Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: đảm bảo quyền của bị đơn trong giải quyết các vụ án dân sự của tòa án là việc nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Ngọc Khuyến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và của
GS.TS Phạm Hồng Thái, tôi đã thực hiện đề tài: “Đảm bảo quyền của bị đơn
trong giải quyết vụ án dân sự, từ thực tiễn Tòa án Nhân dân tỉnh Hải Dương”
để nghiên cứu và làm Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Ngọc Khuyến
Trang 5CỦA BỊ ĐƠN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN 7 1.1 Quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò đảm bảo quyền của bị đơn
trong quá trình xét xử vụ án dân sự 10
1.2.1 Khái niệm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự 10 1.2.2 Đặc điểm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự 11 1.2.3 Vai trò đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án
dân sự 13
1.3 Nội dung và phương thức đảm bảo quyền của bị đơn trong
quá trình xét xử vụ án dân sự của Tòa án 16
1.3.1 Nội dung đảm bảo quyền của bị đơn 16 1.3.2 Phương thức đảm bảo quyền của bị đơn 21
1.4 Các điều kiện pháp lý đảm bảo quyền của đương sự/bị đơn
trong quá trình xét xử vụ án dân sự 35
1.4.1 Các điều kiện đối với hệ thống pháp luật trong quá trình xét xử
vụ án dân sự 36 1.4.2 Các điều kiện đối với hệ thống Tòa án và trình độ chuyên môn,
đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán 37
Trang 61.4.3 Các điều kiện đối với hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát
nhân dân 39 1.4.4 Các điều kiện đối với Luật sư - Người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người bị kiện 40
Tiểu kết Chương 1 43 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN
TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TÒA
ÁN TỈNH HẢI DƯƠNG 44 2.1 Khái quát về Tòa án tỉnh Hải Dương (cơ cấu tổ chức, số
lượng thẩm phán, thư ký tòa năng lực, trình độ chuyên
môn, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ lý luận chính trị 44 2.2 Tình hình thụ lý các loại vụ án dân sự (bao gồm án Dân sự,
án Hôn nhân và gia đình, án Kinh doanh thương mại, án
Lao động) tại Tòa án tỉnh Hải Dương 45 2.3 Đảm bảo quyền của bị đơn của Tòa án 47
2.3.1 Thực tiễn Tòa án thực hiện các quy định của pháp luật về bảo
đảm quyền của bị đơn trong giải quyết vụ án dân sự 47 2.3.2 Thực tiễn bảo đảm quyền của bị đơn trong thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình trong giải quyết vụ án dân sự 48 2.3.3 Một số sai sót trong bản án, quyết định trong giải quyết vụ án
dân sự theo thủ tục sơ thẩm 50
2.4 Đảm bảo quyền của bị đơn của Viện kiểm sát 53 Tiểu kết Chương 2 58 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN
TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ 59 3.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng theo tinh thần Hiến
pháp năm 2013 59 3.2 Đổi mới về tổ chức, hoạt động của Tòa án và nâng cao trình
độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán 65
Trang 73.3 Nâng cao vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự 69
3.4 Nâng cao vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng dân sự 71
3.5 Bảo đảm thi hành án dân sự 72
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất QSDĐ: Quyền sử dụng đất
TAND: Tòa án nhân dân TTDS: Tố tụng dân sự UBND: Ủy ban nhân dân VADS: Vụ án dân sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện quan điểm về đảm bảo, bảo vệ quyền con người trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 tại Điều 14 ghi nhận “… các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp
và pháp luật” Như vậy, việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo quyền con người, quyền công dân trước hết thuộc bổn phận, trách nhiệm của toàn
bộ bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức và các thiết chế xã hội, cũng như mọi thành viên trong xã hội Để quyền con người, quyền công dân được hiện thực hóa, đòi hỏi phải tạo ra các điều kiện, tiền đề, chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý, đồng thời các cơ quan nhà nước phải đáp ứng các quyền con người, quyền công dân
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam những hiến định về quyền con người, quyền công dân, là cơ sở định hướng trong xây dựng pháp luật, hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các
cơ quan tư pháp, trung tâm là tòa án, có nhiệm vụ “Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Điều 102) Hiến pháp năm 2013 Trong quan hệ dân sự, mọi cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật đều có quyền yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm bởi chủ thể quan hệ pháp luật dân sự khác
Bị đơn là người bị kiện có những quyền và nghĩa vụ như đương sự khác, đồng thời có những quyền đặc thù Để đảm bảo quyền của bị đơn đòi hỏi những điều kiện pháp lý được thể hiện tại các quy định của pháp luật và
Trang 10thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó, đảm bảo quyền của bị đơn của tòa án là phương thức quan trọng, cơ bản nhất, thông qua hoạt động giải quyết các vụ án dân sự, tòa án thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, đảm bảo quyền của đương sự được thực hiện trên thực tế
Do tính chất phức tạp của các vụ án dân sự, bị đơn trong vụ án dân sự
có thể là cá nhân, tổ chức, cơ quan Cá nhân có thể là người nước ngoài, người không có quốc tịch, công dân, người có đầy đủ năng lực hành vi pháp
lý dân sự, người có không đầy đủ, người thuộc dân tộc ít người, thuộc hộ nghèo, hay các đối tượng chính sách, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tạo mọi điều kiện, tiền đề để đảm bảo các quyền của bị đơn
Hoạt động tố tụng dân sự có liên quan rất chặt chẽ tới quyền công dân,
là một trong những phương thức đảm bảo quyền công dân trong xã hội Nhưng thực tiễn hiện nay trong quá trình xét xử vụ án dân sự của Tòa án tỉnh Hải Dương còn nhiều bất cập, đó là có những vụ án dân sự bị sửa, hủy, xét xử qua nhiều cấp xét xử, tình trạng thi hành án dân sự chưa thực sự hiệu quả đã ảnh hưởng lớn tới niềm tin và kỳ vọng của người dân về công lý và sự nghiêm minh của pháp luật
Xuất phát từ những vấn đề trên học viên chọn đề tài “Đảm bảo quyền
của bị đơn trong giải quyết vụ án dân sự, từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận văn
Đảm bảo quyền công dân là một trong những chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm trong những năm gần đây, có thể kể đến các công trình
sau đây: “Quyền lực nhà nước và quyền công dân”, tác giả Đinh Văn Mậu,
trong đó đã luận giải về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, đưa ra quan niệm đảm bảo các quyền, tự do cá nhân; cơ chế đảm bảo quyền công dân
Trang 11thông qua các cơ quan nhà nước và giải pháp hoàn thiện tổ chức Nhà nước để đảm bảo các quyền công dân, các phương thức kiểm soát đảm bảo quyền công dân, đảm bảo quyền công dân bằng quyền lực nhà nước, như: giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân); thanh tra, kiểm tra của hệ thống hành chính nhà nước …; hoạt động xét xử và giám sát của TAND; Kiểm sát đảm bảo, bảo vệ quyền công dân của VKSND
“Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Đường, góp phần làm rõ những vấn
đề lý luận cơ bản về quyền công dân, mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN, cơ chế bảo vệ quyền con người đó là pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, quyền và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận và thể chế trong Hiến pháp, các Bộ luật, các Đạo luật, “việc ghi nhận và đảm bảo quyền công dân trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chính là thể hiện việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người”
“Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013 và cơ chế thực hiện thông qua các quy định về tố tụng” tác giả
Nguyễn Tiến Sơn đề cập trong tại sách chuyên khảo “Quyền con người trong
Hiến pháp 2013- Quan điểm mới, cách tiếp cận mới và các quy định mới” đã
nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện các cơ chế tố tụng nhằm đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm
2013 “Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án ở Việt Nam” của tác giả Đinh Thế Hưng (sách chuyên khảo “Cơ chế đảm bảo và bảo vệ quyền con
người”, theo tác giả cơ chế bảo vệ được Tòa án áp dụng đối với mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội được thực hiện thông qua con đường tố tụng, là một cơ chế pháp lý, cơ chế hoạt động của hệ thống Tòa án
Đề tài khoa học cấp ĐHQGHN (2014) “Tư tưởng nhân quyền ở Việt
Nam” chủ nhiệm đề tài GS.TS Phạm Hồng Thái, đề tài tập trung luận giải
Trang 12những vấn đề lý luận “tư tưởng về nhân quyền, sự hình thành phát triển tư tưởng nhân quyền ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại Đặc biệt đã phân tích các quan điểm tư tưởng về quyền con người trong các văn kiện của Đảng, các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Sách “Bình luận Hiến pháp năm 2013” của Khoa Luật ĐHQGHN năm
2015 tại chương 2 tập trung bình luận các quy định của pháp luật về quyền con người, quyền công dân, chương 10 về Tòa án nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân
Như vậy, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa có công trình trực tiếp nghiên cứu đảm bảo quyền bị đơn trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự, từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương Nhưng những công trình nêu trên là tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn, đặc biệt là những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền con người, quyền công dân
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự, đánh giá thực trạng đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của bị đơn trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Trang 13Đưa ra khái niệm, đặc điểm, vai trò đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nội dung, phương thức đảm bảo và các điều kiện pháp lý đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự từ thực tiễn Tòa
án nhân dân tỉnh Hải Dương
Đề xuất các giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của bị đơn quá trình giải quyết vụ án dân sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của bị đơn (bị đơn là một bên tham gia quan hệ, có những quyền của đương sự, có những quyền đặc thù, vì vậy, trong luận văn, khi đề cập đến quyền, nghĩa vụ của đương sự cũng là nói đến quyền của bị đơn) trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
5 Những điểm mới của Luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới sau đây:
Luận văn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự
Trang 14Đánh giá được thực tiễn đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét
xử vụ án dân sự ở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
Luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đảm bảo quyền của
bị đơn trong xét xử vụ án dân sự
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn: Với kết quả của luận văn, tác giả luận văn hy vọng rằng những vấn đề lý luận nêu trong luận văn về đảm bảo quyền của bị đơn trong xét xử vụ án dân sự góp thêm vào nhận thức lý luận cho khoa học Luật Hiến pháp về đảm bảo quyền con người, quyền công dân của
bị đơn Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, cho những người công tác tại Tòa án nhân dân
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền của bị đơn trong
quá trình giải quyết vụ án dân sự
Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
Chương 3: Giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của bị đơn trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
1.1 Quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Trong tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng bao gồm các đương sự Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm [6, Điều 68, Khoản 3] Như vậy, bị đơn có một số đặc điểm sau:
Một là, là chủ thể do nguyên đơn, hoặc người khởi kiện vì lợi ích của
người khác khởi kiện đích danh ra trước tòa án, trong đơn khởi kiện luôn chỉ
rõ, đầy đủ tên tuổi của người bị kiện Việc kiện đích danh ai sẽ là cơ sở cho việc xác định tư cách của bị đơn
Hai là, bị đơn là người bị cho rằng đã xâm phạm đến quyền của nguyên
đơn, hoặc người được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ, hoặc đang có tranh chấp về quyền lợi cần được tòa án phán xử Đây mới chỉ là giả thiết ban đầu, về sau bị đơn có quyền phản tố (kiện ngược lại),
có nghĩa bị đơn trở thành nguyên đơn
Ba là, bị đơn tham gia quan hệ tố tụng dân sự sau khi bị nguyên đơn
khởi kiện vì vậy thường bị thụ động so với nguyên đơn, thường tham gia quan
hệ sau khi tòa án đã thụ lý vụ án và có thông báo của tòa án
Để bảo đảm các quyền của đương sự trong vu án dân sự, pháp luật tố
Trang 16tụng dân sự một mặt ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của các đương sự, đồng thời tạo mọi điều kiện, tiền đề để các đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ như nhau, gồm các quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho tòa án; đề nghị tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị tòa án ra quyết định yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật TTDS Trường hợp vì lý
do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ
có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ Đề nghị tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do tòa án tiến hành Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của Bộ luật này Đề nghị tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng Đề nghị tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng
Trang 17Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của tòa án Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của tòa án theo quy định của Bộ luật này Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 70 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015) Trong quan hệ tố tụng dân sự, có thể sảy ra tình huống người khởi kiện “trở thành” bên bị kiện và người bị kiện “trở thành” người khởi kiện Vì vậy, ngoài những quyền chung của đương sự nói trên, người bị khởi kiện có những quyền, nghĩa vụ đặc thù, bao gồm: được tòa án thông báo về việc bị khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; đưa
ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều
71 của BLTTDS; đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của BLTTDS Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác
Việc giải quyết vụ án dân sự của tòa án được bắt đầu từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, đến quá trình hòa giải, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (không phải vụ án nào cũng qua tất cả các giai đoạn tố tụng nói trên) Các đương sự nói chung, bị đơn nói riêng đều có quyền tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình (đối với bị đơn thường tham gia sau khi nhận được thông báo của tòa án về việc bị người khác khởi kiện)
Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu quyền của bị đơn trong giải
Trang 18quyết vụ án dân sự của tòa án là một tập hợp các quyền, là khả năng của bị
đơn tham gia quan hệ tố tụng dân sự được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự
1.2.1 Khái niệm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự
Khái niệm “đảm bảo”, theo Từ điển Hành chính, là trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường Đảm bảo được tiến hành bằng những biện pháp đảm bảo nghĩa vụ dân sự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, phạt vi phạm [2, tr.30] “Đảm bảo” tiếng Anh là “assure”, tiếng Pháp là “assurer” là tạo điều kiện để con người thực hiện được (giữ gìn được) những gì cần thiết Thuật ngữ “đảm bảo” khác với “bảo vệ”, “bảo hộ” như “bảo vệ” thường đề cập đến việc ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý khi có vi phạm, còn “bảo hộ” là việc che chở, không để con người bị tổn thất bất cứ cái gì Theo quan điểm của GS.TS Phạm Hồng Thái, đảm bảo các quyền của công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức thực hiện được các quyền tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [13, tr.75] PGS.TS Đinh Văn Mậu cho rằng, đảm bảo các quyền, tự do cá nhân công dân là tạo ra một môi trường mà mỗi cá nhân nhận thấy là thực sự được an toàn, được Nhà nước bảo vệ tài sản, danh dự, tính mạng và quyền, tự do cá nhân [3, tr.81] Luận văn sử dụng thuật ngữ “đảm bảo” khi đề cập đến “đảm bảo quyền của đương sự”, bị đơn nhằm hướng đến nghiên cứu các nội dung, điều kiện để đương sự,
Trang 19trong đó có bị đơn thực hiện được những quyền của họ đã được pháp luật quy định trong tố tụng dân sự
Đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự là một lĩnh vực đảm bảo quyền tư pháp của người bị kiện để thực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự cần phải đặt nó trong mối quan hệ mật thiết với đảm bảo quyền của công dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự là việc tạo các điều kiện, tiền đề, các yếu tố cần thiết cho quá trình thực hiện quyền của bị đơn nhằm làm cho hoạt động tố tụng có hiệu lực, hiệu quả cao nhất Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, sự khác biệt về đảm bảo quyền của công dân trong các lĩnh vực không chỉ bằng pháp luật mà còn bằng nhiều phương thức như đảm bảo về chính trị, văn hóa, kinh tế xã hội
Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: đảm bảo quyền của bị đơn trong
giải quyết các vụ án dân sự của tòa án là việc nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và đáp ứng các quyền của người bị kiện trong quá trình giải quyết các khiếu kiện dân sự bằng con đường tố tụng, thông qua hoạt động xét xử của tòa án nhân dân theo một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử vụ án dân sự
1.2.2 Đặc điểm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự
Đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự, thực chất là đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của đương sự khi tham gia vào quan
hệ tố tụng dân sự với tư cách là người bị kiện Do đặc thù của đời sống dân
sự, của quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự, đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự có một số đặc điểm khác với đảm bảo quyền của các đương sự/bị đơn trong tố tụng hành chính
Trang 20Trong quan hệ tố tụng hành chính, các đương sự bị khiếu kiện là cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, hay thực hiện hành vi hành chính luôn có những “ưu thế” so với đương sự - người bị kiện Người khởi kiện và người bị kiện vốn có mối quan hệ trực thuộc về tổ chức, hoặc chức năng, do đó người khởi kiện luôn là “yếu thế” so với người bị kiện, còn trong quan hệ dân sự, người khởi kiện và người bị kiện bình đẳng, không bên nào có ưu thế so với bên khác trong quan hệ dân sự và quan hệ tố tụng dân sự Vì vậy đảm bảo quyền của bị đơn trong giải quyết các vụ án dân sự
có một số đặc điểm sau:
Một là, đảm bảo quyền của bị đơn trong trong quá trình xét xử vụ án
dân sự là đảm bảo quyền của đương sự bằng phương thức xét xử dân sự
Đảm bảo quyền của bị đơn bằng phương thức xét xử của tòa án có thể hiểu là phương thức đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đương sự thông qua thẩm quyền và trách nhiệm của tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
So với các hoạt động tố tụng khác (tố tụng hình sự, tố tụng hành chính) thì đảm bảo quyền của công dân bằng phương thức này có những điểm nổi bật như: Tòa án như là “trọng tài” để phân xử dựa trên ý chí của các chủ thể trong qua hệ tố tụng dân sự, trừ trường hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, cơ quan, tổ chức công quyền
Hai là, hoạt động tố tụng của tòa án là hoạt động xem xét tính hợp pháp
của các tranh chấp trong quan hệ tài sản, hay quan hệ nhân thân có hoặc không liên quan với quan hệ tài sản Để bảo vệ, đảm bảo quyền của các đương sự trong hoạt động này, tòa án có thể tiến hành các hoạt động khác nhau để thu thập, xác minh các chứng cứ trong trường hợp mà các bên không thể, hay cung cấp không đầy đủ, các tình tiết trong vụ án, trên cơ sở đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra những phán quyết đúng pháp luật, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng
Trang 21Ba là, đối tượng xét xử của tòa án là đơn khởi kiện của nguyên đơn đối
với bị đơn Do đó, tòa án chỉ xem xét, phán xét theo những nội dung trong đơn kiện của người khởi kiện, thông qua đó mà đảm bảo, bảo vệ quyền của người bị kiện
Bốn là, đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự
là việc đảm bảo các quyền của người bị khởi kiện trong các giai đoạn tố tụng
và các loại hoạt động tố tụng trên cơ sở thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án và VKSND - Chủ thể có trách nhiệm đảm bảo quyền của người bị kiện
Năm là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự được thực
hiện bởi người tiến hành tố tụng, đó là Chánh án Tòa án, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án, thẩm tra viên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên
Sáu là, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì tòa án phải thực
hiện cơ chế hòa giải giữa người khởi kiện và người bị kiện/bị đơn Người khởi kiện được thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt (quyền rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện), người bị kiện có thể không đồng ý toàn bộ, hay một phần theo đơn khởi kiện hoặc có thể phản tố
1.2.3 Vai trò đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự
Với vị trí đặc biệt trong hoạt động tư pháp, vai trò của toà án trong việc đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự được thể hiện qua một
số nội dung sau:
Một là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự góp phần đảm
bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, phát triển bản chất của Nhà nước
Trang 22pháp quyền XHCN ở Việt Nam, đó là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân [5, Điều 2] Theo đó, trong Nhà nước pháp quyền, các quy định của Hiến pháp là nền tảng cho toàn bộ hệ thống luật pháp bởi những điều luật này sẽ được cụ thể hóa thành các Bộ luật, Luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, mọi chủ thể trong xã hội đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Đồng thời, trong Nhà nước pháp quyền có sự bình đẳng giữa mọi người (nhà nước, tập thể và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật), không phân biệt đối xử trong việc công nhận, thụ hưởng và phát triển các quyền con người, quyền của công dân Điều này cho thấy, Nhà nước pháp quyền phải xác lập được cơ chế bảo vệ, đảm bảo thực hiện các quyền của công dân cho người dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội và khi có tranh chấp; đặc biệt khi phát sinh tranh chấp giữa công dân với công dân, giữa công dân với tổ chức, ngược lại trong quan hệ dân sự, chỉ có tòa án mới có thẩm quyền phán xét việc tuân thủ pháp luật của các bên và hệ thống tòa án độc lập sẽ là đảm bảo cuối cùng cho công dân có đủ khả năng và điều kiện đảm bảo quyền của công dân của mình khi bị xâm hại
Do vậy, việc Nhà nước tạo các điều kiện pháp lý nhằm đảm bảo quyền của đương sự nói chung, của bị đơn nói riêng trong tố tụng dân sự sẽ góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội
Hai là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự góp phần thực
hiện trách nhiệm của Nhà nước trước công dân
Trong nhà nước pháp quyền, nhà nước luôn có trách nhiệm trước công dân Theo đó, Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ, đảm bảo quyền con người, đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân thông qua việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo các quyền con người,
Trang 23quyền của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội theo Hiến pháp và pháp luật Nhà nước chủ động, tích cực xây dựng hệ thống pháp luật, các chương trình, kế hoạch và triển khai đồng bộ xuyên suốt các nội dung đảm bảo quyền của công dân trong các chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội Hiến pháp được coi là công cụ quan trọng hàng đầu được Nhà nước
sử dụng để đảm bảo quyền của công dân Hiến pháp và pháp luật là cơ sở, căn
cứ pháp lý để công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ dân sự
Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hiến định và được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiếp tục ghi nhận “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, theo đó, trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ảnh hưởng bởi bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào, việc ra phán quyết về tính hợp pháp, cơ sở của đơn kiện trên cơ sở quy định của pháp luật Mục đích của nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền con người, quyền của công dân, quyền bình đẳng của đương sự trước pháp luật, đồng thời tránh sự can thiệp, tác động của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào vào hoạt động xét xử của tòa án, tránh sự “tùy tiện” từ phía thẩm phán và hội thẩm nhân dân khi đưa ra các quyết định Nhà nước đảm bảo nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế bằng các hình thức khác nhau trong đó có việc “nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm nhân dân dưới bất kỳ hình thức nào” Có thể nói, Nhà nước đảm bảo sự độc lập của tòa án là đảm bảo quyền con người, quyền của công dân; là biểu hiện của sự chịu trách nhiệm của Nhà nước trước công dân, bởi hiệu quả của công tác xét xử phụ thuộc vào chính sự độc lập này [1, tr.12] Do vậy, đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự cũng chính là việc nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình trước công dân
Trang 24Ba là, đảm bảo quyền của đương sự (người khởi kiện và người bị
kiện) trong quá trình xét xử vụ án dân sự góp phần đảm bảo sự công bằng trong xét xử Công bằng trong xét xử yêu cầu đòi hỏi việc phán xét đúng pháp luật, đúng tình tiết của vụ việc, thẩm phán, hội thẩm độc lập, chỉ tuân theo pháp luật
Bốn là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự góp phần bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp
Hoạt động giải quyết các vụ án dân sự được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự nếu được tiến hành một cách nghiêm minh, khách quan sẽ tạo ra một cơ chế tư pháp công bằng, các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ
1.3 Nội dung và phương thức đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự của Tòa án
1.3.1 Nội dung đảm bảo quyền của bị đơn
Quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự là những quyền trong suốt quá trình tố tụng, bao gồm:
+ Quyền được thông báo về nội dung khởi kiện, người khởi kiện
- Giai đoạn giải quyết vụ án dân sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; thủ tục
Trang 25đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình giải quyết vụ án dân
sự, mà tranh chấp pháp sinh trong mối quan hệ bình đẳng
+ Quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là quyền tố tụng mà pháp luật cho phép người bị kiện có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý, công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, được tòa án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, trong đó có bên bị kiện
Trong trường hợp công dân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những đối tượng này Quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, trong đó có người bị khởi kiện được đảm bảo thực hiện trong mọi giai đoạn quá trình xét xử vụ án dân sự bởi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
+ Quyền được trợ giúp pháp lý Người bị khởi kiện thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý được hưởng quyền này, theo đó Nhà nước đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà án
+ Quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình: người bị kiện được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình để lập luận, đưa ra các yêu cầu kiến nghị trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, toà án có trách nhiệm tôn trọng quyền của họ và trách nhiệm đảm bảo sự tham gia tố tụng của người phiên dịch
+ Quyền khiếu nại, quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của
Trang 26cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động trong quá trình xét xử vụ án dân sự Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của người bị khởi kiện, đồng thời xác định trách nhiệm có cơ quan, tổ chức, cá nhân đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của họ, đó là trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật
+ Quyền yêu cầu toà án xét xử kín vụ án dân sự để giữ bí mật vì lý do chính đáng
+ Quyền đề nghị xét xử vắng mặt: người bị khởi kiện có thể vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm nhưng phải có đơn đề nghị toà án xét xử vắng mặt hoặc
có người đại diện tham gia phiên toà
Ngoài ra, ở giai đoạn này người bị khởi kiện có các quyền và nghĩa vụ
tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho bị người bị kiện
+ Vì lý do chủ quan hoặc khách quan, người bị khởi kiện không tự mình thu thập được chứng cứ thì có quyền đề nghị toà án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của vụ án; quyền đề nghị toà án buộc bên đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý; quyền đề nghị toà
án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng
cứ cung cấp chứng cứ Đây là các quyền đề nghị của người bị khởi kiện đối
Trang 27với toà án nên toà án có quyền xem xét chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị Trong các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ của toà án, người bị khởi kiện có quyền đề nghị toà án triệu tập người làm chứng; quyền tự yêu cầu giám định; quyền yêu cầu tòa án trưng cầu giám định; quyền yêu cầu Tòa
án ra quyết định giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan; quyền cung cấp giá tài sản, thỏa thuận về việc xác định giá tài sản và cung cấp cho
Tòa án; quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tiến hành thẩm định
giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho tòa án
+ Quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho tòa án hoặc do tòa án thu thập được trước khi mở phiên toà xét xử vụ án Người khởi bị kiện có đơn yêu cầu gửi toà án có thẩm quyền và ghi rõ cụ thể tên tài liệu cần đọc, ghi chép, xem, sao chụp Tuy nhiên, người bị khởi kiện không được ghi chép, sao chụp những tài liệu liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh
+ Quyền yêu cầu tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng, thay đổi, huỷ
bỏ một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyền đề nghị tòa án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ Để tự bảo vệ, đảm bảo quyền của mình, người bị kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
+ Quyền tham gia phiên họp, phiên toà; quyền đề nghị Toà án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải Quyền này cho phép người bị kiện có quyền có mặt ở phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự hoặc ở các phiên họp
Trang 28+ Quyền nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình
+ Quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Người bị kiện thực hiện quyền này khi nhận thấy thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký, thẩm tra viên, kiểm sát viên, kiểm tra viên thuộc các trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định của pháp luật TTDS
+ Quyền đề nghị toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
+ Quyền đề nghị toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
+ Quyền hòa giải về việc giải quyết vụ án; quyền đề nghị tòa án tổ chức đối chất và tham gia đối chất với người khởi kiện hoặc với người làm chứng;
+ Quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; quyền được đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng; quyền đề nghị những vấn đề cần tranh tụng và tham gia tranh tụng; Quyền trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ
và pháp luật áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác
bỏ yêu cầu của người khác theo quy định
+ Quyền yêu cầu Hội đồng xét xử công bố các tài liệu của vụ án, nghe băng ghi ấm, xem băng đĩa hình, đĩa ghi hình; trừ trường hợp đặc biệt cần giữ
bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư cá nhân
+ Quyền được cấp trích lục bản án, quyết định của toà án Việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền này sẽ tạo điều kiện để người bị kiện thực hiện quyền kháng cáo, khiếu nại đối với bản án, quyết định của toà án
+ Quyền kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của toà án Đối với bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án của toà án cấp sơ
Trang 29thẩm thì người bị khởi kiện có quyền kháng cáo yêu cầu toà án cấp trên giải quyết theo thủ tục phúc thẩm Người bị khởi kiện có quyền khiếu nại đối với quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ hoặc quyết định không áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và các quyết định khác của toà án
Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người bị khởi kiện (là người kháng cáo) có các quyền: thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo; quyền bổ sung chứng cứ mới - đây là nội dung thể hiện quyền quyết định và
tự định đoạt của người bị kiện được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự
+ Quyền đề nghị bằng văn bản với những người có thẩm quyền kháng nghị để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Người bị khởi kiện có quyền
đề nghị Viện trưởng VKSND, Chánh án Toà án cấp cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà
án cấp tỉnh và cấp huyện; và quyền đề nghị Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của toà án các cấp (trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao)
+ Quyền nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, quyết định kháng nghị tái thẩm
+ Quyền tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm khi toà án triệu tập + Quyền được nhận quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn luật định
1.3.2 Phương thức đảm bảo quyền của bị đơn
Một là, ghi nhận và tạo mọi điều kiện để bị đơn thực hiện các quyền
được pháp luật ghi nhận
Trang 30Đảm bảo quyền của người bị khởi kiện trong quá trình xét xử vụ án dân
sự thể hiện ở việc pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận, tôn trọng và tạo các điều kiện cần thiết để người bị khởi kiện thực hiện các quyền của họ trong quan hệ
tố tụng dân sự Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, các quyền của người
bị khởi kiện có quan hệ mật thiết với nhau, việc thực hiện quyền này là tiền đề cho việc thực hiện các quyền khác, có những quyền được ghi nhận và thực hiện trong suốt quá trình tố tụng (bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; quyền được đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp; quyền được nhận thông báo hợp lệ
để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình…), có những quyền của người bị kiện chỉ được ghi nhận và thực hiện ở một giai đoạn nhất định trong quá trình tố tụng (quyền khiếu nại, tố cáo)
Hai là, đảm bảo quyền của bị đơn thông qua hoạt động của cơ quan
tiến hành tố tụng
Bộ luật Tố tụng dân sự đã xác định cơ quan tiến hành tố tụng gồm TAND và VKSND Nội dung và phương thức đảm bảo quyền của người bị khởi kiện thể hiện ở việc pháp Luật tố tụng dân sự ghi nhận thẩm quyền và trách nhiệm của TAND và VKSND trong quá trình giải quyết vụ án dân sự trong việc đáp ứng, tạo mọi điều kiện để đương sự nói chung, người bị khởi
kiện nói riêng thực hiện các quyền của họ
Đảm bảo quyền của bị đơn thông qua hoạt động của tòa án
- Đảm bảo quyền của bị đơn từ giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án
Thẩm phán phải có trách nhiệm thông báo việc thụ lý vụ án cho người khởi kiện, sau khi thụ lý vụ án phải thông báo cho người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKSND cùng cấp Đây là thủ tục tố tụng bắt buộc nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, qua đó đảm bảo quyền của người khởi
Trang 31kiện và người bị kiện Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ
án, Chánh án Toà án phải phân công Thẩm phán giải quyết vụ án theo nguyên tắc vô tư, khách quan và ngẫu nhiên nhằm đảm bảo sự liên tục trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo được thời gian luật định, hạn chế việc kéo dài gây ảnh hưởng đến quyền của người khởi kiện và bị kiện
Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, trong trường hợp người bị kiện thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Toà án có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký cho Luật sư hoặc người khác khi họ tham gia tố tụng dân sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện được tham gia tố tụng từ khi bị khởi kiện/ từ khi thụ lý vụ án dân sự, hoặc bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ
- Đảm bảo các quyền của người bị kiện ở giai đoạn giải quyết vụ án dân sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Ở giai đoạn này, thẩm phán có trách nhiệm:
Chuẩn bị xét xử là giai đoạn quan trọng trước khi tiến hành xét xử vụ
án, do vậy, thẩm phán phải đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử đúng luật định, thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như lập hồ sơ vụ án; thông báo về việc thụ lý vụ án; yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án; xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong giai đoạn này, trách nhiệm của thẩm phán trong việc đảm bảo quyền hòa giải của người khởi kiện, bị kiện là bắt buộc, đây là thủ tục tố tụng bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm Thẩm phán phải tuân thủ nguyên tắc công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự trong hòa giải; tuân thủ các quy
Trang 32định về thông báo phiên họp hòa giải thành phần, trình tự tiến hành thủ tục hòa giải, biên bản hòa giải và xử lý kết quả hòa giải
Để kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán phải ra một trong ba quyết định sau: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho người khởi kiện, người bị kiện, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Đây là thủ tục bắt buộc tạo cơ sở pháp lý cho việc mở phiên toà xét xử vụ án, đồng thời thể hiện sự minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên biết rõ việc mở phiên toà, chuẩn bị tham gia phiên toà và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng tiếp theo
+ Để đảm bảo quyền đương sự nói chung, của người bị khởi kiện nói riêng ở phiên toà sơ thẩm, toà án phải đảm bảo các yêu cầu đối với phiên toà
sơ thẩm về thời gian, địa điểm, hình thức bố trí phòng xử án; đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc xét xử (như nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói; quyền bình đẳng trước toà án; đảm bảo tính khách quan của người làm chứng); đảm bảo nội quy phiên toà, đủ thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của kiểm sát viên, của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Tại phiên toà, Hội đồng xét xử phải đáp ứng quyền được thay đổi người tiến hành tố tụng theo yêu cầu của người bị khởi kiện nếu lý do yêu cầu thay đổi có căn
cứ, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
+ Tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, Hội đồng xét xử có trách nhiệm đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự Chủ tọa phiên toà không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện để người bị khởi kiện được thực hiện quyền trình bày chứng cứ, đối đáp, hỏi, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết vụ án … theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Trang 33Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật để quyết định về tính hợp pháp của đơn kiện để ra phán quyết Phán quyết của Hội đồng xét xử có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người người khởi kiện, người bị khởi kiện, do đó sau khi kết thúc phiên toà và trong thời 03 ngày làm việc tòa án cấp trích lục bản án và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và viện kiểm sát cùng cấp
+ Thủ tục phúc thẩm được hiểu là việc toà án cấp trên trực tiếp của Toà
án cấp sơ thẩm xem xét lại tính hợp pháp, căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Do vậy, để đảm bảo quyền kháng cáo của người bị khởi kiện (người kháng cáo), có thể kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm thì Toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm nhận đơn kháng cáo, kiểm tra tính hợp lệ của đơn và thông báo cho người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Toà án không được từ chối hay cản trở quyền kháng cáo của đương sự (trừ ba trường hợp trả lại đơn kháng cáo) Đồng thời, sau khi thụ lý đơn kháng cáo hợp lệ, Toà án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án
và đơn kháng cáo cho toà án cấp phúc thẩm, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp, các đương sự Đây là thủ tục tố tụng bắt buộc nhằm đảm bảo quyền của người kháng cáo, đảm bảo trình tự tố tụng thông suốt, chặt chẽ, minh bạch
Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm thụ lý vụ án, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và viện kiểm sát cùng cấp về việc tòa án đã thụ lý vụ án Chánh án Toà án cấp phúc thẩm thành lập
Trang 34Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ toạ phiên toà, phiên họp Để đáp ứng quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo; quyền bổ sung chứng cứ mới của người bị khởi kiện, trước khi mở phiên toà phúc thẩm thì thẩm phán chủ toạ phiên toà quyết định đình chỉ xét xử đối với phần vụ án
bị rút kháng cáo, còn tại phiên toà thì sẽ do Hội đồng xét xử ra quyết định Tuy nhiên, quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo cũng bị giới hạn bởi điều luật về phạm vi “không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu” nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người kháng cáo có thêm thời gian nghiên cứu, cân nhắc việc thay đổi, bổ sung kháng cáo
Toà án cần thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền của người bị khởi kiện như đảm bảo thời gian chuẩn bị xét
xử, sự có mặt của Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà, kiểm sát viên…; đảm bảo các quyền giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; quyền đề nghị áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyền tranh tụng tại phiên toà; quyền được nhận bản án, quyết định phúc thẩm
+ Để đảm bảo quyền đề nghị của đương sự, Chánh án Toà án cấp cao (hoặc Chánh án TAND tối cao) kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, khi nhận được văn bản đề nghị thì Toà án phải vào sổ thụ lý để giải quyết khi có đủ nội dung và tài liệu theo quy định của Bộ luật TTDS năm
2015 Toà án có trách nhiệm nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ
án để quyết định việc kháng nghị, trường hợp không kháng nghị thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết Trường hợp người có thẩm quyền quyết định kháng nghị, thì đồng thời với việc ra quyết định kháng nghị,
để đảm bảo quyền của người bị kiện, người có thẩm quyền kháng nghị có quyền hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ
Trang 35tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc tạm đình chỉ thi hành án đến khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
- Trách nhiệm của Thẩm phán - chủ toạ phiên toà, phiên họp và trách nhiệm của Toà án đảm bảo quyền của người bị kiện ở giai đoạn thi hành án
Ở giai đoạn này, khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của bị đơn về việc giải thích những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành thì Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, phiên họp có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của tòa án được quy định tại
Điều 486 BLTTDS (Điều luật không nêu rõ căn cứ và thời hạn giải thích, sữa
chữa bản án, quyết định)
Để đảm bảo quyền được thi hành án, pháp luật tố tụng dân sự xác định
cơ chế thi hành án dân sự như sau:
+ Người phải thi hành án phải tự nguyện thi hành ngay bản ản, quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Toà án
+ Quá thời hạn quy định mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành, để đáp ứng quyền của người được thi hành án, toà án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của toà án
Thẩm quyền và trách nhiệm đảm bảo quyền của bị đơn của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự bắt đầu từ khi nhận được thông báo của Tòa án cho bị đơn về vụ kiện, kết thúc giai đoạn thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Tòa án có trách nhiệm đảm bảo quyền của công dân của người khởi kiện, bị kiện trong từng giai đoạn tố tụng
Đảm bảo quyền của đương sự thông qua thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
Hiến pháp năm 2013 xác định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
Trang 36công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”, “bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền của công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân …” [5, Điều 102] Theo đó, thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, trong việc giải quyết vụ án dân sự, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
Trong tố tụng dân sự, thẩm quyền và trách nhiệm của VKSND được khẳng định rõ tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, có chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật Theo đó, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của VKSND được xác định từ khi thụ lý vụ án dân sự đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên toà, phiên họp của Toà án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định
Chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của VKSND được thể hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng viện kiểm sát, viểm sát viên và kiểm tra viên được giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự Do đó, để đảm bảo quyền của công dân của người bị kiện trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, theo từng giai đoạn
tố tụng, VKSND có trách nhiệm sau:
Trang 37- Đảm bảo quyền của người khởi kiện thông qua hoạt động kiểm sát trả lại đơn khởi kiện và thụ lý vụ án
Việc trả lại đơn khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự do thẩm phán thực hiện, là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền của người khởi kiện nên việc kiểm sát hoạt động này sẽ góp phần đảm bảo các hoạt động đó được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật, qua đó đảm bảo quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện Do vậy, khi nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện do toà án gửi thì kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện phải thực hiện hoạt động kiểm sát căn cứ trả lại đơn, nếu Toà án trả lại đơn khởi kiện không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện, toà án phải xem xét, giải quyết kiến nghị đó (thông qua phiên họp) có sự tham gia của viện kiểm sát cùng cấp Nếu Chánh án Tòa án cùng cấp ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện mà viện kiểm sát cùng cấp vẫn không đồng ý thì có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết
+ Kiểm sát việc thụ lý vụ án dân sự là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án trong việc thụ lý nhằm đảm bảo hoạt động thụ lý kịp thời, đúng căn cứ pháp luật, qua đó đảm bảo quyền khởi kiện của người dân Do vậy, sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, Viện trưởng VKSND tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự như quyết định phân công kiểm sát viên, kiểm tra viên tiến hành tố tụng đối với vụ án dân sự và thông báo cho Toà án biết Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát, khi tiến hành kiểm sát việc thụ lý vụ án dân sự của Tòa án cần làm rõ: Tính hợp pháp của việc khởi kiện như tư cách khởi kiện, điều kiện khởi kiện, xác định đối tượng khởi kiện …; xác định vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, thời hiệu
Trang 38khởi kiện, nội dung và hình thức của thông báo thụ lý, thời hạn gửi thông báo cho viện kiểm sát có đúng quy định pháp luật; việc thu thập chứng cứ và lập
hồ sơ vụ án dân sự của Tòa án Khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát viên phải đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ của các tài liệu, chứng cứ do các bên đương
sự cung cấp hoặc do tòa án xác minh, thu thập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, nhằm đảm bảo cho việc lập hồ sơ của Tòa án được đầy đủ, khách quan, đúng pháp luật, góp phần giải quyết vụ
án nhanh chóng, kịp thời, chính xác Thông qua những hoạt động đó, mà quyền của người bị khởi kiện được đảm bảo một cách gián tiếp
- Đảm bảo quyền của người bị kiện thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Tương ứng với từng giai đoạn tố tụng, để thực hiện được nhiệm vụ này, Viện kiểm sát được thực hiện các quyền: (1) Quyền yêu cầu như quyền yêu cầu Toà án gửi quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, quyết định đưa vụ án ra xét xử; yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án; yêu cầu Toà án gửi hồ sơ cho viện kiểm sát cùng cấp, gửi quyết định hoãn phiên toà; yêu cầu Toà án cho xem biên bản phiên toà; yêu cầu Hội đồng xét
xử công bố tài liệu của vụ án dân sự, yêu cầu cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi
âm, xem băng, đĩa ghi hình; têu cầu toà án gửi văn bản sữa chữa, bổ sung bản án; yêu cầu gửi bản án, quyết định xét xử sơ thẩm; yêu cầu chuyển hồ sơ để xét xử phúc thẩm; gửi bản án, quyết định phúc thẩm (2) Quyền kiến nghị như quyền kiến nghị áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ hoặc áp dụng thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (3) Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm; quyền kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao theo
Trang 39thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết Quyền kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp tỉnh, tòa án cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Quyền yêu cầu hoãn thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
- Đảm bảo quyền của người khởi kiện thông qua hoạt động kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Toà án
Để đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án, đồng thời đảm bảo quyền của công dân của người được thi hành án, cũng như quyền của người phải thi hành án, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bên trong thi hành án, đồng thời trong quá trình đó kiểm sát cả việc chấp hành pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự
Trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Để đảm bảo quyền của công dân của các đương sự/người bị kiện, Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; Quyền yêu cầu, kiến nghị với TAND khắc phục những vi phạm trong việc giải quyết vụ án dân sự
- Kiểm sát giải quyết khiếu nại
VKSND thực hiện quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và quyền kiểm sát
Trang 40việc giải quyết khiếu nại của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như quyền kiến nghị với toà án cùng cấp, toà án cấp dưới, cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhằm đảm bảo quyền của các đương sự
Ba là, đảm bảo quyền của bị đơn thông qua quyền và nghĩa vụ của
Luật sư
Vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 2 Pháp lệnh tổ chức luật sư ngày 18/12/1987: “Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật…” và Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về Quy chế Đoàn luật sư xác định: “Luật
sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo vệ pháp chế và chế độ XHCN” Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) một lần nữa khẳng định vai trò của Luật sư “góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của đương sự, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, ” (Điều 3)
Sự tham gia của luật sư trong tố tụng dân sự xuất phát từ việc các đương sự/ người bị khởi kiện thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi sự hiểu biết về pháp luật vật chất, pháp luật tố tụng còn nhiều hạn chế, hoặc trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật phải
có sự hỗ trợ của luật sư Người bị khởi kiện nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư Theo đó, luật sư thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật về luật sư, nghĩa là trách nhiệm của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khởi kiện phát sinh do thoả thuận theo hợp đồng, có trả phí dịch vụ chứ không phải là