1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

164 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 32,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải nộp cho Tòa

Trang 1

NGUYỄN THỊ HOA

BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐỊNH HƯỚNG NG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá

trình giải quyết vụ án dân sự” là kết quả quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi,

dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô - TS Nguyễn Hải An không sao chép kết quả

của bất kỳ luận văn nào trước đó Nội dung luận văn có tham khảo các tài liệu, thông tin, bản án theo danh mục tài liệu tham khảo thể hiện trong luận văn Số liệu trong luận văn đảm bảo trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin cam đoan và hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác luận văn của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày / /2020

Học viên

Nguyễn Th Hoa

Trang 4

09 TAND Tòa án nhân dân

10 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

11 TSĐTC Tài sản đang tranh chấp

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG TRANH CHẤP 7 1.1 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản đan tran c ấp 9 1.2 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp cấm chuyển

d ch quyền về tài sản đối với tài sản đan tran c ấp 16 1.3 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp cấm t ay đổi hiện trạng tài sản đan tran c ấp 24 Kết luận C ươn 1 28 CHƯƠNG 2 BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHONG TỎA 30 2.1 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng 30 2.2 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản của n ười có n ĩa vụ 37 Kết luận C ươn 2 42 KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Theo

đó, người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu Có thể nói, từ những quy định cụ thể của luật về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của không chỉ cho nguyên đơn mà còn bảo vệ được quyền lợi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự tại Tòa án trên thực tế vẫn còn gặp nhiều bất cập như khó xác định được giá trị tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng Vì trong thực tế cơ sở, nhận thức để Thẩm phán ấn định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm là khác nhau Mặt khác, việc chứng minh thiệt hại nếu có xảy ra và yêu cầu bồi thường để giải quyết trong cùng vụ án hay tranh chấp vụ án khác cũng là vấn đề bất cập

Thực tiễn cho thấy trình tự, thủ tục và tính khả thi của biện pháp bảo đảm trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa

án còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu Xuất phát từ đó, em chọn đề tài “Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự” làm luận văn thạc

sĩ để nghiên cứu trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Trang 7

2 Tình hình nghiên c u đề tài

Giáo trình, sách chuyên khảo: Nguyễn Văn Pha (1997), Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội;

Về các bài viết, tạp chí: Nguyễn Thị Hạnh (2012), Một số trao đổi từ thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự, Tạp chí Tòa án; Trần Xuân Hiệp (2012), Hậu quả pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Tạ Hữu Huy (2014), Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, Tạp chí Kiểm sát; Trần Phương Thảo (2009), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Luật học - Đại học Luật Hà Nội; Đinh Bá Trung (2015), Góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự về biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam; Trần Phương Thảo (2011), Bàn về các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong

Bộ luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Luật học - Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Hoài Phương (2010), Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp

về Kinh doanh Thương mại tại Tòa án; Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Tưởng Duy Lượng (2006), Tìm hiểu các quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong Bộ luật

tố tụng dân sự;

Các công trình nghiên cứu này đã xây dựng nền tảng lý luận căn bản về biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong đó có nội dung liên quan đến “Biện pháp bảo đảm trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” Các công trình này các tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp khẩn cấp tạm thời và nguyên tắc

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nói chung trong tố tụng dân sự, chưa nghiên cứu sâu về những bất cập, vướng mắc trong việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

và giải quyết bồi thường khi có thiệt hại xảy ra do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Vì vậy, em đăng ký đề tài

“Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự” làm đề tài nghiên cứu

Việc chọn lựa đề tài này là sự phân tích, đánh giá cụ thể, để thấy được tầm quan trọng của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ

Trang 8

án dân sự Qua đó thực hiện có hiệu quả hơn việc bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền, không trùng lắp với các công trình khoa học đã được công bố

3 Mục đíc n iên c u của đề tài

Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam trong quy định “Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án” Mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những quy định pháp luật và chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật, để từ đó đi sâu vào phân tích các biện pháp đảm bảo Đồng thời, đánh giá việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự tại Tòa án, góp phần hoàn thiện những quy định pháp luật, bảo đảm quyền lợi của các đương sự trong vụ án Mặt khác, mục đích nghiên cứu còn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Trên cơ sở đó thấy được những kết quả đạt được khi

áp dụng trong thực tế cũng như vấn đề còn bất cập để từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của luật hiện hành có liên quan

Với mục đích như trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải thực hiện đó là:

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự khi áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời và những bất cập, khó khăn phát sinh từ nội dung này

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của luật hiện hành có liên quan đến biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án

4 Phạm vi nghiên c u và p ƣơn p áp n iên c u

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam

về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa

án Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này qua các bản án, quyết định của Tòa án Đánh giá hiệu quả trong xét xử tại Tòa án về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, từ đó phát hiện những vướng mắc,

Trang 9

bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật và

đề xuất các kiến nghị cần thiết

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi khuôn khổ luận văn này, tác giả kết hợp nghiên cứu các quy định của luật và nghiên cứu những vướng mắc phát sinh trong việc thực hiện pháp luật về biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết

vụ án dân sự tại Tòa án để có những kiến nghị quy định pháp luật có liên quan

Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015 thì “Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản

6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 (trong đó khoản 15 và 16 Điều 114 BLTTDS năm

2015 thuộc chuyên ngành kinh tế) của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu” Vì luận văn theo định hướng ứng dụng nên tác giả của luận văn chỉ nghiên cứu bất cập từ thực tiễn khi Tòa án ấn định tài sản bảo đảm tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm

thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11 Điều 114 của BLTTDS năm 2015 là: Kê

biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác và phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ để phù hợp với chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự

5 P ƣơn p áp n iên c u

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn gồm phương pháp phân tích được sử dụng ở mục 1.1 và 1.2 để phân tích các nội dung của luật quy định về nghĩa vụ phải thực hiện khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Đồng thời, tác giả cũng vận dụng phương pháp này để phân

Trang 10

tích những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng quy định của luật hiện hành, để từ đó

có những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật

Phương pháp so sánh được sử dụng ở mục 2.1, 2.2 dùng để so sánh, đánh giá toàn diện, nhằm phân tích điểm ưu việt và hạn chế của quy định pháp luật hiện hành Để nhận định về thực tiễn áp dụng pháp luật khi áp dụng vào quá trình giải quyết vụ án

Phương pháp bình luận bản án được sử dụng để phân tích các quyết định, bản

án của Tòa án trong khi giải quyết, từ đó giúp tác giả thấy được sự bất cập, chưa thống nhất trong nhận thức khi áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Sau cùng, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra những kiến nghị,

đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng được tác giả lồng vào toàn bộ nội dung luận văn để người đọc dễ nắm bắt vấn đề mà tác giả muốn trình bày

6 Ý n ĩa k oa ọc và giá tr ng dụng của đề tài trong thực tiễn

Ý nghĩa khoa học của Luận văn: Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn bất cập về nhận thức của cán bộ Tòa án đối với quy định buộc nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu và còn nhằm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu những vướng mắc, bất cập Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về BPBĐ khi áp dụng BPKCTT trong tố tụng dân sự, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Giá trị của đề tài ứng dụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký, Luật sư, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nghiên cứu có thể tham khảo và vận dụng trong quá trình giải quyết, bảo vệ quyền lợi cho đương sự, khách hàng và

Trang 11

bản thân khi tham gia tố tụng trong vụ án khi có phát sinh tranh chấp về buộc thực hiện BPBĐ khi áp dụng BPKCTT trong giải quyết vụ án dân sự

Tuy nhiên, do nhận thức của tác giả về quy định của luật còn hạn hẹp, nên chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót, hạn chế trong lập luận, diễn giải Vì vậy, tác giả rất mong được đón nhận sự đóng góp, chỉ dạy của Quý Thầy, Cô để

Luận văn này được hoàn thiện hơn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận từng chương và kết luận chung cũng như danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:

C ƣơn 1 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với tài sản đang tranh chấp

C ƣơn 2 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp phong tỏa

Trang 12

CHƯƠNG 1 BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐANG TRANH CHẤP

Buộc thực hiện BPBĐ đối với TSĐTC là các BPKCTT Tính khẩn cấp được thể hiện ở khía cạnh Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thực hiện ngay sau khi được Tòa án quyết định áp dụng Trong khi đó, tính tạm thời của biện pháp này được thể hiện ở khía cạnh, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự Sau khi quyết định áp dụng BPKCTT, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này Việc áp dụng các BPKCTT có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người bị áp dụng Do đó để đảm bảo việc áp dụng đúng đắn, Tòa án phải xem x t thận trọng trước khi quyết định áp dụng và phải thực hiện đúng các quy định của luật

Kịp thời khắc phục những hậu quả, thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, ngăn chặn những hành vi hủy hoại bằng chứng làm sai lệch nội dung vụ việc Kịp thời ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản và đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án Như vậy, việc áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ việc dân

sự không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, BPKCTT ngày càng trở thành công cụ pháp lý vững chắc

để các đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia vào các quan hệ Dân sự, Kinh doanh Thương mại và Lao động

Từ những quan điểm về khái niệm BPKCTT cùng sự phân tích các đặc điểm, theo tác giả bản chất BPKCTT một công cụ mà các bên tranh chấp được sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình một cách tạm thời cho đến khi vụ án được giải quyết xong BPKCTT có thể được áp dụng để hạn chế hoặc buộc các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba thực hiện một hành vi nhất định với mục đích giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, thu thập chứng cứ kịp thời, giữ nguyên hiện trạng nhằm tránh những thiệt hại không thể khắc phục hoặc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa

vụ của bên có nghĩa vụ khi có tranh chấp Với chức năng đó, mặc dù mang tính chất tạm thời nhưng việc áp dụng BPKCTT vẫn tiềm ẩn khả năng gây ra thiệt hại đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba Do vậy, bên cạnh việc xác định quyền yêu cầu của các chủ thể, pháp luật tố tụng dân sự đặt ra các điều kiện khi yêu cầu áp dụng

Trang 13

BPKCTT, trong đó người yêu cầu áp dụng BPKCTT buộc phải thực hiện BPBĐ1, là một quy định bắt buộc, nhằm cân bằng quyền lợi của các bên trong tranh chấp

Do tính chất đa dạng của các vụ việc phát sinh tranh chấp tại Tòa án, tình thế khẩn cấp của mỗi vụ việc là khác nhau, nên khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015

quy định “Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các BPKCTT quy định tại các

khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT từ phía người có quyền yêu cầu”

Buộc thực hiện BPBĐ là quy định bắt buộc được ghi nhận tại Chương VIII của BLTTDS năm 2015 về các BPKCTT, cụ thể từ Điều 111 đến Điều 142 BLTTDS năm 2015 Theo đó, pháp luật quy định cụ thể người yêu cầu loại biện pháp khẩn cấp tạm thời nào thì phải thực hiện nộp BPBĐ và BPKCTT nào thì không phải nộp các BPBĐ Thời hạn thực hiện BPBĐ, loại tài sản để thực hiện BPBĐ

Về việc áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 liên quan đến việc buộc thực hiện BPBĐ Để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPKCTT

và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có quyền yêu cầu, các nhà lập pháp đã xây dựng trong BLTTDS năm 2015 những qui định về BPBĐ buộc người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá bằng tiền vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng Đây là một điểm tiến bộ của BLTTDS năm 2015 so với các văn bản pháp luật trước đó Theo quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015 thì "Người yêu cầu áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 6, 7, 8, 10, 11 Điều 102 BLTTDS phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện" Thực tiễn áp dụng điều luật này cho thấy xuất hiện bất cập trong quá trình áp dụng, đó là, mục đích của BPKCTT nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhưng không phải mọi chủ thể đều có điều kiện về kinh tế để thực hiện quy định về buộc thực hiện BPBĐ khi áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền lợi cho chính người yêu cầu

1

Điều 136 BLTTDS năm 2015

Trang 14

1.1 Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp kê biên tài sản đan tran c ấp

Hiểu theo nghĩa thông thường thì kê biên TSĐTC là việc kiểm kê, kê ra danh mục các tài sản để chờ xử lý2 Dưới góc độ pháp luật tố tụng dân sự, kê biên tài sản được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước do Tòa án quyết định áp dụng và Chấp hành viên tiến hành kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao lại cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm đảm bảo cho việc x t xử, thi hành án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật3

Trong tố tụng dân sự, BPKCTT kê biên TSĐTC do Tòa án quyết định áp dụng là việc Tòa án kiểm kê, thống kê những tài sản đang có tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ về những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản đang có tranh chấp đó BPKCTT được quy định tại khoản 6 Điều 114 BLTTDS năm 2015 và điều kiện áp dụng biện pháp này được quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015

Khác với những BPKCTT đã nêu trên, biện pháp kê biên tài sản đang có tranh chấp chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT mà Tòa án không có quyền tự mình áp dụng Theo quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015, BPKCTT kê biên tài sản tranh chấp chỉ được Tòa án quyết định áp dụng nếu trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, có căn cứ cho thấy người giữ TSĐTC có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản Tài sản bị kê biên

có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan Thi hành án hoặc hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa

án Biện pháp này được xây dựng dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, do đó nó chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của đương sự

Từ quy định này, việc áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC phải đáp ứng các điều kiện sau:

Th nhất: BPKCTT kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản đang có tranh

chấp mà không phải là áp dụng đối với tất cả tài sản của đương sự trong vụ án dân sự Những tài sản không phải là tài sản tranh chấp hoặc những tài sản chỉ liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ không nằm trong phạm vi những tài sản bị áp dụng BPKCTT kê biên

Trang 15

T ai: BPKCTT kê biên TSĐTC chỉ được Tòa án quyết định áp dụng

khi có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp

Như vậy, khi đương sự có yêu cầu áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC, ngoài việc phải làm đơn và đưa ra chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu áp dụng BPKCTT là cần thiết và hợp pháp, còn phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng BPKCTT cũng như để ngăn ngừa, hạn chế quyền yêu cầu của người có quyền yêu cầu

Để làm rõ vấn đề trên, tác giả nêu vụ án do Tòa án Long Xuyên thụ lý giải quyết, trong đó, Tòa án có áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của nguyên đơn

Vụ án 1: “Tranh chấp ly hôn - Đòi tài sản” do Tòa án nhân dân thành phố Long

Xuyên thụ lý số 44/2017/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2017, giữa nguyên đơn

bà Bùi Thị Quang Châu, bị đơn ông Phan Cẩm Thịnh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cho thuê Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quốc tế Chailease và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ in Quảng cáo Phan Tường

Nội dung vụ án: Bà Châu và ông Thịnh sống chung từ năm 2014, không đăng

ký kết hôn Khi sống chung bà cho ông Thịnh mượn 766.737.000 đồng và 15 lượng vàng 24kra, do tin tưởng nên không yêu cầu ông Thịnh làm biên nhận

Bà Châu yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông Thịnh là vợ chồng; yêu cầu ông Thịnh trả 766.737.000 đồng và 15 lượng vàng 24kra

Yêu cầu duy trì quyết định áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC quy định tại khoản 6 Điều 114 BLTTDS năm 2015 đối với các tài sản: Máy in KTS INKOTEK; Máy cắt bế decal; Máy in màu A3; Máy cắt; Máy cấn; Máy keo; Máy in màu A3; Máy photo; Máy cán màng nóng; Máy in KTS XULY; Máy vi tính IMAC APPLE; Máy đóng khung tranh; Máy n n khí; Máy in chuyển nhiệt; Máy in màu Ricoh 901

Lý do bà yêu cầu áp dụng BPKCTT kê biên tài sản trên, vì ông Thịnh mượn tiền, vàng của bà Châu để mua sắm các máy móc, thiết bị trên nhằm phục vụ cho việc kinh doanh của Công ty Phan Tường

Trang 16

Theo Quyết định số 10/2017/QĐ-BPBĐ, ngày 27 tháng 4 năm 2017 về buộc thực hiện BPBĐ, thì bà Châu đã nộp tài sản bảo đảm là tiền có giá trị là 23.200.000 đồng, tương đương 10% giá trị tài sản bà Châu yêu cầu kê biên vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh An Giang, Phòng Giao dịch Long Xuyên

Tại Bản án số 120/2019/HNGĐ-ST, ngày 18/11/2019 Tòa án Long Xuyên, quyết định: Không công nhận bà Bùi Thị Quang Châu và ông Phan Cẩm Thịnh là

vợ chồng; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu buộc ông Thịnh trả 135.587.000 đồng; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu buộc ông Thịnh trả 631.150.000 đồng và 15 lượng vàng 24kra, loại vàng 9999; Hủy bỏ Quyết định áp dụng BPKCTT số 10/2017/QĐ-BPKCTT, ngày 28/4/2017 và Quyết định số 01/2017/QĐ-BPKCTT, ngày 03/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố

Long Xuyên; Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện BPBĐ số 10/2017/QĐ-BPBĐ,

ngày 27/4/2017 của Tòa án thành phố Long Xuyên; Bà Châu được nhận lại tiền đã nộp BPBĐ và lãi (nếu có) tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh An Giang, Phòng Giao dịch Long Xuyên theo giấy nộp tiền ngày 28/4/2017 và Giấy tạm khóa tài khoản do Ngân hàng lập ngày 28/4/2017.4

Quan điểm của tác giả về nội dung vụ án nêu trên: Tòa án Long Xuyên căn

cứ Công văn số 05/2017/PĐ-PGD LX ngày 26/4/2017 của Phòng Giao dịch Long Xuyên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín chi nhánh An Giang phúc đáp Công văn số 85/2017/QĐ-CCTLCC ngày 19/4/2017 của Tòa án Long Xuyên xác nhận sổ Phụ tài khoản đối ứng số 070014842614 thể hiện khách hàng thụ hưởng là ông Phan Cẩm Thịnh đã nhận từ bà Bùi Thị Quang Châu với số tiền 135.587.000 đồng, để buộc ông Thịnh trả bà Châu 135.587.000 đồng là có căn cứ

Về quyết định của Tòa án hủy bỏ Quyết định áp dụng BPKCTT số BPKCTT, ngày 28/4/2017 và Quyết định số 01/2017/QĐ-BPKCTT, ngày

10/2017/QĐ-03/5/2017 Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện BPBĐ số 10/2017/QĐ-BPBĐ, ngày

27/4/2017 Bà Châu được nhận lại tiền đã nộp BPBĐ và lãi (nếu có), là có căn cứ

Vì các tài sản bà Châu yêu cầu kê biên là tài sản của Công ty Phan Tường, bà Châu tranh chấp cho rằng các máy móc, thiết bị trên được mua từ nguồn tiền, vàng ông Thịnh đã mượn của bà, mà không tranh chấp đối với tài sản bị áp dụng biện pháp kê biên, nên không duy trì là đúng quy định của luật

4

Bản án số 120/2019/HNGĐ-ST ngày 18/11/2019 của TAND thành phố Long Xuyên

Trang 17

Tại phiên tòa ông Thịnh cho rằng khi bị áp dụng BPKCTT kê biên tài sản đối với các máy móc đã gây khó khăn cho tình hình hoạt động của Công ty, nhưng vì nghĩ tình nghĩa vợ chồng, nên ông không yêu cầu bồi thường thiệt hại

Vấn đề cần đặt ra Tòa án áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC theo yêu cầu của

bà Châu trong vụ án trên là có căn cứ không, khi bà Châu không tranh chấp đối với tài sản yêu cầu kê biên, dù Tòa án đã giải thích về căn cứ để yêu cầu áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC, nhưng bà Châu vẫn không thay đổi BPKCTT

Đối chiếu quy định tại Điều 111 BLTTDS năm 2015 quy định quyền yêu cầu

áp dụng BPKCTT và quy định về buộc thực hiện BPBĐ tại Điều 136 BLTTDS năm

2015 thì bà Châu đã đáp ứng các quy định trên về nghĩa vụ của người yêu cầu áp

dụng BPKCTT Bên cạnh đó, nếu Tòa án áp dụng BPKCTT khác với BPKCTT mà

cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu5

mà gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường.6

Chế định các BPKCTT trong BLTTDS năm 2015 được xây dựng dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, đương sự có quyền lựa chọn các BPKCTT để bảo vệ quyền lợi của mình, quyền tự định đoạt của họ luôn được pháp luật tôn trọng Vì vậy, khi đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số BPKCTT cụ thể để bảo vệ quyền lợi của họ, nhưng Tòa án đã áp dụng BPKCTT khác với BPKCTT mà đương sự yêu cầu là vi phạm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự

Trở lại vụ án trên, bà Châu yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC Mặc dù, theo vụ án trên ngoài tranh chấp yêu cầu không công nhận bà Châu và ông Thịnh là vợ chồng, bà Châu còn tranh chấp đòi ông Thịnh trả 766.737.000 đồng và

15 lượng vàng 24kra Tuy bà Châu không tranh chấp đối với các tài sản bà Châu yêu cầu áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC, nhưng nếu Tòa án nhận định cho rằng do bà Châu không tranh chấp tài sản yêu cầu kê biên, nên Tòa án không áp dụng BPKCTT

kê biên tài sản đang tranh chấp mà Tòa án tự ý áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ dẫn tới gây thiệt hại cho Công ty Phan Tường là bên thứ ba mà người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường thiệt hại Trường hợp này Tòa án phải bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 113 BLTTDS năm 2015

Trang 18

Về nguyên tắc, Tòa án chỉ được quyết định một hoặc một số BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7 và 8 Điều 114 BLTTDS năm 2015 đối với TSĐTC

Do đó, khi có yêu cầu áp dụng BPKCTT này thì người yêu cầu phải chứng minh đó là tài sản có tranh chấp và Thẩm phán, Hội đồng x t xử phải xác định đó

có phải là tài sản có tranh chấp hay không

Tuy nhiên, như đã đề cập phần trên mặc dù Tòa án đã giải thích về căn cứ để yêu cầu áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC, nhưng bà Châu vẫn không thay đổi BPKCTT đã yêu cầu Vì cho rằng tài sản bà yêu cầu kê biên là do ông Thịnh mượn tiền, vàng của bà để mua Như vậy, trong trường hợp này Tòa án có thông báo không chấp nhận yêu cầu áp dụng của bà Châu vì không có căn cứ không? Vì Điều 113 BLTTDS năm 2015 quy định trách nhiệm do áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba, thì Tòa án phải bồi thường

Với quy định nêu trên trong thực tế đã tạo không ít áp lực cho Thẩm phán trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự Thẩm phán luôn bị trách nhiệm trong việc áp dụng hoặc không áp dụng BPKCTT, khi mà BLTTDS năm 2015 quy định

về thời hạn ra quyết định áp dụng hoặc từ chối áp dụng BPKCTT quá ngắn

Từ p ân tíc nêu trên, tác iả n ận t ấy có n ữn bất cập n ƣ sau:

Mặc dù Chương VIII của BLTTDS năm 2015 quy định các BPKCTT, theo đó, gồm: Quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT; Thẩm quyền; Trách nhiệm do áp dụng BPKCTT không đúng; BPKCTT nào phải thực hiện BPBĐ và BPKCTT nào thì Tòa

án được tự mình áp dụng; Thời hạn thực hiện BPBĐ; Thay đổi, áp dụng bổ sung, hủy

bỏ áp dụng BPKCTT; Khiếu nại, giải quyết khiếu nại khẩn cấp tạm thời là khá cụ thể Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định chưa thực sự rõ ràng, mang tính tùy nghi nếu không muốn nói là e ngại, sợ trách nhiệm, từ đó dẫn đến việc không ít trường hợp Thẩm phán Tòa án còn lúng túng khi xem x t giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT

Vì trên thực tế, trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự mà có áp dụng các BPKCTT, Thẩm phán buộc người yêu cầu thực hiện BPBĐ không có sự thống nhất,

có Tòa án buộc nộp 5%, 10%, 20% thậm chí 100% Vì cho rằng, luật quy định chung chung là Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại

có thể phát sinh, có nghĩa là thiệt hai chưa phát sinh trên thực tế nên Tòa án buộc nộp bao nhiêu là tùy theo nhận định của mỗi Tòa Nói cách khác, việc ấn định mức bảo đảm phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của những người có thẩm quyền

Trang 19

Có trường hợp giá trị tranh chấp rất lớn nhưng lại ấn định giá trị bảo đảm nhỏ

là không đảm bảo được quyền lợi của người bị yêu cầu trong trường hợp có thiệt hại hoặc giá trị tranh chấp nhỏ nhưng lại ấn định giá trị bảo đảm lớn, nên nhiều trường hợp người yêu cầu không thực hiện được và Tòa án căn cứ vào đó để thông báo không áp dụng BPKCTT

Bên cạnh đó, với quy định BPKCTT chỉ áp dụng đối với TSĐTC quy định tại Điều 120 BLTTDS năm 2015 làm hạn chế khả năng áp dụng với tài sản không tranh

chấp để bảo vệ chứng cứ hoặc đảm bảo thi hành án của các biện pháp này

Từ những bất cập nêu trên, tác giả xin đưa ra kiến nghị giải pháp áp dụng như sau:

Thứ nhất, tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLTTDS năm 2015 về các BPKCTT Tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT kê biên TSĐTC khi có căn cứ sau đây:

“1 TSĐTC là đối tượng của quan hệ tranh chấp mà Tòa án đang thụ lý

giải quyết

2 Có tài liệu, chứng cứ chứng minh người giữ TSĐTC có hành vi tẩu tán,

Thứ hai, vì với quy định chung chung như tại khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015 “ do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại

có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng ”8, là quy định mang tính tùy nghi của Thẩm phán, nhất là khó có thể dự tính được mức tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh, khi mà thiệt hại đó chưa xảy ra vào thời điểm yêu cầu Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn về cách tính tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh khi áp dụng BPKCTT Tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về buộc thực hiện BPBĐ quy định tại khoản 1 Điều 136 của

BLTTDS năm 2015 như sau: Vì tổn thất hoặc thiệt hại thực tế có thể phát sinh do

hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng chưa xảy ra, cho nên để ấn định

Trang 20

một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại thì Thẩm phán hoặc HĐXX phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng không thấp hơn 20% giá trị tài sản

bị áp dụng BPKCTT, trừ trường hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất hoặc

Mặt khác, với quy định thời hạn xem x t, giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT

là quá ngắn, dẫn tới bất cập trong quá trình giải quyết yêu cầu của đương sự

Thứ ba, ngoài việc căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật thì người yêu cầu áp dụng BPKCTT là người nắm rõ tổn thất và thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng Tham khảo hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để hướng dẫn theo hướng việc tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh tùy vào từng BPKCTT cụ thể, tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán, HĐXX có thể thực hiện là yêu cầu người yêu cầu áp dụng BPKCTT dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng

Việc dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh phải được làm thành văn bản nêu rõ các khoản tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh, các căn

cứ và cơ sở của việc dự kiến và tạm tính đó

Hoặc cũng có thể quy định thống nhất khoản tiền hay tỷ lệ phần trăm cụ thể trên giá trị tài sản mà người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải thực hiện

Có nên chăng cần quy định rõ quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT là quyền tự định đoạt của đương sự Khi họ lựa chọn BPKCTT nào thì Tòa án áp dụng biện pháp mà họ yêu cầu, nếu họ chứng minh được sự cần thiết của việc yêu cầu áp dụng BPKCTT cũng như họ đã thực hiện đủ các nghĩa vụ của người yêu cầu nhằm bồi thường thiệt hại có thể phát sinh

Vì vậy, tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về buộc thực hiện BPBĐ quy định tại khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015 về việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra tùy thuộc vào từng BPKCTT cụ thể, từng trường hợp cụ thể và được thực hiện như sau:

“Thẩm phán hoặc HĐXX đề nghị người yêu cầu áp dụng BPKCTT dự kiến và tạm

tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra Trong trường hợp có hỏi ý kiến của người bị áp

9

Khoản 2 Điều 13 Dự thảo (lần 3) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, tlđd (10)

Trang 21

dụng BPKCTT được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết này thì đề nghị họ

dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra

Dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra phải được làm thành văn bản, trong đó cần nêu rõ các khoản thiệt hại và mức thiệt hại có thể xảy ra, các căn

cứ, cơ sở của việc dự kiến và tạm tính đó; nếu tại phiên tòa thì không phải làm thành văn bản nhưng phải ghi vào biên bản phiên tòa

Thẩm phán hoặc HĐXX xem xét các dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra, căn cứ vào các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan

để ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá và buộc người

1.2 Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp cấm

c uyển d c quyền về tài sản đối với tài sản đan tran c ấp

Biện pháp này được quy định tại Điều 121 BLTTDS năm 2015 Theo đó, biện pháp buộc thực hiện BPBĐ khi áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện, nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ TSĐTC

có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC cho người khác.11BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC là việc Tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được thay đổi, chuyển đổi quyền về tài sản đối với TSĐTC Biện pháp này được quy định tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm

2015 Như vậy, cũng như quy định về BPKCTT kê biên TSĐTC quy định tại Điều

120 BLTTDS năm 2015, biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản chỉ được phép áp dụng đối với những tài sản tranh chấp mà thường là những tài sản mà quyền đối với tài sản đã được xác định rõ thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nhà nước mà chủ yếu là bất động sản Mặt khác, Tòa án chỉ được quyết định áp dụng biện pháp này khi có yêu cầu áp dụng của người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT mà Tòa án không có quyền tự mình áp dụng Căn cứ để Tòa

án quyết định áp dụng biện pháp này phải là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đang có tranh chấp cho người khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ của họ Căn cứ này cho thấy tình trạng khẩn cấp là quyền đối với tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị chuyển dịch, cần phải có

Trang 22

ngay biện pháp ngăn chặn việc chuyển dịch để bảo toàn TSĐTC đó Nếu không kịp thời ngăn chặn thì tài sản tranh chấp sẽ bị chuyển dịch, không còn tài sản để thi hành án

Như vậy, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC là trường hợp Tòa

án buộc người người chiếm hữu hoặc giữ TSĐTC không được thay đổi, dịch chuyển quyền về tài sản đối với TSĐTC Dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, Tòa án chỉ áp dụng biện pháp này khi đương sự có đơn yêu cầu

Để làm rõ quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định này, xin được tóm tắt vụ án như sau:

Vụ án 2: Ngày 09/8/2016 Tòa án Long Xuyên thụ lý vụ án dân sự số:

178/2016/TLST-DS, về việc “Tranh chấp Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo đơn khởi kiện của ông Hồ Văn Cần và bà Đỗ Thị Thạnh Địa chỉ: 126C/63, khóm Bình Đức 3, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên

Ông Cần và bà Thạnh yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về TSĐTC là phần đất có diện tích 39,2m2 tọa lạc tại thửa số 112, tờ bản đồ số 55 thuộc phường Bình Đức, Tp Long Xuyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA339208, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 00009 do Ủy ban nhân dân Tp Long Xuyên cấp cho ông Hồ Văn Cần và bà Đỗ Thị Thạnh, ngày 30/12/2009 và phần đất có diện tích 8,9m2 tọa lạc tại thửa số 6, tờ bản đồ số 55 thuộc phường Bình Đức, Tp Long Xuyên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM

479010, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H03684/aA do Ủy ban nhân dân Tp Long Xuyên cấp cho ông Hồ Văn Cần và bà Đỗ Thị Thạnh, ngày 04/02/2009

Để thực hiện thủ tục áp dụng BPKCTT, ông Cần và bà Thạnh đã nộp 5.000.000 đồng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh thành phố Long Xuyên theo Quyết định buộc thực hiện BPBĐ số 07/2016/QĐ-BPBĐ, ngày 16/8/2016 của Tòa án Long Xuyên

Ngày 16/9/2016 Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố của bà Kiều đối với ông Cần,

bà Thạnh Bà Kiều yêu cầu ông Cần và bà Thạnh phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng đối với 02 diện tích 39,2m2

và 8,90m2 theo Hợp đồng Công chứng tại Văn phòng Công chứng Cao Thị Hồng Cúc ngày 13/6/2016

Ngày 07 tháng 12 năm 2016, Tòa án Long Xuyên đình chỉ giải quyết vụ án với lý do ông Cần, bà Thạnh có đơn rút yêu cầu khởi kiện; ông Thuận, bà Kiều có

Trang 23

đơn rút yêu cầu phản tố, vì đã thỏa thuận được với nhau các vấn đề phải giải quyết trong vụ án12

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện xuất phát từ quan hệ cha

mẹ con, nên ông Cần và bà Thạnh cho con là bà Kiều QSDĐ như nêu trên, tuy nhiên lại làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ Sau đó do không hài lòng vợ chồng Kiều, nên ông Cần, bà Thạnh yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông bà với bà Kiều

Bà Kiều cho rằng bà có nhận chuyển nhượng QSDĐ của cha mẹ là ông Cần,

bà Thạnh như nêu trên Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Cần, bà Thạnh

mà yêu cầu ông Cần, bà Thạnh phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đối với 02 diện tích 39,2m2 và 8,90m2 theo Hợp đồng chuyển nhượng được Công chứng tại Văn phòng Công chứng Cao Thị Hồng Cúc ngày 13/6/2016

Lý do ông Cần, bà Thạnh yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp là nhằm bảo toàn tình trạng hiện có đối với TSĐTC, nếu không yêu cầu áp dụng thì vợ chồng bà Kiều sẽ chuyển nhượng

TSĐTC cho người khác

Quan điểm tác giả Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, do bà Kiều

chuyển nhượng QSDĐ nêu trên cho người khác, nên ông Cần bà Thạnh yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về TSĐTC là có căn cứ, thỏa mãn các quy định tại khoản 1, Điều 111; khoản 1, Điều 112; khoản 7, Điều 114 và Điều 121 của BLTTDS năm 2015 về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC

Do đình chỉ giải quyết vụ án, nên Tòa án hủy bỏ Quyết định áp dụng BPKCTT và hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện BPBĐ là có căn cứ, đúng quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 138, đồng thời quyết định cho ông Cần và bà Thạnh được nhận lại 5.000.000 đồng và tiền lãi (nếu có) tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chi nhánh thành phố Long Xuyên theo Quyết định Buộc thực hiện BPBĐ số 07/2016/QĐ-BPBĐ, ngày 16/8/2016 của Tòa án Tp Long Xuyên là đúng quy định tại khoản 2, Điều 138 vì không thuộc trường hợp phải bồi thường do yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường, theo quy định tại khoản

Trang 24

Vụ án 3: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” giữa

nguyên đơn là ông LuGen với bị đơn là Đỗ Thị Thu Hiền13

Ngày 12/6/2019 cùng với đơn khởi kiện, ông Lu Gen có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC là ngôi nhà số 09 Kiều Phụng, phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng Cùng ngày 14/6/2019, Tòa án thụ lý vụ án và ông Lu Gen đã thực hiện xong BPBĐ Tòa án đã căn cứ khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 ra quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC

Quan điểm tác giả Thống nhất Kết luận của Đoàn kiểm tra TANDTC đối với

Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng khi ban hành quyết định áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC, vì cùng với việc nộp đơn khởi kiện, ông Lu Gen chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu áp dụng BPKCTT trên là thuộc trường hợp tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra được quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 và tham khảo hướng dẫn tại mục 2 Nghị Quyết 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, đó là, việc

áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2004 khi có đủ các

điều kiện: a) Do tình thế khẩn cấp, tức là cần phải được giải quyết ngay, không chậm

trễ; b) Cần phải bảo vệ ngay bằng chứng trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; c) Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (có thể là hậu quả về vật chất hoặc phi vật chất)

Vụ án 4: “Yêu cầu thanh toán phát sinh từ hợp đồng xây dựng” giữa: Nguyên

đơn Công ty Daewo E&C với bị đơn Công ty TNHH Hi Brand Việt Nam (Quyết định số 119/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/3/2017, Quyết định số 124/2017/QĐ-BPKCTT ngày 31/5/2017, Quyết định số 26/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/11/2017, Quyết định giải quyết khiếu nại số 2808 ngày 30/11/2017, Quyết định giải quyết khiếu nại số 1842 ngày 19/7/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội)14

Công ty Daewo E&C khởi kiện yêu cầu Công ty Hi Brand thanh toán 553.336.285.000 đồng (gồm cả lãi) tiền chi phí thi công phát sinh từ hợp đồng xây dựng công trình thi công tòa nhà H-CT1 (Tòa nhà H - cao tầng 1), đồng thời yêu

Trang 25

cầu áp dụng BPKCTT cấm Công ty Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng dự

án thuộc dự án khu nhà ở Văn Phú cho bất cứ bên thứ ba nào khác, khi không có ý kiến của chấp thuận của Công ty Daewo E&C

Tại Quyết định số 119/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/3/2017, Thẩm phán quyết định áp dụng Điều 127 BLTTDS năm 2015 áp dụng BPKCTT: Cấm Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng dự án thuộc dự án khu nhà ở Văn Phú có mục tiêu và quy mô là đầu tư xây dựng, kinh doanh tòa nhà chung cư kết hợp dịch vụ (H-CT1, H-CT2) và nhà ở thấp tầng (H-TT1, H-TT2, H-TT3, H-TT4, H-TT5) tại các ô đất quy hoạch ký hiệu từ CT1 đến CT8 cho bất cứ bên thứ ba nào khác cho đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án Bị đơn đề nghị thay đổi BPKCTT

Tại Quyết định số 124/2017/QĐ-BPKCTT ngày 31/5/2017, Thẩm phán áp dụng Điều 121, Điều 127 BLTTDS năm 2015 quyết định thay đổi BPKCTT trên bằng BPKCTT cấm Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng chung cư trên lô đất H-CT1 (quy hoạch cũ CT2) thuộc dự án xây dựng khu nhà ở cao tầng Văn Phú cho bất cứ bên thứ 3 nào khác cho đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án đối với vụ án trên

Nguyên đơn có yêu cầu áp dụng bổ sung BPKCTT cấm Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng phần dự án trên lô đất H-TT2 hoặc bán sản phẩm của dự án trên lô đất H-TT2 thuộc Dự án trên

Tại Quyết định số 26/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/11/2017, Thẩm phán áp dụng khoản 12 Điều 114, Điều 127 BLTTDS quyết định áp dụng BPKCTT cấm Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng phần dự án trên lô đất H-TT2 hoặc bán sản phẩm của dự án trên lô đất H-TT2 thuộc Dự án trên cho bất cứ bên thứ 3 nào khác cho đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án đối với vụ án trên; tiếp tục duy trì BPKCTT tại Quyết định 124/2017/QĐ-BPKCTT ngày 31/5/2017

Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 2808 ngày 30/11/2017, Chánh án TAND Thành phố Hà Nội quyết định không chấp nhận đơn khiếu nại của Công ty

Hi Brand, giữ nguyên Quyết định số 26/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/11/2017

Sau đó, bị đơn có nhiều đơn khiếu nại và Tòa án đã có kết quả thẩm định giá Công trình do phía nguyên đơn xây dựng (theo Chứng thư của Công ty kiểm toán thì tổng số tiền là 390.071.342.574 đồng; Số tiền bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn là 219.883.031.650 đồng, nên số tiền bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn là 170.188.310.924 đồng)

Trang 26

Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1842 ngày 19/7/2019, Chánh án TAND Thành phố Hà Nội quyết định chấp nhận đơn khiếu nại của Công ty Hi Brand, hủy bỏ BPKCTT tại Quyết định số 26/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/11/2017, tiếp tục duy trì BPKCTT tại Quyết định 124/2017/QĐ-BPKCTT ngày 31/5/2017

Quan điểm tác giải: Các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT nêu

trên của TAND Thành phố Hà Nội đều không đúng, vì: BPKCTT quy định tại khoản

7 Điều 114 là cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC, còn khoản 12 Điều

114 là cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định Về tính chất của 2 biện pháp này

là hoàn toàn khác nhau Mặt khác, quy định về điều kiện áp dụng cũng khác nhau, theo đó, người yêu cầu áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 phải buộc thực hiện BPBĐ, còn khoản 12 Điều 114 BLTTDS năm 2015 thì không phải thực hiện BPBĐ Khi Tòa án xem xét áp dụng khoản 12 Điều 114 BLTTDS năm 2015 thì những hành vi bị cấm hoặc buộc phải thực hiện không được trùng với hành vi được mô tả tại khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015 cũng như các khoản khác của Điều 114 Thực tế, tại các Quyết định áp dụng BPKCTT nêu trên đều cấm bị đơn thực hiện các hành vi chuyển nhượng tài sản là các hành vi được mô tả tại khoản 7 Điều 114 và Điều 121, nhưng lại áp dụng khoản 12 Điều 114 BLTTDS năm

2015 Trong đó, Quyết định số 124, ngày 31/5/2017 vừa áp dụng khoản 7 và khoản

12 Điều 114 là không đúng quy định của BLTTDS năm 2015

Mặt khác, theo nội dung vụ án hai bên chỉ tranh chấp hợp đồng xây dựng tòa nhà H-CT1, tức là một phần dự án khu nhà ở Văn phú Hi Brand Tuy nhiên, TAND Thành phố Hà Nội lại ban hành Quyết định số 119/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/3/2017 quyết định áp dụng BPKCTT cấm Công ty Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng toàn bộ dự án khu nhà ở Văn Phú Hi Brand; Cấm Công ty Hi Brand thực hiện hành vi chuyển nhượng phần dự án trên lô đất H-TT2 hoặc bán sản phẩm của dự án trên lô đất H-TT2 thuộc dự án nêu trên tại Quyết định số 26/2017/QĐ-BPKCTT ngày 23/11/2017 là không đúng khoản 7 Điều 114 BLTTDS năm 2015

Vụ án 5: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị

Chinh với bị đơn ông Hà Ngọc Công

Tại đơn khởi kiện ngày 02/10/2016, bà Chinh yêu cầu ông Công trả tiền vay 2.058.500.000 đồng Ngày 05/10/2016, bà Chinh có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với nhà đất tại số 233-235 Hàn Thuyên, Đà Nẵng của ông Công

Trang 27

Tại Quyết định số 09/2016/QĐ-BPKCTT ngày 06/10/2016, Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC theo Điều

121 BLTTDS năm 2015, nội dung cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC là nhà đất tại số 233 - 235 Hàn Thuyên đứng tên ông Công là không đúng

Vì nhà đất số 233-235 đường Hàn Thuyên không phải là TSĐTC trong vụ án

Trường hợp này, Tòa án cần giải thích cho bà Chinh biết về việc yêu cầu quyết định áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản là không phù hợp

vì tài sản yêu cầu áp dụng các bên không tranh chấp trong vụ án này Nếu bà Chinh

áp dụng BPKCTT phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì Tòa án chấp nhận yêu cầu và ban hành quyết định áp dụng.15

Từ những vụ án nêu trên, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:

Đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC, nếu người yêu cầu không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh người đang chiếm hữu tài sản có hành vi chuyển dịch TSĐTC và có yêu cầu Tòa án xác minh thì Tòa án có cần phải xác minh tại cơ quan có thẩm quyền không?

Và nếu kết quả trả lời xác minh không đảm bảo thời gian 03 ngày làm việc theo điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015 hoặc không đảm bảo 48 tiếng theo quy định tại khoản 3 Điều 133 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có chờ đến khi

có kết quả xác minh mới áp dụng BPKCTT không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự Vậy cùng một tài sản, nhưng đương sự

có quyền yêu cầu áp dụng hai hoặc nhiều BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7 , 8,

10 của Điều 114 BLTTDS năm 2015 Khi đương sự yêu cầu áp dụng đồng thời hai biện pháp “Kê biên TSĐTC” và “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC” đối với cùng một TSĐTC Trường hợp này, TSĐTC đã bị kê biên thì hệ quả tất yếu là tài sản đó cũng không thể chuyển dịch được

Nếu Tòa án chỉ áp dụng một trong hai BPKCTT nêu trên đối với cùng một TSĐTC hoặc áp dụng cả hai BPKCTT “Kê biên TSĐTC” và “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với TSĐTC”, nhưng chỉ buộc người yêu cầu nộp một BPBĐ thì

15

Kết luận của Đoàn Kiểm tra TANDTC tại Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng năm 2019

Trang 28

có vi phạm khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 quy định trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án vụ án đó áp

dụng một hoặc nhiều BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 và vi

phạm quy định tại khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015, “Người yêu cầu Tòa án

áp dụng một trong các BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15, 16 Điều

114 BLTTDS năm 2015 phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của Ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác ”16

Từ phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra kiến nghị giải pháp áp dụng pháp luật như sau:

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn về việc cung cấp, thu thập chứng cứ xác minh sự cần thiết của việc yêu cầu áp dụng BPKCTT nhằm thực hiện đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015 quy định lý do cần phải áp dụng BPKCTT cũng như giải quyết tranh chấp khi ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ 3 có liên quan đến tài sản tranh chấp bị áp dụng BPKCTT Vì không phải trong mọi trường hợp, khi người yêu cầu đã thực hiện nộp BPBĐ, thì quyền lợi của người bị áp dụng và người thứ ba đều được bảo vệ tuyệt đối Mặt khác, cũng ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu của người có quyền

Thứ hai, quy định thời gian Tòa án xử lý giải quyết đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT hợp lý, nhằm thực hiện có hiệu quả vừa mang tính khẩn cấp và tạm thời, tránh việc áp dụng sau đó lại hủy bỏ vì lý do quyết định áp dụng BPKCTT không đúng, không có căn cứ pháp luật

Thứ ba, về quy định BPKCTT chỉ áp dụng đối với TSĐTC tại Điều 121 BLTTDS năm 2015 làm hạn chế khả năng áp dụng với tài sản không tranh chấp để bảo vệ chứng cứ hoặc đảm bảo thi hành án của các biện pháp này

Thứ tư, quy định cụ thể số tiền buộc nộp BPBĐ trong trường hợp đương sự yêu cầu hai hoặc nhiều BPKCTT đối với cùng một tài sản tranh chấp thuộc trường hợp phải thực hiện BPBĐ Do đó, tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT quy

định tại Điều 137 BLTTDS năm 2015 như sau: “Trường hợp thay đổi BPKCTT mà

người yêu cầu không phải thực hiện BPBĐ hoặc phải thực hiện BPBĐ ít hơn BPBĐ

16

Khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015

Trang 29

mà họ đã thực hiện thì Tòa án xem xét quyết định cho họ được nhận lại toàn bộ hoặc một phần khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá mà họ đã gửi trong tài khoản phong tỏa tại ngân hàng theo quyết định của Tòa án, trừ trường

1.3 Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp cấm t ay đổi iện trạn tài sản đan tran c ấp

BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC là việc Tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng bên ngoài, vốn có của tài sản tranh chấp bởi việc thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản tranh chấp Biện pháp này được áp dụng khi có yêu cầu của đương sự Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được quy định tại khoản 8 Điều 114 và Điều 122 BLTTDS năm 2015, cụ thể nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc người giữ TSĐTC có hành vi tháo gỡ, lắp g p, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay thay đổi hiện trạng tài sản đó

Việc thay đổi hiện trạng TSĐTC sẽ dẫn đến làm thay đổi giá trị của tài sản, giá trị của TSĐTC có thể bị giảm đi hoặc tăng lên, điều này gây khó khăn cho Tòa

án trong quá trình giải quyết vụ án và khó khăn cho các đương sự trong quá trình yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình

Khi Tòa án đã quyết định áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC thì người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được giao bảo quản tài sản có nghĩa

vụ bảo quản tài sản, giữ nguyên hiện trạng tài sản Các hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm và các hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó đều phải bị xử

lý theo quy định pháp luật Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT này khi giải quyết

vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án

áp dụng BPKCTT Vì vậy, cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC sẽ giữ nguyên được hiện trạng ban đầu của tài sản, từ đó giúp cho quá trình giải quyết vụ án được đúng

Trang 30

Để làm rõ quyền, căn cứ yêu cầu khi yêu cầu áp dụng biện pháp này cùng tìm hiểu tình huống sau:

Vụ án 6: “Tranh chấp tài sản vợ chồng sau ly hôn” giữa nguyên đơn Văn

Công Sơn, bị đơn Nguyễn Thị Bích Ngọc

Ngày 12/7/2019, ông Sơn gửi đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của

vợ chồng gồm 01 lô đất tái định cư tại khu Đô thị Tây Bắc, quận Liên Chiểu; 01 căn nhà tọa lạc tại số 39B đường Chi Lăng thuộc diện giải tỏa đền bù Cùng ngày, ông Sơn gửi đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT có nội dung yêu cầu bị đơn giữ nguyên hiện trạng tài sản và cung cấp một số giấy tờ liên quan đến tài sản

Cùng ngày 12/7/2019, TAND quận Hải Châu có văn bản thông báo sửa đổi,

bổ sung đơn khởi kiện Đồng thời, có công văn thông báo về việc không áp dụng BPKCTT với lý do 14 giờ 15 phút ngày 12/7/2019 Tòa án nhận được đơn yêu cầu

áp dụng BPKCTT nhưng đơn chưa tuân thủ đúng quy định tại Điều 133 BLTTDS năm 2015, cụ thể là không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu và không thuộc

trường hợp áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015

Nhận xét: Việc xem x t và trả lời không áp dụng BPKCTT theo yêu cầu

ngay trong ngày với lý do các yêu cầu nêu trong đơn không thuộc trường hợp áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 là không đúng, vì đơn có nội dung yêu cầu giữ nguyên hiện trạng tài sản là thuộc trường hợp quy định tại Điều 122 BLTTDS năm 2015 và yêu cầu bị đơn cung cấp giấy tờ liên quan là thuộc trường hợp quy định tại Điều 127 BLTTDS18 Đồng thời, Tòa án không có biên bản làm việc để ghi nhận trình bày của đương sự hoặc biên bản xác minh nhằm xem x t

có hay không tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 là chưa xem x t hết các tình tiết của vụ việc

Vụ án 7: “Tranh chấp QSDĐ", giữa nguyên đơn ông Phạm Văn Tư với bị

đơn là 11 hộ dân tại ngõ 157 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ Lý Thường Kiệt 1 và

2, phường Văn Đẩu, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng

Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2017, ông Tư khởi kiện yêu cầu 11 hộ dân trả lại 4,3m2

đất gia đình ông đã sử dụng làm ngõ đi chung theo Bản vẽ trích lục hiện trạng ngày 12/11/2014

18

Kết luận của Đoàn Kiểm tra TANDTC tại Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng năm 2019

Trang 31

Ngày 16/11/2018, ông Tư có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp, với lý do có một đội thi công chở ống thoát nước, xe cẩu, ngoạm đến đào móc đất trên phần đất ngõ đang có tranh chấp

Tại Quyết định số 1016/2018/QĐ-BPKCTT ngày 20/11/2018, Tòa án áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp tại ngõ 157 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ Lý Thường Kiệt 1 và 2, phường Văn Đẩu, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng là có căn cứ, đúng quy định

Tuy nhiên, sau đó Tòa án ban hành Quyết định số 1025/2018/QĐ-BPKCTT ngày 03/01/2018, quyết định hủy bỏ BPKCTT với căn cứ, sau khi xem x t thực tế diện tích đất tranh chấp đã có vị trí mốc giới cụ thể theo trích lục hiện trạng sử dụng đất ngày 12/11/2014 Vì vậy việc thi công công trình ngõ đi số 157 đường Nguyễn Lương Bằng nêu trên không làm thay đổi vị trí, mốc giới, diện tích đất đang có tranh chấp là không đúng

Như vậy, việc Tòa án ban hành quyết định hủy bỏ BPKCTT là không phù hợp, vì không thuộc các trường hợp hủy bỏ quy định tại Điều 138 BLTTDS năm

2015, như: Người yêu cầu áp dụng BPKCTT đề nghị hủy bỏ; Người phải thi hành thực hiện các biện pháp khác thay thế hoặc có người khác thực hiện thay người có nghĩa vụ; nghĩa vụ chấm dứt theo quy định; vụ án được đình chỉ; quyết định áp dụng BPKCTT không đúng; căn cứ áp dụng không còn; vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Các trường hợp Tòa

án trả lại đơn khởi kiện.19

Từ phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy có bất cập như sau

Yêu cầu đương sự xác định cụ thể hiện trạng vào thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT là vấn đề không đơn giản, điều này cũng là vấn đề khó thực hiện đối với trình độ chuyên môn của cán bộ Tòa án

Mặt khác, với thời gian xem xét xử lý đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT chỉ trong khoảng thời gian 03 ngày làm việc theo điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015 hoặc 48 tiếng theo quy định tại khoản 3 Điều 133 BLTTDS năm 2015, thì việc xác định hiện trạng cụ thể là điều khó khả thi trong thực tiễn, khi mà Điều

122 BLTTDS quy định khá chi tiết, đó là, cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC được áp

19

Khoản 1 Điều 138 BLTTDS năm 2015

Trang 32

dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ TSĐTC có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng đó”

Như đã đề cập phần trên, với quy định Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng, đối với thiệt hại của tài sản là bất động sản là điều khó khăn,

khi áp dụng trong thực tiễn

Từ n ữn bất cập nêu trên, tác iả kiến n iải p áp áp dụn p áp luật n ƣ sau:

Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm có Nghị quyết hướng dẫn về cách tính tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh khi áp dụng BPKCTT theo loại tài sản gồm động sản và bất động sản

Ngoài ra, cần quy định cụ thể thời gian Tòa án xử lý, giải quyết đơn yêu cầu

áp dụng BPKCTT hợp lý, nhằm thực hiện có hiệu quả vừa mang tính khẩn cấp và tạm thời, tránh việc áp dụng sau đó lại hủy bỏ vì lý do quyết định áp dụng BPKCTT không đúng, không có căn cứ pháp luật

Tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC Tòa án

chỉ chấp nhận khi: “Để thu thập, bảo vệ chứng cứ liên quan trực tiếp đến việc

giải quyết vụ án do Tòa án xác định trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy,

20

Điểm b khoản 1 Điều 2 Dự thảo (lần 3) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC

Trang 33

Kết luận C ƣơn 1

Quy định của BLTTDS năm 2015 liên quan đến việc buộc thực hiện BPBĐ

là để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có quyền yêu cầu Các nhà lập pháp đã xây dựng trong BLTTDS năm 2015 những quy định về BPBĐ buộc người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá bằng tiền vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng Đây là điểm tiến bộ của BLTTDS năm 2015 so với các văn bản pháp luật trước đó

Thực tiễn áp dụng điều luật này cho thấy bất cập trong quá trình áp dụng, đó

là, mục đích của BPKCTT nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự, nhưng không phải mọi chủ thể đều có điều kiện kinh tế để thực hiện quy định về buộc thực hiện BPBĐ khi áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền lợi cho chính người yêu cầu

Do đó, để đảm bảo cho mọi người dân có điều kiện tiếp cận công lý nhằm thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi có tranh chấp, kiến nghị TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về cách tính khi buộc thực hiện BPBĐ để các Tòa án áp dụng thống nhất, công bằng, phù hợp quy định của luật trong quá trình giải quyết vụ án, tránh vận dụng tùy nghi, đánh giá thiệt hại dựa trên nhận định chủ quan của Thẩm phán

Về thời hạn thực hiện BPBĐ: Tại Mục 9 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thời gian thực hiện BPBĐ tại phiên tòa: "Nếu tại phiên tòa thì việc thực hiện BPBĐ được bắt đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc thực hiện BPBĐ, nhưng phải xuất trình chứng

cứ đã thực hiện xong BPBĐ trước khi HĐXX vào phòng nghị án để nghị án" Điểm

b khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015 quy định “Trường hợp HĐXX nhận đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT tại phiên tòa thì HĐXX xem x t, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án Nếu chấp nhận thì HĐXX ra quyết định áp dụng BPKCTT ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong BPBĐ quy định tại Điều 136 của Bộ luật này Việc thực hiện BPBĐ được bắt đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc thực hiện BPBĐ, nhưng người yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong BPBĐ trước khi HĐXX vào phòng nghị án”

Trang 34

Có thể thấy đây là quy định khó thực hiện, bởi lẽ, tại thời điểm phiên tòa diễn

ra người yêu cầu áp dụng BPKCTT không thể tự ý rời khỏi phiên tòa để thực hiện

BPBĐ, cũng khó có thể nhờ người thân thực hiện BPBĐ thay họ và đem chứng cứ

đã thực hiện BPBĐ đến phòng xử Do đó, cần quy định khoảng thời gian hợp lý

nhằm đảm bảo cho đương sự có điều kiện thực hiện được quy định này

Trang 35

CHƯƠNG 2 BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHONG TỎA 2.1 Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp p on tỏa tài k oản tại n ân àn

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng là trường hợp Tòa án buộc ngân hàng không cho đương sự chuyển dịch tài sản mà họ có trong tài khoản tại ngân hàng trước khi có bản án, hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc giải quyết vụ án đó Sau khi tài khoản bị phong tỏa thì mọi giao dịch liên quan đến tài sản bị phong tỏa đều vô hiệu Người bị yêu cầu sẽ không thể tẩu tán nếu như chưa thực hiện xong nghĩa vụ đối với bên có quyền hoặc chưa có quyết định khác của Tòa án Sau khi có quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng có hiệu lực thì ngân hàng có nghĩa vụ chấp hành quyết định đó của Tòa án, tức là ngừng ngay mọi giao dịch liên quan đến tài sản đang bị phong tỏa trong tài khoản của người có nghĩa vụ

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng là biện pháp khẩn cấp tạm thời quan trọng, được quy định tại khoản 10 Điều 114 BLTTDS năm 2015 Điều kiện áp dụng được quy định tại Điều 124 BLTTDS năm 2015 “Trong quá trình giải quyết vụ án có căn

cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo cho việc thi hành án” Dựa trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, biện pháp này chỉ được Tòa án áp dụng khi đương sự có yêu cầu

Khác với các BPKCTT đã được phân tích trước đó, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng được áp dụng đối với tất cả các tài sản của người có nghĩa vụ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người đó, đảm bảo khả năng thi hành án chứ không chỉ

áp dụng riêng đối với các TSĐTC như các BPKCTT kê biên, cấm chuyển dịch quyền, cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là dựa trên tính chất của các loại tài sản khác nhau, các tài sản có trong tài khoản chủ yếu

là tiền mặt, cũng có thể là tài sản khác có giá trị lớn như đá quý, kim khí quý khác,

là tài sản nhỏ, gọn nhưng có giá trị cao và việc tẩu tán loại tài sản này có thể được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng Do vậy, với việc quy định BPKCTT phong tỏa tài khoản đã thể hiện được tính khẩn cấp của vụ việc đang giải quyết, thể hiện được tính cấp bách, kịp thời ngăn chặn được hành vi tẩu tán tài sản xảy ra

Trang 36

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự hiện nay cho thấy, so với các BPKCTT khác thì biện pháp phong toả tài khoản tại ngân hàng được đương sự yêu cầu áp dụng khá nhiều Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế hiện nay khi mà phần lớn các giao dịch trong xã hội được thực hiện thông qua việc chuyển khoản từ tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, thì việc áp dụng BPKCTT phong tỏa tài khoản có tác dụng hữu hiệu trong việc ngăn chặn đương sự tẩu tán tài sản của họ có trong tài khoản

Để thấy rõ hơn vấn đề này, tác giả xin được viện dẫn vụ án sau:

Vụ án 8: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và hợp đồng vay tài

sản” giữa nguyên đơn ông Phạm Lục Huy và bà Nguyễn Thị Bé Hai, bị đơn bà Huỳnh Thị Mỹ Linh tại Bản án số 38/2017/DS-ST ngày 13/9/2017 của TAND Tp Long Xuyên

Tóm tắt nội dung vụ án: Ông Phạm Lục Huy và bà Nguyễn Thị Bé Hai yêu cầu bà Huỳnh Thị Mỹ Linh trả 3.000.000.000 đồng tiền nợ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và 1.600.000.000 đồng nợ vay

Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phản tố yêu cầu

bị đơn trả 350.000.000 đồng

Theo yêu cầu của ông Huy Tòa án buộc ông Huy nộp khoản bảo đảm 400.000.000 đồng và áp dụng BPKCTT phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định tại khoản 11 Điều 114 và Điều 126 BLTTDS năm 2015 đối với tài sản là QSDĐ của bà Linh để đảm bảo cho việc thi hành án Sau đó, theo yêu cầu của bà Linh, Tòa án ban hành Quyết định thay đổi BPKCTT số: 01/2016/QĐ-BPKCTT ngày 26/7/2016 phong tỏa tài khoản của bà Linh theo quy định tại khoản

10 Điều 114 và Điều 124 BLTTDS năm 2015 đối với số tiền gửi tiết kiệm 4.600.000.000 đồng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang

Bản án sơ thẩm quyết định: Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ Linh trả cho ông Phạm

Lục Huy và bà Nguyễn Thị B Hai 1.600.000.000 đồng Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Linh đối với ông Huy, bà Bé Hai về số tiền 350.000.000 đồng

Duy trì một phần biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản của bà Huỳnh Thị Mỹ Linh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang đối với số tiền 1.600.000.000 đồng trong tổng số tiền 4.600.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AD00000696818 ngày

Trang 37

25/7/2016, mã khách hàng 6700-170205069, số tài khoản là 670061551967 theo Quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2016/QĐ-BPKCTT ngày 26/7/2016 của Tòa án Long Xuyên

Hủy bỏ một phần biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản của bà Linh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang đối với số tiền 3.000.000.000 đồng trong tổng số tiền 4.600.000.000 đồng

Ông Huy đã nhận lại 400.000.000 đồng theo Quyết định hủy bỏ một phần biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2017/QĐ-BPKCTT, ngày 13/9/2017 của Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên21

Bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, với lý do: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng về thành phần HĐXX, về việc ban hành Quyết định hủy bỏ một phần BPKCTT

số 03/2017/QĐ-BPKCTT, ngày 13/9/2017 và về việc HĐXX giải quyết khiếu nại của nguyên đơn sau khi tuyên án hủy bỏ một phần quyết định áp dụng BPKCTT

Cụ thể, cấp phúc thẩm nhận định: Phiên tòa kết thúc vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 13/9/2017, đến 13 giờ 30 phút cùng ngày TAND thành phố Long Xuyên nhận đơn khiếu nại của nguyên đơn khiếu nại việc thay đổi hủy bỏ một phần Quyết định

áp dụng BPKCTT của HĐXX, nhưng sau đó HĐXX quay trở lại Hội ý lúc 14 giờ

30 phút ngày 13/9/2017 để giải quyết đơn khiếu nại là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 141 BLTTDS năm 2015, đó là HĐXX chỉ giải quyết khiếu nại, kiến nghị tại phiên tòa

Ngoài ra, tại nội dung của bản án gốc có nhận định việc thay đổi một phần BPKCTT từ việc phong tỏa tài khoản của bà Linh là 4,6 tỷ đồng còn 1,6 tỷ đồng, nên hủy bỏ một phần đối với số tiền 3 tỷ đồng của Quyết định thay đổi BPKCTT số 01/2016/QĐ-BPKCTT ngày 26/7/2016 của TAND thành phố Long Xuyên và trong biên bản nghị án có nêu phần này, nhưng trong phần quyết định của bản án gốc lại không có quyết định phần này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Mặt khác, cũng tại phần quyết định của bản án gốc có tuyên “Duy trì một phần BPKCTT phong tỏa tài khoản của bà Huỳnh Thị Mỹ Linh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang đối với số tiền 1.600.000.000 đồng trong số tiền 4.600.000.000 đồng theo Sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AD00000696818 ngày 25/7/2016, mã khách hàng là 6700-170205069, số tài khoản là

21

Bản án số 38/2017/DS-ST ngày 13/9/2017 của TAND thành phố Long Xuyên

Trang 38

670061551967 theo Quyết định thay đổi BPKCTT số: 01/2016/QĐ-BPKCTT ngày 26/7/2016 của TAND thành phố Long Xuyên” là không chính xác và không đúng Bởi vì, quyết định này không đề cập đến số tiền 1.600.000.000 đồng tiếp tục duy trì

và cũng đã bị quyết định số 03/2017/QĐ-BPKCTT ngày 13/9/2017 của chính HĐXX trong vụ án thay thế Ngoài ra cấp sơ thẩm còn thiếu sót trong việc thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ, mà cấp sơ thẩm không thể khắc phục được22

Sau khi hủy án, cấp sơ thẩm xét xử lại quyết định: Buộc bà Mỹ Linh trả cho

ông Huy và bà Bé Hai 4.851.600.000 đồng Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Mỹ Linh buộc ông Huy và bà Bé Hai trả 350.000.000 đồng

Tiếp tục duy trì số tiền 1.600.000.000 đồng trong tài khoản 6700601551967,

do bà Mỹ Linh đứng tên tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam theo Sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AD00000696818, ngày 25/7/2016, mã khách hàng là 6700-170205069 để bảo đảm cho việc thi hành án23

Quan điểm của tác giả về các quyết định trên của Hội đồng xét xử:

Lý do Tòa án ban hành Quyết định thay đổi BPKCTT số: BPKCTT ngày 26/7/2016 từ biện pháp phong tỏa tài sản là QSDĐ của bà Linh để đảm bảo cho việc thi hành án thành BPKCTT phong tỏa tài khoản của bà Linh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang với

01/2016/QĐ-số tiền gửi tiết kiệm là 4.600.000.000đ, là có căn cứ phù hợp quy định tại Điều 137 BLTTDS năm 2015

Tuy nhiên, đối với quyết định của HĐXX hủy bỏ một phần quyết định khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản của bà Linh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh An Giang đối với số tiền 3.000.000.000 đồng trong số tiền 4.600.000.000 đồng Bà Linh được nhận lại 3.000.000.000 đồng, ông Huy nhận lại 400.000.000 đồng theo Quyết định hủy bỏ một phần BPKCTT số 03/2017/QĐ-BPKCTT, ngày 13/9/2017

Đối chiếu quy định tại Điều 138 BLTTDS năm 2015 thì quyết định hủy bỏ một phần quyết định khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản của HĐXX là không phù hợp Bởi lẽ, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay24, và mục đích của BPKCTT trong vụ án trên là để đảm bảo việc thi hành án

Trang 39

Do các đương sự trong vụ án trên không thống nhất về nội dung giải quyết tranh chấp, bị đơn không thống nhất yêu cầu khởi kiện và có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn Nên sau khi HĐXX hủy bỏ một phần quyết định khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản của bị đơn đối với số tiền 3.000.000.000 đồng trong tổng số tiền bị phong tỏa 4.600.000.000 đồng, thì liền sau đó bà Linh đã nhận lại 3.000.000.000 đồng

Tuy nhiên, theo bản án Tòa án Long Xuyên xét xử sơ thẩm lại, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Mỹ Linh trả cho ông Huy và bà Bé Hai 4.851.600.000 đồng

Như vậy, số tiền 1.600.000.000 đồng còn lại trong tài khoản của bà Linh bị phong tỏa không đủ để bảo đảm cho việc thi hành án của bị đơn đối với nguyên đơn, đồng nghĩa với việc yêu cầu của nguyên đơn không được bảo đảm ở giai đoạn thi hành án Như vậy, rõ ràng trong trường hợp này mục đích của BPKCTT để đảm bảo việc thi hành án của bà Linh cho ông Huy và bà Bé Hai trong vụ án trên không mang lại hiệu quả tuyệt đối, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của ông Huy và bà

Bé Hai do quyết định hủy bỏ một phần BPKCTT mang lại Vì thực tế, bà Linh không còn tài sản nào khác để thi hành án cho ông Huy và bà Bé Hai, khi mà bà Linh đang bị tạm giam trong vụ án khác

Mặt khác, theo nội dung án sơ thẩm lần 1 nhận định thì quyết định của HĐXX cho ông Huy nhận lại 400.000.000 đồng theo quyết định buộc thực hiện BPBĐ cũng không phù hợp Bởi lẽ, HĐXX nhận định không có căn cứ để duy trì quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của nguyên đơn, nên hủy bỏ một phần của quyết định yêu cầu phong tỏa tài khoản Điều này gián tiếp khẳng định nguyên đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT là không có căn cứ, không đúng quy định nhưng lại cho ông Huy là người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại số tiền buộc thực hiện BPBĐ là không phù hợp mục đích của quy định buộc thực hiện BPBĐ được quy định tại khoản 1 Điều

136 BLTTDS năm 2015 Vì, theo diễn biến vụ án trên nếu bà Linh chứng minh được thiệt hại thực tế xảy ra bởi quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của ông Huy và

bà Linh yêu cầu ông Huy bồi thường thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng, thì quyền lợi của bà Linh chắc chắn không được bảo đảm

Về nhận định của HĐXX phúc thẩm đối với việc HĐXX sơ thẩm giải quyết khiếu nại của nguyên đơn khi hủy bỏ một phần quyết định khẩn cấp tạm thời là có

cơ sở Bởi căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 141 BLTTDS năm 2015 thì tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của HĐXX Quyết định

Trang 40

giải quyết khiếu nại, kiến nghị của HĐXX là quyết định cuối cùng25 Do đó, việc HĐXX sơ thẩm sau khi kết thúc phiên tòa đã trở lại hội ý vào lúc 14 giờ 30 phút cùng ngày 13/9/2017, tức là gián đoạn một khoảng thời gian để giải quyết đơn khiếu nại là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 141 BLTTDS năm 2015, như đã viện dẫn trên

Từ vụ án nêu trên, tác giả nhận thấy có bất cập như sau

Theo quy định tại khoản 2 Điều 138 BLTTDS năm 2015 thì trường hợp hủy

bỏ BPKCTT, Tòa án phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại chứng từ bảo lãnh, hoặc khoản tiền, kim khí quý, đá quý mà người yêu cầu

đã nộp BPBĐ nếu thuộc trường hợp người yêu cầu không phải bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015

Vấn đề đặt ra, đó là, nếu duy trì hoặc hủy bỏ một phần BPKCTT như vụ án trên thì có cho người yêu cầu được nhận lại khoản tiền, giá trị mà họ đã nộp BPBĐ không Và việc cho người nộp BPBĐ được nhận lại giá trị mà họ đã nộp BPBĐ dù

lý do họ yêu cầu không có căn cứ (theo nhận định của án sơ thẩm lần 1) và khi có thiệt hại xảy ra, vấn đề bồi thường cho người bị thiệt hại được đảm bảo bằng nguồn tài chính nào khi mà quy định mục đích của BPBĐ không được duy trì

Mặt khác, Điều 139 BLTTDS năm 2015 quy định quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay Như vậy, trong trường hợp trên sau khi bị hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định khẩn cấp tạm thời, người bị yêu cầu

đã nhận lại số tiền không còn bị phong tỏa như trường hợp cụ thể vụ án trên Nếu người phải thi hành án không còn tài sản nào khác để thi hành án thì quyền lợi của người được thi hành án sẽ không được bảo đảm, mặc dù trước đó họ đã yêu cầu áp dụng BPKCTT là có căn cứ và thực hiện nghĩa vụ của người yêu cầu đúng quy định

Quy định buộc thực hiện BPBĐ tại Điều 136 BLTTDS năm 2015 là một điều luật quy định riêng biệt trong chương VIII các BPKCTT và Điều 139 BLTTDS năm

2015 chỉ quy định hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT, mà không đề cập đến hiệu lực của BPBĐ

Trong khi đó theo khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015 quy định người yêu cầu áp dụng BPKCTT thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn nộp BPBĐ là 48 giờ kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu, còn

25

Khoản 3 Điều 141 BLTTDS năm 2015

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w