi bê hậu bị giai đoạn 16 - 24 tháng tuổi với trung bình chất dinh dưỡng tiêu thụ (con/ngày) như sau: DM 7,3kg; ME 15563 Kcal và 787 gam
CP Với mức dinh dưỡng này lúc 18 tháng tuổi bê đạt 228,3kg và 24 tháng tuổi đạt 266kg
Bảng 1.1 Yêu cầu chất dinh dƣỡng ăn vào của bê cái lai HF tại các
tháng tuổi
tháng
9 tháng
12 tháng
15 tháng
Nguồn: Vũ Văn Nội và cs (2000) [5]
Trang 38Đinh Văn Cải (2003) [2] tại Trung tâm nghiên cứu bò sữa Bình Dương trên 27 bê cái sau cai sữa chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 9 con được nuôi bởi 3 loại khẩu phần khác nhau về tỷ lệ tinh thô, mật độ năng lượng và protein theo
lô thí nghiệm và giai đoạn tuổi Thời gian kéo dài đến phối giống lần đầu Kết quả thí nghiệm được đề xuất khẩu phần nuôi bê như Bảng 1.2:
Bảng 1.2 Khẩu phần nuôi bê cái lai 75%-87,5% HF từ sau cai sữa đến
phối giống lần đầu
4-6 7-9 10-12 13-15
Khối lượng cuối kỳ kg 155 209 255 301 Tăng trọng cần đạt g/ngày 650 600 500 500
Tỷ lệ thức ăn tinh khẩu phần %DM 53-54 42-43 34-35 29-30
Tỷ lệ protein thô (CP, min) %DM 14,0 13,5 13 12,5-13 Mật độ năng lượng (ME) Kcal/kgDM 2350 2350 2350 2350 Chất khô ăn vào Kg/ngày 3,6-3,7 4,7-4,8 5,5-5,7 5,6-5,8 Năng lượng ăn vào (ME) Mcal/ngày 8,4-8,5 10,5-11 12-13 14-15 Protein thô ăn vào (CP) Gam/ngày 510-520 660-670 700-720 730-750
Nguồn: Đinh Văn Cải (2003) [2]
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng của bò sữa Khi bò được cung cấp đầy đủ, cân đối về các chất dinh dưỡng sẽ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trưởng giảm
và hệ quả là ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa sau này Bò sữa có khối lượng lớn, cho sữa nhiều thì nhu cầu dinh dưỡng nhiều hơn so với bò có khối lượng nhỏ, cho sữa ít hoặc không cho sữa Vì vậy, khẩu phần thức ăn hợp lý và khoa học sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đều có nhận xét chế độ dinh dưỡng đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của bò sữa (Nguyễn Kim Ninh (1994), (2000) [12], [13]; Vũ Văn Nội và cs (2001) [14]; Resendiz và Bernal Santos (1999) [35]; Hoàng Thị Thiên Hương (2004) [7])
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đàn bê cái được sinh ra từ đàn bò mẹ 7/8 HF ở lứa tuổi từ lứa 3 đến lứa 5 được phối giống bằng tinh phân ly giới tính (Tinh bò sữa Holstein Friesian (HF) phân định giới tính cái thuần chủng nhập từ tập đoàn Sexing Technology của Mỹ từ con đực có tiềm năng sản xuất sữa ≥ 16.000 kg/ chu kỳ và của con
mẹ ≥ 12.000 kg/ chu kỳ)
- Đàn bê cái được sinh ra từ đàn bò mẹ 7/8 HF ở lứa tuổi từ lứa 3 đến lứa 5 được phối giống bằng tinh không phân ly giới tính (Tinh bò sữa Holstein Friesian (HF) không phân định giới tính cái được sản xuất tại Trung tâm Vinalica có tiềm năng sản xuất sữa của con đực ≥ 12.000 kg/ chu kỳ và của con
mẹ ≥ 10.000kg/ chu kỳ)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đóng tại xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
2.2.1.1 Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh
ra từ tinh phân ly giới tính thông qua so sánh với bê sinh ra từ tinh thường
- Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính và bê cái sinh ra từ tinh thường ở giai đoạn bú sữa (từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi)
Trang 40- Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính so với bê cái sinh ra từ tinh thường ở giai đoạn sau cai sữa (từ 5 đến 9 tháng tuổi)
2.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng của
bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính
- Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính nuôi với các mức dinh dưỡng khác nhau (100; 110; 120% tiêu chuẩn) ở giai đoạn bú sữa (từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi)
- Sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính nuôi với các mức dinh dưỡng khác nhau (100; 110; 120% tiêu chuẩn) ở giai đoạn sau cai sữa (từ 5 đến 9 tháng tuổi)
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1 Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của
bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính
Để đánh giá sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bê cái sinh ra
từ tinh phân ly giới tính, chúng tôi tiến hành thí nghiệm, theo dõi và so sánh các chỉ tiêu ở bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính với bê sinh ra từ tinh thường
ở 2 giai đoạn: Bú sữa (từ sơ sinh đến cai sữa lúc 4 tháng tuổi) và sau cai sữa (từ 5 đến 9 tháng tuổi)
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, gồm 2 lô
Lô 1: 10 bê sinh ra từ tinh thường
Lô 2: 10 bê sinh ra từ tinh phân ly giới tính
Nuôi với mức dinh dưỡng 100% theo tiêu chuẩn
Đảm bảo đồng đều về chế độ dinh dưỡng; điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và các yếu tố ngoại cảnh khác
Thí nghiệm 2.Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dinh dưỡng đến sinh trưởng của bê cái sinh ra từ tinh phân ly giới tính
Để đánh giá ảnh hưởng của các mức dinh dưỡng khác nhau đến sinh