1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở việt nam

203 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” này do tôi tự thực hiện và không vi ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

\

HÀ NỘI – NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

MAI THỊ HƯỜNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN PHẨM BẢO HIỂM

NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế bảo hiểm

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật

Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” này

do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày… tháng 01 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Mai Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh

tế quốc dẫn đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi có khả năng hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến tập thể giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Chính và TS Phạm Trường Giang đã luôn chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cả về nội dung khoa học cũng như phương pháp nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo của Viện đào tạo sau đại học đã luôn hỗ trợ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập cũng như hướng dẫn nghiên cứu sinh trong quá trình hoàn thiện hồ sơ luận án

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp doanh nghiệp đã luôn tận tình hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghiên cứu sinh

Mai Thị Hường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM KẾT i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH ix

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 8

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước 8

1.1.1 Các công trình nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết truyền thống 8

1.1.2 Các nghiên cứu dựa trên việc xem xét tác động của các biến tổng hợp đến nhu cầu và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ 21

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về bảo hiểm nhân thọ 27 1.3 Khoảng trống nghiên cứu 32

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ 34

2.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ 34

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ 34

2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ 35

2.1.3 Tác dụng của bảo hiểm nhân thọ 39

2.1.4 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản 40

2.1.5 Hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 46

2.1.6 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 49

2.2 Cơ sở lý thuyết về hành vi mua trong bảo hiểm nhân thọ 53

2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 54

2.2.2 Lý thuyết hành vi dự định (TPB) 56

2.2.3 Cơ sở lý thuyết về mối liên hệ giữa thái độ, ý định và hành vi (Ajzen và Fishbein, 2005) 58

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 63

2.3.1 Nhân tố thuộc về thái độ 63

Trang 6

2.3.2 Nhân tố chuẩn mực chủ quan 66

2.3.3 Nhận thức kiểm soát hành vi 67

2.3.4 Ý định hành vi 68

2.3.5 Hành vi hay quyết định tiêu dùng (quyết định mua) 69

2.3.6 Mối quan hệ giữa ý định và hành vi 69

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 70

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 71

3.1 Mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 71

3.1.1 Ảnh hưởng của thái độ 72

3.1.2 Ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan 73

3.1.3 Ảnh hưởng của nhận thức kiểm soát hành vi 74

3.1.4 Ảnh hưởng của ý định mua 75

3.2 Phương pháp nghiên cứu 77

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 77

3.2.2 Dữ liệu thứ cấp 77

3.2.3 Dữ liệu sơ cấp 77

3.2.4 Thiết kế thang đo 80

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 83

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 89

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 90

4.1 Thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam 90

4.1.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 90

4.1.2 Tình hình khai thác của các doanh nghiệp BHNT trên thị trường bảo hiểm Việt Nam 95

4.1.3 Thực trạng chi trả tiền bảo hiểm 105

4.1.4 Thực trạng hệ thống kênh phân phối đại lý BHNT trên thị trường hiện nay 108

4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm BHNT 110

4.2.1 Kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu khảo sát 110

4.2.2 Phân tích độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha 114

4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 115

4.2.4 Phân tích hồi quy sự ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 118

Trang 7

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 128

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GIA TĂNG QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ 129

5.1 Bình luận kết quả phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 129

5.1.1 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đối với các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ mua BHNT (mô hình 1) 129

5.1.2 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đối với các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua BHNT (mô hình 2) 132

5.1.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đối với các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT (mô hình 3,4,5) 137

5.2 Mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm trong tương lai 140

5.3 Một số giải pháp nhằm gia tăng quyết định mua bảo hiểm nhân thọ 141

5.3.1 Giải pháp gia tăng mức độ hiểu biết về sản phẩm BHNT 141

5.3.2 Nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm 146

5.3.3.Giải pháp nhằm gia tăng thái độ tích cực về sản phẩm 152

5.3.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 156

5.4 Một số giải pháp khác nhằm gia tăng quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 157

5.4.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ157 5.4.2 Hoàn thiện quy định về giám sát khả năng thanh toán của doanh nghiêp bảo hiểm 158

5.4.3 Nâng cao tính minh bạch thông tin 159

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 159

KẾT LUẬN 160

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 162

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 162

TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 PHỤ LỤC

Trang 8

EUT: Lý thuyết tiện ích dự kiến

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: So sánh giữa bảo hiểm nhân thọ truyền thống và bảo hiểm liên kết đầu

tư 45

Bảng 3.1: Căn cứ và giả thuyết nghiên cứu của mô hình 76

Bảng 3.2 Bảng mô tả thang đo likert 80

Bảng 3.3: Mã hóa thang đo và biến quan sát của mô hình nghiên cứu 81

Bảng 3.4: Bảng mã hóa các thang đo 88

Bảng 4.1 Danh mục các doanh nghiệp BHNT trên thị trường Việt Nam hiện nay 91

Bảng 4.2: Tình hình khai thác các sản phẩm chính của các DNBH nhân thọ trên thị trường giai đoạn 2014 – 2018 97

Bảng 4.3: Chất lượng khai thác của các sản phẩm bảo hiểm chính giai đoạn 2013 – 2018 98

Bảng 4.4: Cơ cấu các loại hình khai thác trong kỳ giai đoạn 2014 – 2018 100

Bảng 4.5: Tình hình khai thác mới các sản phẩm chính theo hợp đồng của các doanh nghiệp trên thị trường giai đoạn 2013 - 2018 103

Bảng 4.6: Tình hình khai thác mới các sản phẩm chính theo phí bảo hiểm của các doanh nghiệp trên thị trường giai đoạn 2013 - 2018 104

Bảng 4.7: Tình hình chi trả bảo hiểm gốc theo các loại hình bảo hiểmgiai đoạn 2013 - 2016 106

Bảng 4.8: Tình hình chi trả tiền bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường giai đoạn 2014 – 2018 107

Bảng 4.9: Thống kê số lượng đại lý có mặt đến cuối kỳ của các DNBH Nhân thọ giai đoạn 2014 - 2018 109

Bảng 4.10: Kết quả về giới tính đối tượng được khảo sát 111

Bảng 4.11: Kết quả về độ tuổi của đối tượng được khảo sát 111

Bảng 4.12: Kết quả về trình độ học vấn của đối tượng được khảo sát 112

Bảng 4.13: Kết quả về thu nhập của đối tượng được khảo sát 113

Bảng 4.14: Kết quả tình trạng mua BHNT của đối tượng được khảo sát 113

Bảng 4.15: Hệ số Cronbach’s alpha cho các thang đo 114

Trang 10

Bảng 4.16: Phân tích nhân tố EFA tổng hợp KMO and Bartlett's Test cho mô hình

Thái độ bảo hiểm 116

Bảng 4.17: Phân tích nhân tố EFA tổng hợp KMO and Bartlett's Test cho mô hình ý định bảo hiểm 117

Bảng 4.18: Phân tích nhân tố EFA tổng hợp KMO and Bartlett's Test cho mô hình quyết định bảo hiểm 117

Bảng 4.19: Bảng kiểm định tương quan Pearson 119

Bảng 4.20: Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi mua bảo hiểm nhân thọ 121

Bảng 4.21: Kết quả hồi quy với ý định là biến phụ thuộc 122

Bảng 4.22: Ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi mua bảo hiểm nhân thọ 123

Bảng 4.23 Mức độ tác động của các nhân tố theo hai nhóm khách hàng 125

Bảng 4.24: Ảnh hưởng của ý định và biến điều tiết đến hành vi mua BHNT 126

Trang 11

phẩm bảo hiểm nhân thọ của Prudential 29 Hình 1.5: Mô hình và kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định

mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện nhân thọ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 31 Hình 2.1: Các nhân tố xác định hành vi của một người theo lý thuyết hành động

hợp lý (TRA) 55 Hình 2.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) 57 Hình 2.3: Mô hình MODE – quá trình hình thành thái độ 59 Hình 2.4 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự

định (TPB) tổng thể 60 Hình 3.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo

hiểm nhân thọ 71 Hình 4.1 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới của các doanh nghiệp

bảo hiểm nhân thọ năm 2017 93 Hình 4.2: Doanh thu phí bảo hiểm theo nghiệp vụ năm 2017 94

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở mỗi quốc gia, trong mọi thời kỳ, con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu Khi nền kinh tế càng phát triển, những rủi ro trong cuộc sống cũng gia tăng và ngày càng đa dạng, phức tạp Theo đó sự quan tâm dành cho con người cũng ngày càng được chú ý, đặc biệt là nhu cầu về việc được bảo vệ toàn diện trước những biến cố trong cuộc sống Mặc dù có nhiều biện pháp khác nhau

để đối phó với rủi ro tuy nhiên cho đến nay, một trong những biện pháp hữu hiệu vẫn được đặt lên hàng đầu đó là bảo hiểm Các sản phẩm bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng là các biện pháp chia sẻ rủi ro và phân tán tổn thất, thiệt hại giữa những người tham gia bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm với mục đích ban đầu là bảo hiểm cho các sự kiện sống và chết của khách hàng Ngày nay, với những đặc điểm cơ bản về tính tiết kiệm và tính rủi ro và dựa trên nền tảng của các sản phẩm truyền thống, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở các doanh nghiệp đang ngày càng được đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng những mục đích khác nhau của người tham gia về tiêu dùng, tiết kiệm và rủi ro Đối tượng, mục tiêu và phạm vi bảo hiểm của các sản phẩm này cũng ngày càng được

mở rộng hướng tới những kế hoạch tài chính hiệu quả dành cho người tham gia kể

từ khi ra đời cho đến khi nghỉ hưu Với những lợi ích rất lớn và đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của bảo hiểm nhân thọ như vậy tuy nhiên với sự tăng trưởng của kinh tế và thu nhập của người tiêu dùng nhưng việc mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trên thị trường lại chưa phát triển ở mức độ tương xứng

Theo số liệu báo cáo của Swiss Re tỷ lệ tham gia bảo hiểm nhân thọ ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản là khoảng trên 90%; ở các nước trong khu vực như Singapore là trên 80%; Malaysia là 50% trong khi đó tỷ lệ này ở Việt Nam tính đến hết 2017 chỉ khoảng 10% Cũng theo báo cáo tổng hợp của hiệp hội bảo hiểm về tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm nhân thọ được tính dựa trên tổng phí bảo hiểm so với GDP cho thấy tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm (doanh thu phí BH/GDP) của ASEAN có xu hướng được cải thiện dần trong những năm gần đây, tuy nhiên vẫn

ở mức thấp (3%) Trong số đó, Việt Nam tuy thị trường vẫn tăng trưởng tốt, nhưng

tỷ lệ thâm nhập thị trường của ngành bảo hiểm Việt Nam còn rất thấp so với các

Trang 13

nước trong khu vực, mới chỉ ở mức 2% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Thái Lan là 5,5%, Singapore là 14% Do vậy, việc nghiên cứu những nhân tố tác động đến hành vi mua bảo hiểm nhân thọ là hoàn toàn cần thiết

Trên thế giới việc nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ nói chung và hành vi mua Bảo hiểm nhân thọ cũng như khảo sát nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ đã có rất nhiều Bảo hiểm nhân thọ cho phép các cá nhân và hộ gia đình chia sẻ với nhiều người khác và hỗ trợ tổn thất tài chính từ những rủi ro không mong muốn như tử vong từ phần lương cơ bản của mình (Garman và Forgue, 2006) Bảo hiểm nhân thọ là một công cụ tài chính quan trọng để phân bổ các nguồn lực trước những biến

cố không chắc chắn của cuộc sống (Yaari, 1964; Yaari, 1965) và là một thành tố quan trọng trong kế hoạch tài chính dài hạn (Carson và Forster, 2000) Các nghiên cứu này cũng đồng thời chỉ ra có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng: có những nhân tố thuộc về kinh tế; nhân tố thuộc

về tâm lý hay các nhân tố thuộc về văn hóa xã hội

Ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở các cấp độ khác nhau Các nghiên cứu được xem xét dưới các góc độ thị trường và cá nhân Nghiên cứu dưới góc độ thị trường phải kể đến luận án tiến sĩ của (Hồ Thủy Tiên, 2007); Phí Trọng Thảo (2003) Việc nghiên cứu phát triển thị trường và sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là rất quan trọng bởi nó giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung nhưng để đạt điều này cần dựa trên một quyết định rất quan trọng là quyết định có hay không việc khách hàng sẽ mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tuy nhiên việc khai thác mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu dưới góc độ thị trường như nghiên cứu của Hồ Thủy Tiên (2007); Phí Trọng Thảo (2003) Việc nghiên cứu phát triển thị trường và sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là rất quan trọng bởi nó giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung nhưng để đạt điều này cần dựa trên một quyết định rất quan trọng là quyết định có hay không việc khách hàng sẽ mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

Dưới góc độ cá nhân có một số bài viết đã xem xét ảnh hưởng của các nhân

tố đến ý định mua bảo hiểm như Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (2015) đối với sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện của cư dân thành phố Hồ Chí Minh; nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy và Nguyễn Văn Ngọc (2015) xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của Prudential; nghiên cứu của Lê Long Hậu và cộng sự (2017) xem xét ảnh hưởng của thái độ đối với rủi

ro và hiểu biết tài chính đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của cá nhân Tuy

Trang 14

nhiên, cũng như các công trình nghiên cứu khác trên thế giới, các nghiên cứu này đều dựa trên việc xem xét các tác động tổng hợp của các nhân tố; mỗi nghiên cứu khác nhau sử dụng các nhân tố hoặc nhóm nhân tố khác nhau Do vậy, các kết quả vẫn còn nhiều mâu thuẫn Bên cạnh đó, những nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết hành vi mới chỉ dừng lại ở “ý định” mua của khách hàng thay vì nghiên cứu hành vi thực tế

Xuất phát từ những vấn đề nói trên nghiên cứu sinh đã quyết định chọn đề

tài “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát:

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng trong tương lai

- Mục tiêu cụ thể:

+ Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung những vấn đề lý luận cơ bản về Bảo hiểm nhân thọ và các cơ sở lý thuyết nghiên cứu về quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

+ Phân tích thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam, đồng thời phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

+ Đề xuất các giải pháp và đưa ra những kiến nghị nhằm gia tăng quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu trên, luận án phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ?

- Ý định và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam dưới góc độ của lý thuyết hành vi mua có thật sự có ý nghĩa?

Trang 15

- Nhân tố nào ảnh hưởng đến mối quan hệ từ ý định đến hành vi mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng?

- Giải pháp nào thúc đẩy được sự ảnh hưởng của những nhân tố tích cực và hạn chế ảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của đối tượng khách hàng cá nhân

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung:

Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo hiểm nhân thọ, các cơ sở lý thuyết về quyết định mua bảo hiểm nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của nhóm đối tượng khách hàng cá nhân

- Phạm vi về không gian:

+ Luận án nghiên cứu thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam + Nghiên cứu khảo sát tác động của các nhân tố với mẫu khảo sát được lựa chọn tại địa bàn thành phố Hà Nội vì là nơi tập trung đông dân cư với mức thu nhập khả thi để mua BHNT nhưng tỷ lệ mua lại không cao như các tỉnh thành khác như Nghệ An theo số liệu của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cung cấp

Nghiên cứu khảo sát được thực hiện bằng 2 phương pháp định tính và định lượng Đối tượng khảo sát là khách hàng cá nhân hiện tại; tiềm năng và nhóm chuyên gia bao gồm các quản lý và tư vấn viên của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Phạm vi về mặt thời gian

Số liệu thứ cấp: thu thập trong giai đoạn 2013-2018

Số liệu sơ cấp: thu thập thông tin trong giai đoạn 2017 - 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của thống kê như: tổng hợp, phân tích, so sánh

- Trong quá trình nghiên cứu, luận án kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

Trang 16

Trong đó:

Nghiên cứu định tính: nhằm mục đích tiếp cận khách hàng hiện tại, tiềm năng, nhóm quản lý và nhân viên tư vấn

Hình thức: Phỏng vấn trực tiếp

Quy mô mẫu: 20 người

Địa điểm phỏng vấn: tại Hà Nội

Phương pháp chọn mẫu: phương pháp lấy mẫu thuận tiện vì phương pháp này thích hợp cho nghiên cứu có thời gian và nguồn lực giới hạn

Thiết kế bảng câu hỏi định tính

Nghiên cứu định lượng: Sau khi nghiên cứu định tính, thì tiến hành khảo sát

sơ bộ và điều tra mở rộng nhằm thu thập số liệu định lượng các yếu tố ảnh hưởng

- Thiết kế bảng câu hỏi định lượng

- Quy mô mẫu: 350

- Phương pháp thu thập dữ liệu: nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát thông qua phiếu khảo sát điện tử được tạo trên công cụ “Google docs forms” cho các đối tượng khách hàng hiện tại và tiềm năng Sau khi thu thập và xử lý số liệu nghiên cứu sinh thu về 342 phiếu hợp lệ Thời gian khảo sát thực hiện từ tháng 10/2017 đến 6/2018

Phương pháp phân tích dữ liệu: các nguồn dữ liệu sau khi thu thập được phân tích thông qua các bước thống kê mô tả; phân tích thống kê mô tả; phân tích

hệ số Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA; Kiếm tra tính tương quan; Mục đích chạy tương quan Pearson nhằm kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập và hồi quy để đánh giá mối liên hệ và chiều hướng tác động của các nhóm nhân tố đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

Phần mềm sử dụng: Phần mềm xử lý dữ liệu SPSS 22

5 Đóng góp mới của luận án

Thông qua cơ sở lý thuyết gốc, luận án xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ hành vi mua nói chung sau đó có tham khảo, điều chỉnh và chi tiết các nhân tố đặc thù trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ nói riêng dựa trên một số nghiên cứu điển hình gần đây Theo đó, các biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm: mức độ chấp nhận rủi ro tài

Trang 17

chính; cảm nhận lợi ích sản phẩm; nhận thức rủi ro trong tương lai; thái độ đối với hành vi mua bảo hiểm nhân thọ; các nhân tố thuộc về chuẩn mực chủ quan; các nhân tố thuộc về nhận thức kiểm soát hành vi bao gồm: khả năng hiểu biết về sản phẩm và khả năng tiếp cận sản phẩm Mô hình bao gồm 3 biến phụ thuộc là thái

độ, ý định và quyết định (hành vi) mua BHNT Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò vừa là biến độc lập vừa là biến điều tiết ảnh hưởng đến quá trình thúc đẩy từ ý định đến quyết định thực tế của khách hàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy những người có ý định mua bảo hiểm thì có khả năng mua bảo hiểm thực tế cao hơn so với những người không có ý định

Theo đó kỳ vọng của luận án sẽ đạt được bao gồm:

- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về hành vi mua bảo hiểm nhân thọ

- Phân tích so sánh sự khác nhau về mức độ tác động của các nhân tố đến ý định và hành vi mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

- Kiểm định lại tác động của các nhân tố ảnh hưởng trong điều kiện bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam

- Rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bảo hiểm để tác động thúc đẩy quyết định mua BHNT của khách hàng cá nhân

Điểm mới của luận án là đã ứng dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định mở rộng (Ajzen và Fishbein, 2005; Ajzen, 2003) để nghiên cứu quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bằng việc cụ thể hóa biến “thái độ” trong mô hình TPB gốc bằng 3 biến độc lập “thái độ rủi ro”; “cảm nhận lợi ích sản phẩm”; “nhận thức rủi ro trong tương lai” Biến “nhận thức kiểm soát hành vi” bên cạnh việc là biến độc lập còn đóng vai trò là biến điều tiết ảnh hưởng đến quá trình hình thành từ ý định đến quyết định mua trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Luận án sử dụng phương pháp phân tích biến điều tiết để xem xét tác động của các biến kiểm soát hành vi đến quá trình thúc đẩy từ ý định mua bảo hiểm đến quyết định mua BHNT trên thực tế thông qua sử dụng công cụ Process Macro của Hayes (2013) Phương pháp này giúp hạn chế tình trạng đa cộng tuyến giữa các biến so với việc sử dụng kỹ thuật biến nhân trong SPSS đơn thuần

Trang 18

6 Kết cấu của luận án

Luận án ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu sơ đồ, hình vẽ và các phụ lục khác được kết cấu thành các phần chính như sau:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Cơ sở lý luận về bảo hiểm nhân thọ và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Thực trạng thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay và ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Chương 5: Giải pháp và kiến nghị nhằm gia tăng quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

VÀ QUYẾT ĐỊNH MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Cho đến thời điểm hiện nay đã có một lượng lớn các nghiên cứu được phát triển liên quan đến bảo hiểm nhân thọ và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Các nghiên cứu này chủ yếu được chia thành 2 hướng:

- Các nghiên cứu dựa vào các khung lý thuyết truyền thống sau đó nỗ lực giải thích hành vi mua dựa trên hành vi kỳ vọng của con người

- Các nghiên cứu sử dụng các nhân tố kinh tế, nhân khẩu học, tâm lý …để giải thích quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Theo đó, tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án sẽ đi vào trình bày các kết quả nghiên cứu chính đã đạt được để xác định vấn đề nghiên cứu phù hợp trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Các công trình nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết truyền thống

- Nhóm công trình nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ theo lý thuyết tiện ích dự kiến (Expected Utility Theory)

Trong những năm 1940 và 1950 có rất nhiều các mô hình mới đã được phát triển để nghiên cứu việc ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn

Lý thuyết tiện ích dự kiến (EUT) từ lâu đã là nền tảng cho các mô hình nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm dựa trên rủi ro đồng thời cũng cung cấp một cơ sở

so sánh chung cho các mô hình khác nhau Những người tiên phong trong những ngày đầu của kinh tế bảo hiểm, như Borch và Mossin (1968), thường gọi EUT dưới sự ác cảm rủi ro là “Nguyên lý Bernoulli” trong sự tôn kính đến luận thuyết nổi tiếng của Bernoulli (1738) Kết quả từ các mô hình EUT vẫn được sử dụng để giải thích nhiều giao dịch trong thực tế, chẳng hạn như thiết kế các hợp đồng bảo hiểm, xác định tỷ lệ khấu trừ cũng như tỷ lệ chia sẻ rủi ro

Theo lý thuyết tiện ích dự kiến (EUT), nhu cầu bảo hiểm được xác định dựa trên việc tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa vào một số các yếu tố như tuổi thọ, kỳ vọng sống, thu nhập …trong mối liên hệ với ác cảm rủi ro Một trong những dự đoán nổi tiếng nhất dựa trên lý thuyết về lợi ích kỳ vọng (EUT) là nhu cầu bảo hiểm gia tăng cùng với tài sản Trong nghiên cứu về việc phát triển các thang đo về việc lo ngại rủi ro (Arrow (1965); Pratt và cộng sự (1964)) cho rằng tài sản và nhu

Trang 20

cầu bảo hiểm có liên hệ tỷ lệ nghịch Mossin (1968) cũng đã chứng minh rằng nếu phương pháp đo lường của Arrow – Pratt với mức độ hoàn toàn lo ngại rủi ro thì khi tài sản gia tăng và phí bảo hiểm là khả thi trong điều kiện các yếu tố được tính toán cân bằng (giá trị tài sản hay phân bổ tổn thất) thì mức độ khấu trừ cũng tăng

và chi phí một người sẵn sàng trả để mua bảo hiểm sẽ giảm đi

Theo Browne và Kim (1993), các lý thuyết về mô hình bảo hiểm nhân thọ được xuất phát bởi Yaari (1964); Yaari (1965) Fischer (1973), Campbell (1980) và Bernheim (1991) Tất cả những mô hình này đã chỉ ra lý thuyết tiêu dùng của Yaari (1965) những người tiêu dùng coi bảo hiểm nhân thọ có ý nghĩa như là một phương tiện liên quan đến sự không chắc chắn về thu nhập của hộ gia đình cũng như cái chết sớm của những người trụ cột Trong khung lý thuyết của Yaari, một người tiêu dùng mua bảo hiểm nhân thọ để gia tăng kỳ vọng của họ về lợi ích của cuộc đời

Lewis (1989) đã sử dụng khung lý thuyết bảo hiểm nhân thọ được phát triển bởi Yaari (1965) trong bài viết của ông bằng cách đưa vào mô hình của mình những

sở thích của các thành viên khác trong gia đình Trong khi đó, nghiên cứu trước đây dựa trên giả định rằng bảo hiểm nhân thọ được mua để tối đa hóa tiện ích trọn đời của

cá nhân mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng như của người có thu nhập trụ cột Lewis cho rằng nên mua bảo hiểm nhân thọ để đáp ứng nhu cầu cho người sống sót Mô hình của ông không rõ ràng dựa vào thu nhập trụ cột là động cơ thúc đẩy Lewis (1989) xem xét nhu cầu bảo hiểm nhân thọ khác với các nghiên cứu trước

đó bằng việc xác định định mục tiêu của hộ gia đình là tối đa hóa lợi ích dự kiến của người thụ hưởng Theo đó thì tổng số tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ gia tăng với khả năng tử vong của người có thu nhập chính và giá trị hiện tại của các khoản tiêu dùng dành cho gia đình giả thiết khi người có thu nhập còn sống Việc tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ cũng gia tăng với những gia đình có mức độ lo ngại rủi ro và tỷ lệ nghịch khi chính sách phí thay đổi và tài sản của gia đình

Những cá nhân mà né tránh rủi ro, một giả định phổ biến trong lý thuyết về kinh tế học tập trung vào các lý thuyết của Morgenstern và Von Neumann (1953) Hành vi bảo hiểm thường được trích dẫn như là một cách hỗ trợ mẫu mực cho giả định về né tránh rủi ro (Arrow, 1971; Deaton và Muellbaure, 1980) Trong trường hợp cụ thể, mọi người sẵn sàng mua bảo hiểm để trả phí cho rủi ro (một khoản tiền lớn hơn giá trị kỳ vọng mà họ khiếu nại) để loại trừ xác suất của một tổn thất lớn trong tương lai Không phải ngạc nhiên mà những mô hình bảo hiểm dự đoán dựa trên lý thuyết về lợi ích chuẩn mực cho thấy nhu cầu bảo hiểm và lo sợ rủi ro có tương quan tích cực (Schlesinger, 2000; Briys và Schlesinger, 1990)

Trang 21

Những dự đoán chuẩn mực khác từ các mô hình bảo hiểm dựa trên lý thuyết về lợi ích đều cho rằng nhu cầu nên được gia tăng cùng với quy mô và xác suất của tổn thất có thể có (Beenstock và cộng sự, 1988) và giảm đi khi giá cả gia tăng ((Beenstock

và Chan, 1988);(Ehrlich và Becker, 1972) Thêm vào đó, mọi người sẽ thích bảo hiểm hơn với các sự kiện tổn thất lớn và xác suất rủi ro thấp hơn là các loại hình bảo hiểm cho các sự kiện tổn thất thấp mà xác suất rủi ro thấp với cùng một giá trị kỳ vọng tương tự (Ehrlich và Becker, 1972) Điều này có nghĩa là mọi người sẵn lòng mua bảo hiểm nhiều hơn cho những tổn thất lớn hơn

Như vậy, tổng hợp các nghiên cứu dự đoán về tiêu dùng bảo hiểm cho thấy nếu các quyết định về bảo hiểm được thực hiện một cách riêng biệt với các quyết định tiêu dùng khác thì trong mô hình lợi ích kỳ vọng (EUT), nhu cầu bảo hiểm nhân thọ hiếm khi bao gồm các quyết định về tiết kiệm và tiêu dùng khác và không

có được các dự báo đủ mạnh xuất phát từ lý thuyết này

Các nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ dựa trên lý thuyết về hành vi mua

Cùng với thời gian lý thuyết tiện ích dự kiến EUT và tiên đề sáng lập của nó đã

bị thách thức nặng nề nhưng một dòng lý thuyết quan trọng khác xuất phát từ những nghi ngờ về khả năng giải thích tích cực của EUT cũng đã lần lượt ra đời sau đó như

lý thuyết triển vọng hay lý thuyết về khách hàng tiềm năng (Kahneman và Tversky, 1979) Tuy nhiên các lý thuyết này chủ yếu được dùng để giải thích cho các hành vi mua bảo hiểm tài sản hay nông nghiệp chứ không hay được dùng để nghiên cứu hành

vi mua bảo hiểm nhân thọ Các điều tra thực tế, câu trả lời khảo sát và kết quả thử nghiệm thường không phù hợp với tiện ích dự kiến Nhiều phần mở rộng của mô hình EUT chuẩn đưa ra các mức độ tự do bổ sung và có thể có khả năng tiên đoán cao hơn đối với một số cá nhân như lý thuyết triển vọng (Kahneman và Tversky, 1979) tuy nhiên, mối quan hệ vướng mắc giữa nhận thức và sở thích hoặc thái độ đối với rủi ro

và sản phẩm vẫn còn Vì vậy, khi các thí nghiệm được kiểm soát trở nên phổ biến hơn trong kinh tế, các nghi ngờ về sức mạnh giải thích chung của EUT và các nghiên cứu

từ mô hình hành vi hợp lý đã được củng cố thì việc nghiên cứu quyết định mua bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ hành vi đã được phát triển (Starmer, 2000)

Nghiên cứu bảo hiểm nhân thọ dưới góc độ hành vi mua đã được kiểm chứng trong một vài nghiên cứu sớm để kiểm tra mức độ phù hợp của các mô hình hành vi như TRA trong lĩnh vực bảo hiểm (Hastings và Fletcher, 1983; Karni và Zilcha, 1986; Fletcher và Hastings, 1984) Trong nghiên cứu của mình Hastings và Fletcher (1983) đã ứng dụng mô hình của Fishbein và Ajzen (1980) với một niềm tin rằng Hành vi mua

Trang 22

bảo hiểm nhân thọ (B) có thể được dự đoán bởi ý định hành vi (BI) Và ý định hành vi này có thể được giải thích bằng kiến thức về thái độ đối với hành động (Aact) và định mức chủ quan hoặc ảnh hưởng xã hội (SN) Thái độ đối với hành động (Aact) có thể được giải thích bằng bằng một kiến thức về niềm tin nổi bật của một người về các kết quả từ thực hiện hành động (bi) và những đánh giá của người đó về những niềm tin này (ei) Tiêu chuẩn chủ quan có thể được giải thích bằng kiến thức về niềm tin của người

đó về một số người quan trọng nghĩ rằng chủ thể nên hoặc không nên thực hiện hành động (NBi) nhân với động cơ của mình để tuân thủ (MCi)

Khi đó: Theo lý thuyết hành động hợp lý thì phương trình hành vi được biểu diễn như sau:

Bằng cách này cùng với việc áp dụng lý thuyết về niềm tin của Fishbein để

đi đến kết luận cho thấy niềm tin là biến ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ vì họ cho rằng bảo hiểm là một sự lãng phí tiền bạc và kết quả

là họ không có tiền để chi tiêu (Fletcher và Hastings, 1984) Điều này cũng dẫn đến thái độ đối với hành động và định mức chủ quan là có ảnh hưởng lớn nhất đến

ý định hành vi Trong quá trình phân tích nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự nhầm lẫn trong nhận thức về các điều khoản bảo hiểm cũng như khả năng đảm bảo do vậy những thông tin liên hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng tiềm năng có thể bị hạn chế khi người tiêu dùng có thái độ tiêu cực với sản phẩm thay vì có hiểu biết Một phát hiện nữa là sự thiếu quan tâm và kiến thức về bảo hiểm nhân thọ ngay cả với những người đang nắm giữ sản phẩm cũng là vấn đề ít quan trọng với mọi người mặc dù mọi người thường nhận ra và thừa nhận rằng có khả năng mua bảo hiểm Điều này cho thấy rằng không giống như nhiều giao dịch mua hàng quan trọng, khoảng thời gian mà khách hàng tiềm năng tìm kiếm thông tin và thuyết phục tiếp

Trang 23

nhận là rất ngắn và có thể được kích thích bởi một số tình huống và sự kiện diễn ra

trong tương lai như liên quan đến hôn nhân, trách nhiệm khi trở thành cha mẹ, mua

nhà Người tiêu dùng có thể sẽ được “bán trước” trước khi các sự kiện diễn ra với

niềm tin và thái độ thuận lợi, do đó sẽ trở nên đơn giản đối với nhân viên tiếp thị hay

đại lý bảo hiểm Ngành bảo hiểm so với một số ngành dịch vụ ngân hàng khác thì

dường như vẫn chậm áp dụng những kỹ thuật marketing hiện đại và ứng dụng mô

hình hành vi mua để phân tích khách hàng của họ Vì vậy bằng nghiên cứu của mình

(Hastings và Fletcher, 1983) đã cho thấy một phương pháp đơn giản để tác động vào

các chiến lược xúc tiến bán của doanh nghiệp Một điểm đáng chú ý là nghiên cứu của

hai ông được thực hiện theo phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu và sàng

lọc dữ liệu Vì vậy, nhằm kiểm tra và phát triển những liên hệ này Fletcher và

Hastings (1984) đã thu được kết quả dựa trên mô hình sau:

Hình 1.1: Mô hình các nhân tố tác động đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ

Nguồn: Fletcher và Hastings (1984)

Liên hệ giữa tầm quan trọng của thái

độ với các yếu tố cấu thành quy chuẩn

Định mức chủ quan đối với việc mua BHNT r=0.7

Ý định mua BHNT r=0.65

r=0.52

w1= 0.52

w2 = 0.28

r= 0.69

Trang 24

Theo kết quả phân tích định lượng từ mô hình nói trên thì tương quan giữa các nhân tố trong mô hình được cho là tốt và gợi ý về việc kiểm tra yếu tố niềm tin

có thể giải thích cho ý định tại sao một người có ý định mua bảo hiểm trong khi những người khác thì không Do vậy mục tiêu của mô hình là để phân biệt sự khác nhau giữa niềm tin và thái độ của hai nhóm có dự định và không có dự định

Mô hình nhấn mạnh những yếu tố cụ thể của ý định mua với các thành phần như: thời gian, hoạt động và sản phẩm cụ thể Trong lĩnh vực bảo hiểm điều này còn có nhiều vấn đề Phương thức mua hàng có nên được cụ thể? Mua hàng từ một nhà môi giới bảo hiểm có khác so với mua trực tiếp từ doanh nghiệp? cấu trúc của sản phẩm bảo hiểm có nên được bao gồm trong thông báo? Giai đoạn nào của cuộc sống nên được bảo hiểm? Nghiên cứu gợi ý rằng các thông báo nên càng tổng quát càng tốt vì kết quả nghiên cứu nhận ra mức độ thấp trong sự hiểu biết và quan tâm đến sản phẩm bảo hiểm

Tỷ lệ mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có thể gây ra do nhiều nguyên nhân Với những loại hàng hóa được mua thường xuyên, với mức độ thâm nhập cao, nhà nghiên cứu tìm thấy những người trả lời có ý định mua trongvài tuần tới 'một cách

dễ dàng Trong nghiên cứu của mình Hastings và Fletcher (1983) đã gợi ý rằng quy trình quyết định mua bảo hiểm nhân thọ là cực kỳ ngắn, những người được hỏi không tìm thấy bảo hiểm nhân thọ là một chủ đề quan tâm và chỉ xem xét nó ở các giai đoạn nhất định trong vòng đời của họ và sau đó lờ nó đi Ngoài ra, đối với hầu hết mọi người, đó là một quyết định “một lần” chỉ được xem xét với những thay đổi lớn trong hoàn cảnh của họ Do vậy, số lượng người xem xét bảo hiểm nhân thọ hoặc có ý định mua bảo hiểm nhân thọ trong một khoảng thời gian (như 6 tháng hoặc 12 tháng) là cực kỳ nhỏ trong một tỷ lệ dân số Để rút ngắn khoảng cách thời gian thì cần tăng cường các ý định

Trong mô hình này nhằm nghiên cứu sự khác biệt giữa những người có ý định và không có ý định nên do đó mất đi mối liên hệ mạnh mẽ giữa ý định và hành vi

Đối với mô hình Fishbein sản phẩm được xem xét phải là một loại sản phẩm mà người tiêu dùng có những niềm tin về thuộc tính khác nhau của sản phẩm

đó cũng như hiệu quả của việc mua nó mang lại Về phía người tiêu dùng, phải có

sự tham gia cao, tuy nhiên trong nghiên cứu này, có rất ít bằng chứng về sự quan tâm, sự tham gia hoặc kiến thức về bảo hiểm giữa những người được hỏi Do vậy tác động của niềm tin đến những người có ý định và không có ý định là không cao Đây là một hạn chế cần được giải quyết Nếu một người không có thái độ mạnh mẽ (giả định là trong giai đoạn đầu khi khơi gợi niềm tin về sản phẩm) và sau đó tìm

Trang 25

kiếm thông tin một cách giới hạn như đọc quảng cáo; nói chuyện với nhân viên bán hàng thì rất dễ thay đổi niềm tin này Các kết quả nghiên cứu về thái độ cá nhân thường rất trung lập và chỉ có giới hạn trong khả năng dự báo đối với ý định Nếu kết quả này là chính xác thì những yếu tố khác ngoài thái độ sẽ là những ảnh hưởng quan trọng đến hành vi

Những dấu hiệu cho thấy người tham gia phản hồi rất nhanh một số giai đoạn nhất định trong vòng đời của họ và nhìn chung đối với những người đã sở hữu bảo hiểm nhân thọ họ cũng quên mất loại hình mà họ mua hoặc ai là người được bảo hiểm Một nguyên nhân dẫn đến kết quả này có thể là quá trình ra quyết định rất nhanh chóng cùng với sự thiếu hiểu biết về kiến thức sản phẩm của quá trình trước và sau khi mua Với việc mua hàng như vậy, yếu tố hoàn cảnh sẽ trở nên chiếm ưu thế

Sự lựa chọn sản phẩm chỉ đơn giản là dựa vào nhân viên tư vấn hoặc các quảng cáo được xem mà ít có sự so sánh về thuộc tính sản phẩm và chỉ áp dụng các tiêu chí sàng lọc đơn giản Đối với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ để đạt được lòng trung thành về thương hiệu hơn là chỉ mua theo quán tính cần một chương trình mang tính giáo dục

để nâng cao nhận thức về sản phẩm cho khách hàng về những hiểu biết sai lầm về sản phẩm cũng như nhận biết các sản phẩm có thể thay thế cho nhau

Một khía cạnh liên quan đến vai trò được phát bởi các tham chiếu Theo phát hiện của tác giả có tầm quan trọng hạn chế Bằng cách bỏ qua yếu tố động lực tuân thủ MCi từ mô hình và thay vì xem xét tương quan của ∑NBi.MCi với Bi thì chỉ xem xét tương quan của mình NBi thì hệ số tương quan đã gia tăng đáng để (r =0,77) Mối tương quan được cải thiện này cho thấy rằng bảng câu hỏi và mô hình có thể được đơn giản hóa bằng cách bỏ qua yếu tố này từ phương trình

Việc điều tra niềm tin là một phần quan trọng trong phân tích Fishbein và nghiên cứu mong đợi những phát hiện chính về giá trị chiến thuật cho nhà tiếp thị

Và nghiên cứu này đã mang lại những kết luận khả quan Tầm quan trọng của các trạng thái cuộc sống trong tương lai trong việc mua bảo hiểm nhân thọ đã được đề cập và nếu các công ty bảo hiểm muốn nắm bắt được ý định của người mua thì phải kiểm soát tốt các sự kiện như kết hôn; sinh con và xác định những triển vọng mà khách hàng chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới của cuộc đời trong vòng đời của

họ và theo lý thuyết thì họ sẽ có phản ứng tốt với các đề nghị từ các doanh nghiệp Tuy nhiên yếu tố thứ hai là một yếu tố hạn chế lớn Người trả lời dường như được quan tâm với chi phí bảo đảm cuộc sống, không quan tâm nhiều về giá trị tiền nhưng liên quan nhiều hơn đến vấn đề tuân thủ khả năng thanh toán và cam kết đó sẽ khiến họ không có tiền rảnh rỗi Chính sách cho phép người tiêu dùng

Trang 26

tạm ngưng thanh toán trong thời gian “thời gian khó khăn về tài chính” nên được quan tâm, đặc biệt là với điều kiện về sự sụt giảm liên quan đến tình hình kinh tế hiện tại Thêm vào đó khía cạnh tiết kiệm của bảo hiểm nhân thọ ghi được cao hơn

là sự đảm bảo cho người phụ thuộc và hình thành một yếu tố “nhận một lần” Những lợi ích của việc đảm bảo cuộc sống trong bảo hiểm nhân thọ dường như hấp dẫn hơn hơn lợi ích cho người phụ thuộc sau khi chết gợi ý về một cách quảng cáo và tiếp thị phù hợp trong tương lai

Với những mục tiêu là xem xét mức độ phù hợp của mô hình thuyết hành động hợp lý trong ý định mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thì ưu điểm của phương pháp luận là đáng xem xét Kết quả đạt được từ mô hình là khả quan, thay

vì chỉ đơn thuần là tìm kiếm niềm tin khác biệt từ có dự định và không có dự định, niềm tin cụ thể đã được xác định Thứ hai, những niềm tin cụ thể này được liên kết trực tiếp với hành động đang được điều tra và có thể là niềm tin quyết định Thứ

ba, nó cho phép nhà nghiên cứu tư vấn cho khách hàng về đối tượng mục tiêu cụ thể mà chương trình truyền thông nên được hướng dẫn trực tiếp Những dữ liệu nhân khẩu học đơn giản đã được sử dụng trong nghiên cứu sẽ gợi ý về việc những người như thế nào thì có thể bị ảnh hưởng bởi dự án trong khi đó những người khác thì không cũng nên được bổ sung Cuối cùng, nó mang lại một phương pháp

có ý nghĩa hơn trong phương pháp tiếp thị thành công hơn là chỉ đơn giản nghiên cứu thái độ và nhận thức của khách hàng trước và sau tiếp thị

Một vấn đề khác nằm trong mối tương quan cần thiết để kiểm tra là sự yếu

ớt của mô hình đối với hành vi đang được nghiên cứu là thái độ và các thành phần tiêu chuẩn chủ quan không liên quan trong tình huống này hoặc nhà nghiên cứu đã

đo lường không thỏa đáng Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nghiên cứu sau này

Cũng với mục tiêu ứng dụng mô hình TRA trong nghiên cứu hành vi mua bảo hiểm nhân thọ ở thị trường Nigeria, Ogenyi Ejye và Owusu-Frimpong (2007)

đã thực hiện một mô hình nhằm xác định ảnh hưởng của thái độ và tìm hiểu ý định mua bảo hiểm nhân thọ để tìm hiểu một khuôn khổ hữu ích trong việc xác định chiến lược truyền thông tiếp thị hiệu quả để tiếp cận thị trường mục tiêu Nghiên cứu nhằm giải quyết các câu hỏi bao gồm:

(i) Lý do không có chính sách bảo hiểm nhân thọ, xem xét lựa chọn thay thế cho bảo hiểm nhân thọ về rủi ro;

(ii) Các câu hỏi liên quan đến ý định hành vi, thái độ đối với bảo hiểm

Trang 27

nhân thọ, dự định mua bảo hiểm nhân thọ trong ngắn hạn (trong vòng hai năm)

và sự khác biệt về thái độ đối với bảo hiểm nhân thọ giữa các nhóm nhân khẩu học khác nhau

Dựa trên mô hình của Fletcher và Hastings (1984), Ogenyi Ejye và Frimpong (2007) đã nghiên cứu kiểm định và thu được kết quả được thể hiện dưới

Owusu-mô hình sau:

Hình 1.2: Mối liên hệ giữa thái độ, chuẩn chủ quan và ý định mua bảo hiểm

nhân thọ tiềm năng của khách hàng

Nguồn: Omar (2007)

Theo kết quả nghiên cứu (Omar, 2007) thái độ đối với sản phẩm bao gồm ba thuộc tính là tiết kiệm với trọng số 26%; đầu tư (27%); và phòng ngừa rủi ro (25%) Với mỗi yếu tố đều có tải trọng cao trong các phân tích của mình trong đó trọng số về

“bảo vệ chống lại rủi ro” được cho là quan trọng nhất trong việc hình thành thái độ đối với sản phẩm Phân tích hồi quy về thái độ trực tiếp (thái độ đối với hành động mua bảo hiểm nhân thọ) với các yếu tố được chiết xuất cho thấy sự bảo vệ chống lại rủi ro cao hơn và có vai trò quan trọng hơn trong việc hình thành thái độ đối với việc mua

Liên hệ giữa tầm quan trọng của thái độ với các yếu tố cấu thành quy chuẩn

Định mức chủ quan đối với việc mua BHNT r=0.72

Ý định mua BHNT r=0.27

r=0.7

w1= 0.24 w2 = 0.69

r= 0.75

Trang 28

bảo hiểm nhân thọ Những lý do tương đối ít ảnh hưởng đến việc không mua bảo hiểm nhân thọ là “thiếu hiểu biết về sản phẩm” và một số lý do là “không tin tưởng công ty” hoặc “không tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm dẫn đến tử vong”

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự thiếu tin tưởng và niềm tin vào các công ty bảo hiểm là những lý do hàng đầu cho việc không mua chính sách bảo hiểm nhân thọ ở Nigeria Những lý do tương đối ít có ảnh hưởng đến việc không mua bảo hiểm nhân thọ là thiếu kiến thức về sản phẩm bảo hiểm Vì vậy, những người sợ hãi về cái chết sớm có nhiều khả năng mua bảo hiểm nhân thọ hơn Gần một phần ba số người được hỏi không nghĩ rằng họ bị phơi nhiễm với rủi ro tử vong, khuyết tật và bệnh nguy hiểm trong tương lai gần Gần 20 phần trăm những người không chính sách đưa ra lời truyền miệng tiêu cực là lý do không có bảo hiểm nhân thọ

Như vậy, ở thị trường đang phát triển, ảnh hưởng của thái độ lại trở nên đáng kể Điều này có thể lý giải do ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, văn hóa về bảo hiểm là tương đối phổ biến thì tác động của yếu tố thái độ không đáng kể Trong khi đó ở các nước đang phát triển với sự ra đời muộn của ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng đã tạo nên một mức độ thấp trong văn hóa về bảo hiểm ở các quốc gia này Do vậy ảnh hưởng của nó đến quyết định tiêu dùng bảo hiểm là đáng kể

Các nghiên cứu của (Fletcher và Hastings (1984); Hastings và Fletcher, 1983; Omar, 2007; Ogenyi Ejye và Owusu-Frimpong, 2007) đều có điểm tương đồng là đều áp dụng mô hình TRA trong nghiên cứu ý định và hành vi mua bảo hiểm vì vậy đã không xem xét và nghiên cứu yếu tố làm cản trở hoặc tạo thuận lợi cho các quyết định bảo hiểm hoặc các yếu tố tạo động lực thúc đẩy từ ý định đến hành vi mua bảo hiểm nhân thọ (Kasule, 2011) và (Brahmana và cộng sự, 2018a)

đã khắc phục những hạn chế này bằng việc xem xét hành vi mua bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm theo lý thuyết của mô hình TPB (Ajzen, 1985) cũng như áp dụng khung lý thuyết đã được phát triển gần đây để xem xét mối liên hệ quá trình diễn

ra từ ý định đến hành vi với tác động của biến thái độ đến hành vi (Ajzen và Fishbein, 2005) Bốn biến chính của TPB bao gồm thái độ đối với hành vi (ATB), các chỉ tiêu chủ quan (SN), kiểm soát hành vi nhận thức (PBC) và ý định

Một đóng góp của nghiên cứu này là vai trò của nhận thức hữu ích và nhận thức rủi ro đối với thái độ của một người trong việc xem xét mua bảo hiểm Theo định nghĩa, ATB trong TPB là mức độ mà một người đánh giá một hành vi nhất định là giá trị tích cực hay tiêu cực Thêm vào đó biện minh cho việc thêm nhận

Trang 29

thức hữu ích về thái độ đối với việc mua bảo hiểm nhân thọ dựa trên gợi ý của Derrig và Tennyson (2011) cho rằng sự hiểu biết tài chính là yếu tố chính trong lý

do tại sao mọi người lại có nhu cầu về bảo hiểm Nếu không có hiểu biết về tài chính, mọi người không nhận thức về lợi ích của bảo hiểm Điều này giải thích một hiện tượng đã được phát hiện bởi Schwarcz và Abraham (2010) tại sao mọi người

có xu hướng mua bảo hiểm khi họ không nên và từ chối khi họ thực sự cần

Nghiên cứu về TPB đã ghi nhận sự ảnh hưởng đáng kể của việc sử dụng cảm nhận về ATB Brahmana và cộng sự (2018a) ghi nhận rằng nhận thức hữu ích

là ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông trong khi các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đã đưa ra một kết luận tương tự, trong đó nhận thức hứu ích đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ATB của một cá nhân Điều này ngụ ý rằng nhận thức hữu ích là một yếu tố của ATB

Kaplan và cộng sự (1988) cho thấy rằng mỗi rủi ro trong tương lai bắt nguồn

có một vai trò quan trọng trong tâm lý con người liên quan đến quyết định mua bảo hiểm Điều này phù hợp với Berekson (1972), người giải quyết vai trò của sự lo lắng trong cuộc sống khi mua bảo hiểm Các nhà nghiên cứu khác, như phát hiện tương

tự, mà nhấn mạnh rằng thái độ của một người để mua bảo hiểm để tránh rủi ro Dựa trên các tài liệu, chức năng của ATB có thể được xây dựng như sau:

ATB = f ( Nhận thức hữu ích , Nhận thức rủi ro trong tương lai )

Trong khi đó, ước tính của thái độ đối với hành vi là như sau:

ATB = β 1 + β 1 LỢI ÍCH i + β 2 RỦI RO i + ε 0

Một mục tiêu nữa trong nghiên cứu của Brahmana và cộng sự (2018b) nhằm mục đích điều tra vai trò của các ảnh hưởng bên trong và bên ngoài đối với các chỉ tiêu chủ quan (SN) Cả hai ảnh hưởng bên trong và bên ngoài đến từ những ảnh hưởng xã hội Những ảnh hưởng bên trong bao gồm gia đình hoặc người có ảnh hưởng trong việc ra quyết định, trong khi ảnh hưởng bên ngoài bao gồm truyền thông hoặc bạn bè hoặc môi trường làm việc hoặc truyền miệng ảnh hưởng đến phán quyết Các nghiên cứu trước đây, như Stern và cộng sự (1995), (Hong và Cho, 2011)

đã ghi lại vai trò quan trọng của các ảnh hưởng bên trong và bên ngoài đối với SN Do

đó, chức năng của các chỉ tiêu chủ quan có thể được phỏng đoán như sau:

SN = f ( Ảnh hưởng bên trong , ảnh hưởng bên ngoài )

Trong khi đó, ước tính của mô hình như sau:

SN = β 0 + β 1 Nội bộ i + β 2 Bên ngoài i + ε 1

Dựa trên kết quả, nó ngụ ý rằng những ảnh hưởng của yếu tố tâm lý học có

Trang 30

vai trò quan trọng đối với thái độ về hành vi mua bảo hiểm Đầu tiên, nó cho thấy rằng tính hữu dụng trên cơ sở của bảo hiểm khuyến khích mọi người mua bảo hiểm Nếu một người nghĩ rằng bảo hiểm là hữu ích cho lợi ích riêng của mình, anh/cô ấy dự định mua bảo hiểm Một người nghĩ rằng bảo hiểm có thể bảo vệ sự không chắc chắn về sức khỏe của họ, hoặc để giảm chi phí không chắc chắn trong tương lai Khi nhận thấy lợi ích của bảo hiểm, người ta có thêm động cơ để mua bảo hiểm, điều này thúc đẩy ý định mua bảo hiểm thông qua thái độ đối với hành

vi Điều này phù hợp với nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như (Ogenyi Ejye và Owusu-Frimpong (2007); Omar (2007)) và Abbring và cộng sự (2003) Nhận thức

về rủi ro trong tương lai cũng ghi nhận vai trò quan trọng về ý định mua bảo hiểm thông qua định mức hành vi Sự lo lắng về triển vọng trong tương lai khuyến khích mọi người mua bảo hiểm

Cuối cùng, hai biến nhận thức đóng góp đáng kể vào thái độ đối với việc mua bảo hiểm, và thái độ đóng một vai trò quan trọng liên quan đến ý định mua bảo hiểm Điều này ngụ ý rằng để tạo ra ý định mua bảo hiểm, chính phủ hoặc các công ty bảo hiểm phải tác động đến thái độ của mọi người, để họ nghĩ rằng mua bảo hiểm là ý tưởng hay và điều cần thiết Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như Omar (2007) cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với

ý định mua bảo hiểm

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự đóng góp đáng kể của việc kiểm soát hành vi cảm nhận đối với việc mua bảo hiểm Những phát hiện này chỉ ra rằng có những yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong đóng vai trò quan trọng Ví dụ, những suy nghĩ về khả năng tài chính có thể ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm Điều này phù hợp với (Beck và Webb (2003a); Lee và cộng sự (2010)) rằng giá cả

và khả năng tài chính là nhân tố chính trong điều khoản bảo hiểm Ý định mua bảo hiểm cũng được thúc đẩy bởi các kiểm soát hành vi khác, chẳng hạn như nhận thức phức tạp, thông tin bảo hiểm và hiểu biết về quy định Điều này có nghĩa rằng các công ty bảo hiểm phải hướng dẫn mọi người về bảo hiểm, và làm cho thông tin sản phẩm và thủ tục đơn giản hơn Bởi vì, bằng cách làm điều này, nó sẽ làm tăng ý định của người dân để mua bảo hiểm Điều này được hỗ trợ bởi (Tennyson (2002); Liebenberg và cộng sự (2012); Jeon và Kwon (2013))

Những phát hiện này cũng cho thấy rằng các chỉ tiêu chủ quan ảnh hưởng đáng kể đến sự tham gia mua bảo hiểm Điều này có nghĩa là hành vi mua bảo hiểm bị ảnh hưởng bởi những người khác, chẳng hạn như gia đình, người thân, bạn

bè, đồng nghiệp hoặc những người quan trọng khác đối với họ Ý kiến của người

Trang 31

khác tạo ra một tiêu chuẩn chủ quan buộc họ phải theo đuổi bảo hiểm Điều này phù hợp với Liebenberg và cộng sự (2012) Các công ty bảo hiểm có thể làm ba việc dựa trên thông tin này về ý định mua bảo hiểm Đầu tiên, các công ty bảo hiểm có thể làm một gói bảo hiểm bao gồm cả gia đình, và tặng tiền thưởng hoặc các chương trình khuyến mãi khác nếu người ta có thể thuyết phục người khác có bảo hiểm Thứ hai, các công ty bảo hiểm có thể sử dụng một người có ảnh hưởng, chẳng hạn như người nổi tiếng, vận động viên, hoặc những người có ảnh hưởng khác như một hình mẫu cho các chiến dịch bảo hiểm Cuối cùng, các công ty bảo hiểm có thể ảnh hưởng hoặc hợp tác với chính phủ để giáo dục công chúng về tầm quan trọng của bảo hiểm

Điểm mới trong nghiên cứu của Brahmana và cộng sự (2018a) là thêm biến điều tiết Giá trị sức khỏe là biến điều tiết trong nghiên cứu này Phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng giá trị sức khỏe điều tiết mối quan hệ giữa thái độ và ý định mua bảo hiểm Điều này có nghĩa là khi mọi người đánh giá cao sức khỏe của

họ, thái độ đối với ý định mua bảo hiểm sẽ mạnh hơn Ví dụ, những người cảm nhận được có sức khỏe là sẽ có mọi thứ sẽ có ý định mua bảo hiểm y tế hay bảo hiểm chăm sóc sức khỏe Cũng có những người sẽ cung cấp mọi thứ chỉ vì sức khỏe của họ, và họ có ý định mua bảo hiểm mạnh mẽ Các công ty bảo hiểm nên vận động về tầm quan trọng của sức khỏe trong việc cải thiện nhu cầu bảo hiểm Điều này phù hợp với nghiên cứu trước đây chẳng hạn như Hall và Jones (2007), (Nyman (1999); Baicker và cộng sự (2012); Brahmana và cộng sự (2018a))

Có ba kết luận chính từ nghiên cứu này:

Thứ nhất, lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch (TPB) có thể giải thích các trình điều khiển tâm lý của việc mua bảo hiểm Nhu cầu về bảo hiểm được thúc đẩy bởi thái độ đối với các định mức chủ quan theo đuổi (ảnh hưởng môi trường và xã hội), và sự kiểm soát hành vi nhận thức

Thứ hai, nghiên cứu này nhận thấy rằng nhận thức hữu ích và nhận thức rủi

ro là một vai trò quan trọng trong việc xác định thái độ đối với việc mua bảo hiểm Khi phân tích ý thức hữu ích, nó ngụ ý rằng nhiều người nhận thức được tính hữu dụng của bảo hiểm có mức độ cao hơn trong việc mua bảo hiểm Thật vậy, nhận thức hữu ích này được gắn chặt chẽ với khả năng nhận thức tài chính, theo gợi ý của (Tennyson, 2002) Đây sẽ là thách thức đối với chính phủ và cũng cho các công ty bảo hiểm để giáo dục mọi người liên quan đến nhu cầu bảo hiểm Trong khi đó, sự suy giảm đáng kể về cảm nhận rủi ro có ảnh hưởng đến thái độ đối với việc mua bảo hiểm cho thấy rằng càng có nhiều người biết về sự không chắc chắn

Trang 32

của họ trong tương lai, thì ý định mua bảo hiểm càng cao Điều này có liên quan không chỉ đến việc hiểu biết về tài chính, mà còn liên quan đến việc phổ biến thông tin của sản phẩm bảo hiểm Các công ty bảo hiểm nên thúc đẩy sự không chắc chắn của tương lai để có thêm nhu cầu bảo hiểm nhân thọ

Kết luận chính cuối cùng của sự suy giảm đáng kể về rủi ro nhận thức đối với thái độ đối với việc mua bảo hiểm cho thấy rằng càng nhiều người biết về sự không chắc chắn của họ trong tương lai, thì ý định mua bảo hiểm càng cao

Nghiên cứu này góp phần quan trọng trong nghiên cứu bảo hiểm Khác với các nghiên cứu trước đây, kết quả nghiên cứu này đã giới thiệu thành công vai trò của tâm lý học để thúc đẩy việc mua bảo hiểm nhân thọ Kết quả cho thấy rằng để

có nhiều người mua bảo hiểm nhân thọ hơn nên có cách tiếp cận hành vi theo kế hoạch, thay vì lý thuyết dựa trên kinh tế Điều này cũng giải thích những bất thường ở Indonesia nơi nghiên cứu được thực hiện khi mà nền kinh tế đang diễn ra tốt đẹp, nhưng nhu cầu bảo hiểm nhân thọ rất thấp Chính phủ và các công ty bảo hiểm, cùng nhau, nên xem xét vai trò tâm lý, như nhận thức hữu ích, nhận thức rủi

ro, tiêu chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi để tăng số lượng bảo hiểm nhân thọ được mua Điều này có thể thông qua giáo dục, quảng cáo hoặc các kênh khác

Nghiên cứu trong tương lai có thể tiếp tục ở các khía cạnh tâm lý khác không được nghiên cứu trong nghiên cứu này, ví dụ, vai trò của tri thức hoặc các chỉ tiêu xã hội đến ý định mua an toàn Các lý thuyết, chẳng hạn như lý thuyết trao đổi kiến thức hoặc lý thuyết trao đổi xã hội có thể được sử dụng để khám phá vai trò tâm lý về ý định mua bảo hiểm nhân thọ để xem xét diễn biến quá trình từ ý định đến hành vi hoặc những lý thuyết về triển vọng trong tương lai hay tìm hiểu tâm lý phòng xa có thể lấp đầy những khoảng trống trong nghiên cứu này (Brahmana và cộng sự, 2018b)

1.1.2 Các nghiên cứu dựa trên việc xem xét tác động của các biến tổng hợp đến nhu cầu và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Beck và Webb (2003b) đã thực hiện một nghiên cứu trên 68 quốc gia trên thế giới, chú ý đến câu hỏi gây ra sự khác biệt trong mức tiêu thụ bảo hiểm nhân thọ giữa các quốc gia khác nhau Kết quả của Beck và Webb (2002), nghiên cứu của Ward và Zurbruegg (2002) cho thấy thực tế là cải thiện quyền công dân và ổn định chính trị dẫn đến tăng tiêu thụ bảo hiểm nhân thọ ở khu vực châu Á cũng như Vùng OECD Kết quả của nghiên cứu phù hợp với mối quan hệ đường cong S được đề xuất bởi Enz (2000), bởi vì ở các nước có mức thu nhập cao ban đầu, mức tiêu thụ bảo hiểm ít nhạy cảm hơn với thu nhập tăng

Trang 33

Trên cơ sở đó thì đã có một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến nhu cầu và quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Theo đó kết quả nghiên cứu đã cho thấy số lượng bảo hiểm nhân thọ được mua được xem xét dựa trên một lượng lớn các biến Những biến số này được khám phá thông qua nhiều cách tiếp cận và dữ liệu khác nhau và được giải thích dựa vào số lượng lớn các nhân tố mà có ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây đã từng cung cấp những kết luận mâu thuẫn nhau Hầu hết những nghiên cứu liên quan đến định nghĩa về nhu cầu bảo hiểm nhân thọ dựa trên những dữ liệu thực nghiệm Những biến số về nhân khẩu học, kinh tế, tâm lý học được tìm thấy là có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc dự báo nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ vì vậy sẽ tập trung phân tích những nghiên cứu này

Các kết quả nghiên cứu đã đạt được theo hướng này phải kể đến bao gồm :

1.1.2.1 Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến nhân khẩu học

Các nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của biến số nhân khẩu học bao gồm rất nhiều yếu tố như: tuổi tác, tôn giáo, giáo dục, tỷ lệ phụ thuộc, quy mô gia đình….bao gồm những nhân tố sau đây:

Ảnh hưởng của nhân tố tuổi tác đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

(Showers và Shotick (1994); Berekson (1972); Baek và DeVaney (2005b))

đã tìm thấy rằng ảnh hưởng của tuổi tác có tác động tích cực và đủ nhưng kết quả của (Chen (2009); Chen và cộng sự (2001); Bernheim (1991)) cho thấy mối liên hệ phủ định giữa tuổi tác và nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ trong khi đó (Hammond và cộng sự (1967); Duker (1969); Anderson và Nevin (1975); Burnett và Palmer (1984); Gandolfi và Miners (1996)) khẳng định rằng tuổi tác không phải là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Ảnh hưởng của tuổi tác đến việc nắm giữ bảo hiểm nhân thọ cũng được kiểm tra trong những mô hình khác

Ảnh hưởng của nhân tố thuộc về giáo dục đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Hầu hết những nghiên cứu như (Hammond và cộng sự (1967); Duker (1969); Anderson và Nevin (1975); Burnett và Palmer (1984); Gandolfi và Miners (1996); Baek và DeVaney (2005b)) đã nhất trí trong những nghiên cứu của mình rằng có mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa trình độ giáo dục và nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ Họ gợi ý rằng những người mà có trình độ đào tạo tốt hơn sẽ mua Bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn, tiềm năng dẫn đến thực tế này là do những hộ gia đình có trình

độ đào tạo tốt hơn có thể kỳ vọng về những khoản thu nhập của họ tiếp tục gia tăng với tỷ lệ nhanh hơn và trong giai đoạn dài hơn

Sử dụng dữ liệu khảo sát về tiêu dùng tài chính năm 2001, Baek và

Trang 34

DeVaney (2005b) đã kiểm tra ảnh hưởng của vốn con người, động cơ thừa kế và rủi ro trong điều khoản và giá trị tiền mặt đến việc mua bảo hiểm nhân thọ của các

hộ gia đình Trong khi đó (Hwang và Gao, 2003) nhấn mạnh rằng giáo dục làm gia tăng việc nhận ra chức năng của các các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Do vậy, tất

cả những nghiên cứu này giả thuyết có một mối liện hệ tỷ lệ thuận giữa giáo dục

và tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ

Ảnh hưởng của quy mô gia đình và tỷ lệ phụ thuộc đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Các nghiên cứu này cũng chỉ ra quy mô và gia đình hay số lượng con cái là những biến giải thích đủ lớn cho việc xác định nhu cầu bảo hiểm nhân thọ Trong

đó số con là một trong các biến có liên hệ tỷ lệ thuận Burnet & Palmer lưu ý rằng khi số con gia tăng, số lượng bảo hiểm được mua cũng tăng Điều này được kỳ vọng với các hộ gia đình mà có nhiều con hơn thì có nhu cầu về các nguồn lực tài chính lớn hơn nếu như người đứng đầu hộ gia đình tử vong Trong khi đó, Anderson và Nevin (1975) đã có được kết quả nghiên cứu rằng không có đủ mối liên hệ giữa quy mô gia đình với việc mua bảo hiểm nhân thọ sử dụng dữ liệu quá trình quyết định tiêu dùng giai đoạn 1968 – 1971 Theo như nghiên cứu của Lewis (1989), nhu cầu cho bảo hiểm nhân thọ gia tăng với số lượng người phụ thuộc trong một gia đình Campbell (1980) và Li và cộng sự (2007) cũng đã có kết luận rằng việc bảo vệ những người phụ thuộc chống lại những khó khăn về tài chính là động cơ chính dẫn tới nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ Các tác giả đã sử dụng tỷ lệ phụ thuộc về tuổi (tỷ lệ những người phụ thuộc dưới 15 và trên 64 trên tổng số dân trong độ tuổi lao động từ 15 đến 64) để đo lường mối quan hệ này Trong khi đó, (Beck và Webb, 2002) tìm thấy một mối liên hệ tham vọng về tỷ lệ phụ thuộc trẻ

em và mối liên hệ tỷ lệ thuận cho tỷ lệ phụ thuộc người già Tổng quan lại, nhu cầu

về bảo hiểm nhân thọ được giả thuyết là có liên hệ tỷ lệ thuận với tỷ lệ phụ thuộc

Ảnh hưởng của nhân tố việc làm đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Những nghiên cứu trước đây đã đưa đến kết luận mang tính khẳng định rằng nếu người trụ cột gia đình hay người chồng có việc làm thì nhiều hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ được mua bởi các cá nhân hay các hộ gia đình này Tác giả của các nghiên cứu này bao gồm (Hammond và cộng sự, 1967; Mantis và Farmer, 1968; Duker, 1969; Ferber và Lee, 1980) đã phát triển mô hình một giai đoạn của

số lượng bảo hiểm nhân thọ được mua bởi 1 cặp đã kết hôn với dữ liệu đánh giá từ Wisconsin và khảo sát thu nhập giai đoạn 1946 – 1964 Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này là tổng số tiền bảo hiểm nhân thọ được nắm giữ bởi người chồng Những kết quả nghiên cứu này đã cho thấy rằng nghề nghiệp của người chồng có

Trang 35

tác động tỷ lệ thuận với số lượng bảo hiểm nhân thọ nắm giữ Tuy nhiên phân tích của (Baek & Devaney, 2005), đã khẳng định rằng sự tham gia vào lực lượng lao động của những người vợ đã đẩy mạnh việc mua bảo hiểm nhân thọ cả về giá trị tiền mặt và các điều khoản bảo hiểm của các hộ gia đình

Ảnh hưởng của tôn giáo đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Sự hiểu biết về loại hình tôn giáo chiếm ưu thế trong một quốc gia là rất quan trọng để đo lường sự ảnh hưởng của nó đến mức độ né tránh rủi ro của quốc gia đó (Black và Skipper, 2000) khẳng định rằng một vài học giả Hồi giáo đã lập luận và cho rằng bảo hiểm là một nỗ lực để thách thức số phận đã được định trước bởi Chúa và vì thế mà bảo hiểm của các nước phương Tây có thể bị loại bỏ như là một hình thức cờ bạc mà thực tế là đã bị cấm ở Koran (Beck và Webb, 2003) đã nhấn mạnh quan điểm này khi ông ám chỉ rằng những người theo đạo Hồi được biết là không ủng hộ bảo hiểm nhân thọ bởi vì nó được xem như là một cách phòng ngừa chống lại ý chí của thánh Allah (Brown và Kim, 1993) cũng cho ra những kết quả tương tự, tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ ít chiếm ưu thế ở các nước hồi giáo khác

Ảnh hưởng của các nhân tố nhân khẩu học khác đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Zhu (2007) đã nghiên cứu những sự lựa chọn của các cá nhân trong việc mua bảo hiểm nhân thọ và mua cổ phiếu sử dụng mô hình 1 giai đoạn và mô hình 2 giai đoạn Zhu tìm thấy rằng sự gia tăng về khả năng sống sót khuyến khích các cá nhân nắm giữ bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn Tình trạng hôn nhân cũng được tìm thấy là ảnh hưởng đủ mạnh đến nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ của cả cá nhân và hộ gia đình trong những nghiên cứu trước đây (Hammond và cộng sự, 1967; Mantis & Farmer, 1968;) trong đó (Mantis& Farmer, 1968) đã lần đầu tiên kiểm tra mức độ ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ của các hộ gia đình

1.1.2.2 Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến các nhân tố kinh tế

(Fortune, 1973) lần đầu tiên tập trung vào mối quan hệ nhạy cảm giữa mua bảo hiểm nhân thọ và các biến tài chính, và liên kết các tác động của ông với chính sách tiền tệ và thị trường vốn Ông đã phân tích thị trường bảo hiểm của Mỹ cho 1964-1971 và tìm thấy một mức độ nhạy cảm cao giữa số tiền tối ưu của bảo hiểm nhân thọ, sự giàu có và lãi suất thực tế

Theo đó có thể sắp xếp các nghiên cứu này theo các nhóm yếu tố cụ thể như sau :

Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Thu nhập được tìm thấy là phổ biến có mối liên hệ tỷ lệ thuận đến nhu cầu bảo

Trang 36

hiểm nhân thọ khi các yếu tố khác không đổi Ảnh hưởng của thu nhập hiện tại đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ được kiểm tra trong rất nhiều các nghiên cứu (Duker 1969; Ferber & Lee, 1980; Truett và Truett, 1990; Showers và Shotick, 1994; Gandolfi và Miners, 1996) Showers và Shotick (1994) đã sử dụng phân tích Tobit để phân tích ảnh hưởng của các đặc điểm của hộ gia đình đến nhu cẩu về bảo hiểm nhân thọ với dữ liệu

từ cuộc khảo sát chi tiêu của người tiêu dùng vào năm 1987 Sau đó, Hwang và Gao (2003), Outreville (1996), Li, Moshirian, Nguyen và Wee (2007), Beck và Webb (2003) cũng cho thấy rằng thu nhập có liên hệ tỷ lệ thuận với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi thu nhập gia tăng, nảy sinh nhu cầu gia nhập các quỹ tích lũy và khi tài sản gia tăng thì bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ thu hút các quỹ này Hơn nữa, thu nhập được nghĩ là làm gia tăng khả năng mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ do đó làm gia tăng mức tiêu dùng

Ảnh hưởng của tài sản ròng hoặc tài sản đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Có nhiều kết luận khẳng định trong các nghiên cứu trước đây hướng tới viêc ảnh hưởng của tài sản ròng hoặc tài sản đến các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Một vài tác giả tin rằng có mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa tài sản ròng hoặc của cải với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ (Duker; 1969; Anderson và Nevin (1975); Hau ,2000)

từ việc có lẽ bảo hiểm nhân thọ cung cấp sự bảo vệ cho tài sản của các hộ gia đình Ngược lại, vài nghiên cứu bổ trợ đưa đến kết luận về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá trị tài sản ròng và việc mua bảo hiểm nhân thọ cho rằng những hộ gia đình với tài sản ròng lớn hơn hoặc nhiều của cải hơn có khả năng nắm giữ các công cụ phòng ngừa tổn thất tài chính cao hơn theo khả năng tử vong của những người có thu nhập chính (Fortune, 1973; Lewis, 1989) Lewis đã xem xét nhu cầu của hộ gia đình cho bảo hiểm nhân thọ từ khía cạnh lợi ích Ông cho rằng bảo hiểm nhân thọ được lựa chọn để tối đa hóa lợi ích kỳ vọng dựa trên mức độ tàn tật trong cuộc sống Sử dụng

dữ liệu khảo sát từ hiệp hội nghiên cứu và marketing bảo hiểm nhân thọ năm 1976, Lewis đã tìm thấy rằng tài sản ròng của hộ gia đình có mối liên hệ tỷ lệ nghịch với nhu cầu bảo hiểm nhân thọ, khi phí bảo nhân thọ là biến phụ thuộc

Ảnh hưởng của lãi suất và tỷ lệ lạm phát đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Vài nghiên cứu đã kiểm tra liệu người tiêu dùng có nhạy cảm với thị trường lãi suất khi mà ra các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Headen và Lee (1974) nhấn mạnh rằng lãi suất có ảnh hưởng khác nhau đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ phụ thuộc vào tình huống là trong ngắn hạn hay dài hạn Trong ngắn hạn, nhu cầu gia tăng với sự gia tăng ngày càng cao của lãi suất trong khi đó trong dài hạn tỷ lệ lãi suất không có ảnh hưởng rõ ràng đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ Trong một nghiên cứu khác, Pliska và Ye (2007) thấy rằng thu nhập

Trang 37

mua bảo hiểm nhân thọ sẽ ít hơn khi lãi suất gia tăng Họ lý giải rằng kết quả này

là do khi tiền lương tăng người ta có xu hướng tiêu ít hơn vào các tiêu dùng bao gồm bảo hiểm nhân thọ và tiết kiệm tiền cho tương lai khi lãi suất tăng Tỷ lệ lạm phát cũng được nghiên cứu là 1 nhân tố trong các quyết định mua bảo hiểm nhân thọ và được tìm thấy là một nhân tố có ảnh hưởng không đủ lớn đến nhu cầu bảo hiểm nhân thọ (Neumann, 1969) Ở một cách nhìn khác, Beck và Webb ( 2003) thấy rằng các quốc gia với tỷ lệ lạm phát cao tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ ít hơn

1.1.2.3 Những nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ liên quan đến các nhân tố tâm lý học

Ảnh hưởng của lo ngại rủi ro đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Nghiên cứu về việc sự lo ngại rủi ro có liên hệ với nhu cầu bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng Nó được kỳ vọng rằng sự lo ngại rủi ro của các hộ gia đình ngày càng tăng thì họ cũng có động lực mua bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn Quan điểm này được hỗ trợ bởi nghiên cứu bởi (Burnett và Palmer (1984); Baek và Devaney (2005a); Zhu (2007)) Trong nghiên cứu của DeVaney thái độ đối với rủi ro được

đo lường bởi câu hỏi: “ những tuyên bố nào gần nhất với mức độ rủi ro tài chính

mà bạn sẵn sàng chấp nhận khi bạn tiết kiệm hoặc đầu tư” Phân tích của Beak & Devaney (2007) cho rằng những người chấp nhận rủi ro trên mức trung bình dường như mua các điều khoản bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn những người mà chấp nhận rủi ro mức trung bình Greene (1963) đã đo lường thái độ đối với rủi ro bởi 20 câu hỏi và sử dụng chỉ số cho những câu hỏi này Ông đã tìm ra mối liên hệ không đủ lớn giữa thái độ đối với rủi ro với hành vi mua bảo hiểm nhân thọ

Ảnh hưởng của kỳ vọng sống đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Kỳ vọng sống trung bình được định nghĩa là số năm trung bình của mỗi cá nhân trong một nước mà kỳ vọng sống sót Điều này dẫn đến khái niệm khả năng

tử vong mà được giả thuyết là có mối liên hệ tỷ thuận với việc tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ Lewis (1989), Levy và cộng sự (1988), Browne và Kim (1993) gợi ý rằng khả năng tử vong có liên hệ tỷ lệ thuận với bảo hiểm nhân thọ với giả thuyết này;

do vậy kỳ vọng sống được giả thuyết là có tương quan tỷ lệ nghịch với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ Một cách thú vị là Beck và Webb (2003) thấy rằng khi kỳ vọng sống càng dài dẫn tới chi phí bảo hiểm cho những người tử vong giảm và giảm nhu cầu cho các chi phí về tử vong nhưng lại gia tăng các khoản tiết kiệm, do vậy tạo

ra một mối liên hệ mang tính giả thuyết kỳ vọng

Ảnh hưởng của những nhân tố tâm lý khác đến quyết định mua BHNT

Sử dụng dữ liệu bảng người tiêu dùng từ các thành phố khu vực Tây Nam

cỡ trung, Burnett và Palmer (1984) đã khám phá ra 14 nhân tố tâm lý học như đạo đức làm việc, lòng tự trọng, sự tham gia vào cộng đồng, thuyết định mệnh (tin vào

Trang 38

sốphận), sự tôn sùng tôn giáo, sự yêu thích mang tính xã hội hóa, và …có ảnh hưởng trong việc xác định nhu cầu bảo hiểm nhân thọ Họ thấy rằng bảo hiểm nhân thọ có liên hệ với tính cách cá nhân Kết quả cho thấy rằng nếu mọi người có tính tự mãn và tin rằng họ có thể kiểm soát tốt cuộc sống, họ sẽ mua nhiều bảo hiểm nhân thọ hơn Những kết quả thú vị khác bao gồm: những người mà có khả năng sở hữu bảo hiểm nhân thọ nhiều hơn là những cá nhân mà không có tư tưởng lãnh đạo, không phải là người có ý thức về giá cả và không phải là những người tìm kiếm thông tin và là những người ít tự tin

Ngoài ra Li và cộng sự (2007) nhấn mạnh rằng bảo hiểm xã hội cũng là một phương án thay thế cho tài sản và được xem như là một nhánh của bảo hiểm nhân thọ Mặt khác, (Lewis, 1989) cho rằng tài sản là một phần của bảo hiểm nhân thọ

mà có liên hệ tiêu cực giữa tiêu dùng bảo hiểm nhân thọ với việc mở rộng chính sách bảo hiểm xã hội của quốc gia Những quan điểm này được ủng hộ mạnh mẽ bởi (Beck và Webb, 2003a) người mà cho rằng bảo hiểm xã hội thay thế bảo hiểm

tư nhân Những kết luận mang tính thực nghiệm này tiếp tục được khẳng định trong nghiên cứu mang tính lý thuyết của (Fortune, 1973) rằng khi tài sản gia tăng, việc né tránh rủi ro giảm xuống và nó làm giảm nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ Do

đó, bảo hiểm xã hội (an sinh xã hội), một cách chuyển giao thu nhập được giả thuyết là có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch với nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về bảo hiểm nhân thọ

Các nghiên cứu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều như ở các cấp độ khác nhau

Ở cấp độ luận án tiến sĩ có 3 nghiên cứu cơ bản là luận án tiến sĩ Nguyễn Thị

Hải Đường (2006) “Một số giải pháp phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” đã nghiên cứu về sự phát triển của thị trường này dưới góc độ về mức độ thỏa mãn của khách hàng với các loại hình sản phẩm và sự tác động của kênh phân phối đại lý và chất lượng dịch vụ khách hàng cũng như các biện pháp xúc tiến bán của các

doanh nghiệp bảo hiểm Luận án tiến sĩ Trong Thao Phi (2003) “giải pháp thỏa mãn nhu cầu tiềm năng về Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” đã chỉ ra những nguyên nhân tác động đến sự kém phát triển của thị trường này như yếu tố về mặt nhận thức, thu nhập của khách hàng và những tác động về hệ thống thanh toán cũng như chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Việc nghiên cứu phát triển thị trường và sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là rất quan trọng bởi nó giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh

tế nói chung nhưng để đạt điều này cần dựa trên một quyết định rất quan trọng là quyết định có hay không việc khách hàng sẽ mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ Thuy Tien Ho (2007)đã phân tích tổng quan về thị trường bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế 2001 – 2005 từ đó đề xuất một số giải pháp phát

Trang 39

triển thị trường bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Điểm chung của các nghiên cứu này là các nghiên cứu đi vào phân tích tổng hợp trên khía cạnh thị trường thay vì nghiên cứu cụ thể dưới góc độ của từng cá nhân trong quá trình ra quyết định và đều dựa trên phân tích dữ liệu thứ cấp

Một số nghiên cứu gần đây của các tác giả như (Nguyễn Xuân Cường và cộng sự (2014); Lê Long Hậu (2017); Nguyễn Thị Thùy và Nguyễn Văn Ngọc (2015); Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (2015); Phạm Thị Loan và Phan Thị Dung (2015)) đã nghiên cứu quyết định mua bảo hiểm nhân thọ cụ thể hơn dưới góc

độ cá nhân Điểm chung của các nghiên cứu này đều xem xét ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ một cách tổng hợp

cụ thể như:

Nghiên cứu của Phạm Thị Loan và Phan Thị Dung (2015) với mục tiêu xem xét cá nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua bảo hiểm nhân thọ Manulife trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Kết quả phân tích từ phần mềm SPSS cho thấy ảnh hưởng của yếu tố tâm lý bao gồm tâm lý chi tiêu và tâm lý tiết kiệm là nhân tố có ảnh hưởng ngược chiều mạnh mẽ nhất đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Không có sự khác biệt về quyết định mua bảo hiểm giữa các nhóm tổng thể con phân loại theo các biến nhân khẩu học như giới tính,trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân nhưng khác nhau giữa các nhóm thu nhập; nghề nghiệp; độ tuổi Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra ảnh hưởng tích cực từ những người thân trong quyết định mua bảo hiểm nhân thọ

Các kết quả nói trên dựa trên mô hình nghiên cứu như sau:

Hình 1.3: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm

bảo hiểm nhân thọ

Nguồn: Phạm thị Loan và Phan Thị Dung ( 2015)

Trang 40

Tương tự như nghiên cứu nói trên Nguyễn Thị Thùy và Nguyễn Văn Ngọc (2015) cũng xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam trên địa bàn thành phố Nha Trang Kết quả phân tích hồi qui bội cho thấy có 1 nhân tố quan hệ nghịch đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ là Sự kiện trong cuộc sống và 4 nhân tố quan hệ thuận đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ là Tư vấn viên, Ủng

hộ của người thân, Công ty bảo hiểm và Kênh phân phối hợp lý Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thêm ba nhân tố khác ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của khách hàng là Tư vấn viên, Công ty bảo hiểm và Kênh phân phối hợp lý

Mô hình nghiên cứu của công trình này như sau:

Hình 1.4: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua

sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của Prudential

Nguồn: Nguyễn Thị Thùy và Nguyễn Văn Ngọc, 2015

Nghiên cứu của Lê Long Lê Long Hậu (2017) tập trung hơn bằng việc nghiên cứu về quyết định tham gia bảo hiểm nhân thọ của cá nhân: vai trò của thái

độ đối với rủi ro và kiến thức tài chính nhưng cũng dựa trên những phân tích nhân

Ngày đăng: 24/04/2021, 09:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN