1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sáng kiến kinh nghiệm công nghệ THPT

30 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng kĩ thuật dạy học 3 lần 3 trong dạy học phát triển năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông
Tác giả Văn Công Thịnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Huệ
Chuyên ngành Công Nghệ
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 464,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 BÁO CÁO SÁNG KIẾN I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Nghị quyết 29 NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hó[.]

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Nghị quyết 29 - NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013: “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Mục tiêu của Thông tư 22/2016: “Giúp GV điều chỉnh, đổi mới

phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, hoạt động trải nghiệm ngay trong

quá trình dạy học và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những nỗ lực, tiến bộ của HS để động viên, khuyến khích và phát hiện khó khăn chưa đạt của HS nhằm hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng

những mặt mạnh và những mặt hạn chế của từng HS để có giải pháp kịp thời nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập và rèn luyện của HS”

Mục tiêu của giáo dục đã và đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức sang hình thành và phát triển năng lực cần thiết cho HS Phương pháp giáo dục

phổ thông cũng đang dần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, tăng cường làm việc theo nhóm, hình thành, phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức học tập vào cuộc sống, tác động đến tình cảm, hứng thú học tập cho HS, phù hợp với đặc điểm từng HS

Trước các yêu cầu đổi mới về cách thức tiếp cận trong dạy học, PPDH, mỗi GV Công nghệ phải vận dụng sáng tạo và sử dụng linh hoạt các PPDH, kỹ thuật dạy học tích cực vào từng bài dạy, chủ đề bài học cụ thể mới mang lại

Trang 2

hiệu quả cao Để làm được điều đó thì mỗi GV Công nghệ cần phải nắm vững

lí luận dạy học và trả lời cho được các câu hỏi sau đây:

- Phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực là gì?

- Những PPDH tích cực, kỹ thuật dạy học tích cực nào?

- Cách thức vận dụng từng PPDH, các kỹ thuật dạy học tích cực vào từng bài giảng cụ thể như thế nào?

- PPDH tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực khác ở chỗ nào?

- Kỹ thuật dạy học 3 lần 3 là gì Cách vận dụng, sử dụng kĩ thuật dạy học “3 lần 3” trong dạy học phát triển năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông như thế nào?

Trên tinh thần đổi mới, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học, hình thành và phát triển năng lực, kỹ năng cho người học đòi hỏi GV giảng dạy môn Công nghệ không ngừng phải nâng cao kiến thức, đưa ra những phương pháp giảng dạy, kỹ thuật dạy học phù hợp nhằm thu được kết quả như

mục tiêu đề ra.Tác giả mong muốn đóng góp một phần của mình vào viêc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Công nghệ ở trường THPT do đó tác giả đã

chọn đề tài “Vận dụng kĩ thuật dạy học 3 lần 3 trong dạy học phát triển

năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông”

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

2.1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên dạy môn Công nghệ thuộc địa bàn tỉnh cho thấy: 100% giáo viên đang sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống và một số các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực cho học sinh Tuy nhiên việc phát triển năng lực cho HS chủ yếu vẫn còn tự phát, chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa nghe, chưa biết về nó

Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp Vận dụng kĩ thuật dạy học 3 lần 3

Trang 3

trong dạy học phát triển năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học Vì trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, lượng tri thức ngày càng nhiều, con người không thể tiếp thu hết tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên người học cần phải được trang bị cách học tập, cách nghiên cứu, sự độc lập trong suy nghĩ, trong tư duy tự giành lấy kiến thức cho mình Phát triển năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học

là một trong những nhiệm vụ cần thiết của giáo dục nói chung và dạy học môn Công nghệ nói riêng, góp phần cung cấp cho học sinh cách thức tư duy, bước đầu có những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo tiền đề cho những ý tưởng lớn trong tương lai gần Ngoài những đặc điểm vốn có của tư duy, năng lực còn có những đặc điểm riêng biệt Cần tìm các biện pháp tác động phù hợp với đặc điểm môn học cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh để phát triển năng lực cho học sinh Nội dung môn Công nghệ THPT gồm nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kiến thức trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên ngành, nhiều hình vẽ phức tạp Do đó phát triển năng lực cho học sinh trong quá trình học không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn nâng cao hiểu biết vấn đề, tăng hứng thú học tập, tăng cường niềm tin và thúc đẩy động lực học tập đúng đắn cho học sinh Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh cần phải làm cho các em có lòng mong muốn lĩnh hội kiến thức và vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống

2.2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến

2.2.1 Giáo dục định hướng phát triển năng lực

Khái niệm

“Dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một mô hình của chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra” Trong dạy học triển năng

lực người học, mục tiêu giảng dạy của chương trình dạy học được miêu tả

thông qua một số nhóm năng lực

Trang 4

Khái niệm về năng lực được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau “Năng lực được hiểu như khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc” Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” Khái niệm năng lực được hiểu là gắn liền với khả năng hành động “Khi nói phát triển năng lực thì cũng có thể hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động, chính vì vậy trong lĩnh vực dạy học, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ trong những tình huống khác nhau thuộc nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”

Trong dạy học định hướng phát triển năng lực người học, khái niệm về năng lực được hiểu như sau:

 Năng lực liên quan đến mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được miêu

tả thông qua các năng lực cần được hình thành và phát triển

 Nội dung học tập và hoạt động dạy học cơ bản được kết nối với nhau để hình thành các năng lực

 Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn

 Mục tiêu hình thành năng lực người học định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phương pháp

 Năng lực mô tả, giải quyết những tình huống về nội dung trong quá trình dạy học

 Các năng lực chung, các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học

 Mức độ đối với sự hình thành, phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn

Trang 5

2.2.2 Mô hình cấu trúc năng lực

Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó Các năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ, và các vai trò vị trí công việc Vì vậy, các năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và

những đòi hỏi của công việc Từ hiểu biết về năng lực, có thể thấy các nhà nghiên cứu về giáo dục trên thế giới đã sử dụng các mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình:

- Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”

- Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “các kiến thức và kỹ năng mà con người cần phải có” để thực hiện tốt vai trò của mình

- Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau

a.Theo quan điểm của các nhà giáo dục ở Đức, cấu trúc chung của

năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:

- Năng lực chuyên môn: “Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng

tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối

quan hệ hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là

Trang 6

năng lực, nội dung chuyên môn, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương

pháp chuyên môn”

- Năng lực phương pháp: “Là khả năng đối với những hành động có kế

hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương

pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng

tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức”

- Năng lực xã hội: “Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác”

- Năng lực cá thể: “Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi”

Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của

GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực, phương pháp,

năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau

mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở

có sự kết hợp các năng lực này

Trang 7

b.Mô hình năng lực theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD,

người ta cũng sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực

thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên môn

- Nhóm năng lực chung bao gồm:

2.2.3 Nội dung và PPDH theo quan điểm phát triển năng lực:

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:

PPDH theo quan điểm phát triển năng lực: “không chỉ chú ý tích cực hoá

HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc nghiên cứu, học tập trong nhà trường, thay đổi mỗi quan hệ giữa HS và GV theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực”

Trang 8

Theo quan điểm phát triển năng lực: “đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau”

Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học

Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu

giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm

sinh lí lứa tuổi HS; giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: Được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo

hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu

cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác

nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học) Về bản chất, đó là giờ học có

sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánh giá của HS

Trang 9

Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có

được những giờ dạy học tốt, cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học Chuẩn

bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là “phương pháp tích tụ dần dần

các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách”

Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục và các kỹ thuật dạy học như:

PPDH nêu vấn đề, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật dạy học 3 lần 3, PPDH phát

huy tính tích cực của HS

Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm

chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người

dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây

Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân

cách con người Dưới đây là sự hình thành và phát triển năng lực của người

đồ hóa học được sơ

như sau:

Trang 10

Hình 1: Sự hình thành năng lực ở người học

Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học

nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

2.2.4 Cấu trúc giáo án phát huy năng lực

Giáo án (kế hoạch bài học) được điều chỉnh theo công văn 5512 ngày 28/12/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức và xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhà trường Có thể có nhiều cấu trúc để thiết kế một

kế hoạch dạy học (giáo án) Sau đây là một cấu trúc giáo án có các hoạt động

và mục tiêu cụ thể…

- Mục tiêu bài học:

+ Nêu rõ yêu cầu cần đạt đối với mỗi bài, mỗi chủ đề học về Kiến thức,

kỹ năng, thái độ, năng lực

+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể như: nêu được, vận

dụng được, có thể lượng hoá được

- Chuẩn bị về phương pháp, kỹ thuật dạy học, cách thức thực hiện và phương

tiện dạy học phù hợp với chủ đề/ bài học:

+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học, phương tiện dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, máy chiếu, TiVi, đầu video, máy tính, máy projector ) và tài liệu cần thiết cho tiết học, chủ đề, ;

Trang 11

+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học trước ở nhà (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết cho chủ đề/ bài học)

- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai, phương

pháp, kỹ thuật dạy học cụ thể Với mỗi hoạt động dạy học cần chỉ rõ:

+ Tên các hoạt động dạy học diễn ra;

+ Mục tiêu của từng hoạt động dạy học;

+ Cách thức tiến hành các hoạt động;

+ Thời lượng để thực hiện hoạt động dạy học đó;

+ Kết luận của GV về những kiến thức, kỹ năng, thái độ HS cần có sau mỗi hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học để giải quyết vấn đề đặt ra; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;

- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: Xác định những việc HS cần phải tiếp

tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ, hoạt động ứng dụng kết quả bài học vào cuộc sống (ở lớp, nhà, cộng đồng; có thể cùng bạn, gia đình, làng xóm, khối phố) hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới

- Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; 3 đề nghị cải tiến

Trang 12

- Sau khi thu thập ý kiến thì xử lí và thảo luận về các ý kiến phản hồi

- Thống nhất các ý kiến phản hồi và chuẩn kiến thức

Trong giảng dạy Công nghệ phổ thông, kĩ thuật này rất thuận lợi khi vận dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, tạo tâm thế và hứng thú học tập cho

HS Có thể sử dụng phổ biến trong các bài học Công nghệ

*Những yêu cầu khi sử dụng kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ”:

- Nội dung câu hỏi cần phải có tính định hướng rõ ràng, cụ thể bao gồm

cả kiến thức và kĩ năng, trong đó có các mức độ tái hiện, hiểu, áp dụng, phân tích và tổng hợp

- Các câu hỏi phải đảm bảo tính lôgíc, tính hệ thống, tính khoa học và tính thực tiễn, đồng thời phải bám sát nội dung cơ bản của bài học

- Sử dụng kĩ thuật này, khi chuẩn bị câu hỏi, GV phải xây dựng đáp án

rõ ràng khi soạn giáo án và chuẩn bị bài chu đáo trước giờ lên lớp

- Sử dụng thường xuyên ở nhiều khâu: kiểm tra bài cũ, giảng bài mới,

ôn tập, hoặc có thể sử dụng trong kiểm tra viết

- Phối kết hợp với các kĩ thuật dạy học khác như: đàm thoại gợi mở, nêu vấn đề, đóng vai, thảo luận, sử dụng kênh hình,…

2.2.6 Vận dụng kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ” trong dạy học Công nghệ phổ thông:

Dưới đây tác giả xin trình bày một số phần trong môn Công nghệ phổ thông có thể áp dụng kỹ thuật “3 lần 3” nhằm huy động sự tham gia tích cực của HS trong quá trình dạy học

 Đối với Môn Công nghệ THPT

11

Bài 11: Bản vẽ xây dựng

Bài 15: Phần II.Vật liệu thông dụng trong chế tạo cơ khí

Bài 16: Công nghệ chế tạo phôi (Phương pháp Đúc, phương pháp

Trang 13

Hàn, phương pháp gia công áp lực)

Bài 17: Phần II: Gia công trên máy tiện

Bài 19: Phần II: Biện pháp đảm bảo sự phát triển bền vững trong sản xuất cơ khí

Bài 21: Phần II: Động cơ 4 kỳ

Bài 26: Phần III: Hệ thống làm mát bằng không khí

Bài 27: Phần II: Hệ thống nhiên liệu dùng bộ chế hoà khí

Bài 33: Động cơ đốt trong dùng cho Ôtô

Bài 34: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy

 Đối với môn Công nghệ 12

12

Bài 7: Phần II: Mạch chỉnh lưu

Bài 8: Phần I: Mạch khuếch đại

Bài 15: Mạch điều khiển tốc độ động cơ điện xoay chiều một pha Bài 18: Máy tăng âm

Bài 19: Máy thu thanh

Bài 20: Máy thu hình

Bài 23: Mạch điện xoay chiều ba pha

Bài 25: Phần II: Máy biến áp

Bài 26: Động cơ không đồng bộ 3 pha

 Một số ví dụ:

Ví dụ 1: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần I: Phương pháp đúc

- Đúc được tất cả các kim loại và hợp kim

- Có nhiều rỗ xỉ

- Có nhiều rỗ khí

-Sử dụng phương pháp đúc hiện đại để:

Trang 14

Phương

pháp đúc

(Ví dụ: Sắt, vàng, gang,…)

- Đúc được vật phẩm

có kích thước từ rất nhỏ cho đến rất lớn

- Đúc được những vật có hình dạng và kết cấu phức tạp

- Không điền đầy,…

+ Có phần lọc bỏ xỉ bẩn

+ Tạo ra nhiều lỗ thông khí hợp lý + Cần lựa chọn chỗ cao nhất của sản phẩm tạo phếu rót

Ví dụ 2: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần: Phương pháp Hàn

ốc

- Tạo ra được các chi tiết có hình dạng, kết cấu phức tạp

- Mối hàn có độ bền cao và kín

- Các chi tiết dễ bị cong, vệnh, nứt

-Sử dụng vật liệu có

độ dày nhất định, gia nhiệt đều để khắc phục những hạn chế trên

Ví dụ 3: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần: Phương pháp Gia công áp lực

Trang 15

- Tiết kiệm được kim loại

được vật thể có hình dạng và kết cấu phức tạp

- Không chế tạo được phôi từ vật liệu có có tính dẻo kém

- Không chế tạo được vật thể có hình dạng quá lớn

pháp gia công áp lực hiện đại

- Sử dụng những vật liệu có tính dẻo lớn

Ví dụ 4: Công nghệ THPT – Bài 33: Động cơ đốt trong dùng cho Ô tô

1 Bố trí độ cơ ở đầu trước buồng lái ô tô

- Điều khiển động

cơ và bố trí hệ thống truyền lực dễ

- Ít bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn và nhiệt thải động cơ

Tầm quan sát mặt đường bị hạn chế

Chỉ sử dụng cho loại ô tô cỡ nhỏ

Sử dụng động cơ

cỡ nhỏ

Nghiên cứu chế tạo động cơ có kích thước nhỏ gọn, công suất cao

Chế tạo buồng lái

để tăng khả năng quan sát

Ví dụ 5: Công nghệ 12 – Bài 15: Mạch điều khiển tốc độ động cơ điện xoay chiều 1 pha

Ngày đăng: 03/03/2023, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Dạy học kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Công nghệ cấp THPT, Tài liệu tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Công nghệ cấp THPT, Tài liệu tập huấn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2017), Xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh và tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương, Tài liệu tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh và tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2017
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Phương pháp và kỹ thuật tổ chức hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông môn Công nghệ, Tài liệu tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và kỹ thuật tổ chức hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông môn Công nghệ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Tài liệu tập huấn
Năm: 2017
5. Nguyễn Văn Khôi (chủ biên), 2008. Công nghệ 11, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ 11
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Khôi (chủ biên), 2008. Công nghệ 12, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ 12
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2008
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), Công văn 5512 về việc Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạc giáo dục của nhà trường Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w