1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài lý luận – hướng hoàn thiện

66 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng trọng tài, để giúp Hội đồng trọng tài can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ tránh tình trạng bị các bên hủy hoại, tài sản tranh chấp bị

Trang 1

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 1 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5105847 Lớp: Luật Thương Mại 1-K36

Trang 2

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 2 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

NHẬN T CỦA GIẢNG VI N HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013

Trang 3

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 3 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

NHẬN T CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013

Trang 4

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 4 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

5 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 3

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 3

1.1.1 Khái niệm về các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài 3

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài 4

1.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 5

1.2.1 Biện pháp khẩn cấp tạm thời 5

1.2.1.1 Khái niệm về Biện pháp khẩn cấp tạm thời 5

1.2.1.2 Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời 6

1.2.1.3 Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời 8

1.2.1.4 Mục đích và ý nghĩa của các biện pháp khẩn cấp tạm thời 9

1.2.1.5 Lịch sử hình thành và phát triển của các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật về tố tụng trọng tài 9

1.2.2 Biện pháp thu thập chứng cứ 11

1.2.2.1 Khái niệm về biện pháp thu thập chứng cứ 11

1.2.2.2 Mục đích và ý nghĩa của biện pháp thu thập chứng cư 12

1.2.2.3 Lịch sử hình thành và sự phát triển của biện pháp thu thập chứng cư 12

1.2.3 Biện pháp triệu tập người làm chứng 13

1.2.3.1 Khái niệm về biện pháp triệu tập người làm chứng 13

1.2.3.2 Mục đích và ý nghĩa của biện pháp triệu tập người làm chứng 14

1.2.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển của biện pháp triệu tập người làm chứng trong pháp luật tố tụng trọng tài 14

Trang 5

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 5 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 16

2.1 BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 16 2.1.1 Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 16 2.1.2 Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng trọng tài 17 2.1.2.1 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 17 2.1.2.2 Thẩm quyền thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 19 2.1.3 Thời điểm yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 22 2.1.4 Thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 23 2.1.4.1 Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 23 2.1.4.2 Thủ tục thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời 26 2.1.4.3 Thủ tục hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 27 2.1.5 Hiệu lực và thi hành quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 27 2.1.5.1 Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp

tạm thời 27 2.1.5.2 Thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 28 2.1.6 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời 29 2.1.7 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về biện pháp khẩn cấp tạm thời 32 2.1.8 Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 33 2.2 BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ 33 2.2.1 Trách nhiệm của các bên tranh chấp trong việc thu thập chứng cứ 33 2.2.2 Thẩm quyền áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Hội đồng trọng tài trong hoạt động tố tụng trọng tài 35 2.2.3 Các biện pháp thu thập chứng cứ 36 2.2.4 Hỗ trợ của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ trong hoạt động tố tụng trọng tài 38 2.2.5 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ 40

Trang 6

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 6 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

2.3 BIỆN PHÁP TRIỆU TẬP NGƯỜI LÀM CHỨNG 40 2.3.1 Thẩm quyền áp dụng biện pháp triệu tập người làm chứng 40 2.3.2 Hỗ trợ Tòa án trong việc triệu tập người làm chứng trong hoạt động tố tụng trọng tài 41 2.3.3 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp triệu tập người làm chứng 42

CHƯƠNG 3: NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 44

3.1 BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI 44 3.1.1 Hạn chế về thời điểm, thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 45 3.1.2 Hạn chế trong việc thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính 47 3.1.3 Hạn chế trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 48 3.1.4 Hạn chế trong quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại 50 3.2 BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ 52 3.2.1 Hạn chế trong sự chủ động của Hội đồng trọng tài khi áp dụng biện pháp yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung tranh chấp để thu thập chứng cứ 52 3.2.2 Hạn chế trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của các bên tranh chấp 53 3.2.3 Hạn chế trong quy định về chế tài áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ 53 3.3 BIỆN PHÁP TRIỆU TẬP NGƯỜI LÀM CHỨNG 54

KẾT LUẬN 56

Trang 7

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 7 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình đổi mới và hội nhập đã tạo nên một bước phát triển mạnh mẽ cho nền kinh

tế của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh VN đã gia nhập WTO và nên kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình kinh tế thị trường Vì vậy, việc xây dựng các cơ chế tài phán đa dạng, phù hợp với đặc điểm của hoạt động thương mại và đáp ứng nhu cầu của các bên là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp thương mại ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trọng tài thương mại Trong đó Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp được các bên tranh chấp đánh giá cao và lựa chọn giải quyết khi có tranh chấp về thương mại So với Tòa án, giải quyết bằng trọng tài có nhiều

ưu điểm nổi bật, phù hợp với hoạt động thương mại như thủ tục giải quyết linh hoạt; cơ chế giải quyết nhanh chóng, bí mật; tính chuyên nghiệp của trọng tài viên…

So với thực tiễn ở nước ngoài thì việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam chưa thực sự phát triển Thực tế này có nhiều lý do, trong đó lý do quan trọng là các văn bản quy định về việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Từ thực tiễn trên đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần nghiên cứu, làm rõ thêm, trong đó có quy định về các biện pháp bảo đảm trong quá trình

tố tụng trọng tài Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Biện pháp bảo đảm trong tố tụng

trọng tài – lý luận và hướng hoàn thiện” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật

của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài, nội dung của chế định biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài; nhận diện những hạn chế, bất cập của chế định này và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Từ đó, tìm ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại hiện nay

Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài

- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 về những biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài

Trang 8

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 8 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

- Khảo sát tình hình thực hiện các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài trong thực tiễn hiện nay

- Tìm ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm trong

tố tụng trọng tài, là các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài và thực trạng thực hiện các biện pháp này trong hoạt động tố tụng trọng tài hiện nay Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn cử nhân, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc về nội dung đề tài như khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài; cơ sở của việc pháp luật quy định biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài; nội dung của các quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 về biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm qua

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khỏa, nội dung của luận văn gồm

Trang 9

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 9 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG

TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

1.1.1 Khái niệm về các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài

Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội giao dịch thương mại với các đối tác trong và ngoài nước Cùng với đó, các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại nói chung và các hoạt động thương mại nói riêng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết nhanh chóng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho các hoạt động kinh doanh thương mại được diễn ra một cách liên tục và thuận tiện Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại là vấn đề vô cùng phức tạp do tham gia vào các quan hệ này có nhiều chủ thể với những địa

vị pháp lý không giống nhau Do đó, việc lựa chọn được một phương thức giải quyết tranh chấp hợp lý là một vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc đảm bảo và thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển thuận lợi Trên thực tế, Toà án là cơ quan có đủ chức năng để thực hiện những cơ sở pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp nói chung Song các đặc tính gay gắt, phức tạp và sòng phẳng của các hoạt động thương mại thì bên cạnh Toà án còn có những biện pháp giải quyết tranh chấp khác có hiệu quả hơn nhiều Một trong những biện pháp đó là "Trọng tài" Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử, đặc biệt là trong các tranh chấp kinh doanh thương mại So với Tòa án, thì giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

có nhiều ưu điểm nổi bật hơn như thủ tục tố tụng trọng tài linh hoạt, giải quyết nhanh chóng, bí mật; tính chuyên nghiệp cao của trọng tài viên…

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài, với tư cách là bên thứ

ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện1 Sỡ dĩ việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được sử dụng rộng rãi và được các bên tranh chấp lựa chọn là vì đây là một một phương thức giải quyết có

cơ chế mềm dẻo và linh hoạt nhờ vào các quy định về thủ tục tố tụng trọng tài

Cũng như thủ tục tố tụng Tòa án, trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng trọng tài cũng phải tuân theo các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, từ việc khởi kiện, xét xử, thi hành phán quyết trọng tài, đến việc thực hiện quyền và nghĩa

vụ của các bên tranh chấp,… Đây chính là thủ tục tố tụng trọng tài Nói cách khác, tố

1

TS Cao Nhất Linh, bài giảng Luật Thương Mại (phần 3), tr 18

Trang 10

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 10 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

tụng trọng tài được hiểu là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Không giống như thủ tục tố tụng dân sự hay hình sự, mang tính bắt buộc theo một khuôn khổ luật định Trong thủ tục tố tụng trọng tài, ý chí của các bên được tôn trọng, cho nên đại bộ phận các quy phạm về tố tụng trọng tài đều là những quy phạm tùy nghi,

cụ thể luật quy định: cho phép các bên có thỏa thuận khác và nếu không có thỏa thuận khác thì mới phải áp dụng theo các quy định của pháp luật Sự linh hoạt còn thể hiện ở việc các Trung tâm trọng tài khá tự do trong việc ban hành các quy tắc tố tụng2

Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng trọng tài, để giúp Hội đồng trọng tài can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ tránh tình trạng bị các bên hủy hoại, tài sản tranh chấp bị tẩu tán, triệu tập nhân chứng hoặc các biện pháp bảo đảm thiết yếu khác cho việc thi hành các nghĩa vụ cũng như thi hành phán quyết của trọng tài, mà pháp luật

đã quy định Hội đồng trọng tài (theo sự yêu cầu của các bên tranh chấp) có thẩm quyền

áp dụng hoặc yêu cầu Tòa án áp dụng một số biện pháp bảo đảm trong tố tụng như: biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp triệu tập người làm chứng, biện pháp thu thập chứng cứ,…

Vậy ta có thể hiểu biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài là những biện pháp

pháp lý được Hội đồng trọng tài áp dụng theo yêu cầu của các bên tranh chấp bằng một trình tự, thủ tục luật định nhằm bảo đảm cho quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra thuận lợi, công bằng và chính xác

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài

Biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài là một chế định pháp luật tương đối đặc biệt, là một phần tố tụng phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được Hội đồng trọng tài thụ lý giải quyết3 Được thể hiện qua những đặc điểm đặc trưng riêng biệt sau:

 Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài do một trong các bên tranh chấp yêu cầu áp dụng nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ, còn Hội đồng trọng tài thường không có quyền tự mình ra quyết định Trừ những trường hợp hạn hữu Hội đồng trọng tài mới tự mình ra các quyết định áp dụng, ví

dụ được nêu khoản 3, 4 Điều 46, Luật trọng tài thương mại năm 2010

 Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài Ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi

Trang 11

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 11 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

của bên yêu cầu sẽ không được bảo đảm hoặc ảnh hưởng đến quyết định của Hội đồng trọng tài nếu không áp dụng ngay biện pháp triệu tập người làm chứng hay thu thập chứng cứ từ một bên thứ ba nào đó

 Thứ ba, trong quá trình thực hiện các biện pháp bảo đảm trong tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài cần có sự hỗ trợ, trợ giúp từ phía Tòa án thông qua văn bản đề nghị từ Hội đồng trọng tài Vì trọng tài có thẩm quyền trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên có tranh chấp nên Hội đồng trọng tài không thể ra lệnh cho một bên thứ

ba, đặc biệt là các cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin, chứng cứ ( như thông tin về ngân hàng, bất động sản do các cá nhân, cơ quan quản lý, nắm giữ) hay yêu cầu một bên thứ ba làm nhân chứng Vì vậy mà đối với bên thứ ba, sự can thiệp của cơ quan công quyền như Tòa án là cần thiết4

 Thứ tư, quy trình thực hiện các biện pháp bảo đảm để thực hiện bảo toàn tài sản tranh chấp, bảo vệ nhân chứng hoặc các biện pháp khẩn cấp tạm thời là thủ tục rút gọn, dựa trên yêu cầu, các chứng cứ, hồ sơ của bên yêu cầu cung cấp, thường không thể có thời gian để tổ chức lấy lời khai của nhân chứng mà Hội đồng trọng tài quyết định thường là dựa trên hồ sơ

1.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 1.2.1 Biện pháp khẩn cấp tạm thời

1.2.1.1 Khái niệm về Biện pháp khẩn cấp tạm thời

Như đã đề cập ở phần trên, khi giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại phải trải qua một quá trình tố tụng bao gồm nhiều thủ tục và giai đoạn khác nhau theo trình tự luật định Từ việc nộp đơn khởi kiện cho đến khi tranh chấp đó được giải quyết và kết thúc thi hành phán quyết trọng tài, các bên tranh chấp phải mất một khoảng thời gian bởi Hội đồng trọng tài không thể đưa ra phán quyết trong một sớm một chiều mà phải xem x t, nghiên cứu và đánh giá k lưỡng những chứng cứ có được Trên thực tế, xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà thời gian giải quyết tranh chấp còn có thể k o dài hơn trong quy định Điều này sẽ dẫn đến nhiều khả năng một trong các bên tranh chấp thực hiện các hành vi tiêu cực như hủy hoại chứng cứ, tẩu tán tài sản làm thay đổi tính chất của vụ việc tranh chấp và gây khó khăn cho bên còn lại trong quá trình thi hành phán quyết trọng tài Lúc này, để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp và đảm bảo cho phán quyết đưa ra được đúng đắn Hội đồng trọng tài phải đưa ra các giải pháp khác nhau để ngăn chặn các hành vi tiêu cực nêu trên Các giải pháp đó được gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời

4

TS Đỗ Văn Đại – TS Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia, năm 2011,Tr 235

Trang 12

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 12 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Như vậy, có thể định nghĩa biệ pháp hẩ ấp tạ thời tro tố tụ trọ t i l

iệ pháp đượ trọ t i qu ết đị h áp ụ tro quá tr h iải qu ết tr h hấp thư ại hằ iải qu ết hu ầu ấp á h ủ á tr h hấp ảo vệ h c

ảo to t i sả trá h thiệt hại h thể h phụ đượ ho đả ảo ho thi

h h phá qu ết trọng tài 5

Nếu nhìn nhận một cách trực diện, biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ là giải pháp tạm thời được các bên yêu cầu Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng trong tình trạng khẩn cấp nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của các bên tranh chấp, bảo vệ chứng cứ và bảo toàn tài sản để bảo đảm cho việc giải quyết tranh chấp đúng đắn, khách quan, bảo đảm cho phán quyết trọng tài được thi hành trên thực tế

1.2.1.2 Đ điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là một biện pháp quan trọng trong tố tụng trọng tài Từ tên gọi đã cho chúng ta thấy được hai đặc tính quan trọng của nó là tính khẩn cấp và tính tạm thời Song từ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào thực tế đã làm cho bản thân nó có thêm tính đảm bảo Như vậy, đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở ba đặc tính là: Tính khẩn cấp, tính tạm thời và tính đảm bảo

 Tính khẩn cấp của biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở chỗ biện pháp

khẩn cấp tạm thời chỉ được áp dụng khi tranh chấp đang xảy ra có sự khẩn cấp Với quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời này mà Hội đồng trọng tài có khả năng can thiệp nhanh, xử lý nhanh, xử lý hiệu quả tình trạng khẩn cấp vụ việc tranh chấp Đây có thể xem là đặc điểm nổi bật nhất giúp phân biệt biện pháp khẩn cấp tạm thời với các biện pháp khác trong tố tụng trọng tài bởi khi vụ tranh chấp đang xảy ra có sự khẩn cấp thì biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được yêu cầu áp dụng mà không phải là các biện pháp khác

Thông thường các vụ việc sẽ được Hội đồng trọng tài áp dụng một trình tự, thủ tục chung để giải quyết Thế nhưng, đối với những trường hợp chứng cứ đang bị

đe dọa, tài sản có nguy cơ bị tẩu tán thì không thể áp dụng trình tự, thủ tục thông thường để giải quyết vì mất rất nhiều thời gian hi ấy chứng cứ đã bị hủy hoại, tài sản đã không còn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả của phán quyết, quá trình thi hành phán quyết trọng tài và quyền lợi của các bên tranh chấp Vì vậy tính khẩn cấp của biện pháp khẩn cấp tạm thời còn thể hiện ở chỗ nó được quyết định

áp dụng một cách nhanh chóng và gấp rút Tuy nhiên, trong tố tụng trọng tài biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không mặc nhiên được Hội đồng trọng tài áp dụng mà

nó chỉ được áp dụng theo yêu cầu của các bên tranh chấp Như vậy, sự khẩn cấp ở đây bắt nguồn từ yêu cầu của các bên tranh chấp chứ không có bất cứ một định

5 em Giáo trình Luật TTDS, Đại học Luật Hà Nội, N B Chính trị quốc gia, Tr 179

Trang 13

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 13 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

nghĩa nào về sự khẩn cấp để Hội đồng trọng tài có thể áp dụng khi những điều đó xảy ra

 Tính tạm thời là đặc điểm thứ hai của biện pháp khẩn cấp tạm thời Nó được hình thành từ tính khẩn cấp và thể hiện ở hai thuộc tính sau:

Th nhất, iệ pháp hẩ ấp tạ thời không phải là phán quyết cuối cùng về

giải quyết tranh chấp tại trọ t i thư ại

Biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ là giải pháp mang tính chất tình thế nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của các bên tranh chấp khi vụ tranh chấp đang có

sự khẩn cấp như: chứng cứ bị đe dọa, tài sản có nguy cơ bị tẩu tán,…có nguy

cơ làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tranh chấp và thi hành phán quyết của trọng tài Vì thế, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không phải là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài mà nó chỉ mang tính chất

bổ trợ cho hoạt động tố tụng chính đang diễn ra

Th hai, iệ pháp hẩ ấp tạ thời chỉ tồn tại trong một thời gian ng n

Biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được áp dụng khi tranh chấp có sự khẩn cấp Thế nhưng, trên thực tế sự khẩn cấp chỉ xuất hiện và tồn tại trong một khoản thời gian ngắn nên khi sự khẩn cấp qua đi biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng cần

phải được hủy bỏ để tránh gây thiệt hại cho bên bị áp dụng

 Tính đảm bảo là đặc tính quan trọng trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên thực tế

h hất iệ pháp hẩ ấp tạ thời đượ áp ụ để đả ảo t h đ đ

và lợi ích của bên còn lại

h h i qu ết đị h áp ụ iệ pháp hẩ ấp tạ thời đượ đả ảo thi

h h ằ ư hế h ư

Một quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ phát huy được tác dụng khi nó được thi hành trên thực tế Nói cách khác, nếu không được đảm bảo thi hành thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không còn ý

Trang 14

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 14 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

nghĩa hi đó chẳng những quá trình giải quyết tranh chấp gặp nhiều khó khăn

mà quyền lợi của các bên tranh chấp cũng không được đảm bảo Trọng tài thương mại là cơ quan tài phán nên theo quy định của pháp luật thì những quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài sẽ được thi

hành thông qua cơ quan thi hành án và đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước

Tóm lại, tính khẩn cấp, tính tạm thời và tính bảo đả l đ điểm quan trọng của biện pháp khẩn cấp tạm thời được Hội đồng trọng tài áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp Nó tạo điều kiện cho quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi v đảm bảo cho phán quyết của Hội đồng trọ t i được thi hành trên thực tế

 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

 Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài

 Kê biên tài sản đang tranh chấp

 Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp

 Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên

 Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

Nhìn lại tổng thể các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 có thể dễ dàng nhận thấy các biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể được quy định trong pháp luật trọng tài Việt Nam là tương đối đa dạng, tương đối đầy đủ, toàn diện, đã một phần đáp ứng được về cơ bản nhu cầu của thực tiễn tố tụng trọng tài ở Việt Nam Việc ghi nhận nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau đã tạo nhiều thuận lợi cho người có quyền yêu cầu xác định, lựa chọn những biện pháp phù hợp với ý chí của mình để yêu cầu áp dụng Nói một cách khác, với nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định, trong nhiều tình thế khẩn cấp của vụ tranh chấp, các bên tranh chấp có thể kịp thời lựa chọn được một hoặc một số biện pháp phù hợp, từ đó bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp Tuy nhiên, các biện pháp khẩn cấp tạm thời

6

em Điều 49, Luật trọng tài thương mại năm 2010

Trang 15

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 15 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

được quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 chưa thật sự đầy đủ, so với pháp luật

về tố tụng dân sự

1.2.1.4 Mụ đ h v ý hĩ ủa các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng với mục đích giải quyết những nhu cầu cấp bách của các bên tranh chấp, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản tranh chấp và đảm bảo cho thi hành phán quyết của trọng tài Vì thế việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên thực tiễn mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết tranh chấp

tại trọng tài thương mại

 Biện pháp khẩn cấp tạm thời bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của các bên tranh chấp thông qua việc bảo toàn tài sản để đảm bảo thi hành phán quyết trọng tài, giúp các bên tranh chấp tránh khỏi những khó khăn sau khi tranh chấp được

giải quyết

 Biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần ngăn chặn các hành vi tiêu cực làm sai lệch tính chất vụ tranh chấp và ảnh hưởng đến tài sản thi hành án từ đó nâng

cao ý thức chấp hành pháp luật của các bên tranh chấp

1.2.1.5 Lịch sử hình thành và phát triển của các biện pháp khẩn cấp tạm thời

trong pháp luật về tố tụng trọng tài a) Từ ngày 01/7/2003 đế trư c ngày 01/01/2011

Trước khi Pháp lệnh về trọng tài thương mại 2003 ra đời, việc giải quyết các tranh chấp tại trọng tài thương mại vẫn chưa phát triển, các văn bản pháp luật về tố tụng trọng tài vẫn chưa được hình thành cụ thể Vì vậy mà những quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài cũng chưa được đề cập đến trong các văn bản pháp luật,

mà các biện pháp này chỉ xuất hiện trong các pháp lệnh về tố tụng dân sự nói chung và việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ có khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án Ngày 01/7/2003 Pháp lệnh về trọng tài thương mại bắt đầu có hiệu lực đã lần đầu tiên ghi nhận biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng tại trọng tài Theo đó, biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được quy định từ Điều 33 đến Điều 36 trong pháp lệnh và bao gồm 06 biện pháp sau:

Bảo toàn ch ng c tro trường hợp ch ng c đ ị tiêu huỷ ho c có nguy

ị tiêu huỷ;

Kê biên tài sản tranh chấp;

Cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp;

Cấ th đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;

Kê biên và niêm phong tài sản ở i ửi giữ;

Phong toả tài khoản tại ngân hàng

Trang 16

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 16 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Tuy nhiên, pháp lệnh lại không cho phép Hội đồng trọng tài quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Theo quy định nếu quyền và lợi ích bị xâm phạm các bên có thể gởi đơn đến Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý để yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Nh hu tro i i đoạn này biện pháp khẩn cấp tạm thời đã ư đầu được ghi nhận trong tố tụng trọng tài, tuy nhiên nhữ qu định này vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế hư phát hu hết tác dụ hư o uốn của biện pháp khẩn cấp tạm thời

b) Từ 01/01/2011 đến nay

Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời (có hiệu lực từ ngày 01/01/2011) đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật nước ta về hoạt động tố tụng tại trọng tài Theo đó, biện pháp khẩn cấp tạm thời tiếp tục được ghi nhận chi tiết và đầy đủ hơn trong chương VIII gồm 4 điều ( từ Điều 48 đến Điều 53) Nhìn chung so với Pháp lệnh về trọng tài thương mại 2003 thì Luật trọng tài thương mại 2010 có một số điểm mới sau đây:

 Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm:

 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;

 Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành

vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;

 Kê biên tài sản đang tranh chấp;

 Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;

 Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;

 Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

 Về thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Nếu pháp lệnh về trọng tài thương mại 2003 chỉ cho phép Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì sang Luật trọng tài thương mại 2010 thẩm quyền ấy được trao cho cả Tòa án và Hội đồng trọng tài

 Về trách nhiệm bồi thường: Trách nhiệm bồi thường không chỉ được đặt ra đối với bên yêu cầu mà còn đối với cả Hội đồng trọng tài khi việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây thiệt hại

Như vậ đế i i đoạn này biệ pháp hẩ ấp tạ thời trong tố tụng trọ t i đã được ghi nhậ há đầ đủ và cụ thể, góp phầ ă o hiệu quả của việc áp dụng biệ pháp hẩ ấp tạ thời trong giải quyết tranh chấp tại trọng tài thư ại

Trang 17

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 17 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

1.2.2 Biện pháp thu thập chứng cứ

1.2.2.1 Khái niệm về biện pháp thu thập ch ng c

Quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ việc tranh chấp cho đến khi có phán quyết giải quyết tranh chấp và thi hành phán quyết Trong suốt quá trình đó, hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới Hoạt động này là cơ sở

để các bên tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn cứ để Hội đồng trọng tài đưa ra các phán quyết của mình

Chứng cứ trong tố tụng trọng tài có thể hiểu là những thông tin khách quan, những sự kiện, tình tiết có liên quan đến nội dung vụ tranh chấp được thu thập, nghiên cứu trong quá trình tố tụng trọng tài, là công cụ để Hội đồng trọng tài có thể nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan Đối với các bên tranh chấp, chứng cứ là phương tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình7

 Chứng cứ vật chất: đây là những tình tiết, thông tin mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác qua Ví dụ như hợp đồng được ký kết giữa các bên, tài sản tranh chấp…

Vì chứng cứ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, mà Hội đồng trọng tài thì phải căn cứ vào chứng cứ để giải quyết vụ tranh chấp Vì vậy, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc đúng đắn thì đỏi hỏi việc tập hợp, nghiên cứu chứng cứ của Hội đồng trọng tài trong quá trình tố tụng là rất quan trọng, có ảnh hưởng đến kết quả của vụ tranh chấp Việc thu thập chứng cứ của Hội đồng trọng tài ở đây được thực hiện trong trường hợp các bên tranh chấp không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ không đủ để giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài mới buộc áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ Việc tập hợp, nghiên cứu chứng cứ như thế trong tố tụng trọng tài được gọi là thu thập chứng cứ

Vậy ta có thể hiểu thu thập chứng cứ trong tố tụng trọng tài là việc phát hiện, lựa chọn và tập hợp chứng cứ của Hội đồng trọng tài để đưa vào hồ sơ nghiên cứu, đánh giá,

7

TS Đỗ Văn Đại – TS Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia, năm

2011, Tr 234

Trang 18

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 18 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

sử dụng cho việc giải quyết tranh chấp một cách đúng đắn Đây là công việc rất quan trọng, tạo cơ sở cho quá trình chứng minh, có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết tranh chấp Trong tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện hành, hoạt động thu thập chứng cứ

có thể được tiến hành thông qua các biện pháp như: lấy lời khai của các bên tranh chấp, của người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, tham vấn ý kiến của chuyên gia…

1.2.2.2 Mụ đ h v ý hĩ ủa biện pháp thu thập ch ư

Chứng cứ là một vấn đề trung tâm và quan trọng trong quá trình tố tụng trọng tài Mọi hoạt động trong quá trình chứng minh vụ tranh chấp chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ Dựa vào chứng cứ mà các bên tranh chấp có cơ sở bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cũng như đưa ra yêu cầu đối với bên còn lại trong vụ tranh chấp; còn đối với Hội đồng trọng tài thì chứng cứ là điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc tranh chấp cũng như đưa ra phán quyết cuối cùng Vì vậy, việc thu thập chứng cứ có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh của tố tụng trọng tài, giúp Hội đồng trọng tài giải quyết vụ việc tranh chấp chính xác, đúng pháp luật và phù hợp với thực tế khách quan Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Hội đồng trọng tài có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ tranh chấp Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không lại phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không của các bên tranh chấp8

Do

đó, mặc dù Luật trọng tài thương mại 2010 đã quy định các bên tranh chấp có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Hội đồng trọng tài xem x t giải quyết tranh chấp, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các bên thì sẽ không thực tế vì các bên có thể cung cấp các chứng có lợi cho mình hoặc bất lợi cho bên kia mà tạo ra bằng chứng giả, làm việc giải quyết tranh chấp thiếu khách quan, làm lợi cho bên này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của bên khác Vì vậy việc quy định thẩm quyền thu thập chứng cứ của Hội đồng trọng tài là rất cần thiết, đảm bảo tính chủ động của Hội đồng trọng tài

1.2.2.3 Lịch sử hình thành và sự phát triển của biện pháp thu thập ch ư

trong pháp luật tố tụng trọng tài Việt Nam

Văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đền trọng tài là Quyết định số 04/TTg ngày

01/4/1960 của Thủ tướng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quy định về việc thành lập

Cơ quan trọng tài của nhà nước, đây cũng là cơ quan trọng tài đầu tiên ở Việt Nam Và

8

Ths Nguyễn Văn Linh – Ths Nguyễn Thị Hạnh, Vai trò của thẩm phán trong thu thập ch ng c xây dựng hồ s

vụ án, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, trang

http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/vai-tro-cua-tham-phan-trong-

thu-thap-chung-cu-xay-dung-ho-so-giai-quyet-vu-an-dan-su/?searchterm=Vai%20tr%C3%B2%20c%E1%BB%A7a%20th%E1%BA%A9m%20ph%C3%A1n%20trong%20t hu%20th%E1%BA%ADp%20ch%E1%BB%A9ng%20c%E1%BB%A9 [ xem ngày 20/8/2013]

Trang 19

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 19 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

một nghị định khác ban hành ngày 14/1/1960 quy định về nguyên tắc hoạt động của trọng tài nhà nước là thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế vừa thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế9 Đây cũng là hai văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập đến trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh tế Tuy nhiên

cả hai văn bản trên đều không đề cập đến vấn đề tố tụng trọng tài, cũng như vấn đề chứng

cứ và chứng minh, mà chỉ tập trung quy định về chức năng của trọng tài Mãi cho đến Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì vấn đề về tố tụng trọng tài và chứng cứ, chứng minh mới được luật định Tại Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 quy định kèm theo đơn kiện, bản tự vệ của nguyên đơn và bị đơn phải đưa ra “chứng cứ”10

Ngoài việc yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ, Pháp lệnh trọng tài thương mại còn quy định “trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ; mời giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên và phải thông báo cho các bên”11

Việc quy định Hội đồng trọng tài được thu thập chứng cứ là rất cần thiết, đảm bảo tính chủ động của Hội đồng trọng tài Đến khi Luật trọng tài thương mại 2010, quyền tự chủ này của Hội đồng trọng tài được ghi nhận lại và có hướng mở rộng thêm thẩm quyền cho Hội đồng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 46 Luật trọng tài thương mại 2010

1.2.3 Biện pháp triệu tập người làm chứng

1.2.3.1 Khái niệm về biện pháp triệu tập ười làm ch ng

Cả Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Luật trọng tài thương mại 2010 đều không quy định như thế nào là người làm chứng Nhưng theo Luật tố tụng dân sự năm

2004 sửa đổi, bổ sung 2011 thì định nghĩa “người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án có thể được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng”12

Trang 20

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 20 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Điều này cũng có nghĩa là các bên trong vụ tranh chấp phải chủ động tìm người làm chứng, sau đó mới đề nghị Hội đồng trọng tài triệu tập người làm chứng đến làm sáng tỏ

vụ tranh chấp, chứ Hội đồng trọng tài không tự mình triệu tập nhân chứng khi không có

đề nghị từ các bên

Vậy ta có thể hiểu biện pháp triệu tập người làm chứng trong tố tụng trọng tài là việc Hội đồng trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp triệu tập những người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ tranh chấp, nhằm bổ sung những chứng cứ khách quan

1.2.3.2 Mụ đ h v ý hĩ ủa biện pháp triệu tập ười làm ch ng

Như đã phân tích ở phần trên, chứng cứ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, mà lời khai của người làm chứng cũng là một dạng tồn tại của chứng cứ Trong lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiều tin tức, thông tin về những tình tiết của vụ tranh chấp, nhằm giúp Hội đồng trọng tài tìm ra sự thật khách quan của vụ việc13

Mặc dù quy định của pháp luật là các bên có trách nhiệm cung cấp chứng cứ và thông tin của người làm chứng Tuy nhiên do các bên trong tranh chấp không thể ra lệnh cho một chủ thể thứ ba khác phải ra làm nhân chứng hoặc cung cấp tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp, vì vậy việc quy định thẩm quyền triệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài và sự hỗ trợ của Tòa án là cần thiết và rất quan trọng Điều này sẽ giúp quá trình giải quyết tranh chấp được thuận lợi, nhanh chóng và chính xác

1.2.3.3 Lịch sử hình thành và phát triển của biện pháp triệu tập ười làm

ch ng trong pháp luật tố tụng trọng tài

Giống như biện pháp thu thập chứng cứ, vấn đề về nhân chứng trong tố tụng trọng tài chỉ mới bất đầu được quy định trong Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 So với những quy định của pháp luật về nhân chứng trong tố tụng dân sự, thì vấn đề nhân chứng trong

tố tụng trọng tài được quy định muộn hơn Quy định pháp luật về người làm chứng trong

tố tụng dân sự được quy định khá sớm Ngày 29-11-1989, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Có thể xem đây là bước thay đổi, phát triển rõ nét của pháp luật về chứng cư, nhân chứng trong tố tụng dân sự Việt Nam Tại khoản 1, Điều 26 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 quy định

“Người nào biết bất cứ tình tiết nào liên quan đến vụ án đều có thể được Toà án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng Người làm chứng có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những gì mà mình biết về vụ án” Đến khi Luật tố tụng dân sự 2004 ra đời đã bổ sung và hoàn thiện hơn quy định về người làm chứng tại hai Điều 65, 66 Việc hoàn thiện những quy định pháp luật về người làm chứng trong tố tụng dân sự, đã tạo điều kiện thuận lợi

13

Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, trường đại học luật Hà Nội,NXB Chính trị quốc gia, năm 2003, Tr 83

Trang 21

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 21 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

hơn cho các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như giúp Tòa án ra phán quyết đúng đắn, khách quan

Thấy được vai trò quan trọng, không thể thiếu của việc triệu tập người làm chứng trong vụ tranh chấp, mà pháp luật về tố tụng trọng tài đã kịp thời ghi nhận tại Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, cụ thể theo Điều 39, Pháp lệnh trọng tài quy định “các bên có quyền mời nhân chứng” Đây là lần đầu tiên, pháp luật về tố tụng trọng tài có quy định về người làm chứng, tuy nhiên quy định này còn rất nhiều hạn chế khi chỉ cho phép các bên tranh chấp tự mình “mời nhân chứng”, trong trường hợp nhân chứng do các bên “mời”

mà không đến (vì các bên tranh chấp không mang quyền lực nhà nước, không có tính cưỡng chế, nên không thể loại trừ trường hợp trên) thì sẽ gây cản trở cho quá trình giải quyết tranh chấp

Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời, đã khắc phục những hạn chế trên Ngoài việc nhắc lại quyền mời nhân chứng của các bên tại Điều 55 Luật trọng tài thương mại 2010, Luật còn cho phép trong đơn kiện, nguyên đơn có thể nêu “tên, địa chỉ của người làm chứng”14 Điểm tiến bộ hơn nữa của Luật trọng tài thương mại so với Pháp lệnh là mở rộng thẩm quyền của Hội đồng trọng tài khi quy định về thẩm quyền triệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài tại Điều 46 Điều này đã góp phần hỗ trợ trọng tài giải quyết tranh chấp thuận lợi và dễ dàng hơn

14

Xem khoản 2, Điều 30 Luật trọng tài thương mại 2010

Trang 22

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 22 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO TRONG

HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 2.1 BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

2.1.1 Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quy định của pháp luật về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các chủ thể trong vụ tranh chấp thực chất là công nhận quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài bảo vệ khẩn cấp, kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đây là quy định rất cần thiết, cần được pháp luật quy định trước tiên bởi có quy định về vấn đề này thì mới

có cơ sở để quy định về những nội dung khác của biện pháp khẩn cấp tạm thời Xuất phát

từ ý nghĩa nêu trên mà pháp luật về tố tụng trọng tài đã có quy định rõ những chủ thể cụ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, còn việc các chủ thể đó có sử dụng đến quyền đó hay không sử dụng quyền đó khi nào là thuộc quyền tự định đoạt của

họ15

Trong tố tụng dân sự, người ta chia biện pháp khẩn cấp tạm thời làm hai loại: loại thứ nhất là do Tòa án tự mình áp dụng mà không cần phải có sự yêu cầu của các bên; loại thứ hai là Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên cơ sở yêu cầu của các bên16 Đối với tố tụng trọng tài, Hội đồng trọng tài chỉ có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên cơ sở yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, quy định trên đã được ghi nhận lần đầu từ Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, cụ thể tại Điều 33 Pháp lệnh trọng tài 2003 quy định “Trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu

áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời”

Như vậy theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì chỉ có các bên tranh chấp mới

có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này được nhắc lại tại khoản 1, Điều 48 Luật trọng tài thương mại 2010 “các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” So với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, thì Luật trọng tài thương mại 2010 không có mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Thuật ngữ “các bên tranh chấp” được quy định trong luật, ở đây theo người viết là nên hiểu theo nghĩa rộng tức là bao gồm cả những người đại diện hợp pháp của các bên

Trang 23

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 23 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

trong tranh chấp Người đại diện hợp pháp của các bên tranh chấp là người thay mặt các bên tranh chấp tham gia vào quá trình tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, việc tham gia tố tụng của người đại diện có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là trong trường hợp các bên tranh chấp không tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình

Vậy với quy định trên thì ngay cả bản thân Hội đồng trọng tài, bên thứ 3, các bên có quyền và lợi ích liên quan cũng không thuộc diện được quyền yêu cầu trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời17 Hội đồng trọng tài cũng không được tự động áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, mà Hội đồng trọng tài chỉ có thể ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có yêu cầu từ các bên tranh chấp

2.1.2 Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng trọng tài

2.1.2.1 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Vấn đề trọng tài có thể ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không được tranh luận khá nhiều trong khoa học pháp lý Hiện nay các nước từ chối thẩm quyền của Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trở nên hiếm hoi và là ngoại lệ Thụy S là một trong những nước đã rất sớm thừa nhận thẩm quyền của trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Pháp luật Liên bang Nga cũng quy định thẩm quyền này cả đối với trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế Ở Đức trọng tài

có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và một bên có thể yêu cầu Tòa án thi hành quyết định này18

Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 33, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, “trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời” Với quy định vừa nêu trên thì chỉ có một chủ thể duy nhất là Tòa án mới có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Pháp lệnh cũng đã giới hạn thẩm quyền của Tòa án khi quy định: chỉ có Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý giải quyết vụ tranh chấp mới có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định đã gây không ít khó khăn cho cả Tòa án, Hội đồng trọng tài và các bên yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp như bảo vệ chứng

cứ có liên quan, bảo toàn tài sản tranh chấp Ví dụ, khi các bên khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), theo Pháp lệnh, nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn

Trang 24

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 24 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

cấp tạm thời thì chỉ được ph p làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Hà Nội ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều này chỉ thuận lợi và hợp lý khi cả hai bên tranh chấp đều có trụ sở tại Hà Nội Khi tài sản nằm ở địa bàn khác mà yêu cầu Tòa án Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không khả thi và bất hợp lý19

Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời đã có nhiều điểm tiến bộ hơn so với Pháp lệnh trọng tài trước đó, khi ghi nhận thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài cũng như mở rộng thẩm quyền của Tòa án Tại khoản 1, Điều 48 quy định

“các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của luật này và các quy định của pháp luật có liên quan” Vậy theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010, thì có hai chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình tố tụng trọng tài: một là Tòa án như Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và chủ thể thứ hai là Hội đồng trọng tài

Hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Hội đồng trọng tài được các bên chọn giải quyết tranh chấp Còn Tòa án có thẩm quyền ra quyết định là Tòa án do các bên thỏa thuận, trong trường hợp không có thỏa thuận thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng20 Tòa án chỉ có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau khi các bên trong tranh chấp nộp đơn khởi kiện và khi có yêu cầu của một trong các bên tranh chấp Các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn một trong hai chủ thể trên hoặc chọn cả hai chủ thể để yêu cầu ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sao cho phù hợp với yêu cầu và mục đích mà mình muốn đạt được nhất

Việc quy định Hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những điểm mới đáng lưu ý của Luật trọng tài thương mại 2010, góp phần nâng cao vị thế của của Hội đồng trọng tài trong giải quyết tranh chấp, tạo sự linh hoạt và thuận lợi cho các bên tranh chấp trong việc yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, không còn phụ thuộc nhiều vào Tòa án như trước Bên cạnh đó Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được mở rộng hơn nhiều so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Nếu như trước đây việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là thẩm quyền riêng của Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp thì nay thẩm quyền của Tòa án đã được quy định phù hợp hơn với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đó là sự tôn trọng thỏa thuận lựa chọn của các bên về Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trong trường hợp không có thỏa thuận thì Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng sẽ có thẩm quyền

Trang 25

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 25 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Trước đây, khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 còn hiệu lực thi hành, chỉ có Tòa

án mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên không xảy ra việc xung đột thẩm quyền hay chồng chéo thẩm quyền giữa hai cơ quan tài phán là Tòa án và Hội đồng trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Luật trọng tài thương mại

2010 ra đời đã mở rộng thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi quy định cho cả Hội đồng trọng tài và Tòa án đều có thẩm quyền này Chính vì vậy, để tránh tình trạng xung đột thẩm quyền, chồng chéo trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa hai cơ quan tài phán, Luật Trọng tài thương mại

2010 đã có quy định cụ thể giải quyết vấn đề này

Sau khi Hội đồng trọng tài được thành lập, về nguyên tắc các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài21 Quy định này tạo cơ hội cho các bên tranh chấp lựa chọn Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Tòa

án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại khoản 2, Điều 49 Luật trọng tài thương mại mà sau đó lại có đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng trọng tài phải từ chối22 Ở đây, Hội đồng trọng tài chỉ từ chối đối với biện pháp mà Tòa án đã được yêu cầu áp dụng Đối với biện pháp khác Hội đồng trọng tài vẫn có thẩm quyền áp dụng Nếu yêu cầu được gởi tới hai nơi, thì cơ quan tài phán nào nhận trước thì thụ lý, còn cơ quan nhận sau thì phải từ chối Tương tự như trên trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại

có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải từ chối và trả lại đơn yêu cầu, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài23 Từ hai quy định này, các nhà làm luật đã đề

ra một nguyên tắc nếu yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được gởi tới hai nơi, thì cơ quan tài phán nào nhận trước thì thụ lý, còn cơ quan nhận sau thì phải từ chối

2.1.2.2 Thẩm quyề th đổi, bổ sung và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Như đã phân tích ở phần trên, về mặt lý luận biện pháp khẩn cấp tạm thời mang tính khẩn cấp, do tính khẩn cấp này mà quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là quyết định có ngay hiệu lực, Hội đồng trọng tài và Tòa án chỉ căn cứ vào chứng cứ và tài liệu của bên yêu cầu áp dụng để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Đều này có thể dẫn đến việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không chính xác, không

Trang 26

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 26 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên trong vụ tranh chấp, dẫn đến việc bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải bồi thường thiệt hại cho bên bị áp dụng Xuất phát từ những bất cập trên mà pháp luật về tố tụng trọng tài cần có một cơ chế quy định về việc thay đổi, bổ sung cũng như hủy bỏ những yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn phù hợp, hay cần thiết phải có sự thay đổi, áp dụng bổ sung trong quá trình giải quyết tranh chấp

Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2010, thì trong trường hợp bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời xét thấy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không còn phù hợp hoặc mục đích của việc áp dụng không cần thiết nữa thì có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều 35, Pháp lệnh trọng tài thương mại “Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể làm đơn yêu cầu thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời khi không còn phù hợp hoặc không còn cần thiết” Theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền thay đổi, hủy bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Mặt khác, bên yêu cầu chỉ có thể lựa chọn giữa hủy bỏ hoặc thay đổi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi thấy cần thiết, không hề có quy định về yêu cầu bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong trường hợp bên yêu cầu muốn yêu cầu bổ sung thêm biện pháp khẩn cấp tạm thời để đạt được tối đa mục đích áp dụng thì không biết chọn thế nào vì pháp luật không có quy định về vấn đề này Đây là một trong những bất cập của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 cần được khắc phục

Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời đã khắc phục được những bất cập trên của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 khi có những quy định mở rộng thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc áp dụng, hủy bỏ, thay đổi và bổ sung yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các chủ thể tranh chấp Khoản 1, Điều 51 Luật trọng tài thương mại 2010 “theo yêu cầu của một bên, Hội đồng trọng tài có quyền thay đổi, bổ sung, hủy

bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp” và khoản 3, Điều 53 “một bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời” Như vậy, theo quy định của Luật trọng tài thương mại thì

có 2 chủ thể có thẩm quyền thay đổi, bổ sung, hủy bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án và Hội đồng trọng tài Hội đồng trọng tài và Tòa án ra quyết định áp dụng

và phạm vi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là dựa trên cơ sở đơn yêu cầu của các bên tranh chấp Do đó sau khi Hội đồng trọng tài, Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời các bên tranh chấp cũng có quyền yêu cầu thay đổi, bổ sung hoặc hủy

bỏ Tuy Hội đồng trọng tài và Tòa án là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định thay đổi, bổ sung, hủy bỏ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tuy nhiên thẩm quyền này lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự chủ động và quyền tự quyết của các bên tranh chấp

Trang 27

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 27 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Tuy nhiên, để yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án thay đổi hay bổ sung các biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bên yêu cầu cũng phải thực hiện theo các thủ tục tương tự như việc yêu cầu áp dụng là phải trình bày được nguyên nhân dẫn đến việc thay đổi, bổ sung việc

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình

Riêng đối với yêu cầu Hội đồng trọng tài và Tòa án hủy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, luật đã có những quy định cụ thể các trường hợp sau24:

 Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ Như đã phân tích, mục đích của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là giải quyết yêu cầu cấp thiết của các bên tranh chấp trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

họ không bị xâm hại Việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài cũng như Tòa án xuất phát từ yêu cầu của các bên Song song với quyền được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, luật cũng quy định

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người yêu cầu nếu việc yêu cầu đó gây thiệt hại cho bên bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Do đó khi thấy quyền và lợi ích của mình đã được bảo vệ mà không cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bên yêu cầu có quyền đề nghị hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, để bảo đảm thiệt hại không xảy ra cho bên bị áp dụng Đây cũng là biện pháp tự bảo vệ mình của bên có yêu cầu

 Bên phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biệp pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có yêu cầu bằng cách bảo toàn tài sản tranh chấp tránh bị tẩu tán và bảo vệ hiện trạng tài sản tránh bị hủy hoại không thể khắc phục được để đảm bảo cho quá trình thi hành phán quyết của trọng tài sau này Mục đích chính của áp dụng biện khẩn cấp tạm thời là như vậy, cho nên khi các yêu cầu đó đã được người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người khác thực hiện việc bảo đảm giải quyết thì việc phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã không còn mục tiêu và ý nghĩa nữa, do vậy trong trường hợp này biện pháp khẩn cấp tạm thời

đã được áp dụng bị hủy bỏ là hợp lý

 Nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của pháp luật hi nghĩa vụ phải thực hiện đã kết thúc theo quy định của pháp luật thì không thể nào có thể bắt buộc thực hiện được Vì vậy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn hữu dụng nữa, do đó nên được hủy bỏ

24

Xem khoản 3, điều 51, Luật trọng tài thương mại 2010 và điều 122, Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 28

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 28 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

2.1.3 Thời điểm yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nhiều ý nghĩa thiết thực trong quá trình giải quyết vụ việc tranh chấp của Hội đồng trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp được khách quan, chính xác; giúp bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp Quy định về thời điểm yêu cầu áp dụng và từ đó dẫn đến thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài cũng là một nội dung rất quan trọng, cần được quy định cụ thể bởi vấn đền này liên quan trực tiếp đến hiệu quả của biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong thực tiễn

Như đã phân tích ở phần trên, hiện nay chỉ có hai chủ thể có quyền ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án và Hội đồng trọng tài Các bên trong tranh chấp có quyền tự do lựa chọn chủ thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sao cho phù hợp với ý chí và mục đích của mình

 Trường hợp các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án là chủ thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Luật trọng tài thương mại 2010 đã kế thừa kinh nghiệm của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 khi quy định cho phép các bên trong tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Khoản 1, Điều 53 Luật trọng tài thương mại quy định “Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời” Như vậy, theo quy định trên thì ngay sau thời điểm nộp đơn yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp, một bên có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Với quy định này của Luật trọng tài thương mại, mặc dù Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, các bên vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau khi đã gửi yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp Đây là một sự tiến bộ đáng kể so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm

200325

 Trường hợp các bên tranh chấp yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Cả Pháp lệnh trọng tài và Luật trọng tài thương mại 2010 đều không quy định

rõ về thời điểm mà các bên tranh chấp có thể thực hiện quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tuy nhiên, nếu căn cứ vào những quy định của luật thì các bên chỉ có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi Hội đồng trọng tài

đã được thành lập Điều này cũng có nghĩa là, về mặt quy định của pháp luật, thì

25

TS Đỗ Văn Đại – TS Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, Tr.282

Trang 29

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 29 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

kể từ thời điểm Hội đồng trọng tài được thành lập, các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tuy nhiên, nếu phải chờ như vậy thì trong một số trường hợp, biện pháp này đã không còn ý nghĩa gì nữa: cho đến khi Hội đồng trọng tài được thành lập, một bên có thể đã tẩu tán tài sản

Vấn đề còn lại cần được xác định là từ thời điểm nào Hội đồng trọng tài được coi là đã được thành lập? Có hai trường hợp xác định vấn đề này Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn Trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn26

Luật trọng tài thương mại 2010 chỉ cho biết thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài mà không cho biết thời điểm nào Hội đồng trọng tài được thành lập Theo người viết, chúng ta nên coi thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài đồng thời là thời điểm Hội đồng trọng tài được thành lập

2.1.4 Thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 thì có hai chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án và Hội đồng trọng tài Tuy nhiên, đây là hai chủ thể có vị trí pháp lý khác nhau: Tòa án là một cơ quan công quyền, mang quyền lực nhà nước; Hội đồng trọng tài được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên tranh chấp, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài có được là do các bên tranh chấp giao cho Vì lẽ đó mà trình tự thủ tục áp dụng, thay

đổi, bổ sung và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của hai chủ thể cũng khác nhau

2.1.4.1 Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Hội đồng trọng tài

Trong trường hợp cần thiết, cần phải có sự can thiệp của Hội đồng trọng tài bằng việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của mình, một bên trong tranh chấp có quyền làm đơn gửi đến Hội đồng trọng tài đang thụ lý giải quyết tranh chấp để yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Đơn yêu cầu phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2, Điều 50 của Luật trọng tài thương mại 2010 Bao gồm các nội dung chính sau đây:

 Ngày, tháng, năm làm đơn;

 Tên, địa chỉ của bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

26

em điều 32, Luật trọng tài thương mại 2010

Trang 30

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 30 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

 Tên, địa chỉ của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

 Tóm tắt nội dung tranh chấp;

 Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

 Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể;

èm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó Chính quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra yêu cầu không có căn cứ từ phía những chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Đồng thời, quy định này cũng giúp Hội đồng trọng tài cũng như Tòa án có cơ sở rõ ràng để nhanh chóng ra quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Đơn yêu cầu phải gửi trực tiếp đến Hội đồng trọng tài đang thụ lý giải quyết tranh chấp Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình Trong trường hợp bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho bên kia hoặc cho một bên thứ ba thì phải bồi thường thiệt hại

Do đó theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định tương đương giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do bên yêu cầu nộp phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng do Hội đồng trọng tài quyết định27

Đến giai đoạn này, vai trò của Hội đồng trọng tài là rất quan trọng trong việc có hay không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Nếu xét thấy yêu cầu của bên yêu cầu đưa ra không hợp lý, không thể chấp nhận được thì Hội đồng trọng tài phải thông báo bằng văn bản cho bên yêu cầu biết và phải nêu rõ lý do không chấp nhận yêu cầu cho bên yêu cầu biết rõ Việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của bên yêu cầu, bảo đảm quyền và lợi ích của họ không bị xâm phạm

Do đó trong những trường hợp xét thấy các yêu cầu trên là chưa cần thiết và lý do của việc áp dụng không chính đáng thì Hội đồng trọng tài sẽ không thực hiện theo yêu cầu

27

Khoản 3, điều 51, Luật trọng tài thương mai 2010

Trang 31

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 31 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

Ngược lại trong trường hợp xét thấy yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu là hợp lý và chính đáng thì Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đơn yêu cầu Quyết định này sẽ được gửi đến cho các bên trong tranh chấp và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền Quyết định thi hành quyết định của Hội đồng trọng tài sẽ được thi hành theo những quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án

Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do thỏa thuận và ý chí của các bên tranh chấp, Luật trọng tài thương mại cho phép các bên có quyền chọn lựa chủ thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Nếu các bên chọn Tòa án nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Tòa án sẽ nhận đơn, tiến hành xem xét

và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Tòa án là cơ quan tố tụng, đại diện cho quyền lực nhà nước nên mọi yêu cầu của đương sự, việc thực hiện và ban hành quyết định của Tòa án phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo luật định Do đó, theo khoản 4, Điều 53 Luật trọng tài thương mại 2010, “trình tự, thủ tục

áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự”

Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án được quy định tại Điều 117,

Bộ luật tố tụng dân sự 2004, bắt đầu bằng việc người có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cơ sở pháp lý làm phát sinh quy trình tố tụng giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án Đặc biệt là đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án chỉ được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có đơn yêu cầu của người có quyền yêu cầu Đơn yêu cầu phải được gửi đúng đến Tòa án có thẩm quyền và phải có đầy đủ những nội dung được quy định tại khoản 1, Điều 117, Bộ luật tố tụng dân sự như “ngày, tháng, năm nộp đơn; tên, địa chỉ của người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tóm tắt nội dung tranh chấp;

lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể”28

Tùy theo từng trường hợp, cùng với việc nộp đơn yêu cầu, bên yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó Ngoài ra bên yêu cầu còn phải thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính trong thời hạn 48 tiếng kể từ lúc nộp đơn yêu cầu để bảo đảm cho yêu cầu của mình Theo đó người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp

28

Xem khoản 1, điều 117, Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Trang 32

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 32 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công cho một thẩm phán xem xét, giải quyết đơn yêu cầu Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải xem xét ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời29

Nếu sau khi xem x t đơn yêu cầu và chứng cứ chứng minh, thẩm phán nhận thấy chưa đủ căn cứ và việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu không hợp lý thì thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết, trong văn bản thẩm phán phải nêu rõ lý do của việc không chấp nhận

Trong trường hợp thẩm phán chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì thẩm phán phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi người yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được gửi cho người bị áp dụng, cơ quan, tổ chức có liên quan và

cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án có hiệu lực thi hành ngay và thi hành theo pháp luật về thi hành án dân

sự30

2.1.4.2 Thủ tụ th đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định này sẽ được

tổ chức thi hành theo quy định của Luật thi hành án dân sự Nếu xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp, cần thiết phải có sự thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì theo quy định tại khoản 2, Điều 51, Luật trọng tài thương mại nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng trọng tài áp dụng

và tại Điều 121, Bộ luật tố tụng dân sự 2004, trong trường hợp Tòa án ra quyết định thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác sẽ được thực hiện tương tự như thủ tục ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 50, Luật trọng tài thương mại và Điều 117 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Như vậy, điều kiện để thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời phải là biện pháp khẩn cấp tạm thời đang áp dụng không còn phù hợp với tình trạng hiện tại của quá trình giải quyết tranh chấp và việc thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời đang áp dụng bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc bổ sung thêm biện pháp khẩn cấp tạm thời khác là rất cần

29

Xem khoản 2, điều 53, Luật trọng tài thương mại 2010

30 Xem điều 123, điều 126, Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Trang 33

GVHD: Ths Nguyễn Mai Hân 33 SVTH: Huỳnh Văn Chiến

thiết Quy định này giúp cho các bên tranh chấp cũng như Hội đồng trọng tài, Tòa án có thể linh hoạt trong việc sử dụng hoặc không tiếp tục sử dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tóm lại để yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án ra quyết định sử đổi, bổ sung các biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bên yêu cầu cũng phải thực hiện các thủ tụ tư tự

hư u ầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ thủ tục nộp đ u ấp ch ng c

ch ng minh, xem xét yêu cầu của Hội đồng trọng tài và Tòa án, bảo đả t i h h đến việc thi hành quyết định sử đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp khác

2.1.4.3 Thủ tục hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Bên cạnh việc quy định thủ tục sửa đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời, luật còn quy định về thủ tục hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng Theo

đó, Hội đồng trọng tài căn cứ vào đơn yêu cầu của một bên, có quyền hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp31

Về thủ tục yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, bên yêu cầu phải có đơn đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời gửi đến Hội đồng trọng tài, Tòa án Hội đồng trọng tài, Tòa án xem xét ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời xem xét, quyết định để bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được nhận lại tài sản bảo đảm Trừ trường hợp bên yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm bồi thường do yêu cầu không đúng gây thiệt hại cho bên bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho một chủ thể thứ ba khác32

2.1.5 Hiệu lực và thi hành quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện

ra quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, chính vì vậy mà hiệu lực của quyết định này khác với phán quyết của Hội đồng trọng tài và bản án của Tòa án Về mặt lý luận, do tính khẩn cấp nên quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung

và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời là quyết định có ngay hiệu lực sau khi được ban hành, quyết định này không thể bị các bên tranh chấp khiếu nại, kháng cáo Hơn nữa, bản thân tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp vì vậy mà quyết định trọng tài khi ban hành có

Ngày đăng: 04/10/2015, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tư pháp, Báo cáo tổng kết tá tư pháp ă 2012 v phư hường, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tá ă 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tá tư pháp ă 2012 v phư hường, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tá ă 2013
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2013
2. Cao Nhất Linh, bài giảng Luật thương mại (phần 3), khoa Luật, đại học Cần Thơ, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài giảng Luật thương mại (phần 3)
Tác giả: Cao Nhất Linh
Nhà XB: khoa Luật, đại học Cần Thơ
Năm: 2011
3. Đào Trí Úc, Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và sự hỗ trợ của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài, tạp chí Luật học số 26/ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và sự hỗ trợ của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài
5. Đào Ngọc Báu, nhữ u lý ản củ hế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và áp dụng xây dựng Luật trọ t i thư ại ở Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhữ u lý ản củ hế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và áp dụng xây dựng Luật trọ t i thư ại ở Việt Nam
Tác giả: Đào Ngọc Báu
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2009
6. Đỗ Văn Đại – Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọ t i thư ại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về Trọ t i thư ại
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Hoàng Ngọc Thỉnh, ch ng c và ch ng minh trong tố tụng dân sự, tạp chí Luật học(đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự), năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ch ng c và ch ng minh trong tố tụng dân sự
Tác giả: Hoàng Ngọc Thỉnh
Nhà XB: tạp chí Luật học(đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự)
Năm: 2004
10. Nguyễn Ngọc Lâm, giải quyết tranh chấp hợp đồ thư ại quốc tế nhận dạng tranh chấp, biệ pháp ă ừ v phư pháp iải quyết, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giải quyết tranh chấp hợp đồ thư ại quốc tế nhận dạng tranh chấp, biệ pháp ă ừ v phư pháp iải quyết
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. Nguyễn Minh Hằng, hoạt động cung cấp, thu thập ch ng c trong tố tụng dân sự Viết Nam, luận văn thạc sĩ luật học, trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Viết Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: trường đại học Luật Hà Nội
12. Trần Phương Thảo, bàn về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, tạp chí Luật học số 5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bàn về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự
13. Trần Tuấn Anh, Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, tạp chí Luật học(đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự), năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trần Tuấn Anh
Nhà XB: tạp chí Luật học(đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự)
Năm: 2004
14. Trung tâm tư vấn luật - Hội luật gia Việt Nam, kiến nghị đối v i á qu định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự Danh mục trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiến nghị đối v i á qu định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự
Tác giả: Trung tâm tư vấn luật - Hội luật gia Việt Nam
1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài, http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=6181496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
2. Giải quyết tranh chấp bằng trọ t i v hế hỗ trợ của tòa án, http://luatkhaiphong.com/Luat-su-Kinh-doanh/Giai-quyet-tranh-chap-bang-trong-tai-va-co-che-ho-tro-cua-Toa-an-3850.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp bằng trọ t i v hế hỗ trợ của tòa án
4. Những hạn chế của tố tụng trọng tài, http://www.incip.com.vn/bai-viet/nhung-han-che-cua-to-tung-trong-tai-a12.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hạn chế của tố tụng trọng tài
5. Pháp luật trọng tài ở Việt Nam: Quá trình phát triển và các vấ đề đ c ra, http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Drafts/ReviewDetails.aspx?ReviewID=2256.Tranh chấp tro i h o h thư ại và các hình th c giải quyết tranhchấp kinh doanh thư ại, http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Drafts/ReviewDetails.aspx?ReviewID=225 6. "Tranh chấp tro i h o h thư ại và các hình th c giải quyết tranh "chấp kinh doanh thư ại
8. V i trò ủ thẩ phá tro thu thập h , tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tửhttp://www.fdvn.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=693:vai-tro-ca-thm-phan-trong-thu-thp-chng-c&catid=2:x-phuc-thm-v-tan-hoang-phat-khong-hy-an-la-sai&Itemid=18&lang=vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: V i trò ủ thẩ phá tro thu thập h
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
3. Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) 4. Luật thương mại 2005 Khác
7. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 8. Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Khác
9. Nghị định 116 của Chính phủ ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Chính phủ Khác
10. Nghị định 63 của Chính phủ ngày 28/7/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật trọng tài thương mại 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm