Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp cấm t ay đổi iện trạn tài sản đan tran c ấp

Một phần của tài liệu Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (Trang 29 - 35)

CHƯƠNG 1 BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

1.3. Buộc t ực iện biện p áp bảo đảm k i áp dụn biện p áp cấm t ay đổi iện trạn tài sản đan tran c ấp

BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC là việc Tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng bên ngoài, vốn có của tài sản tranh chấp bởi việc thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản tranh chấp. Biện pháp này được áp dụng khi có yêu cầu của đương sự. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được quy định tại khoản 8 Điều 114 và Điều 122 BLTTDS năm 2015, cụ thể nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc người giữ TSĐTC có hành vi tháo gỡ, lắp g p, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Việc thay đổi hiện trạng TSĐTC sẽ dẫn đến làm thay đổi giá trị của tài sản, giá trị của TSĐTC có thể bị giảm đi hoặc tăng lên, điều này gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và khó khăn cho các đương sự trong quá trình yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình.

Khi Tòa án đã quyết định áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC thì người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được giao bảo quản tài sản có nghĩa vụ bảo quản tài sản, giữ nguyên hiện trạng tài sản. Các hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm và các hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó đều phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT. Vì vậy, cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC sẽ giữ nguyên được hiện trạng ban đầu của tài sản, từ đó giúp cho quá trình giải quyết vụ án được đúng đắn, chính xác.

Thực tế có trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC nhưng lại không mô tả hiện trạng vào thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT để cấm thay đổi. Dẫn đến việc không thể xác định được tài sản có bị làm thay đổi hiện trạng hay không sau khi áp dụng.

17 Khoản 2 Điều 15 Dự thảo (lần 3) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Để làm rõ quyền, căn cứ yêu cầu khi yêu cầu áp dụng biện pháp này cùng tìm hiểu tình huống sau:

Vụ án 6: “Tranh chấp tài sản vợ chồng sau ly hôn” giữa nguyên đơn Văn Công Sơn, bị đơn Nguyễn Thị Bích Ngọc.

Ngày 12/7/2019, ông Sơn gửi đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng gồm 01 lô đất tái định cư tại khu Đô thị Tây Bắc, quận Liên Chiểu; 01 căn nhà tọa lạc tại số 39B đường Chi Lăng thuộc diện giải tỏa đền bù. Cùng ngày, ông Sơn gửi đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT có nội dung yêu cầu bị đơn giữ nguyên hiện trạng tài sản và cung cấp một số giấy tờ liên quan đến tài sản.

Cùng ngày 12/7/2019, TAND quận Hải Châu có văn bản thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Đồng thời, có công văn thông báo về việc không áp dụng BPKCTT với lý do 14 giờ 15 phút ngày 12/7/2019 Tòa án nhận được đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT nhưng đơn chưa tuân thủ đúng quy định tại Điều 133 BLTTDS năm 2015, cụ thể là không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu và không thuộc trường hợp áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015.

Nhận xét: Việc xem x t và trả lời không áp dụng BPKCTT theo yêu cầu ngay trong ngày với lý do các yêu cầu nêu trong đơn không thuộc trường hợp áp dụng BPKCTT quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 là không đúng, vì đơn có nội dung yêu cầu giữ nguyên hiện trạng tài sản là thuộc trường hợp quy định tại Điều 122 BLTTDS năm 2015 và yêu cầu bị đơn cung cấp giấy tờ liên quan là thuộc trường hợp quy định tại Điều 127 BLTTDS18. Đồng thời, Tòa án không có biên bản làm việc để ghi nhận trình bày của đương sự hoặc biên bản xác minh nhằm xem x t có hay không tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015 là chưa xem x t hết các tình tiết của vụ việc.

Vụ án 7: “Tranh chấp QSDĐ", giữa nguyên đơn ông Phạm Văn Tư với bị đơn là 11 hộ dân tại ngõ 157 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ Lý Thường Kiệt 1 và 2, phường Văn Đẩu, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng.

Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2017, ông Tư khởi kiện yêu cầu 11 hộ dân trả lại 4,3m2 đất gia đình ông đã sử dụng làm ngõ đi chung theo Bản vẽ trích lục hiện trạng ngày 12/11/2014.

18 Kết luận của Đoàn Kiểm tra TANDTC tại Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng năm 2019.

Ngày 16/11/2018, ông Tư có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp, với lý do có một đội thi công chở ống thoát nước, xe cẩu, ngoạm đến đào móc đất trên phần đất ngõ đang có tranh chấp.

Tại Quyết định số 1016/2018/QĐ-BPKCTT ngày 20/11/2018, Tòa án áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp tại ngõ 157 đường Nguyễn Lương Bằng, tổ Lý Thường Kiệt 1 và 2, phường Văn Đẩu, quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng là có căn cứ, đúng quy định.

Tuy nhiên, sau đó Tòa án ban hành Quyết định số 1025/2018/QĐ-BPKCTT ngày 03/01/2018, quyết định hủy bỏ BPKCTT với căn cứ, sau khi xem x t thực tế diện tích đất tranh chấp đã có vị trí mốc giới cụ thể theo trích lục hiện trạng sử dụng đất ngày 12/11/2014. Vì vậy việc thi công công trình ngõ đi số 157 đường Nguyễn Lương Bằng nêu trên không làm thay đổi vị trí, mốc giới, diện tích đất đang có tranh chấp là không đúng.

Như vậy, việc Tòa án ban hành quyết định hủy bỏ BPKCTT là không phù hợp, vì không thuộc các trường hợp hủy bỏ quy định tại Điều 138 BLTTDS năm 2015, như: Người yêu cầu áp dụng BPKCTT đề nghị hủy bỏ; Người phải thi hành thực hiện các biện pháp khác thay thế hoặc có người khác thực hiện thay người có nghĩa vụ; nghĩa vụ chấm dứt theo quy định; vụ án được đình chỉ; quyết định áp dụng BPKCTT không đúng; căn cứ áp dụng không còn; vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện.19

Từ phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy có bất cập như sau

Yêu cầu đương sự xác định cụ thể hiện trạng vào thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT là vấn đề không đơn giản, điều này cũng là vấn đề khó thực hiện đối với trình độ chuyên môn của cán bộ Tòa án.

Mặt khác, với thời gian xem xét xử lý đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT chỉ trong khoảng thời gian 03 ngày làm việc theo điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015 hoặc 48 tiếng theo quy định tại khoản 3 Điều 133 BLTTDS năm 2015, thì việc xác định hiện trạng cụ thể là điều khó khả thi trong thực tiễn, khi mà Điều 122 BLTTDS quy định khá chi tiết, đó là, cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC được áp

19 Khoản 1 Điều 138 BLTTDS năm 2015.

dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ TSĐTC có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng đó”.

Như đã đề cập phần trên, với quy định Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng, đối với thiệt hại của tài sản là bất động sản là điều khó khăn, khi áp dụng trong thực tiễn.

Từ n ữn bất cập nêu trên, tác iả kiến n iải p áp áp dụn p áp luật n ƣ sau:

Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm có Nghị quyết hướng dẫn về cách tính tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh khi áp dụng BPKCTT theo loại tài sản gồm động sản và bất động sản.

Ngoài ra, cần quy định cụ thể thời gian Tòa án xử lý, giải quyết đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT hợp lý, nhằm thực hiện có hiệu quả vừa mang tính khẩn cấp và tạm thời, tránh việc áp dụng sau đó lại hủy bỏ vì lý do quyết định áp dụng BPKCTT không đúng, không có căn cứ pháp luật.

Tác giả nhất trí với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC Tòa án chỉ chấp nhận khi: “Để thu thập, bảo vệ chứng cứ liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án do Tòa án xác định trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được”20.

20 Điểm b khoản 1 Điều 2 Dự thảo (lần 3) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Kết luận C ƣơn 1

Quy định của BLTTDS năm 2015 liên quan đến việc buộc thực hiện BPBĐ là để đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng BPKCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có quyền yêu cầu. Các nhà lập pháp đã xây dựng trong BLTTDS năm 2015 những quy định về BPBĐ buộc người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá bằng tiền vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng. Đây là điểm tiến bộ của BLTTDS năm 2015 so với các văn bản pháp luật trước đó.

Thực tiễn áp dụng điều luật này cho thấy bất cập trong quá trình áp dụng, đó là, mục đích của BPKCTT nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhưng không phải mọi chủ thể đều có điều kiện kinh tế để thực hiện quy định về buộc thực hiện BPBĐ khi áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền lợi cho chính người yêu cầu.

Do đó, để đảm bảo cho mọi người dân có điều kiện tiếp cận công lý nhằm thực hiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi có tranh chấp, kiến nghị TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về cách tính khi buộc thực hiện BPBĐ để các Tòa án áp dụng thống nhất, công bằng, phù hợp quy định của luật trong quá trình giải quyết vụ án, tránh vận dụng tùy nghi, đánh giá thiệt hại dựa trên nhận định chủ quan của Thẩm phán.

Về thời hạn thực hiện BPBĐ: Tại Mục 9 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thời gian thực hiện BPBĐ tại phiên tòa: "Nếu tại phiên tòa thì việc thực hiện BPBĐ được bắt đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc thực hiện BPBĐ, nhưng phải xuất trình chứng cứ đã thực hiện xong BPBĐ trước khi HĐXX vào phòng nghị án để nghị án". Điểm b khoản 2 Điều 133 BLTTDS năm 2015 quy định “Trường hợp HĐXX nhận đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT tại phiên tòa thì HĐXX xem x t, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì HĐXX ra quyết định áp dụng BPKCTT ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong BPBĐ quy định tại Điều 136 của Bộ luật này. Việc thực hiện BPBĐ được bắt đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc thực hiện BPBĐ, nhưng người yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong BPBĐ trước khi HĐXX vào phòng nghị án”.

Có thể thấy đây là quy định khó thực hiện, bởi lẽ, tại thời điểm phiên tòa diễn ra người yêu cầu áp dụng BPKCTT không thể tự ý rời khỏi phiên tòa để thực hiện BPBĐ, cũng khó có thể nhờ người thân thực hiện BPBĐ thay họ và đem chứng cứ đã thực hiện BPBĐ đến phòng xử. Do đó, cần quy định khoảng thời gian hợp lý nhằm đảm bảo cho đương sự có điều kiện thực hiện được quy định này.

CHƯƠNG 2

Một phần của tài liệu Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (Trang 29 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)