1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm môn công nghệ

25 57 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 465,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên dạy môn Công nghệ thuộc địa bàn tỉnh Nam Định cho thấy: 100% giáo viên đang sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống và một số các phương pháp dạy học tích cực để phát triển tư duy sáng tạocho học sinh. Tuy nhiên việc phát triển tư duy sáng tạocho HS chủ yếu vẫn còn tự phát, chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa nghe, chưa biết về nó. Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp tập kích não nhằm phát triển tư duy sáng tạocủa học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học

Trang 2

Nam Định, Tháng 4 năm 2017 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

Trang 3

MỤC LỤC

Thông tin chung về sáng kiến

Trang 4

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

Trang 5

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra ngày càng sâu rộng vàmạnh mẽ, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, mở ra mộtthời kỳ phát triển mới của nhân loại Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học côngnghệ đòi hỏi người lao động không chỉ cần có kiến thức và kỹ năng về chuyênmôn mà còn cần phải có năng lực sáng tạo, tư duy sáng tạo Đặc biệt, sự chuyểnhóa từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức càng đòi hỏi nguồnnhân lực có tri thức và trình độ tay nghề cao Vì vậy nhà trường phải trang bịcho người học kỹ năng không ngừng tự mình bổ sung và đổi mới tri thức, pháttriển kỹ năng tích cực học tập, biết tự mình thu thập tri thức và vận dụng tri thứcmột cách sáng tạo, có bản lĩnh để thích nghi với những biến đổi của xã hội.Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách là phải đổi mới giáo dục, nhà trường phảiđổi mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánhgiá.

Môn Công nghệ là môn học trong chương trình giáo dục phổ thông cónhiệm vụ cung cấp những kiến thức ban đầu và rèn luyện các kĩ năng lao động

kỹ thuật tối thiểu trong cuộc sống tự lập, làm cơ sở cho việc định hướng và lựachọn nghề nghiệp về sau cho học sinh Nội dung của môn Công nghệ bao gồmcác lĩnh vực lao động thường gặp như lao động thủ công, lao động kĩ thuật đơngiản, lao động dịch vụ sinh hoạt, lao động nông nghiệp, lao động gia đình v.v Trong quá trình học tập học sinh được giới thiệu làm quen với thực tiễn về cácquan hệ giữa người với người, giữa người với các công cụ lao động, với các đốitượng lao động, với công nghệ sản xuất – dịch vụ, với môi trường thiên nhiên, qua đó hình thành thói quen và kĩ năng lao động tự phục vụ, tiến tới tự lậpnghiệp khi trưởng thành

Một trong những đặc điểm đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ là

“tính đa chức năng và đa phương án” Đặc điểm này vừa là yêu cầu vừa là điều

kiện để trong dạy học có thể phát triển tư duy sáng tạocho học sinh Trong dạyhọc môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông, ngoài việc đáp ứng mục tiêumôn học giáo viên cần xác định các biện pháp phát triển tư duy sáng tạovà khơidậy niềm ham mê sáng tạo cho học sinh giúp các em có thể vận dụng kiến thức

Trang 6

một cách sáng tạo vào cuộc sống lao động Tuy nhiên, việc bồi dưỡng tư duysáng tạocho học sinh trong dạy học môn Công nghệ ở các trường trung học phổthông hiện nay vẫn chưa được chú trọng và quan tâm nghiên cứu để có đượcnhững biện pháp hữu hiệu cụ thể.

Có khá nhiều biện pháp để phát triển tư duy nói chung và tư duy sáng tạonói riêng cho học sinh trong quá trình dạy học Ở đây, tôi chỉ tập trung vào mộtbiện pháp là vận dụng phương pháp “Tập kích não” để hướng dẫn học sinh cáchphát hiện ra vấn đề Tất nhiên, vấn đề do học sinh phát hiện ra không phải làmới mà chỉ là mới đối với chính học sinh mà thôi

Theo quan điểm của tâm lí học sáng tạo, phát hiện ra vấn đề đôi khi cònquan trọng hơn là giải quyết vấn đề nếu xét dưới góc độ sáng tạo Einstein đãviết về tầm quan trọng của việc thiết lập (hoặc nêu hoặc đề xuất) vấn đề trongkhoa học như sau: “Việc thiết lập vấn đề thường quan yếu hơn việc giải quyếtvấn đề đó vì giải quyết chỉ là công việc của kỹ năng toán học hay kinh nghiệm.Nêu lên được vấn đề mới, những khả năng mới, nhìn nhận những vấn đề cũ dướimột góc độ mới đòi hỏi phải có trí tưởng tượng và nó đánh dấu bước tiến bộthực sự của khoa học”

Quan điểm trên được chứng minh và cụ thể hóa trong giáo dục khoa học là

“việc giáo dục khoa học phải chuyển từ chỗ nhớ những nội dung khoa học sangnhững quá trình khoa học” Quá trình quan sát, ghi nhận quan sát, phân tích tổnghợp, khái quát hóa, hình thành giả thuyết, điều tra, nghiên cứu có phê phán và sửdụng thông tin, thu nhận những kiến thức mới và áp dụng kiến thức phải dùng

để phát triển trí tuệ

Điều thiết yếu trong phương pháp giáo dục về khoa học và công nghệ làphải giúp rèn luyện và nâng cao khả năng xác minh và xác định được vấn đề và

sử dụng hữu hiệu kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề

Chọn phương pháp “ tập kích não” vào dạy học môn Công nghệ 11 trên cơ

sở phân tích kiến thức bài dạy, căn cứ vào đặc điểm của phương pháp, dựa vàonội dung cụ thể của bài dạy để lựa chọn những nội dung vận dụng phương pháptập kích não phù hợp

Trang 7

II Mô tả giải pháp

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên dạy môn Công nghệ thuộc địa bàn tỉnh Nam Định cho thấy: 100% giáo viên đang sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống và một số các phương pháp dạy học tích cực để phát triển

tư duy sáng tạocho học sinh Tuy nhiên việc phát triển tư duy sáng tạocho HS chủyếu vẫn còn tự phát, chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa nghe, chưa biết về nó Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp tập kích não nhằm phát triển tư duy sáng tạocủa học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học Vì trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, lượng tri thức ngày càng nhiều, con người không thể tiếp thu hết tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên người học cần phải được trang bị cách học tập, cách nghiên cứu, sự độc lập trong suy nghĩ, trong tư duy tự giành lấy kiến thức cho mình Phát triển tư duy sáng tạocho học sinh trong quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ cần thiết của giáo dục nói chung và dạy học môn Công nghệ nói riêng, góp phần cung cấp cho học sinh cách thức tư duy, bước đầu có những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo tiền đề cho những ý tưởng lớn trong tương lai gần Ngoài những đặc điểm vốn có của tư duy, tư duy sáng tạo còn có những đặc điểm riêng biệt Cần tìm các biện pháp tác động phù hợp với đặc điểm môn học cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Nội dung môn Công nghệ

11 gồm nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kiến thức trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên ngành, nhiều hình vẽ phức tạp Do đó phát triển tư duy sáng tạocho học sinh trong quá trình học không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn nâng cao hiểu biết vấn đề, tăng hứng thú học tập, tăng cường niềm tin và thúc đẩy động lực học tập đúng đắn cho học sinh Để hình thành và phát triển tư duy sáng tạocho học sinh cần phải làm cho các em có lòng mong muốn lĩnh hội kiến thức và vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống

2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến

Trang 8

Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo đã bắt đầu hình thành từ khi loài người biết suy nghĩ và được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ thứ 19 Có thể nói kể từ khi Alex Osborn đưa ra phương pháp “Tập kích não” vào năm 1941 thì

từ đó có nhiều biện pháp phát triển tư duy sáng tạo đời

a Bản chất và qui trình vận dụng của phương pháp tập kích não:

* Bản chất: Đây là một phương pháp dùng để xây dựng nhiều giải pháp

sáng tạo cho một vấn đề Khi thực hiện phương pháp này cần tập trung sự suynghĩ vào vấn đề đó; các ý niệm và hình ảnh về vấn đề được nêu ra một cách rất

tự do và ngẫu nhiên, càng nhiều ý kiến càng tốt Rồi vấn đề được xem xét từnhiều khía cạnh và theo nhiều cách (góc nhìn) khác nhau Cuối cùng, các ý kiến

sẽ được phân nhóm, đánh giá và tổng hợp thành các giải pháp cụ thể cho vấn đề

đã nêu Phương pháp này phù hợp với hoạt động nhóm trong quá trình dạy học

* Qui trình vận dụng: Đã từ lâu người ta nhận thấy sự phê bình là cản trở

đáng kể trong tư duy sáng tạo Người phát minh ra ý tưởng mới rất ngại bị phêbình nên khi ý tưởng mới chưa được kiểm nghiệm thì người phát minh thườngngại ngùng công bố Ban đầu tập kích não là một thủ thuật sáng tạo trong côngnghệ sản xuất nhằm tìm ra những giải pháp, quy trình công nghệ mới, giải quyếtnhững vấn đề gay cấn trong sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ Ngày nay tậpkích não được coi là một phương pháp hữu hiệu để phát triển tư duy sáng tạotrong dạy học Phương pháp tập kích não được vận dụng vào dạy học theo tiếntrình sau:

Bước 1: Chia học sinh trong lớp thành hai nhóm:

- Nhóm 1 gồm những học sinh có phản ứng nhanh, luôn đề xuất ý tưởng mới

- Nhóm 2 gồm những học sinh thường có khả năng phân tích, phê phán Bước 2: Xác định vấn đề hay đề tài cần được tập kích GV nêu vấn đề cần giảiquyết cho cả hai nhóm Có thể ghi lên bảng dưới dạng một tình huống, một bàitoán để học sinh cùng suy nghĩ

Bước 3: Bắt đầu tập kích não

Yêu cầu từng em trong nhóm 1 đưa ra những ý tưởng, phương án giảiquyết (càng nhiều càng tốt) trong một thời gian ngắn Trong khi đó nhóm 2 chỉ

Trang 9

nghe và ghi chép lại tất cả những đề xuất của nhóm 1 (không cần ghi tên người

đề xuất) Sau đó từng em trong nhóm 2 nêu nhận xét, phân tích những ý kiếnmình ghi được, có thể kèm theo đánh giá cho mỗi ý kiến được nhận xét trên.Trong khi đó nhóm 1 chỉ nghe và ghi chép mà không được có ý kiến cắt ngang Bước 4: Tổng kết

GV và học sinh cùng tập hợp các ý kiến (giống nhau, khác nhau, theocách bình chọn số đông; không bỏ qua ý kiến nào) nhận xét, chọn lọc các ýtưởng, phương án phù hợp (tối ưu)

b Vận dụng cụ thể

Ví dụ 1: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học bài “Hình

chiếu vuông góc”, phần vẽ kĩ thuật, môn Công nghệ 11

Theo qui trình thiết kế bài dạy đã nêu ở trên, ta thực hiện như sau:

* Nghiên cứu nội dung bài dạy

Thực hiện Công của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc điều chỉnh nội dungdạy học, thực hiện chương trình giảm tải, bài hình chiếu vuông góc chỉ dạyphương pháp chiếu góc thứ nhất Nội dung của phương pháp chiếu góc thứ nhấtđược tóm tắt như sau:

- Vật thể được đặt trong góc tạo bởi 3 mặt phẳng hình chiếu vuông góc, vậtthể đặt giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu:

+ Mặt phẳng thẳng đứng gọi là mặt phẳng hình chiếu dứng

+ Mặt phẳng nằm ngang gọi là mặt phẳng hình chiếu bằng

+ Mặt phẳng đồng thời vuông góc với mặt phẳng hình chiếu đứng và mặtphẳng hình chiếu bằng gọi là mặt phẳng hình chiếu cạnh

Trang 10

Hình 2.2 Phương pháp chiếu góc thứ nhất

- Dùng phép chiếu vuông góc lần lượt chiếu vật thể lên 3 mặt phẳng hìnhchiếu ta thu được 3 hình chiếu vuông góc tương ứng (hình 2.2)

+ Hướng chiếu từ trước vào thu được hình chiếu đứng (A)

+ Hướng chiếu từ trên xuống thu được hình chiếu bằng (B)

+ Hướng chiếu từ trái sang thu được hình chiếu cạnh (C)

- Xoay mặt phẳng hình chiếu bằng xuống dưới một góc 90o; xoay mặtphẳng hình chiếu cạnh sang phải một góc 90o ta có 3 hình chiếu cùng nằm trênmột mặt phẳng, đó chính là mặt phẳng bản vẽ Vị trí của các hình chiếu nhưhình 2.3

Hình 2.3 Vị trí các hình chiếu theo phương pháp chiếu góc thứ nhất

* Xác định nội dung dạy học có thể vận dụng phương pháp tập kích não

Như vậy khi học xong PPCG1 học sinh chỉ thuần túy biết nội dung củaphương pháp chiếu vuông góc và cách thể hiện các hình chiếu vuông góc trênbản vẽ mà chưa biết làm thế nào để có được hình chiếu vuông góc tối ưu nhất:Thể hiện đầy đủ, chính xác hình dạng, kết cấu và kích thước của vật thể cũngnhư lựa chọn số lượng các hình chiếu vuông góc trên bản vẽ, tức là chưa pháttriển được tư duy sáng tạo Vì vậy ở bài này GV có thể vận dụng phương pháp

Trang 11

tập kích não sau khi học xong PPCG1 để tăng cường việc phát triển tư duy sángtạo cho học sinh, đồng thời củng cố và khắc sâu kiến thức về hình chiếu vuônggóc

* Vận dụng vào bài dạy

Sau khi nghiên cứu xong phương pháp hình chiếu vuông góc, thực hiện vậndụng phương pháp tập kích não theo qui trình sau:

Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:

- Nhóm 1: Những HS có phản ứng nhanh, hay đề xuất ý tưởng mới

- Nhóm 2: Những HS có khả năng phân tích, phê phán

Giáo viên nêu vấn đề với 3 nội dung cần giải quyết:

Nội dung thứ nhất: Trong PPCG1 phải đặt vật thể ở vị trí như thế nào đối

với các mặt phẳng hình chiếu để các hình chiếu thu được phản ánh chính xác bềmặt của vật thể?

Nội dung thứ hai: Để hình chiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ và thể

hiện rõ nhất hình dạng của vật thể thì việc lựa chọn các bề mặt vật thể theo cáchướng chiếu cần đảm bảo nguyên tắc gì?

Nội dung thứ ba: Với 3 mặt phẳng hình chiếu đã đủ thể hiện thông tin về

hình dạng, kết cấu và kích thước của vật thể chưa? Có cần thêm hay bớt hìnhchiếu hay không?

Học sinh nắm bắt vấn đề và bắt đầu tập kích não:

- Từng HS nhóm 1 đưa ra phương án, ý tưởng của mình về cách giải quyếtcác vấn đề nêu trên

- Các HS nhóm 2 nghe, ghi lại những đề xuất do nhóm 1 nêu ra Sau khinhóm 1 nêu hết các phương án thì nhóm 2 bắt đầu phân tích, nhận xét từng ýtưởng, phương án đã ghi được của nhóm 1 Trong lúc này nhóm 1 nghe nhóm 2phân tích đồng thời kết hợp cùng phân tích các ý tưởng, phương án đã đề xuất

GV cùng HS tổng hợp các ý kiến giải quyết từng vấn đề:

Ở nội dung thứ nhất: GV có thể nêu câu hỏi gợi mở: Trong phép chiếuvuông góc, đặt các hình phẳng có vị trí như thế nào để hình chiếu thu đượckhông bị biến dạng? HS dễ dàng thấy được là phải đặt hình phẳng song song với

Trang 12

mặt phẳng hình chiếu Từ đó HS rút ra kết luận thứ nhất: Trong PPCG1, cầnphải đặt vật thể sao cho đa số các bề mặt của vật thể song song với các mặtphẳng hình chiếu để hình chiếu thu được ít bị biến dạng.

Ở nội dung thứ hai: GV chọn lọc các ý kiến rồi đưa ra kết luận: Để hìnhchiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ thì cần lựa chọn bề mặt nào phản ánhhình dạng đặc trưng của vật thể để đặt hướng chiếu từ trước vào, đồng thời phảiđảm bảo nguyên tắc có ít nét khuât nhất trên các hình chiếu

Ví dụ: Vật thể hình chữ L có 2 phương án thể hiện hình chiếu như sau:

a) b)

Hình 2.5

Học sinh dễ dàng vẽ được hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của 2 vật thể

và nhận xét được hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của chúng giống nhau

Trang 13

Như vậy cần phải vẽ thêm hình chiếu cạnh mới xác định đủ thông tin của vật thể(hình 2.6 a, b).

Giáo viên giới thiệu thêm, nếu vận dụng tiêu chuẩn ghi kích thước ta có thểtiếp tục bỏ đi một hình chiếu nữa mà vẫn thể hiện đủ thông tin vật thể bằng cách

sử dụng kí hiệu ghi kèm với con số kích thước (hình 2.7 a, b)

Hình 2.7

Quay lại trường hợp vật thể trong phương pháp chiếu góc thứ nhất học sinh

sẽ xác định được chỉ cần hình chiếu đứng và hình chiếu cạnh là đủ biểu diễnthông tin vật thể (hình 2.8)

Trang 14

Giáo viên kết luận: Tuỳ theo hình dạng và vị trí, kết cấu trên vật thể mà talựa chọn số lượng hình chiếu cho phù hợp với nguyên tắc: Số lượng hình chiếu

ít nhất nhưng phải thể hiện đủ thông tin vật thể Nếu vật thể phức tạp có thể phải

vẽ thêm hình chiếu phụ để thể hiện rõ kết cấu của vật thể

Ví dụ 2: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học bài: “Cơ cấu

phân phối khí”, phần động cơ đốt trong, sách giáo khoa Công nghệ 11

* Nghiên cứu nội dung bài dạy

Bài cơ cấu phân phối khí nghiên cứu về nhiệm vụ, cấu tạo chung và nguyên

lí làm việc của cơ cấu phân phối khí

Nội dung có thể tóm tắt như sau:

- Cơ cấu phân phối khí có nhiệm vụ đóng, mở cửa nạp, cửa thải đúng lúc

để thực hiện quá trình đưa khí mới vào trong xi lanh và thải khí đã cháy rangoài

- Đặc điểm cấu tạo cơ cấu phân phối khí dùng xu páp (hình 2.10)

Trang 15

a) b)

Hình 2.10 Cơ cấu phân phối khí dùng xu páp

a) Cơ cấu phân phối khí xu páp treo; b) Cơ cấu phân phối khí xu páp đặt

1 Trục cam và cam; 2 Con đội; 3 Lò xo xu páp; 4 Xu páp; 5 Nắp máy

6 Trục khuỷu ; 7 Đũa đẩy; 8 Trục cò mổ; 9 Cò mổ;

10 Bánh răng phân phối

+ Bánh răng phân phối trên trục cam có đường kính lớn gấp hai lần bánh răngphân phối trên trục khuỷu

+ Mỗi xu páp được dẫn động bởi một cam, con đội, đũa đẩy và cò mổ riêng.+ Trục cam được dẫn động từ trục khuỷu thông qua cặp bánh răng phân phối

- Nguyên lí làm việc: Động cơ làm việc, trục khuỷu dẫn động trục camthông qua cặp bánh răng phân phối làm trục cam quay để dẫn động đóng, mởcác xu páp nạp, thải Khi vấu cam 1 tác động làm con đội 2 đi lên, qua đũa đẩy 7làm cò mổ 9 xoay cùng chiều kim đồng hồ quanh trục 8 Kết quả là xu páp 4 bị

ép xuống, xu páp nạp mở để khí nạp vào xi lanh hoặc cửa thải mở để khí cháytrong xi lanh thoát ra ngoài Khi vấu cam 1 quay qua vị trí của con đội 2, lò xo

xu páp 3 dãn ra, các chi tiết của cơ cấu trở về vị trí ban đầu làm cho cửa nạphoặc cửa thải được đóng kín

* Xác định nội dung có thể vận dụng phương pháp tập kích não

Sau khi học về cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo, ta thấy để dẫn động

từ trục khuỷu lên trục cam và tác động đến xu páp phải nhờ hàng loạt các chi tiếtphối hợp với nhau do đó kết cấu cồng kềnh, phức tạp Trước khi sang phần cơ

Ngày đăng: 07/04/2021, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w