1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyễn tắc đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm

79 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 899,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế hiện nay đã có nhiều thay đổi với một số văn bản pháp luật dân sự mới được ban hành cùng sự vận động không ngừng của thực tiễn đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứu trực tiếp

Trang 1

NGUYỄN THỊ LUYÊ

UYÊ TẮC BẢO ẢM QUYỀN TRANH TỤNG

CỦ ƢƠ SỰ TRO UÁ TRÌ ẢI QUYẾT

VỤ Á DÂ SỰ T TÒ Á Ấ SƠ T ẨM

LUẬ VĂ T SĨ LUẬT HỌC

TP.H -2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ LUYÊ

UYÊ TẮC BẢO ẢM QUYỀN TRANH TỤNG

CỦ ƢƠ SỰ TRO UÁ TRÌ ẢI QUYẾT

Trang 3

LỜ O

Người viết xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính người viết, các số liệu, các nội dung hoặc tài liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng, các phân tích, đánh giá hoặc phát hiện trong luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của chính người viết

TÁ Ả

Nguyễn Thị Luyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜ O

D Ụ Á Ữ V ẾT TẮT

Ụ LỤ

Trang

LỜ Ở ẦU 6

1.Tính cấp thiết của đề tài 6

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 7

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 9

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5.Phương pháp nghiên cứu 10

6.Kết cấu của luận văn 11

ƢƠ 1: LÝ LUẬ VỀ UYÊ TẮ BẢO Ả UYỀ TRANH TỤ Ủ ƢƠ SỰ TRO Ả UYẾT VỤ Á DÂ SỰ T TÒ Á Ấ SƠ T Ẩ 12

1.1.Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 12

1.1.1 Khái niệm tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 12

1.1.2 Đặc điểm của tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 15

1.1.3 Các mô hình tố tụng trên thế giới trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 18

1.1.4 Chủ thể của hoạt động tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 20

Trang 6

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động tranh tụng trong giải quyết vụ án

dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 22

1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ

án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 24

1.2.1 Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự

trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 24

1.2.2 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong

giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 25

1.2.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh

tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp

sơ thẩm 28

1.2.4 Cơ chế bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ

án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 32

1.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền

tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 34

ẾT LUẬ ƢƠ 1 44

ƢƠ 2 UYỀ TR TỤ Ủ ƢƠ SỰ TRO Ả UYẾT VỤ Á DÂ SỰ T TÒ Á Â DÂ Ấ SỞ T Ẩ TRÊ Ị B TỈ Ă LĂ V Ế Ị O T Ệ 46

2.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 46

2.1.1 Trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm trong việc trong

việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự 47

Trang 7

2.1.2 Quyền được tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ án dân sự

của đương sự 53

2.1.3 Quyền được đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự 59

2.1.4 Quyền được đối chất; quyền được tranh luận tại phiên tòa và đưa ra các lập luận để bảo vệ quyền lợi của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự 60

2.1.5 Cơ chế để bảo bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 64

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm 66

ẾT LUẬ ƢƠ 2 72

ẾT LUẬ 73

D Ụ T L ỆU T ẢO 75

Trang 8

LỜI MỞ ẦU

1 Tín cấp thiết của đề t i

Công cuộc hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay đang được tiến hành ngày một sâu rộng Nước ta đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ vào các sân chơi quốc tế như: WTO, APEC, ASEAN, TPP… Trong quá trình hợp tác quốc tế, hệ thống pháp luật và thể chế tư pháp Việt Nam cần phải có những điều chỉnh, sửa đổi, hoàn thiện để bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc pháp

lý quốc tế, các cam kết đa quốc gia, tạo động lực thúc đẩy tự do thương mại

và đầu tư quốc tế Trong đó, đặc biệt việc tăng cường hoạt động tranh tụng là yêu cầu tất yếu trong cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập Việc Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vừa qua đã ghi nhận nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử và cụ thể hóa nguyên tắc này bằng việc sửa đổi, bổ sung một loạt các quy định nhằm nâng cao và bảo đảm yếu tố tranh tụng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đề ra trong bối cảnh hội nhập hiện nay

Quyền tranh tụng của đương sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự vì đối tượng của TTDS thường là quan hệ quyền, nghĩa vụ có thể được định đoạt tự do giữa các bên đương sự Sự tồn tại hay không tồn tại của quan hệ về quyền, nghĩa vụ này được xác định như là kết quả của vụ kiện giữa các đương sự, Nhà nước không có quyền lợi trực tiếp

ở đây nên việc quyết định nó có tồn tại hay không trước tiên phải được dành cho các bên đương sự Tranh tụng là con đường ngắn nhất để tìm ra sự thật và còn là việc các bên sẽ thỏa mãn hơn với kết quả giải quyết vụ việc dân sự

Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành còn có các quy định đan xen giữa nghĩa vụ chứng minh của đương sự và trách nhiệm giải quyết vụ án của tòa án Do vậy, rất nhiều bản án của tòa án sơ thẩm, phúc thẩm bị hủy chỉ

vì tòa án chưa làm hết trách nhiệm thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án được toàn diện, điều này vô hình chung làm cho tòa án trở thành chủ thể

Trang 9

chính trong quá trình chứng minh vụ án, còn đương sự chỉ là người thực hiện theo yêu cầu thu thập chứng cứ của tòa án Vì thế, chất lượng tranh tụng tại tòa án chỉ mang tính thủ tục, chưa đảm bảo được bản chất thực sự của việc tranh tụng tại phiên tòa dân sự Hiện chưa có những hoạt động cụ thể, quyết liệt của các cơ quan có thẩm quyền nhằm xây dựng một bộ thủ tục tranh tụng hoàn chỉnh

Những người tham gia tố tụng dân sự chưa có kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng nên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập khi thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của từng chủ thể khi tham gia vào hoạt động tố tụng Thói quen và kinh nghiệm giải quyết vụ án theo một quy trình mang tính thẩm vấn trước đây vẫn còn ảnh hưởng đến định hướng giải quyết vụ án và là lối mòn tư duy của người tiến hành tố tụng Việc nêu cao tinh thần trách nhiệm, thượng tôn công

lý, những nguyên tắc nghề nghiệp bị vi phạm nghiêm trọng cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư khi tổ chức các phiên tòa mang bản chất tranh tụng

Từ những lý do khiến tôi lựa chọn đề tài “Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học của mình nhằm hoàn thiện

không chỉ về mặt lý luận cũng như đòi hỏi về mặt thực tiễn hiện nay

2 Tìn ìn n iên cứu đề t i

Đề tài này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà luật học khai thác trên nhiều góc độ khác nhau Trong đó có một số đề tài đáng chú ý như:

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà với đề tài

“Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đại học Luật Hà Nội, năm 2002 Nội dung luận văn tác giả đã phân tích

nội dung của pháp luật liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa dưới góc độ lý luận và nêu ra những vướng mắc thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy nhiên, tại

Trang 10

thời điểm nghiên cứu Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự chưa được ban hành, các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực đề tài nghiên cứu cũng chỉ nêu lên nội dung tranh tụng tại phiên tòa không đề cập đến nội dung tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án tại tòa án

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Trịnh Văn Chung với đề tài

“Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Đại học Quốc gia

Hà Nội, năm 2016 Đề tài luận văn đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành chủ yếu ở trong và trước giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự Những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của các quy định của pháp luật liên quan đến tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam Đề tài không tập trung nghiên cứu các cơ chế để bảo đảm nguyên tắc quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa

án cấp sơ thẩm

- Dưới dạng bài viết trên báo, tạp chí luật có: Bài viết Một số vấn đề

về tranh tụng trong tố tụng dân sự của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà trên tạp chí

Nhà nước và Pháp luật Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 2/2010 Bài viết đã

đề cập đến khái niệm, đặc điểm, nội dung tranh tụng cũng như các chủ thể tham gia tranh tụng trong tố tụng dân sự, chưa đề cập đến nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án

Một số bài viết khác như: Bài viết Nghiên cứu bổ sung nguyên

tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng dân sự của tác giả Lại Văn Trình trên

Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 30 số 4 năm 2014;

Bài viết “ Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự” của TS Mai Bộ đăng

trên trang Web của Tòa án nhân dân tối cao năm 2014… Ngoài các công trình nêu trên còn có các nghiên cứu gián tiếp khác liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự nhưng có thể thấy, vấn đề pháp luật nguyên tắc

Trang 11

tranh tụng trong tố tụng dân sự đến nay chưa có một công trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Các công trình nghiên cứu kể trên chỉ dừng lại ở mức độ đề cập gián tiếp, chưa toàn diện về các vấn đề pháp lý liên quan đến Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm Thực tế hiện nay đã có nhiều thay đổi với một số văn bản pháp luật dân sự mới được ban hành cùng sự vận động không ngừng của thực tiễn đòi hỏi cần

có một công trình nghiên cứu trực tiếp về Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

3 Mục đíc v n iệm vụ n iên cứu đề t i

Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, có

hệ thống một số vấn đề lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, nội dung các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về nguyên tắc Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Từ mục đích đặt ra như trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm;

Thứ hai, phân tích và làm rõ các nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành;

Trang 12

Thứ ba, khảo sát thực tiễn thực hiện nguyên tắc này tại Tòa án nhân

dân hai cấp tỉnh Đăk Lăk Qua đó phát hiện những tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện nguyên tắc Tìm ra nguyên nhân làm cơ sở đề xuất các giải pháp khắc phục

4 i tƣợn v p ạm vi n iên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài là những vấn đề lý luận chung về

nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, các quy định hiện hành của pháp luật tố tụng dân sự về nguyên tắc này và thực tiễn thực hiện nguyên tắc trong giải quyết các vụ việc dân sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng Trong

giới hạn nghiên cứu đề tài của một luận văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự như khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc, cơ sở của việc quy định nguyên tắc, mối liên hệ của nguyên tắc này với các nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự và các nội dung cơ bản của nguyên tắc Thực tiễn thực hiện nguyên tắc tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đăk Lăk trong thời gian

5 năm trở lại đây

5 ƣơn p áp n iên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày khóa luận, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phân tích, tổng hợp và so sánh

Phương pháp so sánh được áp dụng để tìm ra sự tương đồng cũng như khác biệt giữa các hình thức tranh tụng trong hệ thống pháp luật trên thế giới cũng sự quy định của pháp luật Việt Nam về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm tại Chương 1 Đồng thời, phương pháp so sánh cũng được sử dụng tại Chương 2 trong quá trình phân tích và đánh giá

Trang 13

các quy định của pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng của đương sự trong việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Phương pháp phân tích được áp dụng đối với các trường hợp cần làm

rõ khái niệm, vai trò và các đặc trưng của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tại Chương 1 Bên cạnh

đó, phương pháp phân tích tác giả cũng sử dụng để phân tích các quy định hiện tại của pháp luật Việt Nam về những nội dung bất cập của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại Tòa án nhân dân cấp

sơ thẩm được nêu tại Chương 2

Phương pháp tổng hợp áp dụng sau những vấn đề lớn đã được triển khai trong các mục, chương để đưa ra kết luận, đánh giá cho từng phần của Luận văn và phần kết luận của Luận văn để nêu ra một cái nhìn tổng quát về toàn bộ các nội dung được phân tích và đánh giá trong toàn bộ Luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với 2 chương như sau:

ƣơn 1: Lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương

sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

ƣơn 2: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng

của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk và kiến nghị hoàn thiện

Trang 14

Theo các nhà nghiên cứu, tố tụng tranh tụng xuất hiện từ rất sớm cùng

sự xuất hiện của Tòa án nhà nước ở Châu Âu Loại hình tố tụng này được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục đáp liên tục”.1

Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và cho đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ

Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng có

nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải” 2

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì

tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng” 3 , tại Từ điển luật học thì tranh tụng được

hiểu: “là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có

quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập” 4 Cách hiểu này đã thể hiện được một số đặc trưng của tranh

1

Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng Kinh nghiệm

của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà nội, tr.2

2 Thiều Chửu (1993), Hán - Việt tự điển, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, tr.621

3

Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất

bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.1686

4

Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), “Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Thông tin

khoa học pháp lý, Hà Nội, tr.807-808

Trang 15

tụng như: “là hoạt động tố tụng của các bên tham gia tố tụng”; “có quyền bình đẳng với nhau để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập” Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với những hoạt động tố tụng khác và cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của một chủ thể là Tòa án Xung quanh khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự còn có nhiều quan

điểm khác, ví dụ như:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “tranh tụng trong tố tụng dân sự được

hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà

án xác định sự thật khách quan của vụ án” 5

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa

ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự”.6

Quan điểm thứ ba cho rằng: “Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá

trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng

cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương

sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định

về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa

sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội

Trang 16

đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia

là có căn cứ và hợp pháp Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên đương

sự, Hội đồng xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự” 7

Nghiên cứu các quan điểm nêu trên, tác giả theo quan điểm thứ ba bởi

lẽ nếu hiểu tranh tụng trong tố tụng dân sự như quan điểm thứ nhất thì chưa

cụ thể vì mới chỉ coi tranh tụng là một phương thức (hay phương pháp) tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình; Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, theo cách hiểu này thì chưa xác định được những đặc điểm của tranh tụng để phân biệt với các phương pháp tố tụng khác Đối với quan điểm thứ hai, đã chỉ ra được những đặc điểm của tranh tụng nhưng lại không nêu được bản chất của tranh tụng, đó là tranh tụng chỉ diễn ra trong quá trình giải quyết vụ án dân sự chứ không có trong quá trình giải quyết việc dân sự; hoạt động tranh tụng phải được chứng kiến, ghi nhận bởi Tòa án Đối với quan điểm thứ ba, đã đưa ra hai góc nhìn khác nhau về tranh tụng theo nghĩa

“rộng” và “hẹp” Tuy nhiên, tranh tụng không đồng nghĩa với quá trình giải quyết vụ án mà là hoạt động được diễn ra trong quá trình đó

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tranh tụng trong tố tụng dân sự

như sau: “Tranh tụng trong tố tụng dân sự là phương pháp giải quyết tranh

chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương

sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”

7

Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Tranh tụng trong tố tụng dân

sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp, TS Nguyễn Thị Thu Hà chủ nhiệm Đề tài, tr.6

Trang 17

Cũng cần phải phân biệt giữa tranh tụng và tranh luận Tranh luận có xuất phát điểm từ tranh chấp, mâu thuẫn, tranh luận là cốt lõi và sự biểu hiện tập trung của tranh tụng, nếu không có tranh luận thì sẽ không có tranh tụng hoặc tranh tụng sẽ không được biểu hiện rõ nét nhưng tranh luận chưa phải là tranh tụng Tranh tụng là một tổng thể gồm cả tranh luận và quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; quyền được biết chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý áp dụng của phía đối lập, quyền được hỏi những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm cho việc tranh luận Như vậy, trong một số trường hợp (như thủ tục giải quyết việc dân sự, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng ) vì không có tranh chấp giữa các bên đương sự với nhau nên không có quá trình tranh tụng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, hai loại chủ thể có liên quan chủ yếu tới việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam là đương sự (chủ thể tham gia tranh tụng) và Tòa án (chủ thể bảo đảm tranh tụng)

1.1.2 Đặc điểm của tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định nhiều vấn đề trong việc giải quyết vụ án dân sự như nghĩa vụ chứng minh của đương sự, nguyên tắc tranh tụng; quyền tự định đoạt và quyền quyết định của đương sự và mỗi một nội dung này có đặc điểm riêng Tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự cũng có những đặc điểm riêng biệt của nó, những đặc điểm đó thể hiện cụ thể như sau:

- Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án

không có nghĩa vụ điều tra Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ

thể của quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy,

họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề, chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình,

Trang 18

đồng thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị đơn liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Tòa án không có nghĩa vụ phải tiến hành điều tra bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì sẽ không bảo đảm sự khách quan,

vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án, không tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự, gây nên tâm lý ỷ lại của các đương sự

- Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng

tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định Pháp luật tố tụng

dân sự và hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án nói chung và các chủ thể tham gia tố tụng dân sự nói riêng là hai mặt không thể tách rời của một quy trình tố tụng Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng dân sự,

vì vậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định Việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích để cho việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức

- Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai,

trực tiếp và bằng lời nói Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình

bày các yêu cầu, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói Việc các bên đương sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án Những chứng cứ, tài liệu nào đó nếu không

Trang 19

được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không được dùng làm căn

cứ cho quyết định của Tòa án

- Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Để

có thể phán quyết một bản án công minh, làm sáng tỏ được các tình tiết cần chứng minh của vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì các đương sự phải được tranh luận về chứng cứ, khẳng định giá trị chứng minh của chứng cứ mà mình xuất trình trước Hội đồng xét xử, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án nhằm mục đích để Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác nhất về việc giải quyết vụ án

- Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong tố tụng dân sự đòi hỏi Tòa án phải khách quan, thái độ vô tư và công minh đối với cả hai bên Tòa án có vai trò quan trọng và quyết định trong việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tranh tụng và giải quyết đúng đắn vụ kiện Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa vai trò chủ động thuộc về các luật sư

là người dẫn dắt việc nêu câu hỏi và kiểm tra nhân chứng, quyết định tiến trình và nhịp độ phiên tòa Chức năng chủ yếu của Thẩm phán là người trọng tài “cầm cân công lý” để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng, duy trì trật

tự phiên tòa và quá trình tranh tụng giữa hai bên, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của các đương sự, các căn cứ thực tiễn và pháp lý của các yêu cầu đó cũng như các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật dân sự mà từ đó phát sinh tranh chấp giữa các đương sự Tòa án có quyền thẩm vấn các bên hoặc các nhân chứng trong trường hợp đặc biệt cần thiết để làm rõ thêm lời trình bày của họ

Trang 20

1.1.3 Các mô hình tố tụng trên thế giới trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Mỗi hệ thống tố tụng lại có phương cách xác định sự thật khác nhau, cơ

sở pháp lý khác nhau, nên phạm vi, tính chất và mức độ tranh tụng cũng có những điểm khác nhau Căn cứ vào phương cách mà tố tụng được thực hiện,

cơ sở pháp lý cho việc thực hiện phương cách đó, người ta phân tố tụng tư pháp thành các hệ thống khác nhau: hệ thống tranh tụng, hệ thống xét hỏi (hay thẩm vấn) và hệ thống pha trộn Và trong mỗi hệ thống đó, mức độ tranh tụng cũng khác nhau

- Hệ thống tranh tụng:

Hệ thống tranh tụng thường được sử dụng trong các nước có hệ thống luật án lệ (common law) Mục đích chính của tố tụng theo hệ thống này là phán quyết trên cơ sở thỏa mãn với sự thật pháp lý mà các bên chứng minh tại phiên tòa Theo hệ thống này, hoạt động tư pháp thực chất được bó gọn trong hoạt động xét xử tại phiên tòa với các quy định nghiêm ngặt (nhiều khi đến mức máy móc) về thủ tục tố tụng Tính tranh tụng trong xét xử vụ án được thực hiện một cách triệt để Sự thật chỉ được xác lập tại phiên tòa Các chức năng tố tụng được quy định và thực hiện minh bạch và hoàn toàn chế ước, kiểm tra lẫn nhau Tòa án đóng vai trò là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai (bên nguyên và bên bị) thuyết phục hơn để qua đó phán xét Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ

sở sự thật khách quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng

minh tại phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn

Vì vậy, tòa án không xét hỏi, không tranh luận và cũng không gợi ý tranh luận, mà chỉ là người trọng tài điều khiển phiên tòa, đóng vai trò thụ động trong quá trình chứng minh, nhưng lại toàn quyền phán quyết về vụ án Toàn bộ quá trình tố tụng được thực hiện bằng miệng Vì vậy, tại phiên tòa

Trang 21

phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng,

các vật chứng phải được các bên đưa ra xem xét tại phiên tòa v.v

- Hệ thống xét hỏi:

Hệ thống xét hỏi thường được sử dụng trong các nước theo hệ thống luật lục địa (legal law) Mục đích chính của tố tụng theo hệ thống này là cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ án để từ đó ra phán quyết Vì vậy, quá trình tố tụng được thực hiện bằng văn bản và bằng lời, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại phiên tòa Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa Vì vậy thủ tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình thức: việc xét xử không nhất thiết phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, chứng cứ thu thập chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do tòa án đảm nhận Phán quyết của tòa án được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách quan của vụ án, chứ

không phải là kết qủa của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên tòa v.v

- Hệ thống pha trộn:

Hệ thống pha trộn được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai hệ thống tranh tụng và xét hỏi Nhìn từ góc độ mục đích tố tụng cũng như phương cách để đạt được mục đích đó, thì mỗi hệ thống tranh tụng (tranh tụng hay xét hỏi) đều có mặt tích cực và hạn chế nhất định Hệ thống tố tụng pha trộn là sự kết hợp giữa hai hệ thống tranh tụng trên Tùy theo việc quốc gia thuộc vào hệ thống tư pháp nào (án lệ hay lục địa) mà “dấu ấn” của hệ thống tố tụng trong

hệ thống tố tụng pha trộn nổi rõ hơn

Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật lục địa Tố tụng nước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng nước ta rõ nét hơn Việc nghiên cứu

Trang 22

bản chất của tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta phải được xem xét từ góc độ

tranh tụng trong tố tụng xét hỏi

1.1.4 Chủ thể của hoạt động tranh tụng trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Chủ thể tham gia tranh tụng được hiểu là những chủ thể mang quyền, nghĩa vụ tố tụng, tham gia vào quá trình tranh tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Do đó, quá trình tranh tụng luôn có sự tham gia của hai bên đương sự, là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát

từ chính yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của bản thân các đương sự Hơn nữa, các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự, người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật Đương sự trong vụ án dân sự gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là nguyên đơn và bị đơn Họ là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích, họ đứng ở vị trí tố tụng đối lập nhau Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bị đơn bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Toà án trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Ngoài nguyên đơn và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụng còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp này họ cũng được coi là chủ thể tranh tụng, bởi họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án, tham gia

Trang 23

tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn

Do vậy, họ cũng được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các đương sự khác

Như vậy, có thể thấy đương sự là những chủ thể giữ vị trí và vai trò trung tâm trong quá trình tranh tụng Tuy nhiên, trên thực tế có những đương

sự không thể hoặc không có điều kiện thực hiện tốt nhất quyền tranh tụng của mình nên việc tranh tụng của các đương sự này do người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện Việc tham gia tranh tụng của người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự xuất phát từ quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự chứ không phải xuất phát trực tiếp từ lợi ích của họ bởi họ không phải là các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung Người đại diện của đương

sự là người thay mặt cho đương sự tham gia vào quá trình tranh tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như bảo vệ quyền lợi cho chính mình Người đại diện có quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự khi tham gia vào tranh tụng Do đó, người đại diện có quyền được biết tất cả chứng cứ, lý lẽ của bên đương sự đối phương và được quyền trình bày ý kiến, đối đáp về những vấn đề mà đối phương có yêu cầu đối với đương sự mà mình đại diện Người đại diện của đương sự phải có quyền bình đẳng với bên đương sự đối lập trước Tòa án trong việc thực hiện tranh tụng

Trong tranh tụng thì không thể thiếu một chủ thể quan trọng đó là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Họ là người giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý, đồng thời tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, có các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định chứ không bị ràng

Trang 24

buộc bởi quyền và nghĩa vụ của đương sự như người đại diện Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thông thường là các Luật sư hoặc là những người am hiểu pháp luật Trong quá trình tranh tụng, do người bảo vệ

là người có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm tham gia tố tụng và kỹ năng tranh tụng nên có thể giúp cho các bên đương sự bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất là trong việc đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lập luận Không những thế, ý kiến tham gia tranh tụng của người bảo vệ còn giúp cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án

Tòa án có vai trò quyết định bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng trong

tố tụng dân sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và hiệu quả Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì trong quá trình tranh tụng Tòa án, mà trước tiên là Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử tại phiên tòa phải thực hiện đúng chức năng của mình là người tài phán công minh, xem xét, đánh giá toàn diện tất cả các chứng cứ, căn cứ, lập luận mà các bên đương sự đưa ra trong quá trình tranh tụng Tòa án điều khiển quá trình tranh tụng, bảo đảm quá trình này diễn

ra một cách rõ ràng, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và bảo đảm

sự bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng, kết quả tranh tụng sẽ là căn cứ

để Tòa án ra quyết định giải quyết vụ án

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động tranh tụng trong giải quyết vụ án dân

sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Tranh tụng trong xét xử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện quyền tư pháp Vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc này thể hiện bao gồm:

- Nguyên tắc tranh tụng đề cao tính chất dân chủ, công khai và minh bạch trong hoạt động tố tụng dân sự : Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự là tư tưởng pháp lý chỉ đạo thể hiện rõ nhất tính chất dân chủ, công khai và minh bạch của tố tụng dân sự Trong quá trình thực hiện việc tranh

Trang 25

tụng, các đương sự, người đại diện của đương sự đều được bình đẳng, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý và đối đáp nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng, sử dụng kết quả tranh tụng của các bên để giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, công bằng và đúng pháp luật

- Nguyên tắc tranh tụng tạo cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án: Với việc giải quyết vụ án dân sự theo nguyên tắc tranh tụng, các đương sự có điều kiện trong việc trình bày, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hơn nữa, tranh tụng cũng buộc các đương sự phải nỗ lực, tích cực hơn trong việc tham gia tố tụng Kết quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm mọi cách để thu thập chứng cứ và tìm

ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia

- Nguyên tắc tranh tụng góp phần bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên là có căn cứ và hợp pháp: Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa án xác định được sự thật khách quan của vụ án dân sự Trên cơ sở đó, Tòa án giải quyết được yêu cầu của các đương sự, xác định đúng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật Vì khi đương sự thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng dân sự của mình như quyền đề đạt yêu cầu để Tòa án bảo vệ, quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp hoặc do Tòa án thu thập, quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ, quyền tranh luận tại phiên tòa… thì các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án

Trang 26

có đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự một cách chính xác, công minh

và đúng pháp luật

- Thông qua nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự giúp cho mọi công dân hiểu biết thêm pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào chế độ, vào đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Trên cơ sở đó góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội của Nhân dân, tạo điều kiện cho việc củng cố trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa

Tranh tụng trong xét xử là nguyên tắc phổ quát trong tố tụng tư pháp của hầu hết các nhà nước dân chủ và pháp quyền Đó là một giá trị và là một tiêu chí để đánh giá một nền tư pháp có dân chủ và pháp quyền hay không? Chính vì thế, trong định hướng về cải cách tư pháp, Đảng ta đã nhấn mạnh phải tăng cường tranh tụng tại phiên tòa và Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã

quy định thành nguyên tắc: Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

1 2 uyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đươn sự trong giải quyết

vụ án dân sự tại Tòa án n ân dân cấp sơ t ẩm

1.2.1 Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Từ điển tiếng Việt, khái niệm từ “nguyên tắc” là “điều cơ bản định ra,

nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” 8 Theo Giáo trình lý luận

chung nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thì

“nguyên tắc pháp luật” được hiểu là “những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang

tính xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn

bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật,

8

Từ điển tiếng Việt năm 2003, “Viện ngôn ngữ học”, NXB Đà Nẵng , tr.694

Trang 27

hành vi pháp luật, ý thức pháp luật”.9

Còn theo Giáo trình lý luận nhà nước

và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “nguyên tắc pháp luật xã

hội chủ nghĩa” được hiểu là “những tư tưởng chỉ đạo nội dung, quá trình xây

dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật”.10 Đối với lĩnh vực TTDS, theo Giáo trình luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “nguyên tắc”

của luật TTDS Việt Nam được hiểu là “những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định

hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật TTDS”.11

Như vậy nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải

quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm được hiểu là: “những tư

tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, theo đó các bên đương

sự có quyền xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa

án và Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự”

1.2.2 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại Điều 24 cụ thể:

“Điều 24 Bảo đảm tranh tụng trong xét xử

9 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình lý luận chung nhà nước và pháp luật, Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.344

Trang 28

1 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này

2 Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và

có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này

3 Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản

án, quyết định”.

Với nội dung quy định trên có thể thấy tranh tụng trong Tố tụng dân sự bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ mới

bằng cách: chủ động cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thu thập được, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá

Thứ hai, đánh giá chứng cứ và thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ

án dân sự tại phiên hòa giải do Tòa án thực hiện trước khi mở phiên tòa xét

xử

Thứ ba, thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa Xét hỏi tại phiên tòa thực

chất là cuộc điều tra chính thức, công khai tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Vì vậy, các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra

Trang 29

dưới sự điều khiển của chủ tạo phiên tòa, xem xét chứng cứ, tài liệu Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi một cách khách quan, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án đã được làm rõ

Thứ tư, phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ Qua việc điều tra chính

thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết qủa chứng minh Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án để giúp cho Tòa án cân nhắc khi ra phán quyết Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho Tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết

Thứ năm, phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng Thực tiễn cho thấy

rằng, do nhiều lý do khác nhau như kĩ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt động tố tụng Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp dụng luật để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao

Thứ sáu, đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi

ích liên quan Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng

là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau như nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường…

Trang 30

1.2.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

sự được khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án Trong quá trình tố tụng, các đương sự trao đổi với nhau những chứng cứ để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của

mình trước Tòa án trên cơ sở của các quy định pháp luật tố tụng dân sự

Tranh tụng trong tố tụng dân sự xuất phát từ bản chất của quan hệ pháp luật nội dung giải quyết trong vụ án, bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Các chủ thể của quan

hệ pháp luật nội dung này có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội Các chủ thể có quyền tự định đoạt có tham gia vào quan

hệ pháp luật nội dung hay không, quyết định nội dung của quan hệ gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì việc tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình phải thuộc

về các đương sự Hơn nữa các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh

12

Nguyễn Công Bình (2003), “Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học số 6/2003, tr.6

Trang 31

chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự, do đó việc xác định nghĩa vụ đó

có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự Việc xét xử vụ án dân sự thực chất là việc giải quyết xung đột hoặc liên quan đến quyền lợi của đương

sự Đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, là người đưa ra yêu cầu, kết quả của việc giải quyết vụ án dân sự liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chính họ nên họ có quyền và nghĩa vụ tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án Quá trình giải quyết tranh chấp trong tố tụng dân sự đòi hỏi các đương sự phải tranh tụng để làm rõ được quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp, quyền lợi hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được xuất trình và các lý lẽ, lập luận được sử dụng Vì mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự là tiền đề và là động lực thúc đẩy quá trình tranh tụng Mặt khác để tiến hành tranh tụng, pháp luật tố tụng dân sự phải quy định cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự và Tòa án trong việc tranh tụng, trình tự và thủ tục tranh tụng Thẩm phán giải quyết vụ án phải độc lập, khách quan, có trình độ chuyên môn cao và năng lực xét xử tốt Các đương sự phải biết được yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ của đối phương đưa

ra, phải có sự hiểu biết về pháp luật và những kinh nghiệm tham gia tố tụng nhất định.13

Tranh tụng thực chất là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau để bảo vệ quyền lợi của mình dưới sự chứng kiến của Tòa án Thông qua việc tranh tụng, các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án nhận thức được sự thật khách quan của vụ án Khi bên đưa ra yêu cầu đã chứng minh được tính có căn cứ và hợp pháp đối với yêu cầu của mình thì bên phản đối yêu cầu cũng phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh sự phản đối của mình là có căn cứ Trong tranh tụng dân sự, các đương sự là người trong cuộc, biết được sự việc,

13

Nguyễn Công Bình (2003), “Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học số 6/2003, tr.7

Trang 32

đưa ra yêu cầu nên họ phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án và đương sự đối phương, từ đó các bên có thể đưa ra quan điểm của mình, giúp Tòa án có thể làm rõ sự việc tranh chấp Để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đúng pháp luật giữa các đương sự phải được bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ tố tụng dân sự Tòa án có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp do pháp luật quy định để tạo điều kiện cho các đương sự được thật sự bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tranh tụng thực chất là việc các đương sự cung cấp chứng cứ, đưa ra các luận điểm, căn cứ pháp lý để đối đáp, tranh luận với nhau để bảo vệ quyền lợi của mình, giảm bớt trách nhiệm xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án, tạo điều kiện

để Tòa án trở thành cơ quan tài phán độc lập, bảo đảm khách quan trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Loại hình tố tụng tranh tụng quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án dân sự để họ có thể

tự bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tòa án là cơ quan bảo

vệ công lý, với chức năng xét xử có vai trò bảo đảm cho các đương sự thực hiện tranh tụng để đi đến xác định được sự thật của vụ án Các đương sự là chủ thể của tranh tụng nên giữ vai trò quan trọng trong quá trình tranh tụng,

có quyền bình đẳng trong việc cung cấp, đánh giá chứng cứ, tranh tụng để bảo

vệ quyền lợi của mình

Tranh tụng xuất phát từ yêu cầu xét xử đúng pháp luật các vụ án dân sự của Tòa án Tranh tụng có ý nghĩa lớn trong việc tìm ra sự thật của vụ án, bảo

vệ quyền lợi của đương sự.14 Để giải quyết đúng pháp luật các vụ án dân sự, Tòa án phải đánh giá, phân tích các chứng cứ, căn cứ pháp lý mà các đương

sự cung cấp Tranh tụng yêu cầu phiên tòa dân sự được diễn ra theo hướng các đương sự thực hiện nghĩa vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình còn Tòa án chỉ thẩm tra các chứng cứ do các đương sự và

14

Nguyễn Công Bình (2003), “Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự,” Tạp chí luật học số 6/2003, tr.7

Trang 33

những người tham gia tố tụng khác cung cấp Thông qua tranh tụng Tòa án có điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá chứng cứ làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật nội dung mà các đương sự tranh chấp trong vụ án Mục đích cuối cùng bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được khách quan và đúng pháp luật

1.2.3.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cho thấy tỷ lệ các vụ

án dân sự bị hủy, sửa còn cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong

đó có nhiều trường hợp là khi tiến hành giải quyết các vụ án dân sự Tòa án đã

vi phạm thủ tục tố tụng, đặc biệt là chưa tạo điều kiện cho các đương sự trình bày chứng cứ, lý lẽ để làm sáng tỏ vụ án Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự của Tòa án là một đòi hỏi cấp bách Vì vậy, phải đổi mới mô hình tố tụng dân sự trong đó

có sự kết hợp những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng với thẩm vấn Tranh tụng trong tố tụng dân sự là giải pháp làm cho Tòa án gần dân, giúp dân, hiểu dân, tăng cường hiệu quả công tác xét xử các vụ án dân sự, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các vụ án dân sự bị hủy, sửa do lỗi chủ quan hoặc phải kéo dài thời hạn giải quyết

Tranh tụng trong tố tụng dân sự cũng xuất phát từ yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Nhà nước ta Trước những yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như đổi mới thủ tục tố tụng dân sự nói riêng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày 24/5/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Tiếp đó, ngày 02/6/2005 Bộ chính

Trang 34

trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cả hai Nghị quyết này đều xác định nhiều định hướng quan trọng, toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự, người dân có cơ hội được tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua quá trình tranh tụng góp phần hạn chế các tranh chấp dân

sự đang ngày càng gia tăng Ngày 29/03/2011 khi Quốc hội ban hành Bộ luật

tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 đã bổ sung thêm Điều 23a về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự Tuy vậy, do tranh luận không phải

là tranh tụng nên nguyên tắc này chưa thật sự bảo đảm được các yêu cầu của tranh tụng Tiếp đó, khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, tại Điều 103

khoản 5 Hiến pháp khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được

bảo đảm” Đây là quy định mang tính chất bản lề cho việc xây dựng và hoàn

thiện nguyên tắc tranh tụng trong các luật tố tụng nói chung và trong luật tố tụng dân sự nói riêng Vì vậy, khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được thông qua thì nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự đã được khẳng định

là một trong những nguyên tắc chung nhất của luật tố tụng dân sự

1.2.4 Cơ chế bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ

án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

Tranh tụng là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng nói chung và xét xử nói riêng Để đảm bảo cho nguyên tắc tranh tụng được thực hiện đầy đủ trong

tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng, cần thiết phải có một hệ thống các

bảo đảm về pháp lý, về tổ chức cũng như về cơ sở vật chất

- Bảo đảm pháp lý:

Trang 35

Theo tác giả, bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa bao

gồm:

+ Các quy định đầy đủ, hợp lý và khả thi về địa vị tố tụng của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa để họ có đầy đủ điều kiện, khả năng thực hiện các nội dung tranh tụng theo chức năng, nhiệm vụ hoặc lợi ích của mình: được chủ động thu thập vật chứng, được xét hỏi những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người làm chứng trong giai đoạn điều tra, được yêu cầu cung

cấp tài liệu;

+ Quy định thủ tục tố tụng bình đẳng, nhất là tại phiên tòa; đảm bảo để các bên tham gia tố tụng được tranh luận một cách khách quan, công bằng và

bình đẳng

+ Quy định quyền khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của các bên

và hiệu lực như nhau của các khiếu nại đó

- Bảo đảm về mặt tổ chức:

+ Hình thành các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức bổ trợ với chức năng hợp lý phù hợp với cơ chế tranh tụng Các vấn đề như quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng dân sự, có cho phép thành lập các tổ chức thám tử tư để giúp các đương sự thu thập chứng cứ trong giai đoạn tiền tố

tụng, là những vấn đề cần được nghiên cứu thỏa đáng;

+ Nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, đảm bảo cho họ có đủ năng lực về chuyên môn, về phong cách, về khả năng diễn đạt để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa Những trường hợp người tham gia tranh tụng không có khả năng đó thì nhất thiết phải được

sự trợ giúp của luật sư;

+ Bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình tranh tụng Vị trí của các bên tại phiên tòa thế nào để đảm bảo không khí tố tụng bình đẳng, khách quan; tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong quá trình tố tụng; hệ thống âm

Trang 36

thanh, hình ảnh thuận tiện cho việc theo dõi tiến trình tố tụng là những điều

kiện rất cần thiết cho tranh tụng cần được nghiên cứu v.v

1.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm

1.2.5.1 Từ năm 1945 đến trước năm 2005

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước ta, đó

là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân

Để xây dựng, củng cố chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó phải kể đến là Sắc lệnh số 34/SL ngày 13/9/1945 bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và tư pháp cũ; Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 duy trì tổ chức Luật sư cũ với một số điểm sửa đổi cho thích hợp với tình hình mới Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, đáng chú ý nhất là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã đánh dấu bước phát triển của hoạt động tư pháp Việt Nam Sắc lệnh này quy định khá rõ trách nhiệm của Thẩm phán trong việc

bảo vệ các quyền, lợi ích của đương sự “Thẩm phán không được tự đặt ra lệ

mà xử đoán” (Điều 81); “Thẩm phán không được biện hộ trước Tòa án, nếu không phải việc của mình, việc của vợ, con của thân thuộc, thích thuộc về trực hệ của mình hay của trẻ chưa thành niên mà làm giám hộ” (Điều 82);

“Các Thẩm phán phải làm đầy đủ bổn phận, dự đều các phiên tòa, xét xử thật nhanh chóng và thật công minh Thanh liêm là đức tính thiêng liêng của Thẩm phán” (Điều 83) Bên cạnh các quy định trên, Sắc lệnh số 51/SL ngày

17/4/1946, tại Điều 26 có quy định: “Khi ra phiên tòa bên bị cùng bên dân

sự nguyên cáo có quyền yêu cầu Tòa án thi hành phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật” Sau đó, để bảo đảm dân chủ trong tố tụng Sắc lệnh số

69/SL ngày 18/6/1949 đã được ban hành, trong đó mở rộng quyền bào chữa

Trang 37

cho các bị can Tại Điều 1 Sắc lệnh này quy định: “Từ nay đến khi nào có thể

lệ khác, trước các toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ toà án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải

là Luật sư, bào chữa cho Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa nhận”

Ngày 22/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 144/SL sửa đổi Điều 1 của Sắc lệnh số 69/SL, mở rộng cho người không phải

là Luật sư cũng được bào chữa, bảo vệ quyền lợi của các đương sự trong vụ

án dân sự Điều 1 Sắc lệnh số 144/SL quy định như sau: “Từ nay, trước toà

án việc xử hộ và thương mại, trước các toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ toà án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận” Để cụ thể hóa Sắc lệnh số

69/SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp cho bào chữa viên

Bước vào những năm 50, chúng ta đã có cuộc cải cách tư pháp nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đó là việc ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó quy định Luật sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự Các quy định trong các văn bản pháp luật nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành đã thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc mở rộng dân chủ trong tố tụng dân sự, phát huy vai trò tích cực của các bên và của các Luật sư

Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đã đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến để giành độc lập thống

Trang 38

nhất đất nước Ở miền Nam chính quyền Ngụy quyền trong một thời gian dài vẫn áp dụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc Đến ngày 20/12/1972, chính quyền Ngụy quyền ban hành Bộ luật dân sự và thương sự

tố tụng, trong đó đã thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ Luật

sư, tôn thuộc, ti thuộc, vợ chồng, anh em, đồng thừa kế và đồng hội viên thay mặt (Điều 50); đồng thời Bộ luật này cũng quy định đương sự có nghĩa vụ

chứng minh, đó là “người nào viện dẫn một sự kiện thuận lợi cho mình, có

trách nhiệm dẫn chứng Đối phương muốn phủ nhận tín lực của sự kiện được chứng minh phải xuất trình bằng cớ tương phản” (Điều 56) “Nếu không có

đủ bằng cứ theo luật về chủ trương của mình, đương sự sẽ bị bác khước về những khoản không chứng minh được” (Điều 58) và đặc biệt Bộ luật đã quy

định quá trình giải quyết vụ kiện phải qua tranh tụng Như vậy, các quy định pháp luật về tranh tụng trong TTDS của chính quyền Ngụy quyền có tiến bộ hơn so với pháp luật tố tụng thời Pháp thuộc, tuy nhiên chưa có quy định về quyền và nghĩa vụ của các đương sự thể hiện được nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết vụ kiện, cũng như chưa có những bảo đảm cho tranh tụng được thực hiện trên thực tế Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành làm nền móng cho việc xây dựng một thiết chế xét xử xã hội chủ nghĩa Nhiều văn bản pháp luật ra đời quy định cụ thể về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, vai trò của Luật sư, về

sự vô tư, khách quan của Thẩm phán trong khi xét xử và tranh luận tại phiên tòa Thông tư số 39/NCPL ngày 20/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự có hướng dẫn như sau:

“Sau khi nguyên đơn đưa đơn kiện, Tòa án nhân dân phải cho bị đơn

và người dự sự biết nội dung đơn kiện và yêu cầu của nguyên đơn, nếu xét thấy cần thiết và không có hại cho việc hòa giải thì Tòa án nhân dân có thể

Trang 39

cho nguyên đơn, bị đơn và người dự sự xem hoặc sao chép đơn và lời khai của nhau Sau khi được biết những yêu cầu và những chứng cứ của những đương sự khác, mỗi đương sự đều có thể nộp hoặc đến khai trước Tòa án nhân dân để trình bày những lý lẽ và chứng cứ nhằm xác định hoặc bác bỏ một phần hay toàn bộ những yêu cầu đó, đồng thời cũng có quyền đề xuất những lý lẽ và chứng cứ về yêu cầu của mình” Thông tư số 06/TT-TATC

ngày 25/02/1974 đã quy định thêm về quyền yêu cầu và nghĩa vụ chứng minh

như sau: “Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề

xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình”

Ngoài ra, Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 quy định: “Viện kiểm sát

nhân dân, bị cáo (nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện dân sự) và những người khác tham gia tố tụng có quyền tranh luận về chứng cứ cũng như về việc áp dụng pháp luật, đường lối, chính sách xét xử Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cần tránh tư tưởng cọi nhẹ việc xét hỏi và việc tranh cãi ở phiên tòa vì chỉ tin vào hồ sơ hoặc chỉ là để hợp pháp hóa một chủ trương xét

xử đã được dự kiến trước”.15

Đặc biệt, ngày 08/02/1977 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 69/NCPL hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm Công văn quy định quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đề xuất chứng cứ và yêu cầu

về biện pháp khẩn cấp tạm thời; được đề xuất những câu hỏi trong khi Tòa án thẩm vấn và được tham gia tranh luận, cụ thể:

“ Được Tòa án nhân dân cho xem hoặc sao chép đơn từ, tài liệu của các đương sự khác, nhân chứng, giám định viên nếu nhận thấy việc đó

15

Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dân sự đã ban hành đến 31/12/1974,

Hà Nội

Ngày đăng: 21/01/2021, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w