khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1HỒ LY GIANG
DÒNG HỌ NGƯỜI HMÔNG TRẮNG
TỈNH SƠN LA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Chuyên ngành: Nhân học văn hóa
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác.
Nghiên cứu sinh
Hồ Ly Giang
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Để hoàn thành luận án Tiến sĩ với đề tài “ Dòng họ người HmôngTrắng tỉnh Sơn La”, tôi xin chân thành cảm ơn:
Khoa Dân tộc học thuộc Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đãgiúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án
Lãnh đạo và người dân địa phương xã Phỏng Lái, huyện ThuậnChâu, tỉnh Sơn La đã nhiệt tình cộng tác trong suốt quá trình điền dã, khảosát tại địa bàn nghiên cứu
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ, động viên, tạo điều kiệntốt nhất cho tôi khi thực hiện luận án
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS PhạmQuang Hoan và PGS.TS.Nguyễn Văn Minh, những người thầy đã trực tiếphướng dẫn và đã cho tôi những góp ý vô cùng quý báu
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 3
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu……… 3
4 Đóng góp của luận án……… 3
5 Nguồn tư liệu của luận án……… 4
6 Bố cục của luận án……… 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 5 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu……… 5
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước……… 5
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước……… 10
1.2 Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu……… 13
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản……… 13
1.2.2 Cơ sở lý thuyết……… 14
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 16
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu……… 17
1.3.1 Vài nét về người Hmông ở Việt Nam……… 17
1.3.1.1 Lịch sử di cư, địa vực cư trú……… 17
1.3.1.2 Tộc danh và một số đặc điểm về văn hoá, dân số………… 20
1.3.1.3 Về đời sống……… 24
1.3.2 Vài nét về người Hmông ở xã Phóng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 25 1.3.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên……… 25
1.3.2.2 Đặc điểm xã hội ……… 26
1.3.2.3 Đặc điểm kinh tế……… 27
1.3.2.4 Đặc điểm văn hoá tinh thần ……… 30
Tiểu kết chương 1……… 40
CHƯƠNG 2 CÁC ĐẶC TRƯNG VÀ QUAN HỆ DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI HMÔNG 42
2.1 Nguồn gốc về dòng họ của người Hmông………. 42
2.1.1 Quan niệm về dòng họ……… 42
2.1.2 Dấu hiệu để nhận biết dòng họ ……… 43
2.1.2.1 Kiêng cữ và truyền thuyết về dòng họ………. 44
2.1.2.2 Tập tục trong tang ma ……… 46
2.1.2.3 Tập tục trong các lễ cúng ma của gia đình ……… 48
2.1.3 Truyền thuyết về việc hình thành các dòng họ……… 49
2.2 Tổ chức dòng họ người Hmông Trắng ở xã Phỏng Lái, Thuận Châu, Sơn La 52 2.2.1 Người đứng đầu dòng họ……… 52
2.2.2 Những người có uy tín khác trong dòng họ ……… 54
Trang 52.3 Các quan hệ dòng họ ……… 61
2.3.1 Quan hệ dòng họ trong cư trú ……… 61
2.3.2 Quan hệ dòng họ trong đời sống kinh tế ……… 63
2.3.3 Quan hệ dòng họ trong đời sống xã hội……… 71
2.3.4 Quan hệ dòng họ trong đời sống tâm linh ……… 77
2.3.4.1 Lễ cúng chung của các dòng họ người Hmông ở xã Phỏng Lái 78 2.3.4.2 Một số nghi lễ, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng khác của gia đình thành viên trong dòng họ ……… 82
Tiểu kết chương 2……… 94
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 96
3 1 Vai trò của dòng họ trong đời sống của người Hmông Trắng … 96
3.1.1 Vai trò của dòng họ trong cố kết cộng đồng và tộc người…… 96
3.1.2 Vai trò của dòng họ trong phát triển kinh tế……… 100
3.1.3 Vai trò của dòng họ trong quản lý xã hội……… 101
3.1.4 Vai trò của dòng họ trong giữ gìn bản sắc văn hoá……… 103
3.2 Một số vấn đề đang đặt ra ……… 106
3.2.1 Một số quan niệm khác nhau về người Hmông……… 106
3.2.2 Một số yếu tố tác động đến dòn họ của người Hmông Trắng… 106 3.2.2.1.Về đặc điểm di cư và cư trú ……… 106
3.2.2.2 Tác động của chính sách dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta……… 108
3.2.2.3 Tác động của sự chuyển đổi tín ngưỡng truyền thống……… 112
3.2.3 Một số vấn đề thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị ảnh hưởng đến dòng họ của người Hmông hiện nay… 114
3.2.3.1 Thách thức về đảm bảo kinh tế, an ninh lương thực………… 114
3.2.3.2 Thách thức về vấn đề di cư và địa bàn cư trú……… 115
3.2.3.3 Thách thức về xã hội ……… 115
3.2.3.4 Thách thức về chuyển đổi tín ngưỡng tôn giáo……… 117
3.2.3.5 Thách thức về vấn đề an ninh chính trị……… 117
3.2.4 Một số dự báo về tình hình người Hmông ở vùng Tây Bắc và Sơn La liên quan đến dòng họ……… 118
3.3 Bảo tồn và phát huy các giá trị của dòng họ trong bối cảnh hiện nay 121 3.3.1 Phát huy những yếu tố tích cực của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới 121 3.3.1.1 Quản lý xã hội, ổn định dân cư và bảo vệ tài nguyên……… 121
3.3.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình……… 127
3.3.1.3 Giữ gìn bản sắc văn hoá tộc người ……… 130
3.3.2 Khắc phục những mặt hạn chế của dòng họ……… 133
Tiểu kết chương 3 ……… 136
KẾT LUẬN ……… 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 143
PHỤ LỤC ẢNH……… 152
PHỤ LỤC GIA PHẢ.……… 164
Trang 7Bảng 1: Dân số các tỉnh có nhiều người Hmông cưtrú 22 2
Bảng 5: Ai là người quyết định công việc chung của bản 60
Bảng 6: Đánh giá về vai trò của hương ước trong đời sống hiện nay 132
PHỤ LỤCPhụ lục ảnh 152Phụ lục gia phả 164Phụ lục thống kê 167
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và Nhà ở năm 2009, dân tộc Hmông ởnước ta có 1.095.000 người, đứng hàng thứ bảy sau các dân tộc Việt, Tày, Thái,Khơ-me, Mường và Nùng Người Hmông sinh sống chủ yếu ở những vùng núi có
độ cao trung bình từ 800 - 1.700 m trở lên, địa hình hiểm trở, đi lại khó khănnhiều nơi thuộc vùng cao núi đá Mặc dù môi trường cư trú không thuận lợi,nhưng tộc người này luôn tạo dựng được cách ứng xử khá phù hợp với sự đadạng của điều kiện cảnh quan vùng cao
Dân tộc Hmông ở Việt Nam có các nhóm như: Hmông Hoa (Hmông
Lềnh), Hmông Đen (Hmông Đu), Hmông Trắng (Hmông Đơ) và Hmông Xanh
(Hmông Súa) Sự phân biệt giữa các nhóm chủ yếu dựa vào sự khác nhau của
trang phục và ngôn ngữ Về cơ bản, những phong tục tập quán của các nhómHmông đều có nhiều nét tương đồng, nhất là trong thiết chế dòng họ và nghi lễtrong chu kỳ đời người Khác với đa số tộc người thiểu số khác, người Hmông
có mối quan hệ cố kết tộc người hết sức bền chặt, kể cả khi họ cư trú tại một địaphương hay cách biệt ở những nước, các châu lục khác nhau Biểu hiện đặctrưng nhất của mối quan hệ này là sự cố kết dòng họ “xuyên quốc gia” Dòng họcủa người Hmông có vị trí đặc biệt quan trọng, đó là một trong những yếu tố cốtlõi cấu thành xã hội Hmông và là nền tảng cho sự tồn tại của thiết chế xã hộitruyền thống, đồng thời chi phối nhiều khía cạnh trong đời sống hàng ngày củacộng đồng Dòng họ Hmông cũng là môi trường giữ gìn và thể hiện bản sắc tộcngười rất đậm nét Thông qua sự giống nhau về tên họ cùng những quy ước riêngcủa từng dòng họ, dù ở địa phương nào của Việt Nam cũng như ở các nước kháctrên thế giới, người Hmông đều cho là thuộc cùng một họ, đều sinh ra từ một ông
Trang 9tổ chung, đều là anh em với nhau và vì vậy phải có trách nhiệm giúp đỡ và bảo
vệ lẫn nhau Đặc điểm cố kết dòng họ mang tính “xuyên quốc gia” của ngườiHmông có những mặt tích cực, nhưng cũng có những ảnh hưởng không mongmuốn tới sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá và đảm bảo ổn định chính trị xãhội, an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc, miền núi, đặc biệt là vùng biên giới
Trong xã hội truyền thống cũng như hiện nay, dòng họ của người Hmông
có vai trò chi phối liên quan đến toàn bộ tổ chức kinh tế - xã hội của tộc ngườinày, được thể hiện qua các kiêng kỵ trong nghi lễ gia đình, đặc biệt là qua cáchình thức thờ cúng (ma nhà, ma buồng, ma bếp…), và những nghi lễ chung của
dòng họ như lễ ma bò (nhu đa), lễ cúng dòng họ (shầu su, txi su, cơz đa), lễ đuổi
tà ma (lử su, lử tau), Thông qua các hoạt động này, nhất là nghi lễ dòng họ và
các hình thức thờ cúng của các gia đình thành viên là chất keo bền vững tạo nên
sự cố kết chặt chẽ, bền lâu trong quan hệ dòng họ, thể hiện vai trò và vị trí củadòng họ không chỉ đối với các gia đình thành viên mà còn đối với cả cộng đồng
Cho đến nay, dòng họ của người Hmông đã được nhiều nhà nghiên cứu đềcập đến ở phạm vi rộng Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ ở từng nhóm Hmông tại mộtđịa bàn cụ thể còn ít được đề cập, nhất là nhóm Hmông Trắng ở tỉnh Sơn La
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Dòng họ của người Hmông Trắng tỉnh Sơn
La” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học văn hóa Sở dĩ như vậy là do,
chúng tôi nhận thấy dòng họ đóng vai trò cốt lõi trong xã hội người Hmông Nghiêncứu dòng họ của người Hmông Trắng sẽ giúp chúng ta hiểu biết đầy đủ, sâu sắchơn về tộc người này, giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý thamkhảo để tổ chức ổn định dân cư, phát triển kinh tế và quản lý xã hội, góp phần bảotồn và phát huy các giá trị của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới hiện nay,đồng thời hạn chế các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng dòng họ củangười Hmông vào mục đích gây mất ổn định chính trị xã hội, thậm chí chống phá
Trang 10đất nước ta, đặc biệt tại các địa bàn vùng biên giới Việt - Lào, nơi đã bùng phát vàhiện vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ các đặc điểm dòng họ của người Hmông Trắng ở Sơn La trướcđây và hiện nay
- Làm rõ các mối quan hệ và vai trò của dòng họ trong đời sống cộng đồngngười Hmông Trắng ở Sơn La
- Đề xuất các giá trị tích cực của dòng họ cho việc bảo tồn và phát huynhằm phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay của Đảng và Nhànước ta trong cộng đồng người Hmông Trắng ở Sơn La
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là dòng họ của người Hmông Trắng tại cácđiểm nghiên cứu thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Trong đó đi sâu nghiêncứu về các đặc trưng và vai trò của dòng họ trong đời sống tộc người của nhómHmông Trắng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các vấn đề đến dòng họ của người Hmông Trắngtrong sự so sánh với dòng họ của tộc người Hmông ở tỉnh Sơn La, Hòa Bình,Điện Biên, Lai Châu và một số địa phương khác
3.3 Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu chính là xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
La, nơi có đông người Hmông Trắng sinh sống tập trung nhất của tỉnh
4 Đóng góp của luận án
Luận án là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về dòng
họ của người Hmông Trắng ở tỉnh Sơn La trong truyền thống và những biến đổi
Trang 11hiện nay Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho việc so sánh sự tương đồng và khácbiệt giữa các dòng họ của người Hmông Trắng ở Sơn La với các nhóm Hmông ởnhững địa điểm khác.
Qua nghiên cứu về dòng họ của người Hmông Trắng, luận án cung cấpnhững tư liệu khoa học, góp phần làm rõ các đặc trưng cơ bản nhất của thiết chếdòng họ và các mối quan hệ, đồng thời phân tích những vai trò của dòng họtrong đời sống tộc người Hmông
Kết quả nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huycác giá trị tốt đẹp của dòng họ người Hmông đến với phát triển kinh tế - xã hội,quản lý tốt các vấn đề xã hội và góp phần xây dựng nông thôn mới hiện nay ởvùng đồng bào Hmông
5 Nguồn tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu của luận án chủ yếu do tác giả thu thập tại địa bàn nghiêncứu từ năm 1998 đến nay Bên cạnh đó, cũng kế thừa nguồn tài liệu đã đượccông bố của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các đề tài nghiên cứu khoahọc, về dòng họ; các số liệu, báo cáo của Trung ương và địa phương về ngườiHmông liên quan đến nội dung đề tài
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận ángồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp
và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Các đặc trưng và quan hệ dòng họ của người Hmông
Chương 3: Kết quả và bàn luận
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước
Claude Lévi-Strauss, nhà Dân tộc học Pháp nổi tiếng với công trình Cấu
trúc cơ bản của quan hệ thân tộc [80], đã đưa ra mô hình một trật tự xã hội có
cấu trúc chặt chẽ Khác với Durkheim cho rằng, xã hội được tổ chức như một cơthể gồm những phần phụ thuộc lẫn nhau và cần thiết cho sự sống còn của “toànthể”, Lévi-Strauss khẳng định: Giữa sức sống và xã hội còn có một yếu tố cơ bảnchính là cái biểu hiện của toàn thể, khiến cho việc nghiên cứu xã hội cũng làphân tích yếu tố tâm linh và xã hội của khoa tâm lý học về ý thức cộng đồng cókhả năng soi sáng quan hệ nhân quả của các hiện tượng tập thể Lévi-Strauss tinrằng, quá trình mang tính lôgic cơ bản cấu trúc tất cả mọi suy nghĩ của con ngườihoạt động trong các bối cảnh văn hóa khác nhau, cho nên các hiện tượng văn hóakhông giống hệt nhau, nhưng chúng là sản phẩm của một khuôn mẫu cơ bảnchung của tư duy và ông tập trung nghiên cứu quanh việc tìm ra khuôn mẫu đó.Với phương pháp cấu trúc, Lévi-Strauss đã đem lại một sinh khí mới cho việcnghiên cứu quan hệ thân tộc Ông là người đầu tiên nhấn mạnh đến tầm quantrọng của liên minh bên trong cấu trúc thân tộc, và nêu bật lên sự cần thiết phảitrao đổi có đi có lại trong cấm kỵ loạn luân Theo nhãn quan đó, ông đi đến việcnêu lên ý tưởng rằng, mọi xã hội con người đều xây dựng trên một đơn vị tối thiểu
về thân tộc là hạt nhân của thân tộc Luận điểm tổng quát này được gọi là học
thuyết về liên minh
Theo một số nhà Nhân học phương Tây, các dòng họ được xác định bằng
Trang 13những mối quan hệ với tổ tiên, vì vậy chúng có một bề dày thời gian Nguyên tắccủa quan hệ dòng họ bao gồm sự truyền lại qua mối liên hệ giữa cha mẹ với concái và liên kết những người này lại với nhau thành một nhóm xã hội Trong một
số xã hội, tư cách thành viên trong một dòng họ sẽ quyết định cách thức người
đó được huy động để phục vụ cho hành động xã hội như thế nào [11, tr 67]
Những quan hệ bắt nguồn từ hành vi tính giao được gọi là hôn nhân và những mối quan hệ dựa trên sinh đẻ được gọi là quan hệ dòng họ Quan hệ dòng họ là
một phạm trù có tính chất chọn lọc, phản ánh quan điểm của nền văn hóa nào đó
về vai trò của con người Xã hội mẫu hệ đề cao vai trò của phụ nữ thông qua sinh
đẻ và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng họ trên cơ sở này, không chú ý nhiều đếnvai trò của nam giới trong sinh sản Ngược lại, xã hội phụ hệ đề cao vai trò củangười cha và xây dựng hệ thống thân tộc, dòng họ thông qua những người namgiới, mà coi nhẹ vai trò mang thai của người phụ nữ Các nhà nhân học cho rằng,
có thể có hai cách chính mà người ta sử dụng để thiết lập dòng họ: dòng họ song
hệ (bilateral hay cognatic descent), là nhóm các thành viên có liên quan với nhau
bằng một quan hệ như nhau thông qua bên cha và bên mẹ, và dòng họ đơn hệ gồm
những người có liên hệ với nhau chỉ thông qua bên cha hoặc bên mẹ
Dòng họ đơn hệ được coi là phổ biến nhất trên thế giới hiện nay, bao gồmhai loại cơ bản là phụ hệ và mẫu hệ [11, tr 71] Cũng theo các nhà Nhân học,thân tộc hay dòng họ được xác định như các nhóm xã hội, thiết lập thế tươngquan giữa các cá nhân và nhóm xã hội trong không gian và thời gian nhất định,các hệ thống thân tộc, dòng họ giúp duy trì trật tự xã hội mà không có sự canthiệp của chính quyền Hệ thống này cũng cung cấp những định hướng xã hội đadạng, theo đó có thể phát triển nhiều mối quan hệ khác nhau như liên minh, liênkết, hỗ trợ, thậm chí có thể chống đối và thù nghịch
Một số nhà nhân học đã tiến hành nghiên cứu dòng họ và hôn nhân như
Trang 14Evans [68] và Leach [76] Đến giữa thế kỷ 20, những nhà Nhân học coi nghiêncứu dòng họ như một lĩnh vực phân tích riêng liên quan đến các khía cạnh kinh
tế - xã hội khác Họ phần lớn tập trung vào nghiên cứu xã hội dựa trên mối quan
hệ, vai trò của dòng họ và các tổ chức của những xã hội không có chữ viết.Những nghiên cứu này, cùng với sự phát triển tư tưởng về thuyết cấu trúc chứcnăng của Firth [69], Malinowski [81] và Radcliff - Brown [88] Vào nửa cuối thế
kỷ thứ 20, trong quam điểm của Levi - Strauss về thuyết chức năng vẫn coi dòng
họ như một tổ chức xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt Một nghiên
cứu quan trọng của ông “The Elementary Structure of Kinship [80], đã minh họa
được sự quan trọng của các mối quan hệ và sự liên kết trong hôn nhân Tuynhiên, những quan điểm của Levi - Strauss về trao đổi và đặc quyền giữa nhómđàn ông với nhóm đàn bà đã được các nhà nhân học sau này tiếp tục nghiên cứu
và phê bình Những nghiên cứu về tổ chức xã hội, tư tưởng đối ngẫu và nhữngphân loại nhị nguyên của các loại dòng họ khác nhau theo thuyết cấu trúc chứcnăng đã được tiến hành ở Indonesia, New Guinea, Andes và Amazon de Boon[59], Maybury - Lewis và Almagor [82] và Turner [96] thực hiện Điểm yếu củaphái theo thuyết cấu trúc chức năng là trình bày một bức tranh tĩnh của xã hội đãđược Bourdieu sửa lại và trình bày về dòng họ bao gồm cả hôn nhân giữa anh emcon chú, con bác ở Nam Phi, nghiên cứu hành vi và sự chuyển đổi hướng nghiêncứu của ông về dòng họ đã thu hút sự quan tâm trong lĩnh vực dòng họ [54, tr.68]
Một số nhà nghiên cứu người Pháp đã có những công trình nghiên cứu nổitiếng về đời sống văn hoá tộc người Hmông, như: F.M Savina [33] với công
trình “Lịch sử người Mèo” đã trình bày tương đối kỹ về lịch sử và quá trình hình thành cộng đồng người Hmông; Guy Morechand [13] trong công trình “Thuật sa
man của người Hmông Trắng ở Đông Dương” đã nêu lên những đặc điểm và
Trang 15các hình thức chủ yếu về thuật saman của người Hmông nói chung; ngườiHmông ở Lào đã được Yang Dao cung cấp những thông tin cơ bản về gia đình,dòng họ, các tổ chức xã hội, chính trị khác của tộc người này, đồng thời nghiêncứu cả sự thay đổi cuộc sống của người Hmông trên các lĩnh vực xã hội, kinh tế,chính trị do ảnh hưởng của các nước phương Tây [97 tr 54] Tuy nhiên, vấn đề
về dòng họ của người Hmông chưa hoặc rất ít được đề cập trong những cuốnsách này
Những nghiên cứu trực tiếp về dòng họ nói chung và dòng họ của ngườiHmông nói riêng có thể nhắc đến một số công trình tiêu biểu như:
- Maine, McLennan và Morgan là những nhà nghiên cứu đầu tiên về dòng
họ Trong cuốn sách của Morgan “System of Consanguinity and Affinity of the
Human Family” [84] đã chỉ ra sự khác nhau giữa thuật ngữ dòng họ, mô tả và
phân loại dòng họ Sự khác nhau này được các nhà Dân tộc học và Nhân họckhác chấp nhận, và trở thành một nguyên tắc cơ bản cho các nghiên cứu nhânhọc và dân tộc học về dòng họ được thể hiện trong các nghiên cứu sau này củaLeach [76], Levis - Strauss [79], Radcliffe - Brown [87], Schneider and Homans[91] và Service [90] Vì sự khác nhau căn bản giữa các mối quan hệ cùng dòngmáu và tự nhận, nên các nhà nhân học đã quan tâm đến hai khía cạnh cốt lõikhác của dòng họ, đó là mối quan hệ giữa những người cùng dòng máu và mốiquan hệ tự nhận; cuốn sách này còn bao gồm cả những điều tra về các quy địnhcủa dòng họ và nơi cư trú
- Một trong những thay đổi cơ bản trong nghiên cứu về dòng họ của ngườiHmông xuất hiện từ những năm 1970, khi Ruey Yih-Fu đề cập và phân tíchnhững mối quan hệ thân tộc đơn giản của người Mèo ở phía Nam Trung Quốc.Sau khi điều tra nghiên cứu cấu trúc xã hội của người Mèo, ông đã đưa ra lậpluận rằng: Người Mèo có thể được mô tả bởi dòng họ song phương và cũng có
Trang 16thể bởi quá trình cư trú của cư dân bản địa mới, và cấu trúc xã hội phụ hệ vẫn tồntại do ảnh hưởng từ người Hán, do có mối quan hệ và quá trình thâm nhập củangười Hán [89: tr.44] Tuy nhiên, đây chỉ là sự giả định từ các các mối quan hệdòng họ của người Mèo Gần đây, Nicholas Tap đã thuật lại những vấn đề liên
quan đến dòng họ của người Hmông ở Trung Quốc trong cuốn sách “The
Hmong of China” Cuốn sách này đã mô tả mối quan hệ giữa người Hmông và
những cư dân xóm giềng của họ, sự bố trí của dòng họ người Hmông và dân tộckhác sống trong cùng một làng Wutong, tỉnh Sichuan [95]
- Trong một công trình khác, nghiên cứu các mối quan hệ của ngườiHmông dựa vào phả hệ và mạng lưới dòng họ Để hiểu được sự quan trọng củatập quán xã hội của dòng họ và cấu trúc dòng họ, một nhà dân tộc học ngườiHmông, Gary Yia Lee đã viết: “Khi hai người Hmông gặp nhau lần đầu tiên,quan tâm đầu tiên thường là xem có cùng họ và cùng lý của dòng họ mìnhkhông Nếu không cùng họ, thì lại hỏi xem vợ của người kia có cùng họ vớimình không Nếu người vợ không cùng họ, thì mối quan hệ của họ vẫn đượcthiết lập vì cùng là người Hmông Nhưng nếu hai người gặp nhau lần đầu tiên
mà là cùng họ thì câu hỏi tiếp theo xem họ thuộc ngành Hmông nào? Số lượngbát lễ vật cúng tổ tiên như thế nào? Mộ người chết ra sao? Nếu giống nhau thì họcùng chung một ông tổ [77, tr.31]”
Người Hmông theo chế độ phụ hệ, có nghĩa là con theo dòng cha Hệ thốnggia đình người Hmông là gia đình mở rộng Các con trai cùng với vợ sống chungvới bố mẹ mình Còn con gái sau khi kết hôn phải ở bên nhà chồng và mang họnhà chồng Một nhà bao gồm nhiều gia đình cùng sống chung Trong truyềnthống, đối với người Hmông Trắng ở Thái Lan thì khi người con trai thứ hai lấy
vợ về sẽ ở với bố mẹ, còn vợ chồng người anh cả lúc này lại chuyển ra ngoàisống trong ngôi nhà ngay cạnh nhà bố mẹ mình, tuần tự như vậy cho đến người
Trang 17con trai út sẽ ở cùng với bố mẹ, chăm sóc đến lúc họ qua đời và sẽ được hưởngthừa kế tài sản của bố mẹ Nhưng với nhóm Hmông Xanh và Hmông Hoa, tất cảgia đình các con trai đều ở cùng với bố mẹ trong một ngôi nhà Các nhà dân tộchọc đã tiến hành nghiên cứu xã hội Hmông và phân loại cấu trúc xã hội Hmôngthành 3 loại: dòng họ; nhóm họ “subclan” và chi họ hay tiểu chi “lineage” [67,tr.71].
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Các nhà Dân tộc học Việt Nam đã nghiên cứu về người Hmông ở nhiều góc
độ, có nhiều công trình chuyên khảo về tộc người này được công bố, trong đó
đáng chú ý như: “Lịch sử di cư và tên gọi của người Mèo” của Lâm Tâm [38]
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu lên những vấn đề về nguồn gốc,lịch sử di cư và tên gọi của người Mèo Cũng đồng quan điểm với ông, các tácgiả Bế Viết Đẳng [10], Cư Hoà Vần và Hoàng Nam [54] đều cho rằng, ngườiHmông bắt đầu di cư vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm, chủ yếu theo 3đợt di cư lớn qua các con đường từ Hà Giang xuống Tuyên Quang, từ Lào Caidịch chuyển qua Tây Bắc, từ Lào sang Thanh Hoá và Nghệ An Có thể nói, đây
là những công trình nghiên cứu khá toàn diện về người Hmông ở nước ta
Dưới góc độ văn hóa tộc người, nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào
từng lĩnh vực cụ thể như: trong sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện dân tộc học [55]; Dân ca Mèo của Doãn Thanh [40]; Lịch sử
tộc người các dân tộc Hmông - Dao qua cứ liệu ngôn ngữ của Nguyễn Văn Lợi
[21]; Dân tộc Mông ở Việt Nam của Cư Hoà Vần - Hoàng Nam [54]; Vai trò của
các thiết chế xã hội truyền thống trong việc quản lý nguồn tài nguyên cộng đồng của người Hmông của Phạm Quang Hoan [16]; Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn, Nghệ An của Phạm Quang Hoan và các
tác giả [17]; Môt số nghi lễ phản ánh bản sắc và tính cố kết dòng họ của người
Trang 18Hmông của Phạm Quang Hoan [18]; Lễ cưới của người Hmông Trắng huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang của Phạm Quang Hoan [19]; Văn hoá Hmông của
Trần Hữu Sơn [37]; Dân số - kế hoạch hoá gia đình người Hmông ở Hoà Bình
của Trung tâm Sinh thái và Dân số học tộc người [9] do Khổng Diễn chủ biên;
Dân tộc Hmông và thế giới thực vật của Diệp Đình Hoa [15]; Những quy ước của người Hmông của Nguyễn Ngọc Thanh [42]; Hệ thống thức ăn của người Hmông trong bối cảnh an toàn lương thực của Vương Xuân Tình [47]; Văn hoá tâm linh của người Hmông ở Việt Nam của Vương Duy Quang [32]; Tôn giáo và cách ứng xử với bệnh tật của người Hmông của Nguyễn Văn Thắng [44] Trong
các công trình này, dòng họ của người Hmông được các tác giả đề cập đến trongcác phần viết về văn hóa tinh thần, thiết chế xã hội truyền thống hay phong tục tậpquán tộc người, đặc biệt là các công trình của Phạm Quang Hoan và Vương DuyQuang đã đề cập khá kỹ về một số khía cạnh quan hệ của dòng họ
Nghiên cứu về canh tác nương rẫy có công trình của Nguyễn Anh Ngọc[25]; về dân số có Khổng Diễn [8] [9]; về Trang phục có Nguyễn Khắc Tụng[48]; Về văn hóa tinh thần có Trần Hữu Sơn [37]; Về văn hóa tộc người có PhạmQuang Hoan [16], Vương Duy Quang [27], Vương Xuân Tình [47], Hoàng XuânLương [22], Lê Quốc Hồng [20]… Các công trình nghiên cứu này bước đầu đisâu tìm hiểu về một số thành tố của tổ chức xã hội truyền thống, phong tục tậpquán, văn hóa tinh thần… liên quan đến dòng họ
Đề cập đến vấn đề di cư tự do của một số dân tộc thiểu số ở miền núi phía
Bắc, trong đó có tộc người Hmông, trong công trình Dân số và dân số học tộc
người ở Việt Nam, tác giả Khổng Diễn cho rằng hướng chuyển cư của các tộc
người là rất đa dạng, có thể là di chuyển qua biên giới mà chủ yếu là từ phía Bắctới Nhưng cũng nhiều dòng di chuyển theo chiều ngang, nghĩa là theo hướng
Trang 19Đông - Tây, chủ yếu là của một bộ phận người Tày, người Nùng, ngườiHmông, nay chuyển dần sang phía Tây đến các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu
và còn có thể đi xa hơn, có tốc độ chậm chạp, không liên tục và hoàn toàn mangtính tự phát (Khổng Diễn [8]) Nhà nghiên cứu Đậu Tuấn Nam đã nghiên cứu về
di cư tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An [26]
Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tôngiáo, tín ngưỡng và sự chuyển đổi từ tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống sang đạo
Tin Lành của người Hmông đã được công bố, trong đó đáng chú ý là: Giữ lý cũ
hay theo lý mới? Bản chất của những cách phản ứng khác nhau của người Hmông ở Việt Nam với ảnh hưởng của Đạo Tin Lành của tác giả Nguyễn Văn
Thắng [44]
Có thể nói, nghiên cứu về tộc người Hmông đã được tiến hành khá cơ bản,nhiều công trình tương đối toàn diện về mọi mặt đời sống của người Hmông đãđược công bố Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về dòng họ với những nhậndiện đặc trưng trong văn hóa tộc người Hmông và ảnh hưởng của dòng họ trongquản lý xã hội và đời sống cộng đồng chưa được đề cập nhiều, nhất là nhómHmông Trắng ở Sơn La
Cùng với các nghiên cứu khoa học, do tầm quan trọng trong việc giải quyếtmột số vấn đề công tác đối với dân tộc Hmông trong tình hình hiện nay, Đảng vàNhà nước ta đã có một số chỉ thị riêng đối với tộc người này Trong đó, đáng chú
ý là: Chỉ thị số 45-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá VII) ngày
23/9/1994 “Về một số công tác ở vùng đồng bào dân tộc Hmông”, tiếp đó, để
đánh giá kết quả thực hiện triển khai Chỉ thị 45-CT/TW, Trung ương Đảng đã cóThông báo kết luận số 64-TB/TW ngày 9/3/2007 của Ban Bí Thư (khoá X) về
“Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa VII”…
Các văn bản này đã đánh giá tình hình chung ở vùng đồng bào Hmông nước ta,
Trang 20xác định các mục tiêu và nội dung thực hiện chính sách dân tộc; đánh giá tầmquan trọng của việc phát huy sức mạnh của các cấp, các ngành trong thực hiệnmột số nhiệm vụ công tác cụ thể ở vùng dân tộc Hmông; xác định rõ những mặtđược và những hạn chế như tình hình thiếu đói, chất lượng nguồn nhân lực, thiếuđất sản xuất, xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị cơ sở;…
Gần đây nhất là “Báo cáo tình hình thực hiện Thông báo kết luận số 64-TB/TW
của Uỷ Ban Dân tộc và Ban Dân vận Trung ương” tiếp tục khẳng định những
kết quả đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc ở vùng đồng bào Hmông
và những định hướng giải quyết các tồn tại, vướng mắc ở trong những năm tớinhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt các vấn đề vềdân tộc và tôn giáo ở vùng dân tộc Hmông hiện nay
1.2 Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
- Dòng họ (clan): Người Hmông gọi dòng họ là “seng” Theo Cooper [62],
thuật ngữ này bắt nguồn từ Trung Quốc là “Shing” và “Xing”, có nghĩa là nhómngười cùng dòng họ Những người trong họ người Hmông chỉ được dùng mộthọ; nếu cùng họ mà cùng chung “lý” thì những người đó có chung một ông tổ.Những người cùng họ không được phép kết hôn với nhau
- Nhóm họ (Subclan): Mặc dù người Hmông nhóm họ “subclan” không có
một tên gọi cụ thể khác, nhưng vẫn có 2 thuật ngữ cụm và nhóm Trong một họ, cácthành viên trong nhóm họ được coi là có chung một ông tổ như đã nói trên Vì vậy,trong xã hội người Hmông để phân biệt giữa các nhóm họ là sự khác nhau trong cácnghi lễ cúng nhóm họ, theo Geddes: người trong cùng một dòng họ, họ coi cácthành viên trong dòng họ có mối quan hệ khăng khít với nhau hơn các thành viêntrong các dòng họ khác Những người này chúng tôi gọi là nhóm họ Nguyên tắcthống nhất cũng như mối liên kết trong dòng họ: Họ cùng có chung cách thức tổ
Trang 21chức các nghi lễ cúng và cùng chung các truyền thuyết Sự khác nhau giữa các dòng
họ là sự khác nhau các nghi thức cúng [70]
- Tiểu chi - chi họ (Lineage): Tiểu chi (Lineage) là một nhóm người cùng
nguồn gốc theo dòng cha, cùng chung một ông tổ Độ sâu về thế hệ không thànhvấn đề miễn là con cháu có thể lần ngược lại mối quan hệ của họ về ông tổchung của mình Nếu đây là trường hợp trực hệ, họ coi mình là thành viên cùngtrong một nhà, anh em cùng bố Nguyên tắc của tiểu chi là một gia đình mở rộngtheo dòng cha Điểm quan trọng là mối quan hệ ràng buộc giữa cha - con và giữacác anh em ruột Tất cả các con cháu theo trực hệ coi nhau như những người trongcùng một nhóm và phải có nghĩa vụ với nhau
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
Hướng tiếp cận chủ yếu của đề tài dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học vănhóa, do vậy, việc nghiên cứu dòng họ được chú trọng nhiều hơn về các biểu hiện,chức năng và vai trò của dòng họ trong đời sống xã hội tộc người Trong khuônkhổ của luận án, chúng tôi sử dụng một số lý thuyết nghiên cứu sau:
- Lý thuyết văn hoá tộc người
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống conngười trong suốt quá trình lịch sử Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị tinhthần và vật chất do con người sáng tạo, tích luỹ qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Do
vậy, văn hoá là một bộ phận cấu thành tộc người Nghiên cứu văn hoá với tínhcách là yếu tố cấu thành tộc người cần phải nhìn nhận dưới các biểu hiện cụ thể
và trong bối cảnh tộc người để từ đó có thể khái quát, nhận định nó như là bảnsắc văn hoá tộc người Văn hoá tộc người là những yếu tố đặc trưng, tiêu biểunhất của tộc người đó tạo nên và có những nét khác biệt với văn hoá của các tộcngười khác Tuy nhiên, văn hoá tộc người được thể hiện khá đa dạng, không chỉ
Trang 22phản ánh những nét đặc trưng của tộc người mà còn có tính thống nhất trong sự
đa dạng của các thành tố văn hoá, của đặc điểm văn hoá tộc người và văn hoávùng [45, tr.32] Và như vậy, thông qua cách tiếp cận về bản sắc văn hóa có thểnhận diện đặc điểm và vai trò của dòng họ Hmông trong sự so sánh với dòng họcủa các tộc người khác và giữa các nhóm của người Hmông
- Lý thuyết cấu trúc chức năng
Luận án tiếp cận nghiên cứu theo lý thuyết cấu trúc chức năng với nhữngquan điểm cơ bản của Claude Lévi-Strauss, như: tất cả các hoạt động của conngười đều được đặt trong những bối cảnh văn hóa khác nhau Bởi vậy, các hiệntượng văn hóa không giống nhau, nhưng chúng là sản phẩm của một khuôn mẫu
cơ bản chung của tư duy, coi trọng và nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minhbên trong cấu trúc thân tộc và mối quan hệ bên trong của quan hệ thân tộc đó,trong đời sống xã hội tộc người đều có những đơn vị tối thiểu về thân tộc, là hạtnhân của thiết chế thân tộc
- Lý thuyết tiếp biến văn hóa
Tiếp biến văn hóa được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sựtiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả là làm cho chúng ngàycàng trở nên giống nhau hơn Quá trình này luôn có liên quan tới sự tương tácphức tạp với các quá trình xã hội kèm theo Trong các mối liên quan như vậy,văn hóa chưa thể hiện đầy đủ các yếu tố xã hội và hệ thống những giá trị của bảnthân văn hóa có thể đóng vai trò biểu hiện ra hoặc làm biến đổi các yếu tố nhấtđịnh Tiếp biến văn hóa có thể được cấu trúc rõ ràng về mặt xã hội hoặc chính trịkhác định hướng dòng chảy của các yếu tố văn hóa Tiếp biến văn hóa bao gồm
một số các quá trình khác nhau gồm khuếch tán, thích nghi mang tính ứng phó,
các loại hình tái tổ chức xã hội và văn hóa khác nhau tiếp sau tiếp xúc và “giảivăn hóa” hay “phân giải văn hóa” Một loạt các điều chỉnh phát sinh gồm việc có
Trang 23được sự độc lập đáng kể về văn hóa (tính đa nguyên được cân bằng hóa) hayđiển hình hơn, là đồng hóa của nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúc mạnhhơn và (dù ít khi xảy ra) nhờ sự hỗn dung văn hóa mà hai văn hóa có thể trao đổi
đủ các yếu tố để sau đó tạo ra một văn hóa riêng
Vì tiếp biến văn hóa liên quan tới sự tương tác hai hoặc nhiều nhóm riêng, sựtương tác xã hội giữa các nhóm này có tác động quan trọng tới kết quả Chẳng hạn,
áp lực xã hội do sự xâm lược gây ra có thể có ảnh hưởng tới việc phá vỡ các cơ chế
mà nhóm bị xâm lược duy trì văn hóa riêng của mình Trong các trường hợp khác,mức độ đóng kín cao có thể bảo tồn một văn hóa yếu về mặt chính trị bất chấp sựchênh lệch bề ngoài có vẻ lớn Hơn nữa, việc giảm khoảng cách văn hóa (tiếp biếnvăn hóa) có thể kèm theo việc giảm khoảng cách xã hội (đồng hóa) một cách tươngứng nếu vì lý do đó nhóm này từ chối chấp nhận sự biến đổi văn hóa của nhóm khác
Do vậy, nghiên cứu tiếp cận theo quan điểm này sẽ cho phép nhận diện quá trình biếnđổi các đặc điểm văn hóa và vai trò của dòng họ trong gia đình tộc người do giao lưu
và tiếp biến văn hóa giữa người Hmông với các tộc người khác
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được hoàn thành chủ yếu dựa trên một số phương pháp chuyênngành của Dân tộc học/Nhân học, trong đó nghiên cứu điền dã được coi là trọngtâm, sử dụng linh hoạt các kỹ năng như quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu cánhân, thảo luận nhóm
Tại các bản người Hmông Trắng ở xã Phỏng Lái, tác giả luận án đã thựchiện nhiều chuyến điền dã, trực tiếp quan sát thực địa, tiếp xúc và phỏng vấnnhững người có liên quan để tìm hiểu, thu thập các thông tin chung về địa bàncũng như xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phương pháp thu thập tưliệu chủ yếu dựa trên phỏng vấn sâu và quan sát tham dự đối với các đối tượngphù hợp liên quan đến từng nội dung nghiên cứu của luận án, nhất là các trưởng
Trang 24họ, thầy cúng, những người có uy tín trong cộng đồng am hiểu về văn hóa tộcngười Hmông nói chung, về dòng họ của người Hmông Trắng nói riêng.
Nguồn tài liệu chính của luận án là nguồn tư liệu thu thập được thông quaquá trình điền dã dân tộc học ở địa bàn cư trú của người Hmông Trắng ở xãPhỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Do đó, đối với từng thành tố vănhoá của người Hmông Trắng, nhất là những vấn đề liên quan đến dòng họ trong
xã hội truyền thống, chúng tôi đã sử dụng phương pháp hồi cố lịch sử thông quaphỏng vấn sâu, đồng thời phân tích tìm ra nguyên nhân biến đổi, đánh giá về vaitrò, ý nghĩa và các chức năng của dòng họ trong thành tố văn hoá đó
Phương pháp chuyên gia cũng được sử dụng để trao đổi, xin ý kiến cácchuyên gia nghiên cứu về văn hóa tộc người, trong đó có tổ chức dòng họ củangười Hmông ở Tây Bắc và tỉnh Sơn La
Bên cạnh đó, luận án còn kế thừa các kết quả nghiên cứu, sử dụng tư liệu vềdòng họ người Hmông của các tác giả Việt Nam và nước ngoài
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Vài nét về người Hmông ở Việt Nam
1.3.1.1 Lịch sử di cư, địa vực cư trú
Hầu hết các chuyên gia nghiên cứu về người Hmông trên thế giới đều chorằng, cách đây hơn 3000 năm, người Hmông đã từng sinh sống ở lưu vực sôngHoàng Hà, Trung Quốc, là một trong những chủ nhân của nhà nước Tam Miêu
và nền văn hóa phát triển khá rực rỡ gắn với văn minh lúa nước Sự bành trướngcủa người Hán từ vùng Trung Nguyên xuống phía nam đã khiến các dân tộc này
bị mất đất nước, đẩy họ phải xa rời quê hương xứ sở, di cư dần về phía nam đểtránh các cuộc tàn sát liên tục của người Hán Người Hmông đã có một thời giandài sống ở những vùng núi của tỉnh Hồ Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên và coi QuýChâu như vùng đất tổ thứ hai của mình Khi nhà Mãn Thanh thống trị Trung
Trang 25Quốc, chế độ Thổ quan được thay bằng Lưu quan, người Hmông không chấpnhận đã liên tục nổi dậy chống lại triều đình Mãn Thanh nhằm tránh họa diệtvong và hy vọng giành lại nhà nước của mình Nhưng kết cục bi thảm của cáccuộc khởi nghĩa càng đẩy người Hmông vào cảnh tha hương ly tán Một bộ phậnngười Hmông tiếp tục di cư về vùng Vân Nam và cuối cùng là vùng núi Bắc ViệtNam, Lào, Myanma và Đông bắc Thái Lan, sống rải rác thành những nhóm lớnnhỏ ở các vùng núi cao thuộc biên giới của 5 nước này Theo tư liệu của các nhàdân tộc học, người Hmông có mặt sớm nhất ở Việt Nam cách đây hơn 300 năm
và đặt chân lên vùng núi Đông Bắc Thái Lan cách đây hơn một trăm năm Quátrình thiên di của dân tộc này vào Việt Nam nói riêng, khu vực Đông Nam Á nóichung thể hiện rõ niềm mong ước to lớn của họ là tìm được mảnh đất lành đểsinh sống
Năm 1975, khi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai kết thúc, một sựkiện vô cùng quan trọng đã diễn ra với cộng đồng người Hmông, bắt đầu từ năm
1974 đến tháng 5 năm 1975 Pa Thét Lào lập chính phủ mới ở Viêng Chăn Cuộc
di tản của Vàng Pao cùng các sỹ quan, binh sĩ người Hmông vào trung tuầntháng 5 năm 1975 từ căn cứ ở Lọng Chẹn sang Thái Lan rồi tới các nước Hoa
Kỳ, Pháp, Australia, Canada, Achentiana, Nam Phi,… đã mở đầu cho cuộc di cưlớn nhất trong lịch sử người Hmông ở Đông Nam Á trong thế kỷ XX Từ đây bắtđầu hình thành nên các cộng đồng người Hmông ở nhiều quốc gia với tên gọi:Hmông Việt Nam, Hmông Trung Quốc, Hmông Thái Lan, Hmông Lào, Hmông
Mỹ, Hmông Canada, Hmông Pháp, Hmông Australia,… đã tạo nên cộng đồngngười Hmông sinh sống phân tán tại 15 nước trên thế giới như hiện nay [96]
Người Hmông di cư từ phía Bắc vào Việt Nam khá muộn so với nhiều dântộc khác, qua nhiều đợt quy mô lớn nhỏ khác nhau Giai đoạn sớm nhất được bắtđầu cách đây khoảng 350 năm, đó là nhóm đầu tiên từ Quý Châu xuống Vân
Trang 26Nam (Trung Quốc) rồi đến vùng đất thuộc Mèo Vạc, Đồng Văn của tỉnh HàGiang (Việt Nam) hiện nay Giai đoạn thứ hai cách đây trên 200 năm, đây là thời
kỳ người Hmông di cư đến đông nhất, theo hai hướng chính Một hướng tiếp tụcvào cao nguyên Đồng Văn rồi đi sang Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc Mê, Xín Mần,Hoàng Su Phì (Hà Giang) Một hướng vào vùng đất Xi Ma Cai và MườngKhương rồi xuống Văn Bàn (Lào Cai), Mù Căng Chải, Trạm Tấu (Yên Bái),sang Sa Pa (Lào Cai), Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (Lai Châu),… Giai đoạnthứ ba cách đây chừng 150 năm, người Hmông tiếp tục vào Việt Nam theo cácđường Phong Thổ (Lai Châu), Xi Ma Cai và Mường Khương (Lào Cai) Từ đây
họ đi sâu vào vùng Tây Bắc, đến Tủa Chùa, Tuần Giáo (Lai Châu), Thuận Châu,Sông Mã (Sơn La) Một bộ phận từ Mù Cang Chải sang Bắc Yên, Phù Yên rồixuống vùng núi Mộc Châu (Sơn La) và điểm dừng cuối cùng là vùng núi TâyThanh Hóa Cũng trong thời gian này, một nhóm Hmông ở Xiêng Khoảng (Lào)
di cư đến vùng núi Tây Nghệ An và cư trú tập trung tại huyện Kỳ Sơn
Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hmông
ở nước ta có 1.095.000 người Họ cư trú trên một địa bàn rộng lớn thuộc vùngnúi cao của các tỉnh: Hà Giang, Lai Châu (nay là Điện Biên và Lai Châu), LàoCai, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Lạng Sơn, Tuyên Quang, ThanhHóa, Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Cạn,… Một số tỉnh có người Hmông sinhsống đông nhất là Hà Giang: hơn 200.000 người; Lào Cai hơn 110.000 người;Sơn La gần 100.000 người; Lai Châu khoảng 140.000 người, Dựa trên nhiềuyếu tố, có thể phân địa vực cư trú của người Hmông thành hai vùng lớn: Vùngbiên giới Việt - Trung, tính từ phía Bắc tỉnh Cao Bằng sang đến phía Bắc tỉnhLai Châu Đây chủ yếu là khu vực núi đá, cây cối thưa thớt, rải rác có nhữngmảnh rừng già; đất canh tác ít, thường thiếu nước uống và củi đun trong khi mật
độ người Hmông ở khu vực này khá cao, khoảng 70-90 người/km Hai là vùng
Trang 27dải ven biên giới Việt - Lào, kéo dài từ phía Tây tỉnh Lai Châu đến phía Tây tỉnhNghệ An Khu vực này chủ yếu là vùng cao núi đất, thảm thực vật phong phú, cónhiều rừng rậm và rừng già, đất canh tác khá nhiều; mật độ người Hmông cư trúkhá thấp, khoảng 30-40 người/km2 Như vậy, địa vực cư trú của người Hmônghầu hết là vùng địa hình bị chia cắt mạnh, núi non hiểm trở, giao thông khó khăn
và đều nằm trong vùng địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốcphòng, giàu tiềm năng khoáng sản, lâm thổ sản của đất nước
1.3.1.2 Tộc danh và một số đặc điểm về văn hoá, dân số
Như đã đề cập, người Hmông ở Việt Nam có các nhóm chính như Hmông
Trắng (Hmôngz Đơưz), Hmông Hoa (Hmôngz Lênhx), Hmông Đen (Hmôngz
Đuz) và Hmông Xanh (Hmôngz Njuôz) Sự phân biệt giữa các nhóm Hmông chủ
yếu dựa vào sự khác biệt về trang phục, ngôn ngữ và các nghi lễ trong dòng họ
Phụ nữ Hmông Trắng ở Việt Nam mặc váy sợi lanh để mộc màu trắng,không thêu hoa văn; áo xẻ ngực có yếm, thường thêu thêm mảnh vải màu ở giữacánh tay áo Váy phụ nữ Hmông Hoa nhuộm màu chàm, có in hoa văn bằng sápong hoặc thêu hoa văn bằng chỉ màu và vải màu ở phần gấu váy Ở một số vùng,váy áo phụ nữ Hmông Hoa rất sặc sỡ bởi màu sắc của các hoa văn đều lấy gam
đỏ là chủ đạo Áo của phụ nữ Hmông Hoa thường để cổ bẻ hoặc xẻ nách Phụ nữHmông Đen thường mặc trang phục màu đen - trắng Một số vùng họ mặc váy
và thường để váy mang màu chàm đen ở nửa trên, nửa dưới để trắng hoàn toàn
Áo của phụ nữ Hmông Đen là loại áo xẻ nách, ống tay áo có viền nhiều mảnh vảimàu sáng trên nền đen Phụ nữ Hmông Xanh cũng mặc váy bằng vải lanh nhưngmang màu chàm hoặc màu xanh hoàn toàn; một số trường hợp có thêu hoa văn ởgấu váy Áo của họ cũng thường là loại áo xẻ ngực
Về ngôn ngữ, sự khác nhau trong từ vị cơ bản của 4 nhóm Hmông nàykhông lớn Khi so sánh 2.500 từ vựng giữa nhóm Hmông Hoa và ba nhóm còn
Trang 28lại cho thấy, sự khác biệt lớn nhất với nhóm Hmông Xanh là 21,3% và hai nhómcòn lại khoảng 4% - 7% [8, tr.29 ] Có thể khẳng định, sự khác nhau về trangphục và một phần ngôn ngữ là yếu tố phân định các nhóm Hmông Song, sựkhác nhau ấy không hề ảnh hưởng tới tính thống nhất từ văn hóa mưu sinh, vănhóa ứng xử đến văn hóa tâm linh của dân tộc này Thậm chí, ngay trong địa vực
cư trú, họ cũng không có sự phân biệt rõ rệt ranh giới giữa các nhóm Hmông màthường sống xen kẽ trong từng vùng, đôi khi trong một làng có vài ba nhómHmông cùng sinh sống Tuy nhiên, về tổng thể người Hmông Trắng cư trú chủyếu ở cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), một phần các huyện Bắc Hà, MườngKhương (Lào Cai), Trạm Tấu (Yên Bái), Thuận Châu, Yên Châu (Sơn La) vàtỉnh Cao Bằng Người Hmông Hoa sống chủ yếu ở Mù Căng Chải (Yên Bái),Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang), MộcChâu (Sơn La), Điện Biên, Tủa Chùa (Lai Châu) Người Hmông Đen sống tậptrung ở Phong thổ, Tủa Chùa (Lai Châu) Người Hmông Xanh chỉ có một nhómnhỏ cư trú tại Tủa Chùa (Lai Châu), Văn Bàn (Lào Cai), Quản Bạ (Hà Giang)
Do có sự cư trú đan xen giữa các nhóm Hmông, việc vay mượn mô típ trangphục của nhau là điều không tránh khỏi Bởi vậy, ở một số nơi, phụ nữ Hmôngtrong vùng có cách ăn mặc giống nhau mặc dù họ thuộc các nhóm Hmông khácnhau Thậm chí, các nhóm Hmông có dân số ít còn chịu ảnh hưởng cách phát âm
từ vị của nhóm Hmông chiếm đa số trong vùng đó
Tốc độ tăng trưởng dân số của người Hmông rất cao, thậm chí cao nhấttrong số 54 dân tộc trong cả nước Theo Tổng điều tra dân số năm 1960, ngườiHmông có 219.514 người, đến năm 1989 có 558.053 người Trong giai đoạn
1960 - 1974 tốc độ tăng bình quân mỗi năm dân số dân tộc Hmông là 4,21%,giai đoạn 1974 - 1989 là 3,57% Địa bàn cư trú của người Hmông từ 400 xã năm
1960 đã tăng lên hơn 800 xã năm 1989 Ngoài nguyên nhân tăng dân số từ luồng
Trang 29di cư từ biên giới phía Bắc vào các tỉnh Tây Bắc và bắc Trung Bộ, tỷ suất sinhthô của người Hmông cũng luôn ở tỷ lệ cao so với các dân tộc khác [8, tr.37].Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1999, người Hmông ở nước ta có787.604 người, khu vực cư trú đã mở rộng thêm ở một số tỉnh thuộc Tây
Nguyên Đến năm 2009, dân số người Hmông là 1.095.000 người, có mặt ở 18
tỉnh So sánh giữa hai kỳ Tổng điều tra dân số cho thấy, sự biến động dân số củangười Hmông khá lớn, đặc biệt là biến động cơ học Một số tỉnh có tỷ lệ dân sốHmông tăng nhanh như Đắk Nông, Sơn La, Điện Biên,…
Bảng 1: Dân số các tỉnh có nhiều người Hmông cư trú
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng Điều tra dân số và Nhà ở năm 1999 và 2009
Đối với tỉnh Sơn La, địa bàn cư trú của người Hmông tập trung ở các
Trang 30huyện: Sốp Cộp, Thuận Châu, Bắc Yên, Phù Yên, Sông Mã.
Bảng 2: Dân số Hmông tỉnh Sơn La
3 triệu đồng/hộ/năm Trong khi đó, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Hmông chiếmtới 87%, có những xã tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 90% Đây là một thực tế, bởi lẽkinh tế vùng núi cao nơi đồng bào Hmông sinh sống hiện kém phát triển và gặpkhó khăn nhất của nước ta
Trang 31Nhà ở của người Hmông hiện nay chưa được thống kê một cách đầy đủ,nhưng thực tế cho thấy có khoảng 30% số nhà ở có cột gỗ kê lợp bằng ngói vàtấm lợp proximăng, còn lại đa số là nhà tranh vách nứa, cột gỗ chôn xuống đấtkhông chắc chắn.
Đồng bào Hmông ở những nơi khó khăn, có thu nhập thấp thường thiếu ăn
ít nhất từ 1 -2 tháng/ năm, thậm chí còn thiếu cả các đồ dùng sinh hoạt thiết yếunhư: bát, đĩa, xoong nồi, quần áo, chăn màn… Về mùa đông nhiều người không có
áo ấm để mặc, mỗi khi khách đến thăm hoặc cán bộ đến công tác nghỉ lại qua đêm,gia đình phải chịu rét để dành chăn màn của gia đình cho khách Do đó thức ăn, đồuống của đồng bào thường đơn giản là cơm, canh nhạt, ít khi có bữa cơm nhiềuchất đạm để cải thiện Về lương thực hàng ngày, đồng bào chủ yếu dùng loại gạo
đỏ cứng, nhiều nơi chỉ đồ bột ngô để ăn (Mèn mén) Tình trạng đói nghèo của
đồng bào Hmông vẫn là một vấn đề nan giải cho các nhà hoạch định chính sách.Với những khó khăn, vất vả còn tồn tại trong cuộc sống của đồng bàoHmông như trên, có thể thấy đến nay một bộ phân đồng bào Hmông cuộc sốngvẫn bấp bênh, thiếu ổn định Đó là một trong những nguyên nhân tại sao cho đếnhiện nay vẫn có nhiều người dân di cư từ vùng cao Bắc Yên, Mường La, ThuậnChâu đến Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, là các vùng có điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội thuận lợi hơn
1.3.2 Vài nét về người Hmông ở xã Phóng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
1.3.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Người Hmông ở xã Phỏng Lái, chủ yếu là người Hmông Trắng cư trú tại 8bản: bản Mô Cổng, Nậm Giắt, Phiêng Luông, Mó Nước, Pá Chập, Pha Lao, HuổiGiếng, Nà Ngụa Cách huyện Thuận Châu 15 km và cách tỉnh Sơn La 45 kmtheo đường quốc lộ 6 về Hà Nội
Trang 32Các bản người Hmông ở Phỏng Lái có địa hình tương đối thấp, ít dốc, độcao trung bình khoảng 600m so với mặt biển và nằm trong khí hậu nhiệt đới ẩmchịu ảnh hưởng của vùng núi cao Khí hậu có sương muối vào tháng giêng, thánghai và sương mù vào mùa hè Một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từtháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Mùakhô thường rét, ít mưa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,10C, thấp nhất là 00C
- 80C, cao nhất là 260C Lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 5 tới tháng 8,trong đó tháng 7 có lượng mưa nhiều nhất Đây là quãng thời gian có khả nănggây xói mòn mạnh Tháng giêng là tháng mưa ít nhất Trong năm có hai loại giómùa chính là gió Tây - Tây Bắc và Bắc - Đông Bắc, chịu ảnh hưởng của gió Lào,mang tính chất khô hạn của gió mùa lục địa Khí hậu tương đối khô, độ ẩm trungbình 77 - 80%
Đất đai và thảm thực vật rất phong phú, có nhiều cây quý như: Pơ mu,thông dầu, nghiến, lát, tán, quế Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở đây rất thíchhợp cho việc trồng một số cây công nghiệp, cây ăn quả và các cây dược liệu như:xuyên khung, huyền sâm, đường quy, y dĩ, gừng,…
1.3.2.2 Đặc điểm xã hội
Xã Phỏng Lái có 3 dân tộc cùng sinh sống trong 19 bản (Kinh 4 bản, Thái 8bản, Hmông 8 bản) Theo số liệu điều tra năm 2003, xã Phỏng Lái có 5098 người(918 hộ); đến năm 2009 có 6.690 người, trong đó 1.567 khẩu là người Hmông
Bảng 3: Tình hình dân số và dòng họ của người Hmông ở xã Phỏng Lái
STT Tên bản Số hộ Số khẩu Số dòng
họ Tên các dòng họ
Thào, Sùng, Vừ, Lầu, Mùa, Giàng
2 Bản Nặm Giắt 86 435 5 Thào, Sùng, Ly, Vừ, Lầu
Trang 333 Bản Mó Nước 34 170
5
Bả Phiêng
7 Bản Huổi Giếng 28 132 5 Lầu, Sùng, Mùa, Vừ, Ly
Nguồn: Số liệu thực địa tại xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La,
năm 2007 – 2008 của tác giả
Số dân đông và tăng nhanh là do các yếu tố văn hoá tộc người vẫn đóng vai tròchi phối trong việc quyết định sinh nở của người Hmông Tâm lý của đồng bào luônthích sinh con trai hơn con gái và càng có nhiều con trai càng tốt, bởi con trai đóngvai trò quan trọng không thể thay thế được trong việc nuôi dưỡng cha mẹ khi giàyếu, làm các công việc nặng nhọc và là người quyết định mọi việc hệ trọng tronggia đình Đặc biệt, con trai là người chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, thực hành cáctín ngưỡng phổ biến trong gia đình
Tập quán kết hôn sớm cũng tác động đáng kể đến số con trong gia đình.Kết quả phỏng vấn cho thấy, tuổi kết hôn lần đầu của người Hmông ở đây khásớm nhằm mục đích tăng thêm người, bởi nông nghiệp nương rẫy luôn đòi hỏiphải có nhiều sức lao động Kết hôn sớm làm tăng khả năng sinh con sớm vàtăng quỹ thời gian có khả năng sinh con trong đời sống vợ chồng, dẫn đến mứcsinh ở người Hmông luôn cao Tuy nhiên, đến năm 2000, tỷ lệ sinh thô củangười Hmông ở bản Mô Cổng giảm đi rõ rệt ở mức 2,31% Tỷ lệ tăng dân sốgiảm mạnh nhờ các yếu tố tác động từ chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình
đã làm chuyển biến một phần nhận thức của người dân Họ nhận thấy rằng, sinhnhiều con khiến cuộc sống vất vả hơn và con cái của họ không được quan tâmchăm sóc như những gia đình ít con Nếu gia đình nào không có con trai để nối
Trang 34dõi có thể nhận con nuôi Hiện nay một số hộ trong bản nhất là các gia đình trẻchỉ dừng lại ở mức sinh từ 2-3 con.
1.3.2.3 Đặc điểm kinh tế
Nguồn sống chính của người Hmông ở Phỏng Lái chủ yếu vẫn là nươngrẫy, mặc dù có một số ít ruộng nước Căn cứ vào quá trình sử dụng có thể phânchia nương làm hai loại: nương định canh và nương du canh Trên nương, ngoàingô và lúa cạn là hai loại cây trồng chính còn có sắn, khoai, rau, lạc, đậu, vừng,
y dĩ,… Bên cạnh đó, các loại cây công nghiệp và cây ăn quả cũng khá phát triển.Đặc biệt, từ năm 2003 khi chuyển đổi cây dâu tằm sang trồng ngô lai và đậutương đã thay đổi đáng kể đời sống kinh tế của người dân Thu nhập từ ngô lai
và đậu tương đã làm cho cuộc sống của người Hmông nơi đây khá lên nhanhchóng Ngoài đáp ứng lương thực đủ cho sinh hoạt, họ còn tích cóp để mua sắmcác trang thiết bị vật dụng thiết yếu trong gia đình như ti vi, xe máy,
Chăn nuôi cũng là ngành kinh tế bổ trợ quan trọng trong cơ cấu nôngnghiệp của người Hmông nơi đây Các loại gia súc, gia cầm chính thường đượccác gia đình nuôi là trâu, ngựa, lợn, gà,… Mục đích chính của chăn nuôi là nhằmđáp ứng các nhu cầu về sức kéo, vận chuyển, để thờ cúng, lễ tết, ma chay, haytrong các hoạt động quan trọng khác (như cưới hỏi, tang ma, làm nhà mới ).Ngoài ra, đàn gia súc còn là một tiêu chuẩn đánh giá mức độ giàu nghèo, nên cácgia đình người Hmông đều mong muốn có đàn gia súc, gia cầm đông đúc Trướckia, chăn nuôi của người Hmông chủ yếu là thả rông, hiện nay đã được chăn thảtrên những khu vực riêng của bản Hầu hết các hộ đều đào ao thả cá và một số hộnuôi ong lấy mật
Kinh tế tự nhiên (săn bắn, đánh cá, hái lượm) cũng có vị trí khá quan trọngtrong đời sống thường nhật của người Hmông Họ thường thu hái củ gấu, đẳngsâm, hà thủ ô, hoàng liên, cánh kiến, chè…, là những lâm sản có giá trị hàng hóa
Trang 35cao để trao đổi; ngoài ra còn tìm kiếm các loại cây, củ, quả… có giá trị dinhdưỡng để làm phong phú thêm chất lượng bữa ăn hàng ngày Ngoài mục đích tìmkiếm thêm nguồn thực phẩm, người Hmông đi săn còn nhằm mục đích bảo vệmùa màng đối với các loại muông thú chủ yếu như: lợn rừng, cầy, chồn, khỉ, gàrừng… Vũ khí chính súng kíp, nỏ và các loại bẫy do người Hmông tự tạo.
Sản xuất thủ công nghiệp gồm các nghề: đan lát mây tre, làm đồ gỗ, làmgiấy bản, làm đồ trang sức, rèn đúc nông cụ, vũ khí, làm nhang, nấu rượu… Ởbản Mô Cổng, chúng tôi quan sát thấy một số thợ chuyên nghiệp trong các nghề:rèn đúc, làm bạc, làm gạch Sản phẩm của thủ công nghiệp chủ yếu nhằm thỏamãn những nhu cầu của sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt hàng ngàycủa gia đình và dân bản
Năm 2003, các bản người Hmông xã Phỏng Lái đã có điện lưới quốc gia
Từ khi có điện, phần lớn các hộ gia đình trong bản đã sử dụng ti vi Một số nhà
có chảo thu truyền hình Cuộc sống tinh thần của các hộ gia đình từ khi có điện
đã ngày được cải thiện và thay đổi hơn trước rất nhiều
Qua khảo sát tại bản Mô Cổng có sự tham gia đại diện của những ngườinông dân và các tổ chức quần chúng như Hội phụ nữ, Thanh niên, Người caotuổi… đã tiến hành phân loại mức sống của các hộ trong bản cho thấy: hộ kháchiếm ½, đây là những hộ biết tính toán làm ăn, có kinh nghiệm sản xuất tốt,chăn nuôi nhiều trâu bò (bò có từ 5 - 6 con, trâu 2-3 con trở lên), có xe máy, cótivi, có đài; các hộ có điều kiện kinh tế trung bình chiếm đa phần còn lại, lànhững gia đình chịu khó làm ăn nhưng tính toán còn hạn chế, có kinh nghiệmsản xuất, có chăn nuôi nhưng số lượng trâu, bò ít hơn các hộ khá; còn những hộnghèo đói có tỷ lệ rất thấp, là những gia đình thiếu kinh nghiệm sản xuất hoặclười lao động, không biết tính toán làm ăn nên hàng tháng chỉ đủ gạo ăn, điềukiện sinh hoạt tạm bợ nhà chỉ là lợp mái gianh, không có trâu bò để phục vụ sản
Trang 36xuất nông nghiệp.
- Về thu nhập: Thu nhập chính của người Hmông chủ yếu là trồng lúa, ngô
từ nương rẫy và chăn nuôi lợn gà, phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình.Ngoài ra, đồng bào còn có nguồn thu nhập thêm từ các sản phẩm tiểu thủ côngnghiệp như dệt vải, đan lát, rèn, đóng đồ gỗ, làm đồ trang sức bán lấy tiền
Do tập quán gieo trồng và tiêu dùng, nên đồng bào Hmông trồng rất nhiềuloại cây khác nhau, nhưng chủ yếu chỉ để phục vụ tiêu dùng hàng ngày của giađình chứ chưa trở thành hàng hoá Những người chịu khó làm ăn, thu được nhiềuthóc, nhiều ngô ăn không hết để bị mọt, đến năm mất mùa lại không đủ lươngthực để ăn, sản xuất nông nghiệp thì vô cùng vất vả (3 năm được mùa mới đủ ăn,một năm mất mùa thì 3 năm đói) Trên vùng cao, trừ lúa ngô thu về cất giữ trongnhà, trong lán ở ngoài nương thì cất giữ bầu bí, sắn, khoai, gừng… có khi chỉ đểkhông, hỏng rồi bỏ đi một cách lãng phí Nếu các loại nông sản người Hmông cóthị trường để tiêu thụ tăng thu nhập, tích luỹ cho những năm sau thì đời sống sẽbớt khó khăn hơn
- Y tế và giáo dục: Mỗi bản trong xã có 01 cán bộ y tế là người của bản
Hmông, nhưng chủ yếu khám và chữa các bệnh thông thường nên khi có người
ốm gia đình vẫn mời thầy cúng thực hiện các nghi thức chữa bệnh hoặc dùng cácbài thuốc tự kiếm trong rừng Những trường hợp bệnh nặng mới đưa lên trạm y
tế của xã cách bản 7 km, hoặc tuyến trên
Ngoài các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông chung cho toàn xã,tại bản Mô Cổng còn có 6 lớp với 6 phòng học (từ mẫu giáo đến lớp 5) Số họcsinh tại bản là 135 em, trong đó lớp 1 có 26 em, lớp 2 có 35 em, lớp 3 có 25 em,lớp 4 có 36 em, lớp 5 có 29 em và lớp mẫu giáo có 48 em Cấp II có 38 học sinh,trong đó nam 6, nữ 32 Từ lớp 9 trở lên nếu muốn học tiếp các em phải đếntrường nội trú tỉnh
Trang 371.3.2.4 Đặc điểm văn hoá tinh thần
Người Hmông ở địa bàn nghiên cứu vẫn tổ chức và duy trì các phong tụctập quán, các nghi lễ, tín ngưỡng mang đậm nét văn hóa tinh thần và văn hóaứng xử của người Hmông như nghi lễ trong sinh đẻ, trong đám cưới, trong tang
ma và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
- Tập quán sinh đẻ: Người Hmông có tập quán sinh con ở ngay buồng ngủ
của sản phụ Khi trở dạ, sản phụ ngồi ở dưới đất, phía cuối giường và tay vịn vàothành giường Người đỡ thường là mẹ chồng hoặc chị, em gái chồng Hoặc cóthể nhờ bà đỡ khác trong làng, hoặc chính người chồng đỡ cho vợ Hiện nay, sảnphụ vẫn sinh con tại nhà, chỉ những trường hợp khó đẻ mới đưa đến trạm xá của
xã
Để cắt cuống rốn cho trẻ, người Hmông dùng dao hoặc kéo Trước khi cắt,người ta xe chỉ, buộc cách rốn chừng hai đốt ngón tay và cắt cách chỗ buộckhoảng nửa gang tay Sau đó trẻ được tắm bằng nước đun sôi để nguội, vàthường do chính người bố tắm cho
Nhau thai được bọc trong tờ giấy, nếu là nhau của bé trai thì được chôn ởcột ma, của bé gái thì chôn dưới chân giường bố mẹ nằm
Tháng đầu sau khi sinh, sản phụ thường ăn cơm với thịt gà hoặc thịt lợnnạc Để hồi phục sức khoẻ và có sữa cho con bú, sản phụ còn ăn món thịt gà nấuvới nghệ đen, gạo nếp Nếu bị mất sữa, sản phụ ăn canh thịt gà nấu với quả đu đủxanh cùng với cây cỏ sữa Người Hmông kiêng không để người lạ vào nhà trongnơi sản phụ nằm vòng một tháng, bởi quan niệm người lạ sẽ lấy mất sữa của trẻ.Nếu ai trót vào và có mang đồ vật đi cùng thì phải để lại, một tháng sau mớiđược lấy về Để báo hiệu nhà có người ở cữ, gia đình cắm các cành lá xanh ở cáccửa ra vào
Những người không cùng ma (kể cả con gái đã đi lấy chồng), con gái chưa
Trang 38chồng mà có thai không được phép đẻ trong nhà Nếu vi phạm thì ma nhà sẽ tứcgiận trừng phạt gia đình Do đó, những người rơi vào trường hợp trên khi chuẩn
bị sinh nở gia đình phải làm lán tạm ở ngoài vườn cho sản phụ đẻ, sau một thángmới được vào nhà
- Một số phong tục trong hôn nhân: Hôn nhân là sự liên minh mang tính
chất giới tính giữa nam và nữ được hợp thức hoá bởi những quy định của xã hội,trên cơ sở đó nảy sinh những quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng trong quan
hệ với nhau và với con cháu Cho đến nay, chế độ hôn nhân của người Hmông ở
xã Phỏng Lái biểu hiện khá sâu sắc những đặc điểm truyền thống tộc người
Nội hôn tộc người và ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc cơ bản trong chế độhôn nhân của người Hmông ở đây Mặc dù đã từ lâu người Hmông sinh sống gầnvới người Thái, người Kinh trên địa bàn xã Phỏng Lái và giữa họ có những mốiquan hệ nhất định, nhưng hầu như không có trường hợp người Hmông kết hônvới người khác dân tộc Có lẽ, cũng chính đặc trưng này giúp ta dễ dàng phânbiệt người Hmông với các tộc người khác
Người Hmông quan niệm rằng, việc dựng vợ gả chồng trước hết là để concái nối dõi giống nòi, đồng thời nâng cao uy tín và thế lực cho dòng họ, để tăngthêm lực lượng lao động cho gia đình và có chỗ nương tựa lúc tuổi già Nhìnchung, nam nữ Hmông kết hôn tương đối sớm Xưa kia không hiếm trường hợpcon trai 12-13 tuổi đã lập gia đình và người vợ thường nhiều hơn chồng 5-7 tuổi.Hiện nay, phổ biến con trai xây dựng gia đình ở độ tuổi 17-18 còn con gái thườnglấy chồng ở độ tuổi 15-16
Nam nữ thanh niên Hmông chủ động tìm hiểu và lựa chọn người bạn đờitương lai của mình Điểm hẹn hò, gặp gỡ của các bạn trẻ là những phiên chợ,những dịp lễ hội, ngày tết,… Vào các dịp này, thông qua các hình thức sinh hoạtvăn hoá tinh thần như ném còn, thổi khèn, sáo, hát đối đáp, các đôi trai gái nếu
Trang 39ưng nhau sẽ tách ra khỏi tốp bạn bè và đi chơi riêng Trong quá trình tìm hiểu,nếu đôi trai gái yêu nhau sẽ trao vật kỷ niệm cho nhau như cặp tóc, nhẫn, gương,sợi chỉ,… Trong 3 ngày, nếu vật kỷ niệm không bị trả lại thì coi như người congái đồng ý lấy chàng trai đã trao kỷ vật hẹn ước với mình làm chồng Vật kỷniệm cũng là bằng chứng, là cơ sở để bên nhà trai có thể sang bắt cô gái về làm
vợ, để cãi lý khi gặp phải sự phản đối của chính cô gái và gia đình, dòng họ côta
Khi đôi trai gái đã yêu nhau và được sự đồng ý của cha mẹ, hai bên sẽtuần tự thực hiện các nghi lễ sau:
Lễ nhập ma diễn ra vào ngày chàng trai dẫn hay “bắt” người con gái vềnhà mình Về tới nhà, họ đứng trước cửa chính, chàng trai thông báo cho bố mẹđang ở trong nhà biết rằng hôm nay anh ta đã đưa người yêu về nhà Lúc này bố(hoặc một người trong họ) bắt một con gà trống và lấy một que củi đang cháy đểlàm lễ nhập ma cho cô gái Người này ở trong cửa nhà cầm con gà và que củiđứng đối diện với đôi trai gái và làm động tác vừa khua con gà với que củi trênđầu hai người vừa nói: hôm nay gia đình có cô dâu đến nhà, làm ma gia đình rồikhông được đi đâu nữa Đã thành vợ chồng để cùng nhau sinh sống, làm ăn phátđạt và gặp nhiều may mắn Sau đó, nhà trai cử một đại diện trong dòng họ(thường là bác hoặc chú chàng trai) sang nhà gái để báo tin cho bố mẹ cô gái biếtrằng: “Con của hai gia đình đã yêu nhau và đồng ý đính hôn với nhau Cô gái đã
về nhà trai rồi, ông bà yên tâm và đừng đi tìm con nữa"
Sau 3 ngày nhà trai tiến hành tổ chức lễ cưới Ngày hôm đó tại nhà trai,trước khi sang nhà gái tổ chức lễ cưới, bố (hoặc một người trong dòng họ) lấyhai con gà, một quả trứng, một bát gạo có thắp 5 nén hương để vào mâm đặttrước cửa chính làm vía cho đôi trai gái Gia đình thịt con lợn khoảng 20-30kg đểchuẩn bị mâm cơm cho ông mối Thành phần có mặt trong bữa cơm hôm đó nhất
Trang 40thiết phải mời trưởng họ hoặc đại diện trong họ và hai ông mối được uỷ quyềnthay mặt gia đình chỉ đạo giải quyết mọi việc liên quan đến đám cưới ở nhà traicũng như khi đến gia đình nhà gái.
Khi chuẩn bị xong xuôi mọi thứ cần thiết, gia đình nhà trai cử đoàn đạidiện sang nhà gái tổ chức lễ cưới Thành phần đoàn gồm: hai ông mối, chú rể, côdâu và một phù rể là anh em con chú con bác làm nhiệm vụ đỡ rượu cho chú rểkhi cần thiết Ngoài ra, còn có một số người của nhà trai gánh lễ vật và đồ cưới.Khi sang nhà gái, ông mối luôn cắp ở nách một chiếc ô đen, đầu ô hướng về phíatrước, cán ô buộc một mảnh vải trắng và hướng về phía sau Khi tới nhà gái,chiếc ô sẽ được treo trên vách tường phía trái “xử ca” và được chuyển sang phíaphải “xử ca” khi uống đến chén rượu ngọt
Trong ngày cưới, tất cả đoàn người bên nhà trai ai nấy đều tham gia vàocông việc đám cưới theo sự phân công từ trước của hai ông mối Tại gian giữanhà gái, người ta đặt sẵn một cái mâm để hai ông mối nhà trai và hai ông mốinhà gái giao và nhận số tiền thách cưới Đại diện nhà gái nhận số tiền và lễ vật
đó giao lại cho bố mẹ cô gái
Đám cưới tổ chức ở nhà gái thường diễn ra một ngày Trong thời gian nàychú rể luôn nhận được sự đón tiếp chu đáo và được anh em họ hàng nhà gái chúcrượu liên tục Riêng cô dâu không được phép tiếp xúc với chú rể mà phải ở trongbuồng
Sáng ngày hôm sau, để chuẩn bị đưa dâu về nhà chồng, gia đình nhà gái tổchức nghi lễ uống rượu và cho của hồi môn Theo tập quán, dù hoàn cảnh giađình giàu hay nghèo, bố mẹ nhất định phải sắm cho con gái một vòng cổ bằngbạc, một bộ váy, hai con gà mái, một con lợn cái đã đẻ vài lứa Của hồi môn còngồm những tài sản mà cô gái tự làm ra trong thời gian còn ở chung với bố mẹ
Sau khi làm xong các thủ tục tại nhà gái, đoàn nhà trai trở về nhà Lúc đi