Tuy nhiên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, đảm bảo quyền lực của cơ quan Nhà Nước, Quốc Hội, Chính phủ đã quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN AN
PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH, TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ninh Thuận – Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN AN
PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH, TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107 GVHD: TS TRẦN VÂN LONG
Ninh Thuận – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích, rút ra một cách trung thực, khách quan và có liên hệ với tình hình thực tiễn của Ninh Thuận Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ các luận văn, luận án nào khác
Ninh Thuận, ngày tháng năm 2019
Nguyễn Văn An
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ LỤC BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
TÓM TẮT - ABSTRACT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 7
1.1 Lý luận chung về biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu vi phạm hành chính 7
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính 7
1.1.1.2 Đặc điểm hành vi vi phạm hành chính 9
1.1.1.3 Các dấu hiệu vi phạm hành chính 10
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, căn cứ, đối tượng của xử phạt vi phạm hành chính 11
1.1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính 11
1.1.2.2 Các đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính: 13
1.1.2.3 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính 14
1.1.2.4 Căn cứ xử phạt vi phạm hành chính 16
1.1.2.5 Đối tượng xử phạt vi phạm hành chính 17
1.2 Khái niệm và các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 18
1.2.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 18
1.2.2 Các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 19
1.2.2.1 Biện pháp đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính 19
1.2.2.2 Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 22
1.2.2.3 Biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề 24
1.3 Vi phạm hành chính trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế và sự cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm 26
Trang 51.3.1 Khái niệm, vi phạm hành chính trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 26
1.3.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế 26
1.3.1.2 Vi phạm hành chính phổ biến trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 28
1.3.2 Khái niệm và sự cần thiết áp dụng biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 30
1.3.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 30
1.3.2.2 Sự cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 31
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN NINH THUẬN 33
2.1 Nhận diện những vi phạm hành chính 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội có liên quan đến vi phạm hành chính 33
2.1.2 Những vi phạm hành chính lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế phổ biến 34
2.2 Thực tiễn xử phạt và áp dụng biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính tại Ninh Thuận 36
2.2.1 Thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính 36
2.2.1.1 Từ quy định của địa phương và thực tế xử phạt vi phạm hành chính 36
2.2.1.2 Thực tiễn xử phạt trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế 39
2.2.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính và những vướng mắc phát sinh 49
2.2.2.1 Quy định pháp luật về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm 49
2.2.2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 62
3.1 Dự báo tình hình vi phạm hành chính trong thời gian tới 62
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan quản lý nhà nước 64
3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan quản lý nhà nước 64
Trang 63.2.2 Kiến nghị bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 66
3.2.2.1 Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề 66 3.2.2.2 Hoàn thiện các quy định về thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề 67 3.2.2.3 Hoàn thiện các quy định về tạm giữ tài sản, giấy tờ dùng làm biện pháp báo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 68 3.2.2.4 Hoàn thiện các quy định về nơi tạm giữ tang vật, phương tiện 68 3.2.2.5 Hoàn thiện quy định về thu phí đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ 70 3.2.2.6 Hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép,
chứng chỉ hành nghề dùng làm biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 71
3.3 Các giải pháp về tuyên truyền pháp luật, nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động các cơ quan quản lý nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả biện pháp bảo đảm 72
3.3.1 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật 723.3.2 Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 733.3.3 Nâng cao năng lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trách nhiệm cán bộ, công chức thi hành công vụ 743.3.4 Tăng cường công tác cải cách hành chính, phối hợp của các lực lượng chức năng trong quản lý công tác xử phạt vi phạm hành chính, các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề 753.3.5 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra công tác xử phạt vi phạm hành chính 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 77 KẾT LUẬN CHUNG 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BPBĐ : Biện pháp bảo đảm
Luật XLVPHC : Luật Xử lý vi phạm hành chính
QĐXPVPHC : Quyết định xử phạt vi phạm hành chính QLNN : Quản lý nhà nước
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
VPHC : Vi phạm hành chính
XPVPHC : Xử phạt vi phạm hành chính
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Quy định về chủ thể của VPHC
Bảng 1.2 Đối tượng xử phạt vi phạm hành chính
Bảng 2.1 Chế độ thu phí trông giữ phương tiện tham gia giao thông bị tạm giữ do
vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Bảng 2.2 Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
Bảng 2.3 Các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp
khắc phục hậu quả theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP và Nghị định 33/2017/NĐ-CP
Trang 9TÓM TẮT
Biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các quyết định xử phạt, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên pháp luật hiện hành còn có những bất cập nhất định nên hiệu lực, hiệu quả của biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính chưa cao, do
đó số trường hợp không chấp hành quyết định xử phạt còn nhiều Nghiên cứu, phân tích,
so sánh biện pháp bảo đảm của các ngành luật để đưa ra khái niệm biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính, làm rõ đặc điểm, trình tự, thủ tục, sự cần thiết áp dụng biện pháp bảo đảm, những bất cập từ quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Từ khoá: Biện pháp bảo đảm, Bảo đảm trong xử phạt
Trang 10is not high, so the number of cases of non-compliance with sanctioning decisions remains much By researching, analyzing and comparing security measures of other law branches, the author has introduced the concept of security measures in sanctioning administrative violations The author also clarifies the characteristics, order, procedures and the need to apply security measures Finally, the author points out the inadequacies from applicable laws and practices, offers solutions to improve the law and improve the efficiency of law application
Keywords: Security measures; Guarantee in sanctioning
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
VPHC diễn ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, theo quy luật, điều kiện kinh
tế - xã hội càng phát triển thì VPHC càng đa dạng, phức tạp, thực tế đã xảy ra nhiều vụ việc VPHC gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng như vụ Công ty Vedan xả thải gây thiệt hại 567 tỷ đồng hoặc vụ Công ty Formosa tại Hà Tĩnh xả thải không đúng quy định gây thiệt hại khoảng 0,3% GDP Việt Nam1 XPVPHC là công việc thường xuyên của các cơ quan QLNN, là cách thức thực hiện quyền lực, nâng cao hiệu quả các biện pháp QLNN, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, có tác dụng to lớn trong phòng ngừa, đấu tranh với vi phạm pháp luật, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, đảm bảo quyền lực của cơ quan Nhà Nước, Quốc Hội, Chính phủ đã quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và BPBĐ trong XPVPHC nói riêng, đây là một chế định pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của chủ thể vi phạm trong thi hành QĐXPVPHC, việc cơ quan có thẩm quyền xử phạt áp dụng BPBĐ đối với chủ thể VPHC là nhằm bảo đảm các quyết định xử phạt được thực hiện trên thực
tế, quy định về các BPBĐ trong pháp luật hành chính là cần thiết và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, của Ninh Thuận nói riêng, vì hiện nay ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn quần chúng Nhân dân còn nhiều hạn chế, nền kinh tế còn sử dụng tiền mặt trong thanh toán là chủ yếu, công tác quản lý cư trú còn nhiều thiếu sót…Quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục áp dụng BPBĐ cơ bản chặt chẽ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và tính công khai, minh bạch trong hoạt động xử phạt của các cơ quan QLNN, tuy nhiên quá trình thực hiện còn có những bất cập, khó khăn nhất định làm hiệu lực, hiệu quả của BPBĐ trong XPVPHC chưa cao, do đó số trường hợp không chấp hành QĐXPVPHC của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chiếm tỷ lệ khá cao, theo Báo của Bộ Tư pháp
số trong thời gian từ năm 2015 đến tháng 6/2017 là đã ban hành 28.895.834 quyết định
1 https://baomoi.com/su-co-moi-truong-formosa-gay-thiet-hai-0-3-gdp-cua-viet-nam/c/21194119.epi (truy cập ngày 30/7/2019)
Trang 12xử phạt hành chính, số quyết định đã thi hành là 25.608.822 chiếm 88,62 %, số quyết định chưa thi hành xong và phải áp dụng biện pháp cưỡng chế là 1.517.534 chiếm 5,25%2
Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, Ninh Thuận đã có nhiều biện pháp tăng cường QLNN, trong đó có công tác XPVPHC, việc thực hiện XPVPHC chấp hành nghiêm các quy định của của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thực tế quá trình áp dụng pháp luật cũng gặp những khó khăn nhất định xuất phát từ các quy định của pháp luật và từ tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương, theo Báo cáo của Công an tỉnh3 thì tổng số quyết định xử phạt do lực lượng Công an Ninh Thuận đã ban hành là 128.236, trong đó đã thi hành quyết định là 127.374, số trường hợp chưa chấp hành quyết định xử phạt là 4.616 chiếm 3,59%, trong số các trường hợp chưa chấp hành quyết đinh XPVPHC có rất nhiều trường hợp đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng BPBĐ (trong phạm vi thời gian nghiên cứu có 1.375 trường hợp), nhưng các
cơ quan QLNN có thẩm quyền không biện pháp hữu hiệu để xử lý dứt điểm các trường hợp này, từ đó làm giảm uy tín của cơ quan QLNN, sự nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng xã hội
Những tồn tại, hạn chế nêu trên có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, như: các quy định pháp luật hiện hành về áp dụng các BPBĐ còn có những bất cập, chưa đầy đủ, toàn diện về thẩm quyền, thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện; quy định về điều kiện, tiêu chí của nơi tạm giữ tang vật, phương tiện chưa sát với thực tế; thiếu các BPBĐ dựa trên những ứng dụng kỹ thuật phù hợp với thời đại công nghệ thông tin; chưa quy định
cụ thể việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong trường hợp chủ thể vi phạm cố tình kéo dài hoặc không thực thi QĐXPVPHC…nên chưa giải quyết tất cả các tình huống xảy ra trong thực tế; hơn nữa ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân, tổ chức chưa cao; cơ quan có thẩm quyền XPVPHC còn thiếu cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu thực tế, thiếu trang
2 Bộ Tư pháp (2018), Báo cáo tổng kết thi hành luật xử lý VPHC
3 Công an Ninh Thuận (2017), Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật XLVPHC trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 13thiết bị phục vụ công tác; việc phối hợp giữa các cơ quan QLNN trong xử lý vi phạm, quản
lý các giấy phép, chứng chỉ hành nghề chưa chặt chẽ; …
Xuất phát từ những lý do trên nên tác giả chọn đề tài “Pháp luật về các biện
pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính, từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn tốt nghiệp, qua đây hy vọng sẽ góp phần khắc phục khiếm
khuyết của quy định pháp luật về việc áp dụng các BPBĐ trong XPVPHC, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, góp phần thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật, hiệu quả các BPBĐ trong XPVPHC
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài có nhiều công trình nghiên cứu như:
Luận văn “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự” của tác giả Phan Huy Hiếu,
năm 2012, đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về BPBĐ thi hành án dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở lý luận, pháp luật của BPBĐ thi hành án dân sự Phân tích, đánh giá những quy định của Luật Thi hành án dân sự về BPBĐ thi hành án dân
sự Khảo sát tình hình thực hiện các BPBĐ thi hành án dân sự trong thực tiễn hiện nay Tìm ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về BPBĐ thi hành
án dân sự.4
Luận văn “Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ nộp thuế theo pháp luật
Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Kim Nguyên, năm 2014, đã phân tích về thực trạng
của pháp luật các biện pháp cưỡng chế tại Việt Nam Luận văn gồm có 3 chương, có so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể đưa vào áp dụng tại Việt Nam, luận văn đi sâu phân tích chi tiết thực trạng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế tại một số tỉnh, thành trên cả nước để rút ra những nguyên nhân gây nên tình trạng nợ đọng thuế hiện nay Luận văn đã bước đầu xây dựng
cơ sở lý luận về quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế và đưa ra một số đánh giá về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ
4 Phan Huy Hiếu (2012), “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 14nộp thuế ở nước ta, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng và giải pháp hoàn thiện bộ phận pháp luật này ở nước ta5
Luận án “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo
pháp luật Việt Nam hiện nay” của tác giả Đinh Phan Quỳnh, năm 2018, Luận án gồm 4
chương: Chương 1 tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài; trên cơ sở đó, chỉ ra những nội dung mà luận án có thể tiếp thu cũng như những vấn
đề và luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ; Chương 2 tiếp cận các nghiên cứu lý luận
về xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xây dựng khái niệm và chỉ ra các đặc điểm của xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay Luận án đã tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề liên quan đến xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách có hệ thống như: Nguyên tắc, đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý , Chương 3 thực trạng xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, phân tích và chỉ ra những ưu điểm và hạn chế cũng như chỉ ra nguyên nhân, để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp và kiến nghị; Chương 4 Phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực này; luận án đưa ra các giải pháp, nhóm giải pháp (từ những giải pháp mang tính khái quát đến những giải pháp cụ thể) nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, với mong muốn xây dựng một xã hội giao thông an toàn, văn minh, thân thiện; góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước6
Tuy nhiên các đề tài trên chưa đi sâu vào nghiên cứu các BPBĐ trong XPVPHC, nhất là trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận do đó tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính, từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận” để nghiên cứu, làm rõ thêm quy định của pháp luật và quá trình áp dụng tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận
5 Hoàng Thị Kim Nguyên (2014), “Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ nộp thuế theo pháp luật Việt Nam”,
Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
6 Đinh Phan Quỳnh (2018), “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam
hiện nay”, Luận án tiến sỹ, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Trang 153 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Lý luận về VPHC, XPVPHC, BPBĐ trong XPVPHC như thế nào;
Pháp luật hiện hành quy định như thế nào đối với việc áp dụng, thực hiện các BPBĐ trong XPVPHC (BPBĐ trong XPVPHC là gì; nội dung, trình tự thủ tục, thẩm quyền áp dụng; vai trò của BPBĐ trong XPVPHC, vai trò BPBĐ đối với hiệu lực hiệu quả QLNN)
Câu hỏi 2: Thực tiễn áp dụng các BPBĐ trong XPVPHC tại tỉnh Ninh Thuận như
thế nào (Những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện các BPBĐ về thủ tục, thẩm quyền, hiệu lực BPBĐ trong việc thi hành quyết định xử phạt )
Câu hỏi 3: Giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về các BPBĐ trong XPVPHC;
mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan QLNN để nâng cao hiệu quả BPBĐ trong XPVPHC
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ các quy định của pháp luật về các BPBĐ trong XPVPHC trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, so sánh với các ngành luật khác và thực tiễn nhằm xem xét sự phù hợp quy định pháp luật hiện hành với lý luận và điều kiện của Việt Nam
- Đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật về các BPBĐ trong XPVPHC tại Ninh Thuận, qua việc phân tích các vụ việc đã được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPBĐ trong XPVPHC
- Đề ra được các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về các BPBĐ; nâng cao hiệu quả hoạt động, quan hệ phối hợp các cơ quan có thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả các BPBĐ trong XPVPHC
Trang 164 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quy định của pháp luật về VPHC, XPVPHC, các BPBĐ trong XPVPHC; Thực trạng áp dụng BPBĐ trong XPVPHC, kết quả công tác XPVPHC có áp dụng BPBĐ, những khó khăn, bất cập trong áp dụng BPBĐ
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luật XLVPHC năm 2012 và các nghị định về XPVPHC trên các lĩnh vực; Các trường hợp XPVPHC trong lĩnh vực QLNN về kinh tế trên địa bàn Ninh Thuận từ năm
2015 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, so sánh và bình luận để phân tích, đánh giá những điểm
hợp lý, chưa hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành để đưa ra biện pháp hoàn thiện các BPBĐ
- Phương pháp liệt kê, quy nạp để phân tích số liệu thực trạng áp dụng các BPBĐ
trong XPVPHC, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật
6 Bố cục của luận văn
Luận văn có 03 chương cụ thể
Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định pháp luật và sự cần thiết áp dụng biện pháp
bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong xử phạt
vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả các biện
pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1 Lý luận chung về biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu vi phạm hành chính
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính
VPHC là loại vi phạm phổ biến diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đời sống xã
hội (năm 2018 trên địa bàn Ninh Thuận đã xảy ra 18.560 vụ vi phạm hành chính7) và
liên tục thay đổi theo sự phát triển theo điều kiện kinh tế - xã hội, do đó cần làm rõ khái niệm VPHC, để làm cơ sở tiến hành, áp dụng các biện pháp xử lý và phục vụ nghiên
cứu luật pháp Theo quy định khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì “Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
vi phạm hành chính”
Quy định của Luật XLVPHC xác định VPHC là hành vi “vi phạm quy định của
pháp luật về QLNN” là chưa nói lên được chính xác khách thể của VPHC vì “QLNN”
là một khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, mục đích của Nhà nước là quản lý xã hội do đó nếu hiểu VPHC là hành vi vi phạm pháp luật về QLNN
dễ gây hiểu lầm tất cả các hành vi vi phạm đều là vi phạm hành chính
VPHC là hành vi “mà không phải là tội phạm” việc dùng phương pháp loại trừ
không phải là tội phạm là VPHC; việc dùng khái niệm của ngành luật hình sự để giải thích cho ngành luật hành chính là chưa đầy đủ và chưa thể hiện được tính độc lập, tương đối của ngành luật hành chính vì trong thực tế giữa tội phạm và VPHC chỉ là ranh giới rất mong manh, nhiều trường hợp cùng hành vi nhưng lúc này là VPHC, lúc khác
là vi phạm hình sự, tuy nhiên để phân biệt giữa tội phạm và VPHC, pháp luật có những
7 Công an tỉnh Ninh Thuận (2018), Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2018
Trang 18quy định cụ thể dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm, hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, có thể gây ra, công cụ phương tiện, thủ đoạn khi thực hiện hành vi vi phạm, ví dụ như “hành vi đánh bạc trái phép” quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy;
phòng, chống bạo lực gia đình, có giá trị dưới 5.000.000đ nếu trước đó chưa bị xử phạt
hành chính thì là VPHC, nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong thời gian một năm
mà tiếp tục vi phạm thì sẽ là tội phạm, nhưng cũng có những hành vi dù có vi phạm với
tính chất, mức độ như thế nào thì cũng không bao giờ bị coi là tội phạm như “hành vi
hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày
15/11/2013 của Chính phủ quy định XPVPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ; hơn nữa việc xem VPHC “không phải là tội phạm” sẽ tạo suy nghĩ không quan trọng, không cần thiết
do đó quá trình thu thập tài liệu, cũng cố hồ sơ vi phạm, tuân thủ trình tự, thủ tục của các cơ quan QLNN có thẩm quyền thường chủ quan, xem nhẹ
Liên quan khái niệm VPHC có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau,
chẳng hạn như trong Luận án “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Đinh Phan Quỳnh trên cơ sở phân tích,
luận giải những khái niệm VPHC được thể hiện trong một số công trình khoa học, tác giả đồng tình với khái niệm VPHC được trình bày trong Giáo trình Luật Hành chính
Việt Nam do Nguyễn Cửu Việt chủ biên:“Vi phạm hành chính là hành vi (hành động
hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự QLNN và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự
Trang 19do và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”8
Theo Giáo trình Luật hành chính, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, qua phân tích các định nghĩa về VPHC trong các VBQPPL của quá trình hình thành, phát triển ngành luật hành chính từ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 đến Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, tập thể tác giả đã
thống nhất nhận định “tuy có sự khác nhau về các diễn đạt, các văn bản pháp luật nêu
trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này”9 và thống nhất với định nghĩa vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều
2 Luật XLVPHC năm 2012
Từ những cơ sở, phân tích trên có thể hiểu khái niệm VPHC như sau “Vi phạm
hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức có năng lực hành vi hành chính, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ và theo quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”
1.1.1.2 Đặc điểm hành vi vi phạm hành chính
Từ khái niệm nêu tại mục 1.1.1.1 thì “vi phạm hành chính” có 04 đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hành vi đó phải là hành động hoặc không hành động không đúng hoặc
vi phạm các quy định của pháp luật, gồm có luật và các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư…về QLNN, đây là dấu hiệu đặc trưng cơ bản để xác định VPHC, do đó không thể xác định người nào đó vi phạm hành chính khi đó mới chỉ là ý nghĩ của họ
Thứ hai, hành vi VPHC là hành vi có lỗi dưới hình thức lỗi vô ý hoặc lỗi cố ý, tức là chủ thể thực hiện hành vi đó trong trạng thái có nhận thức đầy đủ và điều khiển hành vi của mình, do sơ suất hoặc thiếu thận trọng (vô ý), hoặc có mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý)
8 Đinh Phan Quỳnh (2018), “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam
hiện nay”, luận án tiến sỹ, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (trang 33)
9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật xử lý vi phạm hành chính, NXB CAND, Hà Nội (trang 337)
Trang 20Thứ ba, hành vi đó phải do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, về cá nhân phải là người có khả năng điều khiển hành
vi và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật; đối với tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân Các cá nhân, tổ chức nước ngoài được coi là chủ thể vi phạm hành chính, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết có quy định khác
Thứ tư, hành vi vi phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định, bảo vệ Các quan hệ xã hội của pháp luật hành chính có phạm vi rất rộng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: trật tự, an toàn xã hội; quản lý kinh tế; bảo
vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm…những quy định này được ghi nhận trong các VBQPPL do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
1.1.1.3 Các dấu hiệu vi phạm hành chính
- Dấu hiệu khách quan của VPHC là hành vi, đây là dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài và là dấu hiệu bắt buộc trong VPHC, hành vi đó phải vi phạm các quy định do pháp luật hành chính bảo vệ mà theo quy định phải bị xử lý, có thể bằng một trong các hình thức xử phạt hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý khác, do đó để xác định một chủ thể có VPHC hay không chúng ta phải chứng minh được hành vi của chủ thể đó là gì,
vi phạm vào quy định nào, thuộc văn bản pháp luật nào và hành vi đó có bị xử lý hay không Hiểu được chính xác, chi tiết hành vi VPHC sẽ tránh việc vận dụng pháp luật theo kiểu “suy đoán” hoặc “nhận định” Trong một số trường hợp hành vi VPHC phải được đặt trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, như: không gian, thời gian, địa
điểm thì mới được xem là hành vi VPHC, ví dụ: hành vi “Không niêm yết chủ đề, thời
gian tiến hành hội chợ, triển lãm thương mại tại nơi tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đó trước ngày khai mạc hội chợ, triển lãm thương mại”, quy định tại điểm a khoản
2 Điều 50 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013, thì địa điểm phải là “nơi tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại” thời gian phải là “trước ngày khai mạc hội chợ, triển lãm thương mại”
Một yếu tố trong mặt khách quan của VPHC là hậu quả do hành vi đó gây ra và
dĩ nhiên giữa hành vi VPHC và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau, trong VPHC
Trang 21thì nhiều trường hợp chưa gây ra hậu quả và cũng không nhất thiết phải gây ra hậu quả, tuy nhiên trong nhiều trường hợp hành vi bị xem là VPHC chỉ khi gây ra những hậu quả nhất định và khi đó phải xem xét cụ thể mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra, nếu giữa chúng có mối quan hệ nhân quả thì đó là hành vi VPHC và ngược lại
- Dấu hiệu lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của hành vi VPHC, tức là hành vi VPHC phải được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý, cả hai hình thức lỗi này đều có chung một yếu tố đó là chủ thể thực hiện hành vi phải trong trạng thái nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, việc nhận thức của chủ thể
không phụ thuộc vào việc chủ thể đó có biết quy định pháp luật hay không vì “Công dân
có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật”10, nên không ai có quyền nói là mình không biết pháp luật
- Chủ thể của VPHC là các cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính,
có thể xác định chủ thể của VPHC dựa trên những đặc điểm được nêu trong bảng 1.1
- Dấu hiệu khách thể của VPHC và các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ, như vậy VPHC là vi phạm vào các quy định được ghi nhận trong các VBQPPL hành chính, xâm hại hoặc đe doạ xâm hại đến tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân; sự hoạt động bình thường của các cơ quan; tổ chức, trạng thái bình yên của xã hội
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, căn cứ, đối tượng của xử phạt vi phạm hành chính
1.1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 “Xử phạt vi phạm
hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.”
XPVPHC là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, căn cứ vào quy định của pháp luật ban hành một quyết định cá biệt đối với tổ chức, cá nhân đã có hành
10 Điều 46 Hiến pháp Việt Nam năm 2013
Trang 22vi vi phạm buộc tổ chức, các nhân đó phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, việc XPVPHC không chỉ áp dụng các hình thức xử phạt theo Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012, như: Cảnh cáo; Phạt tiền; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;…trong nhiều trường hợp
chủ thể vi phạm còn phải chịu trách nhiệm “khắc phục hậu quả” quy định tại Điều 28
Luật XLVPHC năm 2012, như: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;…các biện pháp khắc phục hậu quả mang tính cưỡng chế của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với chủ thể VPHC vì tính bắt buộc và không tính thời hiệu
Liên quan đến khái niệm XPVPHC có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể như: Theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội11, thì
XPVPHC được hiểu là “Hoạt động của chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định
của pháp luật hiện hành, áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính”
Theo Đinh Phan Quỳnh trong Luận án đã tiếp cận rộng hơn, trên cơ sở tiếp thu các luận giải của các nhà khoa học về khái niệm xử lý, XPVPHC, cũng như những phân
tích của cá nhân đã đưa ra khái niệm xử lý VPHC như sau: “Xử lý VPHC là hoạt động
của các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các hình thức XPVPHC, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn VPHC và đảm bảo việc xử lý VPHC đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC nhằm đảm bảo trật tự
và kỷ luật trong QLNN” 12
Các khái niệm này tuy khác nhau về câu từ nhưng tất cả đều có nội dung chính
là XPVPHC bao gồm các yếu tố: là “hoạt động của chủ thể có thẩm quyền” (người có thẩm quyền) buộc các tổ chức, cá nhân VPHC phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành; XPVPHC không chỉ đơn thuần là việc các nhân, tổ
11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội, 2018 (trang 349)
12 Đinh Phan Quỳnh (2018), “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam
hiện nay”, Luận án tiến sỹ, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (trang 38)
Trang 23chức vi phạm phải chịu xử phạt mà còn phải chịu các biện pháp cưỡng chế khác (có thể một hoặc nhiều biện pháp) Theo quy định của pháp luật hành chính hiện nay, một số trường hợp VPHC trong các lĩnh vực như môi trường, giao thông hay xây dựng thì việc các cá nhân, tổ chức vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả gây thiệt hại rất lớn cho cá nhân, tổ chức vi phạm và hơn nữa các biện pháp khắc phục hậu quả không tính thời hiệu do đó hiệu quả răn đe, giáo dục rất cao, ví dụ như: sau sự cố môi
Tài nguyên và Môi trường XPVPHC với số tiền là 4.485 tỷ đồng và buộc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường, theo đó Formosa đã đầu tư trên 1 tỷ USD vào các hạng mục cải thiện, bổ sung các công trình bảo vệ môi trường theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường và bồi thường 500 triệu USD cho người dân vùng bị ảnh hưởng thiệt hại về kinh tế; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân; xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung13
Qua phân tích các khái niệm, quan điểm về xử phạt vi phạm hành chính, tác giả
nhận thấy và thống nhất với “khái niệm xử phạt vi phạm hành chính” đã được quy định
tại khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012
1.1.2.2 Các đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính
- XPVPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức đã có hành vi VPHC, là việc
cơ quan QLNN có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, các BPBĐ thi hành quyết định xử phạt
- XPVPHC chủ yếu do các cơ quan QLNN có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thông qua việc ban hành quyết định cá biệt đối với chủ thể đã có hành vi VPHC, QĐXPVPHC là mệnh lệnh hành chính của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đối với chủ thể VPHC và được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế hành chính bởi các cơ quan chuyên môn; về trình tự, thủ tục trong XPVPHC được thực hiện đơn giản hơn, nhanh hơn so với thủ tục truy tố hành vi vi phạm pháp
13 http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Ch%C3%ADnh-ph%E1%BB%A7-b%C3% (truy cập ngày
14/8/2019)
Trang 24luật hình sự Tuy nhiên trong một số trường hợp cơ quan tư pháp - Toà án cũng có quyền XPVPHC đối với những hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa
- XPVPHC có đối tượng điều chỉnh rộng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: đất đai, giao thông trật tự, tài chính, ngân hàng…theo thống kê có 56 lĩnh vực QLNN14
có xử phạt hành chính
- Trong XPVPHC giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện XPVPHC và chủ thể VPHC không có quan hệ phụ thuộc với nhau, mối quan hệ này là giữa cơ quan QLNN và chủ thể VPHC, khác với xử lý kỷ luật trong các cơ quan, tổ chức
là giữa người có thẩm quyền với người vi phạm kỷ luật hành chính là quan hệ phụ thuộc
1.1.2.3 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo Luật XLVPHC năm
2012 đề ra một số nguyên tắc đòi hỏi chủ thể áp dụng pháp luật phải tuyệt đối tuân theo,
do đó nếu vi phạm một trong các nguyên tắc được ghi nhận trong Luật xử lý VPHC thì việc XPVPHC là không đúng
Nguyên tắc XPVPHC được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC năm
2012 gồm 6 nguyên tắc, các nguyên tắc này dựa trên nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu trong XPVPHC là loại vi phạm nhỏ, phổ biến và mục đích chính của XPVPHC là ngăn chặn, hạn chế các vi phạm nghiêm trọng hơn, gây hậu quả, thiệt hại lớn hơn cho xã hội, tuy nhiên việc XPVPHC đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm minh, thống nhất theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Nguyên tắc “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời
và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”, nội dung nguyên tắc này thể hiện sự
nghiêm minh, công bằng của pháp luật, đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, pháp luật là “không có vùng cấm”
14 Nhật Tân (2019), Một số khó khăn vướng mắc hạn chế trong thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Sở Tư pháp
Quảng Bình online, ly-vi-pham-hanh-chinh.htm (truy cập ngày 26/7/2019)
Trang 25https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/mot-so-kho-khan-vuong-mac-han-che-trong-thi-hanh-luat-xu-Trong XPVPHC chỉ có thể được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền và phải đảm bảo thời hạn, thời hiệu, đúng trình tự, thủ tục luật định, đồng thời phải công khai, minh bạch quá trình xử phạt hành chính nhằm tạo điều kiện cho việc giám sát, theo dõi
của các tổ chức, công dân và nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân “Việc
XPVPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.”
Nguyên tắc thứ ba “Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất,
mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng”
yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện XPVPHC phải thật cụ thể trong việc xem xét tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả do hành vi vi phạm đó gây ra hoặc có thể gây ra, nhân thân người vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người vi phạm theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật XLVPHC năm 2012, để quyết định áp dụng hình thức, biện pháp XPVPHC cho thích hợp Trong thực tế với sự không đồng bộ, thống nhất, chưa áp dụng khoa học công nghệ trong việc theo dõi công tác XPVPHC; công tác quản lý dân cư còn nhiều bất cập, không nắm chắc được di biến động của dân cư; nền kinh tế còn sử dụng tiền mặt để thanh toán là chủ yếu…thì để thực hiện đầy đủ nguyên tắc này là rất khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền xử phạt, tuy nhiên Chính phủ đang từng bước hoàn thiện các điều kiện để thực hiện nghiêm nguyên tắc này như: xây dựng dữ liệu quản lý dân cư; phần mền theo dõi xử lý VPHC
Trong XPVPHC thì “Chỉ XPVPHC khi có hành vi VPHC do pháp luật quy định
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” như vậy chỉ xử phạt khi
cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được ghi nhận trong các VBQPPL và không thể xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi đã được pháp luật miễn trừ như trong các trường hợp: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết…quy định tại Điều 11 Luật XLVPHC năm 2012 Mục đích của nguyên tắc này là phòng ngừa sự tùy tiện trong XPVPHC; đồng thời, đòi
Trang 26hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm thường xuyên bổ sung, sửa đổi những điểm chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tế để hoàn thiện pháp luật
Tuy XPVPHC được thực hiện theo trình tự, thủ tục đơn giản, nhanh gọn hơn so với xử lý tội phạm nhưng để xử phạt được hành vi VPHC, Luật XLVPHC năm 2012 yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện XPVPHC phải chứng minh được VPHC, tức phải chứng minh được các yếu tố cấu thành VPHC, nguyên tắc này sẽ tăng tính trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền, hạn chế sự lạm quyền và lộng quyền của các chủ thể khi thực thi công vụ, đồng thời pháp luật hành chính cũng cho
phép “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính” nhằm đảm bảo sự khách quan trong
XPVPHC và quyền của cá nhân, tổ chức vi phạm Tuy nhiên trong thực tế nhiều trường hợp người thi hành công vụ do chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh vi phạm, nên nhiều trường hợp có hành
vi VPHC nhưng cơ quan có thẩm quyền không thể xử lý chủ thể vi phạm
“Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân” Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự nghiêm
minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm vì đối với một tổ chức khi
đã thực hiện hành vi vi phạm là “nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo
sự chỉ đạo” điều đó chứng minh vi phạm là có hệ thống, tổ chức và tính chất, hậu quả,
tác hại đối với xã hội sẽ cao hơn do đó phải chịu mức phạt tiền cao gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm
1.1.2.4 Căn cứ xử phạt vi phạm hành chính
- Căn cứ vào cơ sở pháp lý, là cần phải xác định hành vi VPHC đã vi phạm vào quan hệ xã hội nào, được VBQPPL nào quy định, bảo vệ, hành vi đó thuộc thẩm quyền
xử lý của cơ quan nào
- Căn cứ vào thực tế vi phạm của chủ thể như:
Tính chất, mức độ của hành vi vi phạm là cần làm rõ khi thực hiện hành vi VPHC chủ thể đó có nhận thức như thế nào, mục đích thực hiện hành vi, tính chuyên nghiệp,
Trang 27trong nhiều trường hợp cần phải xác định mức độ hành vi vi phạm để quyết định mức
phạt như: “Hành vi vi phạm khác trong quan hệ với khách hàng, người tiêu dùng” quy
định tại Điều 80 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP thì mức phạt được tăng lên theo giá trị hàng hóa, dịch vụ giao dịch, nếu hàng hoá, dịch vụ giao dịch có giá trị dưới 5.000.000 đồng, thì mức phạt sẽ là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (khoản 1); nhưng đối với hàng hóa, dịch vụ giao dịch có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng thì mức phạt sẽ từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 (khoản 2)…
Hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, khi xác định hậu quả cần dựa trên thực tế là hậu quả đã xảy ra hoặc có thể sẽ xảy ra, chứ không thể dựa vào “suy đoán”, “diễn giải” tuỳ tiện của người áp dụng pháp luật, trong thực tế nhiều trường hợp hậu quả VPHC phải được thể hiện bằng những số liệu cụ thể, qua những phương pháp cụ thể thì mới đưa vào làm căn cứ XPVPHC, như các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Đối tượng vi phạm, làm rõ nhân thân lai lịch, quá trình vi phạm của đối tượng, mối quan hệ của các đối tượng với nhau trong vụ việc (đối với trường hợp nhiều người
cùng thực hiện hành vi vi phạm), ví dụ như: “cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành
chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc
kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý”15 thì bị xem là tái phạm là tình tiết tăng nặng trong XPVPHC
Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng là căn cứ quyết định hình thức, mức xử phạt cụ thể trong khung xử phạt, do đó cần xem xét một cách cẩn trọng và chỉ những tình tiết nào được quy định trong VBQPPL mới được xem là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, tránh việc áp dụng một cách tràn lan không có căn cứ
Trang 281.2 Khái niệm và các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
1.2.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
Pháp luật không đưa ra khái niệm BPBĐ, cũng như BPBĐ trong XPVPHC Theo
Từ điển tiếng Việt thì: Biện pháp là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”16;
Bảo đảm là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì
cần thiết”17 Như vậy có thể hiểu “biện pháp bảo đảm là cách giải quyết một vấn đề và
Hoặc trong luận văn “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự” của tác giả Phan
Huy Hiếu trên cơ sở phân tích các VBQPPL và đề tài khoa học, tác giả đã đưa ra khái
niệm “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý được Chấp hành
viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng
16 Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an Nhân dân Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội 2005 (trang 100)
17 Ngọc Lương (2011), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản thanh niên (trang 41)
18 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018 (tái bản lần thứ 1 có bổ sung)
19 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2018 (trang 267, 268)
Trang 29biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp người phải thi hành án không
1.2.2 Các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính
1.2.2.1 Biện pháp đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ
tục hành chính
Đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính là việc chủ thể VPHC trong trường hợp bị tạm giữ phương tiện giao thông để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC đặt một số tiền nhất định để được giữ phương tiện giao thông dưới
sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật
Đây là biện pháp thay thế cho BPBĐ thi hành QĐXPVPHC được cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính
để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC với những điều kiện cụ thể được quy định tại khoản
10 Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 15 Nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, nhằm nâng cao trách nhiệm thực hiện
QĐ XPVPHC của chủ thể vi phạm hành chính
20 Phan Huy Hiếu (2012), “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội (trang
4)
Trang 30Về điều kiện: Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 115/2013/NĐ-CP:
Điều kiện về nhân thân chủ thể VPHC: Nếu là cá nhân vi phạm phải chứng minh được là có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng hoặc có nơi công tác; nếu là tổ chức phải có địa chỉ hoạt động cụ thể và có xác nhận của UBND cấp xã nơi tổ chức đó có địa chỉ hoạt động
Điều kiện về cơ sở vật chất: chủ thể VPHC phải chứng minh được có nơi giữ, bảo quản phương tiện đáp ứng các điều kiện về môi trường, đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy như: nơi giữ phương tiện phải cách xa nguồn nhiệt, có phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, có mái che đảm bảo chống nắng, chống mưa cho phương tiện;
có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh Tuy nhiên trong thực tế việc xác định điều kiện
về môi trường, đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy của nơi giữ, bảo quản chỉ là nhận xét đánh giá chủ quan của cơ quan QLNN có thẩm quyền vì pháp luật chưa quy định cơ quan tổ chức nào xác nhận việc này nên dễ bị lạm dụng trong việc quyết định cho hay không cho đặt tiền để bảo lãnh phương tiện vi phạm
Điều kiện về phương tiện: chỉ được đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị
tạm giữ theo thủ tục hành chính khi phương tiện bị tạm giữ không phải là:“a) Phương
tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự; b) Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm; c) Phương tiện giao thông được sử dụng
để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông; d) Giấy đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa;đ) Biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.”
Tuy nhiên khi được giữ phương tiện thì chủ thể vi phạm vẫn bị hạn chế một số quyền đối với phương tiện như: không được phép lưu hành, không được phép thay đổi
vị trí tạm giữ nếu chưa được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan cho phép việc đặt tiền để bảo lãnh và UBND cấp xã nơi đang có phương tiện do tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản) và chịu trách nhiệm về những hư hỏng, mất mát liên quan đến phương tiện trong thời gian được giữ phương tiện giao thông
Trang 31Về thẩm quyền: Pháp luật quy định “Người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện
giao thông vi phạm hành chính có thẩm quyền quyết định cho tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông đó”, vì đây là biện pháp thay thế BPBĐ có điều kiện
nên phải thận trọng xem xét các điều kiện cụ thể trước khi quyết định, do đó pháp luật quy định chỉ những người có chức vụ nhất định trong các cơ quan QLNN như chủ tịch UBND cấp xã; Trưởng Công an cấp xã; Đội trưởng trong Công an nhân dân (quy định Chương II, phần thứ 2, Luật XLVPHC năm 2012) mới có quyền quyết định cho tổ chức,
cá nhân đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông
Về thủ tục: Việc đặt tiền để bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ
tục hành chính phải bằng biên bản và phải có chữ ký của tổ chức, cá nhân vi phạm và người có thẩm quyền tạm giữ, trong biên bản giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản phải ghi rõ tên, số lượng, khối lượng, đặc điểm, chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ, nơi giữ, bảo quản, tình trạng của phương tiện (nếu có); Việc đặt tiền bảo lãnh và trả lại số tiền đó cũng phải được lập biên bản Các biên bản như: Biên bản giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản và biên bản đặt tiền bảo lãnh, trả tiền bảo lãnh đều được lập thành hai bản, tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh và người
có thẩm quyền tạm giữ phương tiện mỗi bên giữ một bản Đây là cơ sở quan trọng làm căn cứ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát việc bảo quản phương tiện VPHC của chủ thể VPHC và cũng là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chủ thể vi phạm có được tiếp tục tạm giữ phương tiện hay huỷ bỏ biện pháp này
và chuyển phương tiện vi phạm đó về nơi tạm giữ theo quy định
Về mức tiền đặt bảo lãnh: Mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng mức tiền phạt
tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm, nếu vi phạm nhiều hành vi thì mức tiền đặt bảo lãnh bẳng tổng mức phạt cao nhất của các hành vi vi phạm Pháp luật chỉ quy định mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất chứ không quy định cao nhất do đó căn cứ vào tình hình thực tế, tính chất vụ việc mà người có thẩm quyền quyết định mức tiền cụ thể, tuy nhiên trong thực tế mức tiền đặt bảo lãnh bằng với mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của chủ thể
vi phạm và cơ quan QLNN
Trang 32Xử lý tiền đặt bảo lãnh: Đặt tiền để bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ
theo thủ tục hành chính mục đích để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC do đó khi tổ chức,
cá nhân vi phạm đã chấp hành xong QĐXPVPHC thì tiền đặt bảo lãnh được trả lại cho
tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh; trong trường hợp tổ chức, cá nhân không tự giác thi hành quyết định xử phạt đúng thời hạn quy định thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt thì số tiền đặt bảo lãnh được chuyển thành số tiền
xử phạt; trường hợp tiền đặt bảo lãnh lớn hơn số tiền xử phạt thì phần còn lại của số tiền đặt bảo lãnh sau khi trừ số tiền xử phạt được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh
1.2.2.2 Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Tang vật được hiểu là vật cụ thể (đồ vật, tiền bạc, hàng hoá …) chứng tỏ có quan
hệ hoạt động phạm pháp21 Theo khoản 10, khoản 11 Điều 3 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP giải thích “Tang vật” gồm vật, tiền, giấy tờ, hàng hóa thành phẩm hoặc chưa thành phẩm có liên quan trực tiếp đến VPHC; “Phương tiện vi phạm” gồm phương tiện vận tải, công cụ, máy móc và vật khác được sử dụng để thực hiện VPHC Như vậy có thể hiểu “tang vật, phương tiện VPHC là vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC”
Qua phân tích tang vật, phương tiện VPHC và khái niệm BPBD theo tác giả “Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm hạn chế quyền của chủ thể VPHC đối với tài sản, hàng hoá, phương tiện có liên quan và nhằm bảo đảm các quyết định xử phạt của
cơ quan QLNN được thực hiện trên thực tế”
Đối tượng của biện pháp này là các tang vật, phương tiện có liên quan đến VPHC,
có thể là đối tượng tác động của chủ thể VPHC; phương tiện để chủ thể dùng để thực hiện hành vi VPHC, do đó không thể tạm giữ các tài sản, hàng hoá, phương tiện của chủ thể VPHC nếu không chứng minh được tài sản, phương tiện đó có liên quan đến VPHC
21 Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an Nhân dân, NXB CAND, Hà Nội 2005 (trang 1056)
Trang 33Về thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC: Như đã phân tích ở phần
1.1.1 của luận văn VPHC là loại vi phạm phổ biến, do đó pháp luật hành chính giao thẩm quyền XPVPHC rộng, tuy nhiên thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC
thì pháp luật hạn chế hơn, theo quy định “Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử
phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính”22 như vậy chỉ những người có chức vụ nhất định trong các cơ quan QLNN như: Chủ tịch UBND cấp xã; Trưởng Công an cấp xã, Đội trưởng trong Công
an nhân dân… (quy định tại Chương II, phần thứ hai Luật XLVPHC năm 2012) mới
được tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC Tuy nhiên “Trong trường hợp chỉ áp dụng
hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức VPHC thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC” 23, như vậy về thẩm quyền có sự không thống nhất và trong thực tế các cơ quan QLNN thường áp dụng thẩm quyền tạm giữ phương tiện theo quy định tại Chương II, Phần thứ hai để ngăn ngừa việc lạm quyền của cán bộ thi hành công vụ
Về thủ tục: Việc tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC phải tuân theo trình tự,
thủ tục là người có thẩm quyền phải ban hành quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC; việc tạm giữ phải thể hiện bằng biên bản cụ thể và phải có chữ ký của tổ chức,
cá nhân vi phạm và người có thẩm quyền tạm giữ, trong biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện phải ghi rõ tên, số lượng, khối lượng, đặc điểm, chủng loại, nhãn hiệu, xuất
xứ, nơi giữ, bảo quản, tình trạng của phương tiện (nếu có), nếu “tang vật, phương tiện
vi phạm cần được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại
22 Khoản 3 Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012
23 Khoản 6 Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012
Trang 34diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến ” Quyết định và biên bản được lập thành hai bản, mỗi bên giữ một bản
Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC: việc tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC không xác định thời gian kết thúc mà chỉ xác định thời gian bắt đầu áp dụng biện pháp tạm giữ
Về việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ: Vì đây là
BPBĐ thi hành quyết định XPVPHC nên ngay sau khi chủ thể VPHC chấp hành quyết định XPVPHC thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải trả ngay tang vật, phương tiện cho chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng hợp pháp hoặc trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần ( Điều 79 Luật XLVPHC năm 2012), thì ngay khi đóng tiền phạt lần đầu
“thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ” ( khoản 2 Điều 125)
Riêng đối với tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải tổ chức bán ngay theo giá thị trường, số tiền bán đấu giá được gửi vào kho bạc Nhà nước sau khi chủ thể vi phạm chấp hành QĐXPVPHC thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải trả lại số tiền đã bán hàng hoá, vật phẩm tạm giữ đó cho chủ thể vi phạm, người quản lý, sở hữu hợp pháp
1.2.2.3 Biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề
Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì “Giấy phép,
chứng chỉ hành nghề là giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật để cá nhân, tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện Giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành nghề”
Giấy phép là loại văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân,
tổ chức là điều kiện để cho phép họ tiến hành một công việc hay nghề nghiệp nhất định Chứng chỉ hành nghề là loại văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp để hoạt động trong một ngành nghề Như vậy giấy phép, chứng chỉ hành nghề là một trong những điều kiện bắt
Trang 35buộc đối với cá nhân, tổ chức phải có, phải đáp ứng khi tiến hành công việc hay nghề nghiệp (kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện), như: giấy phép lái xe, bằng lái xe; chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế,…theo thống kê, hiện nay có đến 30 ngành nghề kinh doanh, dịch vụ phải có chứng chỉ hành nghề24; 243 ngành nghề kinh doanh, dịch vụ có điều kiện25…
Qua phân tích như trên có thể hiểu “Biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành QĐXPVPHC là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề của chủ thể vi phạm hành chính theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm bảo đảm các quyết định xử phạt của cơ quan QLNN được thực hiện trên thực tế”
Về thẩm quyền, thủ tục tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề: Như thẩm
quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC đã được phân tích tại mục 1.2.2.2
Về xử lý giấy phép, chứng chỉ hành nghề: Vì đây là BPBĐ thi hành
QĐXPVPHC nên ngay sau khi chủ thể VPHC chấp hành QĐXPVPHC thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải trả ngay giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần (theo Điều 79 Luật XLVPHC năm 2012) thì ngay khi đóng tiền phạt lần đầu thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ
Điểm khác biệt giữa tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc tạm giữ giấy phép chứng chỉ hành nghề không làm mất quyền sử dụng của chủ thể đối với các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cơ quan nhà nước cấp cho chủ thể đó, ví dụ tạm giữ giấy phép lái xe nhưng người lái xe đó vẫn được quyền điều khiển phương tiện trong thời gian bị cơ quan nhà nước tạm giữ giấy phép lái xe, đây là một hạn chế của pháp luật mà người vi phạm lợi dụng
để kéo dài thời gian chấp hành quyết định xử phạt, ảnh hưởng sự nghiêm minh của pháp luật, hơn nữa hiện nay việc theo dõi cấp, quản lý một số loại giấy phép như: Giấy phép lái xe, giấy đăng ký phương tiện… chưa chặt chẽ, còn đơn giản, từ thực tế trên dẫn đến
24 Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM (2019), Danh sách ngành nghề phải có chứng chỉ hành nghề khi đăng ký kinh doanh,
https://giayphepkinhdoanh.vn/danh-sach-nganh-nghe-yeu-cau-chung-chi/ (truy cập ngày 11/9/2019)
25 Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư.
Trang 36nhiều trường hợp chủ thể VPHC không chấp hành QĐXPVPHC (chấp nhận bỏ các loại giấy phép bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định) nhưng cơ quan QLNN chưa có biện pháp xử lý các loại giấy tờ này, nên tồn đọng nhiều
1.3 Vi phạm hành chính trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế và sự cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm
1.3.1 Khái niệm, vi phạm hành chính trên lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế
1.3.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu XPVPHC lĩnh vực QLNN về kinh tế do đó tác giả làm rõ khái niệm, đối tượng của QLNN về kinh tế Theo Giáo trình
QLNN về kinh tế của trường Đại học kinh tế Quốc dân năm 1999 “QLNN về kinh tế là
sự QLNN (gồm cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp) đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân”26, theo Giáo trình thì QLNN về kinh tế có 3 đặc điểm đó là: QLNN về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế; QLNN về kinh tế mang tính quyền lực của Nhà nước; QLNN về kinh tế nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế - xã hội là chính
Theo tài liệu QLNN về kinh tế do Phan Huy Đường (chủ biên) nêu khái niệm
“QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên các hoạt
động kinh tế (đối tượng và khách thể của hoạt động kinh tế) để sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế - xã hội”27 Thực chất của QLNN về kinh tế là kết hợp được mọi tổ chức, con người và sử dụng tốt mọi nguồn lực để đạt được những mục tiêu kinh tế đã đề ra
Cũng tiếp cận khái niệm QLNN về kinh tế nhưng theo góc độ chính trị học, trong Giáo trình Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước của Học viện chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh thì “QLNN về kinh tế là sự tác động của cơ quan QLNN có thẩm
Trang 37quyền vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”28, theo Giáo trình thì QLNN về kinh tế có 3 đặc điểm đó là: Chủ thể của hoạt động QLNN về kinh tế là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp); khách thể của QLNN về kinh tế là các hoạt động kinh tế; hoạt động QLNN về kinh tế bao giờ cũng hướng đến những mục tiêu nhất định
Qua phân tích hai khái niệm QLNN về kinh tế, có thể đưa ra khái niệm “QLNN
về kinh tế là sự tác động của cơ quan QLNN có thẩm quyền (gồm cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp) vào hoạt động của nền kinh tế quốc dân, nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước và đảm bảo tốc độ tăng trưởng, phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân” QLNN về kinh tế có những đặc điểm:
Chủ thể QLNN về kinh tế là các cơ quan QLNN bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Cơ quan lập pháp có nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật tạo
cơ sở pháp lý công bằng, minh bạch và tổ chức giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật đã ban hành; cơ quan hành pháp có trách nhiệm áp dụng pháp luật thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức giúp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế thực hiện pháp luật được đúng đắn; cơ quan tư pháp có trách nhiệm bảo vệ các quy định của pháp luật được thực thi nghiêm túc, đồng thời xử lý nghiêm minh các hành
vi vi phạm theo quy định
Đối tượng của QLNN về kinh tế là toàn bộ hoạt động nền kinh tế quốc dân, với chủ trương đa dạng hình thức sở hữu, phát huy tối đa các nguồn lực xã hội trong phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước ta, do đó đối tượng của QLNN về kinh tế cũng rất đa dạng, gồm các doanh nghiệp; hợp tác xã; hộ kinh doanh; trang trại trong nông nghiệp, trong đó doanh nghiệp là chủ thể quan trọng nhất, bao gồm các loại hình như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…
Mục đích QLNN về kinh tế: Nhà nước thông quan hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phương pháp phù hợp với từng giai đoạn cụ thể để quản lý kinh tế nhằm phát
28 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước, Nhà xuất
bản Lý luận chính trị, Hà Nội 2018 (trang 190)
Trang 38huy có hiệu quả tiềm lực trong nước và nước ngoài vào phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu nhằm đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững
1.3.1.2 Vi phạm hành chính phổ biến trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế
- Khái niệm vi phạm hành chính về QLNN trong lĩnh vực kinh tế
Trong các VBQPPL, cũng như Giáo trình luật hành chính, kinh tế chưa đề ra khái niệm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, tuy nhiên từ những phân tích khái niệm VPHC tại mục 1.1.1 và khái niệm QLNN về kinh tế tại mục 1.3.1.1 có thể
hiểu “Vi phạm hành chính về QLNN trong lĩnh vực kinh tế là hành vi do cá nhân, tổ
chức có năng lực pháp luật hành chính, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật hành chính về trật tự quản lý kinh tế làm ảnh hưởng hoặc có khả năng gây ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng, phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân
và theo quy định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”
Đặc điểm của vi phạm hành chính về QLNN trong lĩnh vực kinh tế ngoài đặc điểm VPHC như đã phân tích tại mục 1.1.1.2 thì vi phạm hành chính trong QLNN về kinh tế còn có những đặc điểm: (a) chủ thể vi phạm đa số là người có kiến thức về pháp luật, kinh doanh, có điều kiện về kinh tế do đó thường lợi dụng những sơ hở của pháp luật để vi phạm, (b) về địa bàn thực hiện hành vi vi phạm, trong thời đại ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin để giao dịch, hơn nữa với sự thuận lợi của các hình thức giao thông nên địa bàn hoạt động thường có phạm vi liên quan nhiều tỉnh, thành phố gây khó khăn cho việc kiểm tra, thu thập tài liệu chứng minh hành vi vi phạm trong quá
trình xử lý chủ thể vi phạm, (c) mục đích của của vi phạm là vì lợi nhuận, vì “bản chất
của doanh nghiệp sinh ra là để kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp trong nền kinh tế”29 do đó trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm các chủ thể cũng tính đến lợi ích, trong nhiều trường hợp chủ thể sẵn sàng vi phạm pháp luật vì lợi nhuận Các hành vi vi phạm phổ biến trong QLNN về kinh tế có thể chia ra các lĩnh vực như sau:
29 Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019), Giáo trình Luật doanh nghiệp trường Đại học kinh tế TPHCM, NXB Lao động
(trang 1)
Trang 39Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: đánh giá tình hình vi
phạm pháp luật lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo Thứ trưởng Bộ Công an thì “Trong
những năm gần đây, tình hình tội phạm, vi phạm về môi trường có những diễn biến phức tạp Trên thế giới đã biểu hiện rõ hiện tượng dịch chuyển ô nhiễm xuyên biên giới từ các nước phát triển sang các nước đang và kém phát triển, thông qua các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, xuất nhập khẩu Thậm chí, một số nước còn sử dụng tội phạm môi trường như một công cụ để tấn công phá hoại nền kinh tế nước khác”30, hoặc thiếu tướng Nhữ Thị Minh Nguyệt, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường - Bộ
Công an cho biết: “Tình hình phạm tội, vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên và
an toàn thực phẩm ngày càng phức tạp Thủ đoạn, hành vi của loại tội phạm này ngày càng tinh vi nhằm qua mặt lực lượng chức năng Lĩnh vực vi phạm lại đa dạng và rộng khắp trong cả nước”31 Những hành vi vi phạm phổ biến là: Trong sản xuất công nghiệp thì nhiều nhà đầu tư không chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn hoặc có hệ thống xử lý chất thải, nhưng không vận hành hoặc vận hành không đúng thiết kế xử lý không hết chất thải; Trong kinh doanh, nhập khẩu là nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức nguyên liệu sản xuất, thiết bị công nghệ lạc hậu, với thủ đoạn như “tạm nhập, tái xuất”; Trong khai thác tài nguyên, khoáng sản thì nạn chặt phá rừng ở nhiều nơi diễn ra rất bức xúc, đặc biệt là chặt phá các khu rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ…Tại các khu vực khai thác khoáng sản, do sử dụng hoá chất như thuỷ ngân, kim loại nặng, nên nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu bị ô nhiễm, tình trạng săn bắn, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã, quý hiếm diễn ra công khai ở nhiều nơi; Trong làng nghề, hầu hết do quy mô sản xuất nhỏ lẻ ở hộ gia đình, trình độ sản xuất thủ công theo kinh nghiệm, công nghệ thô sơ dẫn đến môi trường ô nhiễm
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng hoá: vi phạm
phổ biến là buôn lậu, trốn thuế, xâm phạm sở hữu trí tuệ, sản xuất và buôn bán hàng giả,
30 Phạm Quý Ngọ - Thứ Trưởng Bộ Công an, Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường, Tài liệu hội nghị tổng kết công tác năm 2010
31 Hoàng Thường Hiếu (4/4/2019), Tập trung phòng chống tội phạm về môi trường, Báo Nhân dân online,
https://www.nhandan.com.vn/bandoc/item/39734002-tap-trung-phong-chong-toi-pham-ve-moi-truong.html (truy cập 25/8/2019)
Trang 40hàng cấm có sự phối hợp giữa các đối tượng trong và ngoài nước; lợi dụng khoa học công nghệ nhiều chủ thể vi phạm thông qua thành lập các trang thông tin điện tử để hoạt động mua bán hàng nhập lậu, hàng giả, hàng không đạt chất lượng quy định.Trong lĩnh vực thuế, nổi lên là hành vi trốn thuế thông qua việc mua bán không xuất hoá đơn; mua bán hóa đơn giá trị gia tăng
xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định”32, là lĩnh vực rất rộng nên hành vi vi phạm rất đa dạng như: vận chuyển hàng hoá vượt tải trọng, số lượng người được phép chở; sử dụng phương tiện không đảm bảo an toàn; đón, trả khách không đúng nơi quy định; không chấp hành các quy định về quản lý nhân khẩu lưu trú, quy định về phòng cháy chữa cháy; sử dụng lao động nhưng không ký kết hợp đồng lao động
1.3.2 Khái niệm và sự cần thiết áp dụng biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế
1.3.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước
về kinh tế
- Như các phân tích ở mục 1.1.2.1 có thể hiểu “XPVPHC trong lĩnh vực QLNN
về kinh tế là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào quy định của pháp luật
áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với chủ thể có hành vi
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực QLNN về kinh tế” Đặc điểm XPVPHC trong lĩnh vực
QLNN về kinh tế, ngoài có các đặc điểm như đã phân tích tại mục 1.2.1.2 của luận văn thì XPVPHC trong lĩnh vực QLNN về kinh tế còn có những đặc điểm riêng cụ thể:
Thứ nhất, XPVPHC đối với các chủ thể vi phạm trong lĩnh vực QLNN về kinh
tế ít nhiều tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của chủ thể vi phạm, ảnh hưởng đến thương hiệu, uy tín của chủ thể được tạo ra trong thời gian dài, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa bàn, khu vực nhất định do đó quá trình xử phạt đòi hỏi phải khẩn trương làm rõ các hành vi vi phạm, hậu quả tác hại để áp dụng
32 Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an Nhân dân, NXB CAND, Hà Nội 2005 (trang 1182)