1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức tòa án

99 292 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án theo quy định của pháp luật một số quốc gia khác trên thế giới 25 Chương 2: THỰC TR

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

Trang 3

HÀ NỘI – 2017

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Tình

Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và không có sự trùng lặp công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS

Nguyễn Thị Tình– người đã cho tôi những lời khuyên hữu ích cùng với sự hướng

dẫn tận tình để tôi có thể hoàn thành được luận văn thạc sỹ của mình

Xin cảm ơn các thầy cô giáo dưới mái trường Viện Đại học mở Hà Nội đã

truyền đạt cho tôi những kiến thức pháp luật quý báu giúp tôi có thể hoàn thành

chương trình Cao học và hỗ trợ cho sự nghiệp của mình sau này

Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh ủng hộ và tạo động lực để

tôi phấn đấu thật tốt trong quá trình học tập và công tác

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!

Học viên:

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ QUYỀN,

NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

8

1.1 Khái quát về đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh,

thương mại

8

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đương sự trong vụ án về tranh chấp

kinh doanh, thương mại

8

1.1.2 Thành phần đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh,

thương mại

14

1.2 Khái quát về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình

giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

17

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền và nghĩa vụ của đương sự trong

quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

17

1.2.2 Điều kiện bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự

trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại

Tòa án

22

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh

chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án theo quy định của pháp

luật một số quốc gia khác trên thế giới

25

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ

TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA

ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

31

Trang 6

quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

2.1.1 Nhóm quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong quá

trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

32

2.1.2 Nhóm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp

chứng cứ và chứng minh

42

2.1.3 Nhóm quyền và nghĩa vụ khác của đương sự trong quá trình giải

quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

47

2.2 Quyền và nghĩa vụ riêng của từng đương sự trong quá trình

giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

57

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn trong quá trình giải quyết

tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

58

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bị đơn trong quá trình giải quyết tranh

chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

62

2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

66

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

TTDS : Tố tụng dân sự

BLTTDS 2011 : Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ( sửa

đổi, bổ sung năm 2011)

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng phát triển, kéo theo sự ra đời của hàng loạt các chủ thể kinh doanh tạo nên một môi trường kinh doanh sôi động, ở đó, việc cạnh tranh giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh được xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, sự gia tăng của các chủ thể kinh doanh cả về quy mô và số lượng cũng đồng nghĩa với việc các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phát sinh ngày một nhiều hơn Trong những năm gần đây, số lượng các vụ tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam tăng đều qua các năm Theo Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 2012 thì chỉ trong vòng 05 năm từ năm 2008 đến năm 2012, số lượng vụ

án tranh chấp Kinh doanh thương mại tăng khoảng gấp 3 lần ( từ 5.384 vụ lên 14.215 vụ) và đến năm 2015 đã thụ lý 17.260 vụ, đã giải quyết 11.578 vụ, năm

2016 thụ lý giải quyết 16.327 vụ, đã giải quyết 10.172 vụ Theo thống kê tình hình giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC năm 2016, số lượng các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại do cơ quan này giải quyết có sự tăng mạnh, từ 64 vụ năm 2012 lên 155 vụ năm 2016.[16] Tuy vậy, có thể thấy, Tòa

án luôn là lựa chọn hàng đầu và là phương thức giải quyết chiếm ưu thế nhất cho các bên tranh chấp khi phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong hoạt động kinh doanh

Để việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa án đạt hiệu quả cao nhất, thì bên cạnh vai trò to lớn của Tòa án, vai trò của các đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng cũng quan trọng không kém Bởi lẽ, trong vụ án dân

sự nói chung và các vụ tranh chấp kinh tế nói riêng, đương sự được xem là nhân vật trung tâm trong quá trình tố tụng; có thể khẳng định không có sự tham gia đầy đủ của đương sự thì công việc giải quyết tranh chấp của Tòa án gần như không đạt hiệu quả Đặc biệt, việc xác định quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là hết sức cần thiết Pháp

Trang 9

luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ đều đã đưa ra những quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng, như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011) – những văn bản này đã có những quy định thiết thực nhằm nâng cao trách nhiệm cũng như bảo vệ quyền của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn mang tinh chung chung, chưa có sự chi tiết và cụ thể hóa khiến cho việc áp dụng trong thực tiễn tố tụng dân sự còn gặp nhiều khó khăn

Từ yêu cầu cấp bách trong bối cảnh các tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng phức tạp như hiện nay, các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chưa thực sự phát huy hiệu quả, đặc biệt là trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự, do đó, ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự mới, chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2016; BLTTDS 2015 đã khắc phục hạn chế, kế thừa và bổ sung nhiều quy định có tính khả thi hơn so với BLTTDS trước đó về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại Tòa án nói riêng

Tuy vậy, mặc dù đã có BLTTDS mới với nhiều sự sửa đổi tích cực, nhưng hiệu quả giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại tại Tòa án vẫn chưa được cải thiện rõ nét BLTTDS 2015 dù mới có hiệu lực được hơn một năm nhưng

đã bắt đầu phát sinh những bất cập, hạn chế trong các quy định về quyền và nghĩa

vụ của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng Bên cạnh đó, bản thân các đương

sự khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa

án chưa thực sự hiểu rõ được về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đến đâu Điều đó khiến cho việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại tại Tòa án trên thực tế gặp nhiều khó khăn

Trang 10

Vì vậy, để việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng và đạt hiệu quả tốt nhất, trong bối cảnh các tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp như hiện nay, việc tiếp tục làm rõ và hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS về quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của đương sự trong việc thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình tố tụng là yêu cầu có tính thời sự và cấp thiết Xuất phát từ lý do đó,

tác giả đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong

quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức Tòa

án” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình, với mong muốn đóng góp chút công sức vào hiệu quả giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại và hoàn thiện hành lang pháp lý về tố tụng dân sự nước nhà

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nhận thấy, việc tìm hiểu các vấn đề pháp lý về đương sự nói chung và

về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự nói riêng được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, mỗi công trình đều có những cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Xét dưới góc độ nghiên cứu về các vấn đề pháp lý liên quan đến đương sự

trong tố tụng dân sự, không thể không kể đến Luận án Tiến sĩ Luật học “Đương sự

trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều

Dương, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Luận án đã đem đến cái nhìn toàn diện về các nội dung pháp lý quan trọng liên quan đến đương sự, từ đó đưa ra những kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

tố tụng dân sự Tiếp tục kế thừa những đóng góp của Luận án, tác giả Nguyễn Thị

Hiền, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012 với bài Khóa luận tốt nghiệp “Đương

sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã khai thác vấn đề pháp

lý về đương sự liên quan đến vụ án dân sự Và dưới cấp độ một bài báo khoa học,

bài viết “Đương sự trong vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường được đăng

trên Tạp chí Nghề luật số tháng 02 năm 2006 cũng đã khái quát được những nội

Trang 11

dung quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự trong các vụ án dân sự ở Việt Nam

Xét dưới góc độ nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng

dân sự, có thể kể đến các công trình như: Luận văn Thạc sỹ Luật học “ Đảm bảo

thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Nga, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2013 và

“Quyền tố tụng của đương sự và thực tiễn thực hiện” của tác giả Đỗ Thị Hà, Trường

ĐH Luật Hà Nội, năm 2013 Những luận văn này đã tập trung vào việc phân tích một số quyền quan trọng của đương sự trong tố tụng dân sự, từ đó đề ra các kiến nghị và giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi cho các đương sự Bên cạnh đó, bàn về nghĩa vụ của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng, không thể không kể đến

Luận văn Thạc sỹ Luật học “Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt

Nam” của tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc, Trường ĐH Luật Hà Nội, năm 2013; luận văn đã đi sâu vào phân tích và làm rõ các nội dung pháp lý về nghĩa vụ của đương

sự Hay các bài viết như “Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương

sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh được

đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 05 năm

2005; “Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự thông qua người đại diện” của tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 11 năm 2015; các bài này cũng tập trung vào việc làm sáng tỏ một số quyền cụ thể của đương sự trong quá trình tham gia tố tụng; chứ không bao quát các quyền cơ bản được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự

Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quyền và nghĩa vụ của đương sự, đặc biệt là chỉ xét trong quá trình giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án Hơn nữa, những công trình nêu trên được thực hiện trước thời điểm BLTTDS 2015 có hiệu lực nên không còn tính thời sự và có giá trị tham khảo Vì

Trang 12

vậy, với đề tài nghiên cứu của mình, trên cơ sở kế thừa những đánh giá, phân tích của các công trình nghiên cứu trước, tác giả kỳ vọng sẽ đem đến cái nhìn mới mẻ, toàn diện hơn về các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) ở Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại; đồng thời luận văn cũng phân tích những bất cập; hạn chế của pháp luật tố tụng dân sự gây khó khăn cho các đương sự trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế; từ

đó đưa ra cái nhìn bao quát và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Về không gian, luận văn nghiên cứu dựa trên phạm vi các quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và hướng đến đối tượng chính là đương sự trong các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại , chủ yếu là các quy định của BLTTDS

2015, ngoài ra, Luận văn còn có sự đối chiếu với các quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011) , các văn bản hướng dẫn, các văn bản pháp luật chuyên ngành khác liên quan và đôi nét so sánh với pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gian khác trên thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Chương 1 của luận văn được triển khai thông qua phương pháp phân tích các vấn đề chung về đương sự và quyền, nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án,

Trang 13

nước khác Đối với chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa

án Từ đó, ở chương 3, bằng phương pháp đối chiếu, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn, tác giả đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự

Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của luận văn thì các phương pháp nghiên cứu trong luận văn vẫn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Lựa chọn nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm sáng tỏ thực trạng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, trên cơ sở đó đề ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế

Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về đương sự và quyền, nghĩa vụ của đương sự trong các vụ tranh chấp kinh tế, những yếu tố nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

- Phân tích nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa

án

Trang 14

- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật

Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, tạo điều kiện để các đương

sự phát huy được vai trò của mình trên thực tế, từ đó nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ tranh chấp trong kinh doanh thương mại

6 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên phân tích, đánh giá một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

Trong khuôn khổ một Luận văn thạc sỹ, tác giả sẽ làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về đương sự và quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án Trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, tác giả còn đi sâu bình luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự, có sự dẫn chiếu so sánh với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Cuối cùng, từ việc đánh giá những bất cập, hạn chế của pháp luật tác giả đưa ra những quan điểm và kiến nghị góp phần hoàn thiện Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về quyền

và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương

mại tại Tòa án

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, luận văn được bố cục nội dung chính gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về đương sự và quyền, nghĩa vụ của đương sự

trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Chương 2:Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về

quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án;

Trang 15

Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực

thi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Trang 16

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1.1 Khái quát về đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:

Đương sự được xem là trung tâm của vụ án dân sự nói chung và vụ án về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại nói riêng Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; đương sự đóng một vai trò rất quan trọng; góp phần không nhỏ vào hiệu quả giải quyết tranh chấp của Tòa án Bởi vậy, việc xác định rõ các vấn

đề lý luận cơ bản về đương sự là công việc rất cần thiết để tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong thực tiễn:

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:

1.1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:

Để đưa ra khái niệm đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại cần phải làm rõ hai khái niệm: “đương sự” và “vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại”

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt: “Đương sự được hiểu là người, là đối tượng

trực tiếp của một việc đang được giải quyết” Từ điển Luật học xuất bản năm 1999,

Nhà xuất bản Từ điển bách khoa có định nghĩa: “đương sự là người có quyền, nghĩa

vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” Bên cạnh đó, theo giải

thích trong cuốn “Black law Dictionary” của tác giả Bryan A Garner xuất bản năm

2001 thì: “đương sự là người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” Như

vậy, theo các cách định nghĩa này thì đương sự là người, là đối tượng tham gia vào

Trang 17

quá trình giải quyết các khiếu nại, các tranh chấp phát sinh trong một số lĩnh vực cụ thể [5, tr.3]

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 thì: “Đương sự trong vụ án

dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Có thể thấy, BLTTDS 2015 đã đưa ra định nghĩa về đương sự theo hướng liệt

kê các chủ thể là đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng Kết hợp với cách giải thích về đương sự trong các cuốn từ điển, có thể hiểu đương sự là chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự, thông qua Tòa án đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của Nhà nước

Vậy, đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là gì? Trước hết, vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là một trong những vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS 2015: vụ án dân sự bao gồm: vụ án về tranh chấp dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Việc tìm hiểu khái niệm đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có ý nghĩa cụ thể hóa một trong những nội dung quan trọng của vụ án dân sự Tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu là những bất đồng, xung đột về quyền và lợi ích giữa các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ thương mại, chủ yếu nhằm mục đích sinh lời Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, hoạt động kinh doanh, thương mại diễn ra ngày càng sôi nổi, khiến cho tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này cũng gia tăng rõ rệt Các bên tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thường là thương nhân, hay các tổ chức, cá nhân khác có tham gia quan hệ thương mại với thương nhân

Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015 thì nhóm các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:

Trang 18

+ Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,

tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

+ Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch

về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

+ Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

+ Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Có thể thấy BLTTDS 2015 đã có sửa đổi, bổ sung những quy định về tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án so với BLTTDS 2011; cụ thể: BLTTDS 2015 đã không liệt kê cụ thể các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh

và nhằm mục đích lợi nhuận Bởi lẽ sự liệt kê chi tiết trong quy định này tại BLTTDS 2011 là không cần thiết, thậm chí thiếu tính phù hợp và nhất quán với các quy định về hoạt động kinh doanh, thương mại tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2014,… Đồng thời, BLTTDS 2015 cũng đã làm rõ hơn các tranh chấp kinh doanh, thương mại thông qua việc bổ sung thêm các trường hợp: “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty” và “Tranh chấp công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty

Trang 19

khác về kinh doanh, thương mại”: “Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định pháp luật” Những quy định này đã cho thấy sự tiến bộ của BLTTDS 2015, thể hiện sự tương thích và phù hợp với các văn bản pháp luật khác; từ đó làm rõ hơn về nội dung các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại

Như vậy, các tranh chấp kinh doanh, thương mại được BLTTDS 2015 liệt kê tại Điều 30 đều liên quan đến các chủ thể có tham gia vào quan hệ thương mại, chủ yếu là giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan trong quan hệ thương mại Từ đó, có thể hiểu vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là những vụ việc xung đột, bất đồng về quyền và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ thương mại được giải quyết tại Tòa án Với những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm:

Đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại là các cơ quan,

tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ thương mại; bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1.1.1.2 Đặc điểm của đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:

BLTTDS 2015 khi quy định về thành phần các đương sự trong vụ án dân sự vẫn giữ nguyên cách phân loại như BLTTDS 2011 Vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại là một dạng của vụ án dân sự, vì vậy, đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng mang những đặc điểm của các đương sự trong vụ án dân sự nói chung, bên cạnh đó, cũng có những nét đặc thù:

- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại là chủ thể được

Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khi quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm, phát sinh tranh chấp, họ mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Và cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có

Trang 20

được Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hay không còn phải xem xét đến việc vụ án tranh chấp kinh tế đó có được Tòa án thụ lý giải quyết hay không Nếu việc khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức được Tòa án chấp nhận thì

họ được gọi là nguyên đơn; và cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiện được gọi là bị đơn; còn cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc kiện thì được gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nếu việc khởi kiên đó không được Tòa án chấp nhận thì các chủ thể nói trên sẽ không có tư cách đương sự

- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại là những chủ thể

bình đẳng với nhau trong tố tụng

Xuất phát từ quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS được quy

định tại Điều 8 BLTTDS 2015 : “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không

phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án” Do đó, trong quá trình giải

quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại, các đương sự đều bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng

Pháp luật TTDS quy định các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự, nhưng các đương sự trong những tư cách tố tụng khác nhau thì cũng có một số quyền và nghĩa vụ khác nhau Sự khác nhau đó không đồng nghĩa với việc pháp luật tạo nên

sự bất bình đẳng giữa các đương sự mà với những quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau đó của mỗi đương sự lại là cơ sở để các đương sự có điều kiện thuận lợi như nhau khi tham gia tố tụng nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại là chủ thể có

quyền tự định đoạt, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự là cơ sở để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quá trình giải quyết các vụ án đó

Đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Đương sự có quyền quyết định việc

Trang 21

giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Nếu như đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại có quyền tự định đoạt trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình thì các chủ thể khác trong vụ án đó phải có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt đó của đương sự Việc đương sự thực hiện hay không thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng trong vụ án đó

- Đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại thường là thương

nhân và những chủ thể gắn liền với mục đích kinh tế

Quan hệ thương mại theo pháp luật thương mại Việt Nam thường là quan hệ giữa các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Do đó, một đặc trưng khá khác biệt của đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại đó là thường ít nhất một bên là thương nhân – những tổ chức kinh tế hoặc cá nhân có thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và

có đăng ký kinh doanh

Rõ ràng, thương nhân hay các tổ chức, cá nhân khác khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đều có một mục đích chung là tìm kiếm lợi nhuận, để đạt được mục đích đó, họ phải cạnh tranh với nhau để phát triển Trong quá trình cạnh tranh, tất yếu sẽ phát sinh những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích; khi đó, Tòa án chính là địa chỉ đáng tin cậy để giúp họ giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi kinh

tế cho mình; và họ sẽ mang tư cách đương sự trong suốt quá trình tố tụng Điều đó thể hiện sự khác biệt với đương sự trong các vụ án dân sự khác, như: vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình; vụ án về tranh chấp dân sự; vụ án về tranh chấp lao động; bởi đương sự trong các vụ án này có thể gắn với mục đích kinh tế hoặc đơn thuần chỉ mang mục đích dân sự

Trang 22

1.1.2 Thành phần đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại:

Cũng như đương sự trong các vụ án dân sự khác, đương sự trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mỗi đương sự đều có những đặc trưng riêng khi tham gia vào quá trình tố tụng

1.1.2.1 Nguyên đơn:

Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là

người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”

Như vậy, theo quy định của BLTTDS 2015, nguyên đơn là người khởi kiện vụ

án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc được người khác khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Như các đương sự khác, nguyên đơn tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn các chủ thể khác Nguyên đơn là người đã khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền

và lợi ích của họ, nguyên đơn còn là cơ quan, tổ chức, cá nhân do BLTTDS quy định khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đó Hoạt động

tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố tụng Trong một vụ án, có thể có một nguyên đơn và cũng có thể có nhiều nguyên đơn

Trong vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại, nguyên đơn thường là các thương nhân, những tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế; khi quyền và lợi ích của họ bị xâm hại; họ có quyền khởi kiện tại Tòa án với mong muốn tranh

Trang 23

chấp được giải quyết, quyền và lợi ích của họ sẽ được đảm bảo bằng cơ chế tài phán của Nhà nước

1.1.2.2 Bị đơn:

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 : “Bị đơn trong vụ án dân

sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”

Có nghĩa là, bị đơn trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật Khác với nguyên đơn, việc tham gia vào vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại của bị đơn mang tính bắt buộc, thụ động chứ không mang tính chủ động như nguyên đơn Bị đơn buộc phải tham gia tố tụng để trả lời cho việc kiện của nguyên đơn hoặc người đại diện của họ Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng, bị đơn cũng có thể làm thay đổi quá trinh giải quyết vụ án tranh chấp Như vậy, bị đơn là người bị nguyên đơn hoặc

bị người khác có thẩm quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật TTDS khi họ bị cho rằng đã xảy ra tranh chấp về quyền và lợi ích với nguyên đơn

Trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại, bị đơn thường là các tổ chức, cá nhân có tham gia quan hệ kinh doanh với bên nguyên đơn, và khi phát sinh tranh chấp khiến cho nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án, khi đó, bị đơn là người ở thế thụ động, bị nguyên đơn cho là xâm hại đến quyền và lợi ích của họ

1.1.2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 24

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia

tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Theo đó, trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xác định là người tham gia tố tụng vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ở đây không phải một bên trong tranh chấp kinh doanh, thương mại giữa nguyên đơn và bị đơn; nhưng lại có liên quan đến quyền lợi

và nghĩa vụ trong tranh chấp đó; đồng thời; họ không khởi kiện như nguyên đơn, không bị kiện như bị đơn mà là người tham gia tố tụng khi vụ án đã xuất hiện giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Nếu nguyên đơn tham gia tố tụng với tâm thế chủ động, bị đơn thì thường ở tâm thế thụ động, thì việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại có thể mang tính chủ động thông qua việc tự mình đề nghị tham gia tố tụng hoặc mang tính thụ động theo yêu cầu của đương sự khác hoặc của Tòa án

Trong khoa học pháp lý, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được phân làm hai loại: (i) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và (ii) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn Trong vụ

án tranh chấp kinh doanh, thương mại; lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có yêu cầu độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập là người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị

Trang 25

đơn Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập phụ thuộc vào nguyên đơn

1.2 Khái quát về Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Với vai trò là trung tâm của quá trình tố tụng, đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình nhằm đạt được mục đích khi tham gia vào TTDS; từ đó góp phần lớn vào hiệu quả giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa

án Bên cạnh đó, những quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự là một nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật TTDS Việt Nam, tạo nên địa vị pháp lý cho đương sự Để xác định được các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, trước hết, cần phải làm rõ các vấn đề lý luận về Quyền và nghĩa vụ của đương sự

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

1.2.1.1 Khái niệm Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Để đưa ra được khái niệm về Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án; trước hết cần phải làm rõ khái niệm “Quyền của đương sự” và “Nghĩa vụ của đương sự” trong TTDS

Trong khoa học pháp lý, chưa có sự định nghĩa cụ thể về “Quyền của đương sự” và “Nghĩa vụ của đương sự” Có thể hiểu, khái niệm “Quyền” dưới góc độ pháp luật là khả năng mà chủ thể trong quan hệ pháp luật được phép lựa chọn cách xử sự phù hợp nhất để thực hiện hay bảo vệ lợi ích cho mình Trong pháp luật TTDS, Quyền của đương sự được hiểu là việc đương sự được pháp luật cho phép thực hiện hoặc không phải thực hiện một số công việc nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự trong quá trình tham gia tố tung

Trang 26

Đối với “Nghĩa vụ của đương sự”, theo cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang

tên “Petit Dictionnaire de Droit” định nghĩa “Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý

theo đó người, được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó” Điều thứ 676 Bộ luật

Dân sự Trung Kỳ 1936 và Điều thứ 641 Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ đã định nghĩa :

“Nghĩa vụ là cái dây liên lạc về luật thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay

nhiều người phải làm hay đừng làm gì đối với một hay nhiều người nào đó”.[8, tr.6]

Vậy nên, có thể hiểu “Nghĩa vụ của đương sự” là việc bắt buộc đương sự phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số công việc theo quy định của pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Mặc dù pháp luật TTDS Việt Nam qua các thời kỳ đều nhắc đến thuật ngữ

“Quyền và nghĩa vụ của đương sự”, hay “quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự”, như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Điều 20 quy định về Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, BLTTDS 2004 tại Điều 58 quy định về Quyền, nghĩa vụ của đương sự và hiện nay, BLTTDS 2015 tại Điều 70 cũng quy định về Quyền, nghĩa vụ của đương sự Từ đó cho thấy, thuật ngữ “quyền và nghĩa vụ của đương sự” được các văn bản pháp luật TTDS thường xuyên sử dụng; nhưng chưa một văn bản nào xác định rõ khái niệm về “Quyền và nghĩa vụ của đương sự” Vì vậy, từ những phân tích trên cùng với sự dẫn giải về khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà tác giả đã đề cập đến ở phần trước, có thể đưa ra khái niệm

“Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án” một cách khái quát như sau:

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án là khả năng mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án được phép thực hiện và bắt buộc phải thực hiện một số công việc nhất định theo

Trang 27

quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhằm thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và đạt hiệu quả cao nhất

1.2.1.2 Đặc điểm của Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Là một nội dung pháp lý quan trọng của pháp luật TTDS Việt Nam, Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là khả năng đương sự được thực hiện hoặc phải thực hiện một

số công việc nhất định mà pháp luật TTDS cho phép hoặc quy định

Khi vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại được khởi kiện và được Tòa

án có thẩm quyền thụ lý giải quyết, các chủ thể như người đi kiện, người bị kiện hay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có tư cách đương sự trong TTDS Các quy phạm pháp luật TTDS đã tạo ra một khả năng cho phép các chủ thể tham gia quan

hệ pháp luật TTDS được hưởng những quyền năng nhất định hoặc được tùy chọn cách ứng xử của mình trong mối quan hệ TTDS đó như “tự mình làm” hay có thể

“nhờ người khác làm công việc đó” Những quyền năng đó sẽ giúp đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đạt được mục đích của bản thân khi tham gia vào quá trình tố tụng tại Tòa án Bên cạnh đó, hệ thống quy phạm pháp luật TTDS còn bắt buộc các đương sự khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án phải thực hiện hoặc cấm không được thực hiện một công việc, hay cách ứng xử nhất định Những quyền năng và nghĩa vụ đó một mặt giúp đương sự tham gia bảo vệ quyền lợi của mình và đạt được mục đích tố tụng, mặt khác sẽ thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại đạt hiệu quả nhanh chóng và chính xác

Ví dụ như một trong những quyền của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án được quy định tại Điều 70 BLTTDS

2015 đó là: đương sự có quyền “kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa

Trang 28

án” theo quy định của pháp luật TTDS Theo đó, BLTTDS xác định đây là một quyền năng cơ bản của đương sự, khi vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại đã được giải quyết, bản án, quyết định của Tòa án đã được đưa ra; thì bản thân các đương sự có thể lựa chọn giữa việc chấp nhận thi hành bản án đó nếu nhận thấy bản

án đó là hợp lý và kháng cáo, khiếu nại nếu chưa thỏa mãn với bản án, quyết định

mà Tòa án đã đưa ra Và một trong những nghĩa vụ của đương sự được quy định

trong BLTTDS 2015 đó là: đương sự có nghĩa vụ “nộp tiền tạm ứng án phí, tạm

ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật” Đây

được xem là sự bắt buộc các đương sự phải thực hiện khi nhờ đến Tòa án giải quyết tranh chấp; nếu đương sự không thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng khác thì việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mai tại Tòa án có thể không được diễn ra, hoặc đương sự có thể bị cưỡng chế bắt buộc thực hiện nghĩa vụ tài chính mà pháp luật TTDS đã quy định

- Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án không mang tính tương xứng và đối lập

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong mối quan hệ pháp luật về dân sự, về kinh tế,… liên quan đến quyền và lợi ích thường có tính tương xứng và đối lập nhau, hay nói cách khác là có tính “song vụ”, quyền của chủ thể này chính là nghĩa

vụ của chủ thể kia và ngược lại Việc một bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình chính là sự bảo đảm cho bên kia thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Tức là việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên có sự liên quan, ảnh hưởng trực tiếp

và bù đắp lẫn nhau

Đối với quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quan hệ pháp luật TTDS thì lại mang đặc trưng khá riêng biệt - những chủ thể này gắn với nhau về quyền lợi và lợi ích trong quá trình tham gia tố tụng nhưng quyền của một bên đương sự không phải

là nghĩa vụ trực tiếp của đương sự khác Quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án là tương đồng và bình đẳng Tại đây quyền và nghĩa vụ của đương sự được xét trong mối

Trang 29

tương quan với cơ quan, người tiến hành tố tụng, với quá trình tố tụng nói chung chứ không phải trong mối tương quan giữa các bên Chẳng hạn, việc nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình trong tranh chấp kinh doanh, thương mại là nghĩa vụ giữa nguyên đơn và cơ quan tiến hành tố tụng; không liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị đơn Hay nói cách khác, trong trường hợp này, nguyên đơn và bị đơn không có sự liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ trong tố tụng

- Quyền và nghĩa vụ của đương sự có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Các chủ thể của hoạt động TTDS rất đa dạng, bao gồm: Các cơ quan tiến hành

tố tụng và những người tham gia tố tụng, người liên quan Tùy thuộc vào mục đích tham gia tố tụng và địa vị pháp lý của mỗi chủ thể mà mối liên hệ giữa các chủ thể này với nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa

án là khác nhau Trong các chủ thể đó, đương sự là chủ thể có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS bởi lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng Mối liên hệ giữa đương sự và Tòa án là rõ nét nhất trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Khi đương sự thực hiện nghĩa vụ của mình là

cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác như Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác Chẳng hạn, về nguyên tắc đương sự

có nghĩa vụ chính trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình

là hợp pháp và có căn cứ, Tòa án chỉ tiến hành việc thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định khi mà đương sự không tự thu thập được và có yêu cầu

- Quyền và nghĩa vụ của đương sự có mối liên hệ mật thiết với quyền dân sự

và nghĩa vụ dân sự của đương sự

Quyền và nghĩa vụ của đương sự có mối liên hệ mật thiệt với quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của đương sự Chỉ có người có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự có tranh chấp giải quyết tại Tòa án thì người đó mới trở thành đương sự và có Quyền,

Trang 30

nghĩa vụ tố tụng Chủ thể của quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự trong trường hợp này là chủ thể của quan hệ pháp luật về hoạt động kinh doanh, thương mại Khi chủ thể này khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp và được Tòa án thụ lý giải quyết thì họ mới trở thành đương sự - chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS và họ có quyền và nghĩa vụ tố tụng Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự góp phần bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự của mình

Khi tham gia giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, cùng với việc được hưởng các quyền tố tụng, đương sự cũng phải thực hiện các nghĩa vụ

tố tụng Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ pháp luật TTDS là các đương sự có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng Mọi quyền và nghĩa vụ của đương sự đều

có mối liên hệ mật thiết với nhau Thông thường, quyền tố tụng có trước, nghĩa vụ

tố tụng có sau Ví dụ như: nguyên đơn có quyền khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên khi khởi kiện nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Tuy nhiên, có một số nghĩa vụ của đương sự cũng là quyền của đương sự khi tham gia giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án như quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh Bên cạnh đó, có thể thấy, Quyền và nghĩa vụ dân sự của đương sự do các bên thỏa thuận, pháp luật quy định hoặc theo phán quyết của Tòa án Còn quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự là do pháp luật TTDS quy định Khi đương sự có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng cũng chính là lúc họ có điều kiện thuận lợi nhất trong việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình

1.2.2 Điều kiện bảo đảm việc thực hiện Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án; quyền và nghĩa vụ của đương sự và việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự

là hai mặt không thể tách rời nhau Pháp luật TTDS nếu chỉ dừng lại ở việc quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự thì vẫn chưa đủ mà cần phải có các quy định bảo đảm cho việc đương sự thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình khi

Trang 31

tham gia giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS là trách nhiệm thuộc về Tòa án

và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác

1.2.2.1 Tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại:

Về cơ bản, pháp luật TTDS hiện hành đã có nhiều quy định nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của đương sự như quy định các biện pháp bảo đảm cần thiết: cảnh cáo, phạt tiền người vi phạm, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu của đương sự… hay quy định các nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những quy định cụ thể nhằm bảo đảm sự trợ giúp của cá nhân, cơ quan, tổ chức để đương sự có thể thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình Đồng thời, còn thiếu những quy định cụ thể để

xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền của đương sự; hay xử lý các hành vi vi phạm trong việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự như thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt… Thực tế đó chứng tỏ pháp luật TTDS hiện hành cần hoàn thiện hơn, đồng bộ với luật nội dung, bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, dân chủ và pháp chế, từ đó có những quy định cụ thể, thống nhất để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doạnh, thương mại tại Tòa án Bên cạnh đó, cần có sự thống nhất về nhận thức cũng như bổ sung quy định của pháp luật TTDS về việc đương sự không thực hiện nghĩa vụ tố tụng thì sẽ không được hưởng quyền tố tụng Có như vậy, việc thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án mới được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đương sự bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án tranh chấp

1.2.2.2 Sự am hiểu và ý thức chấp hành pháp luật TTDS của đương sự:

Việc bảo đảm thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của đương sự sẽ tác động rất lớn đến hiệu quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng Tòa án trên thực tế Để thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó, trước hết bản thân

Trang 32

các đương sự cần phải có sự am hiểu một cách rõ nét các quy định của pháp luật TTDS về quyền hạn và trách nhiệm của mình Trong thực tiễn, nhiều trường hợp đương sự không nắm được, không biết và cũng không hiểu khi tham gia quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thì quyền hạn và trách nhiệm của mình đến đâu và được pháp luật quy định như thế nào Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự và gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật TTDS của đương sự là một điều kiện quan trọng không kém để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự Thực

tế, trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, có nhiều trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía

bị đơn đã không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, cố tình trốn tránh, làm cho vụ án bị kéo dài, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án Có trường hợp đương sự không những cố tình trốn tránh, từ chối khai báo, mà còn thách thức cán bộ Tòa án, khi cán bộ Tòa án trực tiếp đến nhà đương sự để lấy lời khai, xem xét, định giá tài sản,… Còn về phía nguyên đơn thì nhiều trường hợp chưa thực sự tích cực trong việc thu thập chứng cứ mà có tư tưởng ỷ lại cho Tòa án Nguyên nhân của những sự việc đó có thể do ý thức chấp hành pháp luật của đương

sự chưa tốt hoặc do đương sự thiếu lòng tin đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án Vì vậy, có thể khẳng định, sự am hiểu pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của đương sự là một trong những điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

1.2.2.3 Trách nhiệm của Tòa án:

Tòa án là cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước trong việc xét xử, giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; là cơ quan tiến hành tố tụng và là chủ thể có quyền áp dụng các thủ tục và biện pháp tố tụng đối với đương sự và đối với những hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự Do đó, trách nhiệm của Tòa án cũng rất quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện Quyền và nghĩa vụ

Trang 33

khách quan, vô tư, công minh và bình đẳng đối với tất cả các đương sự, không phân biệt đương sự đó là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

dù là cá nhân hay cơ quan, tổ chức thì sẽ tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách tốt nhất và tạo được lòng tin của đương sự vào việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án [8, tr.15 -16] Khi thực hiện thẩm quyền của Tòa án trong việc yêu cầu đương sự thực hiện nghĩa vụ tố tụng như triệu tập đương sự đến Tòa án, thì Tòa án cũng cần phải có cách áp dụng linh hoạt và khoa học như: Việc triệu tập đương sự trực tiếp hay gián tiếp qua bưu điện, qua chính quyền địa phương thì phải bảo đảm giấy tờ đó đến tay đương sự trước đó ít nhất từ một đến hai ngày để họ còn sắp xếp công việc ở cơ quan và gia đình mới có thể có mặt đúng giờ theo giấy triệu tập của Tòa án được Hoặc đương sự đã thông báo với Tòa án là họ bận công việc vào buổi sáng thì Tòa

án có thể triệu tập họ vào buổi chiều Khi đã triệu tập được đương sự đến Tòa án thì cần tận dụng hết thời gian đương sự có mặt ở Tòa án để thực hiện các thủ tục tố tụng, tránh việc chỉ triệu tập lên để giao tài liệu, chứng cứ hoặc nhận văn bản tố tụng của Tòa án rồi lại để họ về khiến cho đương sự không nhìn nhận việc có mặt của họ là có tính quan trọng Ngoài ra, cán bộ Tòa án cũng cần phải nâng cao trách nhiệm, trình độ, năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp, thái độ nhã nhặn khi tiếp đương sự thì mới tạo được niềm tin cho đương sự vào việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, từ đó họ sẽ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án theo quy định của pháp luật một số quốc gia khác trên thế giới:

Pháp luật TTDS của các nước trên thế giới đều có những quy định khá chi tiết

về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết các tranh chấp tại Tòa

án nói chung và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nói riêng Những quy định đó giữa các quốc gia có những điểm tương đồng nhất định, bên

Trang 34

cạnh đó cũng có những nét đặc trưng riêng biệt phù hợp với điều kiện tố tụng của mỗi nước Việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật TTDS của một số quốc gia điển hình

có ý nghĩa tham khảo từ đó rút ra bài học kinh nghiệm hướng tới hoàn thiện pháp luật TTDS ở Việt Nam

1.2.3.1 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong BLTTDS Cộng hòa Pháp:

Theo BLTTDS Cộng hòa Pháp, đương sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người thứ ba tham gia tố tụng Điều 323 BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định trường hợp nhiều người cùng đứng đơn kiện hoặc cùng bị kiện, thì mỗi người trong số họ thực hiện các quyền và chịu các nghĩa vụ về phần mình với tư cách là các bên đương sự trong tố tụng

BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự bao gồm các quyền như: Quyền khởi kiện, rút đơn khởi kiện, quyền tham gia tranh luận, quyền biện hộ về nội dung (Điều 71, 72 BLTTDS Cộng hòa Pháp), phản kháng tố tụng (Điều 73,74), vv và các nghĩa vụ như: nghĩa vụ viện dẫn, giải thích và chứng minh các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình (Điều 6, 8, 9); có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp đỡ hoặc từ chối giúp đỡ; nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ, thì theo yêu cầu của bên kia, Thẩm phán có thể ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền để cưỡng chế (Điều 11), nghĩa vụ tôn trọng Tòa án ( Điều 24 ) và các nghĩa vụ tố tụng khác Hơn thế nữa, theo quy định của pháp luật TTDS Pháp thì đương sự còn có quyền được đại diện và trợ giúp pháp

lý tại Tòa án và họ có thể nhờ cả thể nhân hoặc pháp nhân làm đại diện Đương sự còn có quyền kháng cáo phúc thẩm, kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm và quyền kháng án của người bị xử vắng mặt – buộc Tòa án đã xử phải xem xét lại những điểm đã xét xử vắng mặt [23]

Trang 35

So với BLTTDS Việt Nam thì BLTTDS Cộng hòa Pháp cũng có những điểm tương đồng khi quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự như: ghi nhận sự thỏa thuận của các bên thông qua biên bản hòa giải, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, quyền được kháng cáo, vv Từ đó có thể thấy pháp luật TTDS Việt Nam cũng đã có những quy định mang tính tiến bộ, có sự tương đồng và phù hợp với quốc tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay

1.2.3.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong BLTTDS Liên bang Nga:

BLTTDS Liên bang Nga quy định những người tham gia tố tụng bao gồm các bên ( nguyên đơn, bị đơn ), người thứ ba (người có quyền, nghĩa vụ liên quan), kiểm sát viên, những người yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc những người tham gia tố tụng để phát biểu kết luận về những tình tiết được quy định tại Điều 4, Điều 46, Điều 47 Bộ luật này, những người khởi kiện và những người khác trong những tranh chấp được giải quyết theo thủ tục đặc biệt và trong những tranh chấp phát sinh từ quan hệ công pháp ( Điều 34 BLTTDS Liên bang Nga)

BLTTDS Liên bang Nga quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng : Người tham gia tố tụng có các quyền như: quyền tiếp xúc với hồ sơ vụ án, quyền ghi chép hoặc sao chụp tài liệu, quyền xuất trình chứng cứ và tham gia nghiên cứu chứng cứ, quyền đưa ra yêu cầu bao gồm cả yêu cầu cung cấp chứng cứ, quyền khiếu nại phán quyết của Tòa án,…vv Về nghĩa vụ, những người tham gia

tố tụng phải tuân thủ nghĩa vụ tố tụng do BLTTDS Liên bang Nga và Luật Liên bang Nga quy định Trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ tố tụng thì phải chịu hậu quả pháp lý do pháp luật TTDS quy định BLTTDS Liên bang Nga cũng đưa ra nguyên tắc các bên đương sự cón quyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau Nguyên đơn có quyền thay đổi căn cứ hoặc đối tượng khởi kiện, tăng hoặc giảm mức yêu cầu hoặc rút đơn khởi kiện, bị đơn có quyền thừa nhận vụ kiện, các bên có thể kết thúc vụ án bằng việc hòa giải Tòa án không công nhận việc rút đơn khởi

Trang 36

kiện hoặc thừa nhận hòa giải giữa các bên nếu điều đó là trái pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra phán quyết Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng ở bên nguyên đơn hoặc phía bị đơn trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra phán quyết, nếu phán quyết của Tòa án ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong mối quan hệ với một trong hai bên [24]

1.2.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong BLTTDS Trung Quốc:

Nhìn chung, BLTTDS Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng so với BLTTDS Việt Nam về các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, song bên cạnh đó vẫn có những quy định khác biệt xuất phát từ sự khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội giữa Trung Quốc và Việt Nam

Cũng như BLTTDS Việt Nam, BLTTDS Trung Quốc đã quy định về các quyền và việc bảo đảm quyền của đương sự thông qua những nguyên tắc chỉ đạo cụ thể như: quyền tố tụng bình đẳng, quyền biện luận, quyền xử lý quyền dân sự và quyền tố tụng của mình trong phạm vi quy định của pháp luật Và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản đó, BLTTDS Trung Quốc đã quy định cho đương sự có các quyền pháp lý nhất định như: Quyền ủy nhiệm người đại diện, thu thập, cung cấp chứng cứ, tiến hành đối đáp, yêu cầu hòa giải, khiếu nại, quyền tự hòa giải,… Những quyền năng này của đương sự trong BLTTDS Trung Quốc có phần giống với quy định của pháp luật TTDS Việt Nam Tuy nhiên, khi quy định về quyền ủy nhiệm thay mặt mình tham gia tố tụng của đương sự, Điều 58 BLTTDS Trung Quốc

nêu rõ: “những đương sự, người đại diện theo theo luật định có thể ủy nhiệm một

đến hai người làm đại diện tố tụng” BLTTDS Trung Quốc còn đề cập rất chi tiết

đến quyền được yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản, biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trang 37

Bên cạnh các quyền trên, đương sự còn có những nghĩa vụ pháp lý nhất định,

cụ thể như: đương sự có trách nhiệm đưa ra chứng cứ về những yêu cầu của mình nêu ra, có mặt theo giấy triệu tập, tuân thủ kỷ luật phiên tòa, thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật [25]

1.2.3.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ:

Theo pháp luật của Anh thì đương sự thường thực hiện các quyền, nghĩa vụ thông qua luật sư của mình Để khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định triệu tập bị đơn ra tòa, bên nguyên đơn phải trình bày vắn tắt các tình tiết và mục đích của mình trong đơn khởi kiện Khi nhận được giấy triệu tập, bị đơn phải trình diện trước tòa hoặc ít nhất phải phúc đáp Tòa án trong thời hạn 14 ngày, nếu bị đơn không trình diện hoặc không nộp bản tự bào chữa thì quyết định triệu tập đương nhiên có hiệu lực như một quyết định xét xử văng mặt và có hiệu lực thi hành Theo pháp luật tố tụng của Mỹ, phần nhiều các bên đương sự tại Mỹ trao quyền cho đại diện các Luật sư để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng Đương sự trong TTDS Mỹ có các quyền và nghĩa vụ sau: nguyên đơn có quyền khởi kiện vụ

án bằng việc phát động hai văn kiện là một đơn khởi kiện và một tờ Trát; bị đơn có quyền yêu cầu Tòa án “tiền phân xử” để bác đơn kiện của nguyên đơn trước khi Tòa

án mở phiên tòa chính thức; đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Bồi thẩm viên, yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng ra hầu tòa; đương sự có quyền kháng cáo;… Nguyên đơn có nghĩa vụ phải thực hiện việc “phát lệnh khởi kiện” cho bị đơn; bị đơn sau khi nhận được Trát của Tòa án có nghĩa vụ phải nộp một “tờ biện minh” để trả lời cho đơn kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án bác đơn của nguyên đơn; đương sự thua kiện sẽ có nghĩa vụ phải chịu án phí,…

Có thể thấy, pháp luật của các nước thuộc hệ thống Common Law có ưu điểm

là đề cao vai trò chủ động, tích cực của đương sự, Thẩm phán chỉ giữ vai trò là trọng tài Đương sự phải tự mình hoặc thông qua Luật sư thực hiện các hoạt động tố tụng Quy định như vậy sẽ làm giảm được gánh nặng cho Tòa án nhưng lại không

Trang 38

phát huy được vai trò trợ giúp của Tòa án đối với đương sự và đương sự sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nếu không có sự trợ giúp của Luật sư [3]

So sánh các quy định của pháp luật TTDS nước ngoài với pháp luật TTDS Việt Nam cho thấy: Pháp luật TTDS Việt Nam đã tiếp thu và học hỏi cách xây dựng luật TTDS của nước Cộng hòa liên bang Nga trước đây cả về bố cục, cách hành văn

và quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự Đối chiếu sang pháp luật TTDS các nước khác, pháp luật TTDS Việt Nam cần phải học hỏi và rút ra kinh nghiệm về việc quy định quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự mang tính chất thực sự tranh tụng và bảo đảm việc đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách tốt nhất

Nói tóm lại, trong vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại hay các vụ án dân sự khác được giải quyết tại Tòa án, đương sự đóng một vai trò trung tâm và là thành phần không thể thiếu Các đương sự sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật TTDS Việt Nam để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình, thúc đẩy giải quyết có hiệu quả các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Việc nghiên cứu về các vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa

án có ý nghĩa thiết thực, và là tiền đề để đi sâu nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về các quyền và nghĩa vụ cụ thể của đương sự ở chương 2 của luận văn

Trang 39

Chương 2

THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

BLTTDS 2015 tại Điều 70 đã quy định khá chi tiết và cụ thể các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung và

vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng Và tại Điều 71, 72, 73 của BLTTDS 2015 cũng đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi loại đương sự: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan So với BLTTDS

2011, BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm cho đương sự những quyền và nghĩa vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn tố tụng hiện nay Tất cả các quyền và nghĩa vụ đó của đương sự được thể hiện xuyên suốt các giai đoạn tố tụng giải quyết tranh chấp, kinh doanh thương mại tại Tòa án

2.1 Quyền và nghĩa vụ chung đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Điều 70 BLTTDS 2015 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình tố tụng tại Tòa án Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS, có thể phân thành các nhóm quyền và nghĩa vụ sau: (i) Nhóm quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự; (ii) Nhóm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh; (iii) Nhóm các quyền và nghĩa vụ khác

2.1.1 Nhóm quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

* Quyền khởi kiện vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án:

Trang 40

Khi xảy ra tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; các chủ thể có thể lựa chọn nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau để đạt hiệu quả phù hợp nhất với tình hình tranh chấp Theo quy định tại Điều 317 Luật Thương mại 2005, các hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại, bao gồm: Thương lượng giữa các bên; Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; Giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án Có thể thấy, đối với tranh chấp trong kinh doanh, thương mại; các bên có thể lựa chọn rất nhiều cách thức giải quyết, và Tòa án là một trong những phương thức đó, được đánh giá là hiệu quả nhất

Để được giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án, trước hết các bên tranh chấp phải có đơn khởi kiện gửi lên Tòa án; đây là căn cứ quan trọng

để phát sinh vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại Quyền khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại được xác định thuộc nội dung nguyên tắc quyền quyết

định và tự định đoạt của đương sự trong BLTTDS 2015 : “Đương sự có quyền quyết

định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự

và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” Và Điều 186

BLTTDS 2015 cũng quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc

thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Theo đó, BLTTDS 2015 đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cơ quan,

tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khởi kiện của mình có thể tự thân hoặc thông qua người đại diện Trong quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại; nguyên đơn trong vụ án phần lớn là các doanh nghiệp; khi đó, người thực hiện việc khởi kiện chính là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, không phải lúc nào quyền khởi kiện cũng đạt hiệu quả và các chủ thể liên quan có thể trở thành đương sự Đặc biệt trong các tranh chấp kinh doanh, thương mại tồn tại một phương thức là Trọng tài – cũng là một cơ quan tài phán có thẩm quyền chuyên giải quyết

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w