khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Nguyễn Văn Chính
2 PGS TS Vương Xuân Tình
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác Nếu có gì gian dối tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 11 tháng 06 năm 2013
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan,đơn vị: Đoàn 871, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Khoa Dân tộchọc, Học viện Khoa học Xã hội; Viện Dân tộc học; Học viện Chính trị, Bộ Quốcphòng; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Nghệ An, Uỷban Dân tộc TW; UBND tỉnh Nghệ An; Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An; UBND huyện
Kỳ Sơn và các cơ quan ban ngành của tỉnh, huyện, xã tại địa bàn nghiên cứu; Banquản lý bản và đồng bào Khơ mú và Hmông ở các bản: Na Nhu, Bình Sơn 1, Sơn
Hà, Trường Sơn thuộc xã Tà Cạ và xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An Đồngthời, tôi đã nhận được sự hướng dẫn khoa học tận tình của tập thể các thầy hướngdẫn, sự giúp đỡ quan trọng về tư liệu của các bậc lão thành tại huyện Kỳ Sơn là cácông Moong Văn Nghệ - người Khơ mú và ông Vừ Chông Pao – người Hmông; sựgiúp đỡ và động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể các thầy hướng dẫn
là PGS TS Nguyễn Văn Chính và PGS TS Vương Xuân Tình Các thầy đã hướngdẫn cho tôi trong suốt quá trình làm luận án, từ gợi mở hướng nghiên cứu, hướngdẫn khoa học, giúp đỡ tài liệu và chỉ dẫn những ý kiến sâu sắc cả về phương pháp
và nội dung nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Đoàn 871, Tổng cục Chính trị; Khoa Dân tộc học,Học viện Khoa học Xã hội; Viện Dân tộc học; Học viện Chính trị và các cơ quan,đơn vị, ban ngành đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Sau nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, các nhà khoa học trongKhoa Dân tộc học; Viện Dân tộc học; các ông Moong Văn Nghệ, Vừ Chông Pao;gia đình và người thân, các đồng chí và các bạn, nhất là đồng bào Khơ mú vàHmông tại hai xã Tà Cạ và Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiệngiúp đỡ và cho tôi nhiều ý kiến bổ ích
Tôi xin trân trọng cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu về định canh định cư 7
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 19
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU: HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 35
2.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.2 Đơn vị hành chính, dân số và dân tộc 36
2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.4 Người Khơ mú và người Hmông ở huyện Kỳ Sơn 42
2.5 Khái quát về các điểm nghiên cứu 45
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3: CHÍNH SÁCH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC HIỆN ĐỊNH CANH ĐỊNH CANH Ở HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN (TỪ NĂM 1968 ĐẾN NAY) 49
3.1 Nông nghiệp nương rẫy ở Việt Nam 49
3.2 Chủ trương, chính sách định canh định cư của Đảng và Nhà nước 51
3.3 Quá trình thực hiện định canh định cư ở huyện Kỳ Sơn, Nghệ An 63
Tiểu kết chương 3 69
Chương 4:ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ Ở NGƯỜI KHƠ MÚ, HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 70
4.1 Làng định cư 70
Trang 64.3 Giáo dục 87
4.4 Y tế 89
4.5 An sinh xã hội và quốc phòng an ninh 90
Tiểu kết chương 4 94
Chương 5: ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ Ở NGƯỜI HMÔNG, HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN 96
5.1 Làng định cư 96
5.2 Các hoạt động kinh tế 103
5.3 Giáo dục 113
5.4 Y tế 115
5.5 An sinh xã hội và quốc phòng an ninh 117
Tiểu kết chương 5 120
Chương 6: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 122
6.1 Về hệ thống kinh tế nương rẫy cổ truyền của người Khơ mú và người Hmông 122
6.2 Về mô hình định canh định cư ở người Khơ mú và người Hmông 124
6.3 Về chính sách và thực hành định canh định cư 132
6.4 Vấn đề đói nghèo, biến đổi và thích ứng văn hóa ở người Khơ mú và người Hmông 137
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
PHỤ LỤC 159
Phụ lục 1: Các bảng số liệu liên quan đến nội dung luận án 159
Phụ lục 2:Bảng hỏi điều tra xã hội học tại địa bàn nghiên cứu 174
Phụ lục 3: Một số hình ảnh về cuộc sống định canh định cư của người Khơ mú và Hmông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An 193
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7- ĐCĐC & KTM Định canh định cư & Kinh tế mới
- FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
- HĐND Hội đồng nhân dân
- HTX Hợp tác xã
- KTM Kinh tế mới
- Nxb Nhà xuất bản
- NQ Nghị quyết
- NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- QĐND Quân đội nhân dân
- TW Trung ương
- UBND Uỷ ban nhân dân
- UNDP United Nations Development Program
Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc
- UNEP United Nations Environment Program
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
- UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
- UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change
Công ước Khung Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích nương rẫy gieo trồng một số cây hàng năm ở
Bảng 2.2: Sản lượng một số cây trồng hàng năm ở huyện Kỳ Sơn 159
Bảng 2.3: Kết quả chăn nuôi gia súc, gia cầm của huyện Kỳ Sơn giai 160
Trang 8đoạn 2002 - 2010
Bảng 3.1: Các giai đoạn thực hiện chính sách ĐCĐC ở Việt Nam
Bảng 3.2: Số hộ đồng bào các dân tộc tham gia HTX và tập đoàn sản
xuất ở huyện Kỳ Sơn (1962)
Bảng 3.3: Tình hình thực hiện ĐCĐC và tham gia HTX ở các dân tộc
huyện Kỳ Sơn (1976)
Bảng 4.1: Loại hình gia đình của người Khơ mú ở xã Tà Cạ hiện nay
Bảng 4.2: Sự thay đổi qui mô hộ gia đình trước và sau ĐCĐC ở hai
bản người Khơ mú, xã Tà Cạ
Bảng 4.3: Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Khơ mú ở huyện
Kỳ Sơn hiện nay
Bảng 4.4: Diện tích và sản lượng lúa nước của người Khơ mú tại hai
bản Na Nhu và Bình Sơn 1
Bảng 4.5: So sánh năng suất và sản lượng lúa rẫy của người Khơ mú ở
hai bản Na Nhu và Bình Sơn 1 trước và sau ĐCĐC
Bảng 4.6: So sánh diện tích nương rẫy trước ĐCĐC và hiện nay ở hai
bản Khơ mú, xã Tà Cạ
Bảng 4.7: Tình hình chăn nuôi ở hai bản người Khơ mú, xã Tà Cạ
Bảng 4.8: Số liệu về vườn nhà ở hai bản người Khơ mú, xã Tà Cạ
Bảng 4.9: Một số sản phẩm hái lượm của người Khơ mú ở Kỳ Sơn
Bảng 4.12: Phương thức ứng phó với tình trạng thiếu lương thực tại
hai bản người Khơ mú, xã Tà Cạ trước và sau định cư
Bảng 5.1: Loại hình gia đình của người Hmông tại hai bản Sơn Hà và
Trường Sơn hiện nay
160163
163164164
Trang 9Bảng 5.2: Sự thay đổi qui mô hộ gia đình của người Hmông trước và
sau ĐCĐC ở bản Sơn Hà và Trường Sơn
Bảng 5.3: Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Hmông ở Kỳ Sơn
hiện nay
Bảng 5.4: Nguồn gốc sử dụng đất nương rẫy của người Hmông ở hai
bản Sơn Hà và Trường Sơn
Bảng 5.5: So sánh năng suất và sản lượng lúa rẫy của người Hmông ở
hai bản Sơn Hà và Trường Sơn trước và sau ĐCĐC
Bảng 5.6: So sánh diện tích nương rẫy trước ĐCĐC và hiện nay ở bản
Sơn Hà và bản Trường Sơn
Bảng 5.7: Tình trạng thiếu đất sản xuất của người Hmông ở bản
Sơn Hà và bản Trường Sơn hiện nay
Bảng 5.8: Tình hình chăn nuôi của người Hmông ở hai bản Sơn Hà và
Trường Sơn
Bảng 5.9: Tình hình thiếu lương thực của người Hmông ở bản Sơn Hà
và bản Trường Sơn
Bảng 5.10: Phương thức ứng phó với tình trạng thiếu lương thực của
người Hmông ở Kỳ Sơn trước và sau định cư
169
170170
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Du canh du cư và định canh định cư được coi là hai lối sống phổ biến của cưdân nông nghiệp trên thế giới Du canh du cư thường tồn tại ở các cư dân canh tácnương rẫy miền núi, vùng cao Từ nhiều thập kỷ nay, các nhà nước khắp nơi trênthế giới đang đẩy mạnh thực hiện định canh định cư đối với các nhóm cư dân ducanh và du cư Việc chuyển đổi lối sống du canh sang định canh định cư đã và đang
là mối quan tâm lớn trong chính sách phát triển của hầu hết các quốc gia - nơinhững người dân du canh đang sinh sống Sự thành công của chương trình địnhcanh định cư phụ thuộc chủ yếu vào chính sách và thực hành chính sách của mỗiquốc gia Chương trình định canh định cư mà các chính phủ đang theo đuổi đã tạo
ra những thay đổi lớn trong đời sống xã hội người dân du canh bao gồm cả nhữngrủi ro và thách thức Từ quan điểm của các nhà nước, định canh định cư thườngđược nhìn nhận là một sự can thiệp cần thiết để phát triển các nhóm cư dân du canh
Cũng như nhiều nước từ Nam Mĩ, châu Phi cho đến Đông Nam Á, miền núiViệt Nam đang đứng trước những thách thức khá gay gắt về kinh tế xã hội và môitrường Cho nên, vấn đề định canh định cư các dân tộc du canh được coi là một yêucầu cấp thiết trong chiến lược phát triển không những của Việt Nam mà còn củanhiều quốc gia trên thế giới [64, tr 5]
Vùng miền núi Việt Nam chiếm ¾ lãnh thổ đất liền của quốc gia (không kểhải phận, vùng đặc quyền kinh tế trên biển, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)
là nơi sinh sống tập trung của các dân tộc thiểu số Phần lớn các dân tộc thiểu sốnước ta sống dựa vào canh tác nương rẫy; trong đó, đồng bào Khơ mú và Hmôngđược xem là những đại diện tiêu biểu Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đến nhữngnăm giữa thế kỷ XX, du canh truyền thống ở nước ta bị phá vỡ do sức ép dân số vànhững nguyên nhân khác đã tạo ra khủng hoảng trong nông nghiệp nương rẫy vùngcao với nhiều hậu quả về kinh tế xã hội và môi trường [15], [60] Vì thế, ngay từnhững năm 1960, Đảng và Nhà nước đã sớm đề ra chính sách định canh định cư đối
Trang 11với các dân tộc thiểu số du canh và xem đây là một trong những quyết sách nhằmchấm dứt lối sống du canh, nỗ lực chống lại đói nghèo và phát triển các dân tộc ởmiền núi Chính sách định canh định cư và quá trình thực hành đã can thiệp và tácđộng mạnh mẽ đến văn hóa, xã hội của những tộc người du canh như người Khơ
mú và người Hmông, tạo ra những thay đổi lớn ở miền núi Việt Nam
Định canh định cư là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
ở vùng các dân tộc thiểu số miền núi trong hơn bốn thập kỷ qua Vậy chính sáchđịnh canh định cư đã tác động như thế nào đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội củacác dân tộc ở miền núi? Liệu chính sách định canh định cư có thu được những thànhcông như mong đợi? Các dân tộc du canh đã thích ứng ra sao trong quá trình chuyểnđổi lối sống sang định canh định cư? v.v Đó là những vấn đề nghiên cứu có ý nghĩaquan trọng nhưng chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của giới nghiên cứu
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra yêu cầu phảiđẩy mạnh công cuộc phát triển vùng miền núi dân tộc trong tình hình mới, thực hiệnđịnh canh định cư vững chắc gắn với phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng anninh Để đạt được mục tiêu này, việc tìm hiểu, đánh giá về chính sách định canhđịnh cư và những tác động đến đời sống xã hội của đồng bào vùng cao sẽ góp phầnlàm cơ sở cho những chủ trương, chính sách tiếp theo là hết sức cần thiết
Chính sách và thực hành định canh định cư của Nhà nước là cả một quá trìnhhướng đến mục tiêu thay đổi lối sống và phát triển các dân tộc thiểu số nước ta Bởivậy, nghiên cứu vấn đề định canh định cư ở các dân tộc không những góp phần tìmhiểu quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước mà còn chochúng ta thấy việc giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, nhà nước
và tộc người diễn ra như thế nào ở Việt Nam trong mấy thập kỷ qua cả về lý luận vàthực tiễn Từ đó, thiết thực góp phần làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trìnhchuyển đổi lối sống du canh sang định canh định cư, thực hiện chính sách dân tộc,phát triển bền vững ở miền núi và phát triển bền vững văn hóa các dân tộc thiểu số.Xuất phát từ cơ sở ý nghĩa khoa học và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn đề tài nghiên cứu “Định canh định cư ở người Khơ mú và người Hmông,
huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An” làm luận án tiến sỹ nhân học
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này nhằm 4 mục đích chính sau đây:
- Tìm hiểu và đánh giá về chính sách định canh định cư của Đảng và Nhànước từ năm 1968 đến nay
- Tìm hiểu nội dung thực hiện định canh định cư ở người Khơ mú và ngườiHmông, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
- Đánh giá tác động của chính sách định canh định cư và quá trình thực hiệnđối với văn hóa tộc người trên các lĩnh vực đời sống xã hội theo những mục tiêuchính của chính sách định canh định cư đề ra trong trường hợp người Khơ mú vàngười Hmông; sự giống và khác nhau về biến đổi, thích ứng văn hóa của hai dân tộcvốn có lối sống du canh du cư khác nhau khi chuyển sang định canh định cư
- Trên cơ sở phát hiện của nghiên cứu, ngụ ý góp phần làm cơ sở khoa họccho việc thực hiện chính sách phát triển vùng dân tộc miền núi trong thời gian tới
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề sau:
- Phân tích tổng quan các tài liệu đã có về chính sách và quá trình thực hiệnđịnh canh định cư, tìm kiếm cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu
- Phân tích các chính sách định canh định cư của Đảng, Nhà nước trong giaiđoạn từ năm 1968 đến nay và quá trình thực hiện tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
- Phân tích những nội dung chủ yếu của quá trình thực hiện định canh định
cư ở người Khơ mú và người Hmông tại huyện Kỳ Sơn; trong đó tập trung vào vấn
đề xây dựng các làng định cư tập trung; tổ chức các hoạt động kinh tế; các dịch vụ
xã hội như giáo dục, y tế và an sinh xã hội, và quốc phòng an ninh
- Phân tích những đặc điểm biến đổi và thích ứng văn hóa của hai dân tộcKhơ mú và Hmông trong quá trình chuyển đổi lối sống sang định canh định cư vànhững ngụ ý thực tiễn cho chính sách phát triển ở vùng dân tộc thiểu số miền núi
Có thể nhận thấy chính sách định canh định cư và quá trình thực hiện đã tácđộng đến toàn bộ đời sống xã hội của các tộc người du canh miền núi Tuy nhiên,trong khuôn khổ của một luận án nhân học tiếp cận một đề tài còn khá mới mẻ cả về
Trang 13lý luận lẫn thực tiễn nên chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số vấn đề chính đãnêu ở trên trong trường hợp người Khơ mú và người Hmông ở huyện Kỳ Sơn
4 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề định canh định cư ở người Khơ
mú và người Hmông tại huyện Kỳ Sơn, Nghệ An, bao gồm: chính sách và quá trìnhthực hiện tại cộng đồng Khơ mú và Hmông, tác động của định canh định cư đến đờisống xã hội của hai tộc người này thông qua những biến đổi kinh tế xã hội
Bên cạnh tập trung nghiên cứu các làng định cư của người dân Khơ mú vàngười Hmông tại Kỳ Sơn, chúng tôi còn hướng sự quan tâm đến phân tích văn bản
và tài liệu lưu trữ liên quan đến chính sách định canh định cư, những người có vaitrò hoạch định và thực hiện chính sách định canh định cư ở các cấp bao gồm nhữngcán bộ quản lý của tỉnh, huyện, xã ở địa bàn nghiên cứu, bộ đội đóng quân trên địabàn, những người làm công tác giáo dục, y tế ở địa phương
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào tìm hiểu chính sách định canh
định cư của Đảng và Nhà nước từ năm 1968 đến nay; quá trình thực hiện định canhđịnh cư đối với người Khơ mú và người Hmông ở Kỳ Sơn, Nghệ An và tác độngcủa định canh định cư đến đời sống xã hội của hai nhóm cư dân trong thời gian này
Quá trình thực hiện định canh định cư và tái định cư phát triển ở vùng núinước ta đã làm xuất hiện một số mô hình định cư khác nhau nhưng trong luận ánnày, chúng tôi tập trung nghiên cứu và phân tích mô hình chủ đạo của chương trìnhđịnh canh định cư là xây dựng làng định cư tập trung như một hợp phần quan trọngcủa chính sách định canh định cư ở người Khơ mú và Hmông, Nghệ An
Chúng tôi lựa chọn các làng của người Khơ mú và Hmông ở huyện Kỳ Sơn,
tỉnh Nghệ An làm địa bàn nghiên cứu với 2 lý do: Thứ nhất, Kỳ Sơn là huyện miền
núi biên giới tương đối điển hình về môi trường tự nhiên và xã hội ở miền núi ViệtNam, trong đó có số lượng lớn người Khơ mú và người Hmông cư trú Hai nhómtộc người này vốn là những cư dân du canh truyền thống với những phương thứccanh tác khác nhau, và cả hai đều đã và đang là đối tượng của chính sách định canhđịnh cư Thứ hai, trong mấy chục năm thực hiện công tác định canh định cư, tỉnh
Trang 14Nghệ An được coi là một trong những địa phương tổ chức thực hiện định canh định
cư đạt được nhiều thành tựu Tính đến năm 2002, trong số 404.827 người dân tộcthiểu số, toàn tỉnh chỉ còn 888 hộ và 5.663 khẩu thuộc diện du canh du cư [78] Kếtquả đáng khích lệ này có thể được học hỏi và phân tích để từ đó hiểu rõ hơn nhữngthành công và chưa thành công trong thực hiện định canh định cư
Trên cơ sở khảo sát tình hình định canh định cư chung của huyện Kỳ Sơn,chúng tôi tiến hành nghiên cứu sâu ở 4 làng định cư tập trung tại 2 xã Tà Cạ vàNậm Cắn, gồm 2 bản của người Khơ mú là Na Nhu và Bình Sơn 1 và 2 bản củangười Hmông là Sơn Hà và Trường Sơn Các bản này thuộc các xã vùng cao biêngiới có hơn 90% dân số là đồng bào Khơ mú và Hmông Cho đến nay, hầu hết,người dân đã định canh định cư ổn định theo mô hình làng định cư tập trung
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt tư liệu, trên cơ sở phương pháp mô tả và phân tích nhân học/dântộc học, luận án cung cấp một cách có hệ thống những thông tin mới từ góc nhìn sosánh về quá trình chuyển đổi lối sống của các tộc người như là hệ quả của định canhđịnh cư ở vùng các dân tộc thiểu số miền núi trong đó tập trung vào trường hợp cụthể của người Khơ mú và người Hmông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
5.2 Về mặt lý luận, khác với các nghiên cứu đã có, đặc biệt là của các họcgiả nước ngoài về chính sách và thực hiện định canh định cư ở Việt Nam chủ yếunhấn mạnh vào mối quan hệ nhà nước và tộc người, nhìn nhận định canh định cưnhư một phương thức đồng hóa các dân tộc thiểu số, nghiên cứu này cho thấy, mặc
dù còn có những khoảng cách giữa chính sách và thực hiện chính sách, bản chất củachính sách và thực hiện định canh định cư là xuất phát từ tính nhân văn và đườnglối phát triển các dân tộc ở miền núi của Nhà nước ta nhằm tạo ra cơ sở cho sự bìnhđẳng, đoàn kết và phát triển các dân tộc Thực tế, quá trình định canh định cư ở KỳSơn, Nghệ An cho thấy mô hình định cư làng tập trung đã bước đầu đạt được kếtquả Các tộc người đang dần thích ứng với mô hình kinh tế và lối sống mới sau cúsốc về thay đổi lối sống với những mức độ khác nhau Sự can thiệp nhằm tạo rathay đổi như vậy không hề là một quá trình dễ dàng và khó có thể tránh được những
“cú sốc’ văn hóa nảy sinh trong quá trình chuyển đổi này
Trang 155.3 Về mặt khoa học, trên cơ sở thu thập các thông tin có tính hệ thống dựatrên điền dã thực tế, luận án đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quá trìnhchuyển đổi kinh tế - xã hội do can thiệp vào lối sống truyền thống để phát triển vàkhả năng thích ứng văn hóa của các tộc người trong quá trình này Chúng tôi chorằng, sự thay đổi do can thiệp vào lối sống truyền thống không phải là một quá trình
dễ dàng mà nó thường trải qua ba giai đoạn phổ biến: Đầu tiên là hiệu ứng “sốc” dophải thay đổi; tiếp theo là phản ứng lại chính sách bằng các biện pháp tiêu cực hoặctích cực; và cuối cùng là quá trình thích ứng với những đổi thay văn hóa Songkhông phải tất cả các trường hợp đều diễn ra tuần tự như vậy Tùy thuộc vào điềukiện kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương, đặc thù lịch sử - văn hóa tộc người màthích ứng văn hóa có thể diễn ra sớm hay muộn, hội chứng sốc có thể kéo dài hayngắn, nhưng có thể thấy thích ứng văn hóa vẫn dường như là xu hướng chủ đạo
5.4 Về mặt thực tiễn, phân tích của luận án chỉ ra rằng, định canh định cư làmột chủ trương đúng đắn, nhưng việc vận dụng và thực hành chính sách cần dựatrên phân tích thấu đáo lối sống và phương thức du canh truyền thống của mỗi tộcngười để có biện pháp phù hợp Việc vận dụng đồng loạt chính sách định canh định
cư theo mô hình chung vào mọi hệ sinh thái và cộng đồng tộc người không chỉ thểhiện cách làm duy ý chí mà còn có thể không phát huy được kho tàng tri thức bảnđịa phong phú trong xử lý các mối quan hệ giữa con người với hệ sinh thái địaphương mà họ tích lũy được từ nhiều đời nay vào trong cuộc sống hiện tại
Chương 2: Khái quát về địa bàn nghiên cứu: huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Chương 3:Chính sách định canh định cư ở Việt Nam và thực hiện định canh định
cư ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Từ năm 1968 đến nay)
Chương 4: Định canh định cư ở người Khơ mú, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Chương 5: Định canh định cư ở người Hmông, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
Chương 6: Kết quả và bàn luận
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu về định canh định cư
Nông nghiệp du canh và định canh định cư (ĐCĐC) không chỉ là mối quantâm của các nhà hoạch định chính sách phát triển ở các quốc gia có các cộng đồng
cư dân du canh mà đây còn là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu và thảo luậncủa nhiều nhà khoa học trong hàng chục thập kỷ qua Trong mục tổng quan này, tôi
sẽ cố gắng nhìn lại những thành tựu nghiên cứu đã có, cả về lý luận và thực tiễn, để
từ đó tìm kiếm một phương pháp luận tiếp cận vấn đề khả dĩ có thể giúp hiểu đượcbản chất của chính sách ĐCĐC cũng như quá trình thực hiện chương trình này ởViệt Nam nói chung, ở người Khơ mú và Hmông (tỉnh Nghệ An) nói riêng
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về kinh tế du canh và chính sách định canh định cư trên thế giới
1.1.1.1 Nông nghiệp du canh và sự can thiệp của nhà nước
Bản chất của nền nông nghiệp du canh (swidden agriculture) và các chủ
trương can thiệp vào phương thức canh tác này của các nhà nước là những mối quantâm chính trong các cuộc tranh luận của giới học thuật và hoạch định chính sáchphát triển trên thế giới Ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nước thực dân ở ĐôngNam Á (trong đó có Đông Dương thuộc Pháp) đều chủ trương hạn chế các tộcngười vùng núi phá rừng làm rẫy vì những mục đích khác nhau Một trong những lý
do được viện dẫn rằng, phương thức canh tác này đã tàn phá hệ sinh thái rừng vàgây bất ổn cho môi sinh của con người Các nhà nghiên cứu Indonesia, chẳng hạnnhư Bedjo Soewardi, đã phân tích 154 công trình của các nhà nghiên cứu thực dân
Hà Lan và Indonesia liên quan đến kinh tế du canh tại đất nước này trong khoảngthời gian 150 năm từ 1827 đến 1979 [94, tr 83-139] Kết quả cho thấy, hầu hết cácnghiên cứu, bất luận là của người nước ngoài hay Indonesia, đều đi đến nhận xétrằng, bản chất của nền kinh tế phát đốt đều có hại cho hệ sinh thái tự nhiên và là
Trang 17nguyên nhân chính của tình trạng suy thoái rừng [94, tr 94-95] Theo Bedjo, chỉ cóvài nghiên cứu hiếm hoi như Bakker (1862) và Forbes (1885) đã chỉ ra rằng, cáccộng đồng canh tác phát đốt không tác động đáng kể đến hệ sinh thái mà ngược lại,bảo vệ rừng và các nguồn gien bản địa Các nghiên cứu này đã châm ngòi cho mộtcuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ qua về bản chất của nền nông nghiệp du canh
và chính sách của các nhà nước ứng xử với nó Tuy nhiên, cho đến tận những năm
60 của thế kỷ trước, kiến thức về bản chất của hệ thống nông nghiệp du canh vẫnchưa được hiểu biết một cách có hệ thống ngoài quan điểm phê phán hậu quả tiêucực đối với môi trường Vì thế, đầu những năm 1970, UNESCO đã tổ chức một loạtcác cuộc thảo luận khoa học về nền nông nghiệp du canh ở châu Á mà từ đây, nhiềuluận điểm mới và cách ứng xử mới về nông nghiệp du canh được đề xuất
Vào năm 1977, Văn phòng Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương củaUNESCO đã tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về nông nghiệp nương rẫy du canhvới sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học xã hội nhân văn [136] Đây là lầnđầu tiên, nông nghiệp du canh và mối quan hệ của nó với môi trường sống đượcđánh giá lại, coi đó là một cách ứng xử của con người với thiên nhiên và do đó, đặtvấn đề xem xét nông nghiệp du canh trong phạm trù văn hóa và lối sống Việc đưakhái niệm văn hóa vào cơ cấu phân tích và xem ứng xử với môi trường như mộtlĩnh vực thuộc về văn hóa đã thổi một luồng gió mới vào các nghiên cứu về nôngnghiệp du canh Các vấn đề căn bản đặt nền móng cho thảo luận về kinh tế du canh
và chính sách ĐCĐC đã được nêu ra, chẳng hạn, nông nghiệp du canh chỉ đơnthuần là một loại hình hoạt động kinh tế hay cần phải được xem xét trong những bốicảnh chính trị, xã hội và lịch sử cụ thể? Liệu nông nghiệp du canh có thực sự pháhoại môi trường hay đó chỉ là luận điệu “khai hóa” của thực dân phương Tây đốivới các dân tộc được coi là “lạc hậu và nguyên thủy”?, v.v
Các dự án nghiên cứu có quy mô do UNESCO tổ chức tại năm quốc gia, baogồm Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan đã đem lại nhiều pháthiện quan trọng về bản chất của nông nghiệp du canh, tác động đến môi trường, vàmối quan hệ giữa nhà nước với các tộc người thực hành phương thức du canh; đồngthời đặt nền tảng cho nhiều nghiên cứu về sau theo hướng này [136]
Trang 18Cho đến nay, phần lớn các nhà nghiên cứu xã hội đồng ý rằng nông nghiệp
nương rẫy hay nông nghiệp du canh (swidden agriculture hay shifting cultivation)
không chỉ là một kỹ thuật canh tác nông nghiệp mà trên hết, đó là cả một lối sống.Tuy nhiên, nông nghiệp du canh lại thường gắn với các cộng đồng bản địa sinh sống
ở vùng núi nên hầu hết các nhà nước đều tìm cách hạn chế hoặc xóa bỏ nó Hậu quảcủa sự can thiệp này thường vượt xa hơn sự can thiệp kinh tế đơn thuần Hai nguyênnhân chính thường được lặp đi lặp lại trong các tranh luận về sự cần thiết phảiĐCĐC là: 1) Kỹ thuật canh tác nguyên thủy, lạc hậu, không hiệu quả và lãng phí,
do đó ngăn cản quá trình phát triển và kìm giữ con người trong đói nghèo; 2) Tànphá rừng và làm xói mòn đất [137] Trên cơ sở phát hiện mới của hàng loạt nghiêncứu nhân học và môi trường về nông nghiệp du canh do các nhà khoa học tiến hành
và các dự án nghiên cứu quy mô của các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP vàUNEP, tổ chức United Nations Framework Convention on Climate Change - Côngước Khung Liên hiệp quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) đã đi đến ba kết luậnquan trọng phản bác lại quan điểm truyền thống nói trên Đó là: 1) Nông nghiệp ducanh không phải là nguyên nhân chính của tình trạng mất rừng; 2) Nông nghiệp ducanh không thải khí carbon nhiều như ở các khu vực canh tác lâu dài theo mùa vụhay các đồn điền; 3) Nông nghiệp du canh, với một hệ thống kiến thức và quy địnhnghiêm ngặt của luật tục trong cộng đồng liên quan đến môi trường, cây con, vàhình thức canh tác, đã góp phần duy trì tính đa dạng sinh học và bảo tồn các loàiđặc hữu địa phương [137]
Có thể nói quan điểm mới của các cơ quan nghiên cứu thuộc Tổ chức Pháttriển Liên hiệp quốc nói trên đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía các nhànghiên cứu và làm thay đổi thái độ của các nhà hoạch định chính sách phát triển ởnhiều quốc gia Nhiều nghiên cứu sâu trên thực địa gần đây đã phát hiện ra sự thíchứng quan trọng của canh tác nương rẫy đối với môi trường nhờ kiến thức truyềnthống, chu kỳ bỏ hóa thích hợp và kỹ thuật xen canh [93] Du canh được đánh giácao về sự bền vững trong tác động đến độ che phủ rừng và liên kết các hệ thốngsinh học và thủy văn [105] Hệ thống nông nghiệp nương rẫy duy trì mức độ caocủa đa dạng sinh học trong khi cung cấp sinh kế cho người dân ở các vùng nhiệt đới
Trang 19toàn thế giới [125] Nông nghiệp du canh đã duy trì thành công chức năng liên kếtgiữa sinh kế bền vững, văn hóa tộc người và đa dạng sinh học [138]
Một số công trình khác có xu hướng nhấn mạnh tới quá trình và cách thứcchuyển đổi nông nghiệp du canh sang ĐCĐC do sự gia tăng của nông nghiệp thâmcanh, sự tác động của kinh tế thị trường cùng với chính sách ĐCĐC [97], [101],[102], [138] Các nghiên cứu này có chung nhận định rằng, việc nhà nước thực hiệntái định cư những người dân du canh cùng với quá trình toàn cầu hóa là nguyênnhân chính của quá trình chuyển đổi sang định canh và thâm canh tập trung [96],[105] Song một số nghiên cứu coi những nỗ lực của chính phủ để ổn định và táiđịnh cư người dân du canh có thể là sai lầm Tuy nhiên, theo Dressler và cộng sự[101], trong quá trình chuyển đổi sang ĐCĐC, người dân tiếp tục dựa vào các giá trịvăn hóa truyền thống như một phương tiện vượt qua thời kỳ chuyển đổi
Vấn đề nông nghiệp du canh và chính sách ĐCĐC của các nhà nước đã nhậnđược sự quan tâm đáng kể của nhiều học giả Các nghiên cứu này một mặt phân tíchđặc điểm của nền nông nghiệp du canh trong bối cảnh khu vực và thế giới, mặtkhác, tiếp cận chương trình ĐCĐC của các nhà nước trong mối quan hệ với chiếnlược phát triển vùng các dân tộc thiểu số miền núi Các nghiên cứu cho thấy, ĐCĐCđược thực hiện bởi các nhà nước và sự hỗ trợ của các tổ chức phát triển ở nhiềuquốc gia, không phụ thuộc vào thể chế chính trị hay châu lục Kiên trì quan điểmchức năng luận, các nhà nghiên cứu này cho rằng, chính sách ĐCĐC là thể hiệnchức năng của các nhà nước nhằm quản lý lãnh thổ và kiểm soát cư dân, khai tháctài nguyên và tạo nên sự “thống nhất” quốc gia [55], [109] Các nhà nước thực hiện
ĐCĐC đối với người dân du canh (hay còn gọi là tái định cư) với những mục đích
khác nhau ẩn chứa trong đó [129] Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng nhận thấy mộtđặc điểm phổ biến là chính sách phát triển nói chung và ĐCĐC nói riêng thường bị
áp đặt theo quan điểm của nhà nước, của nhóm cư dân đa số trong quốc gia hoặccủa người làm chính sách chỉ có kinh nghiệm sống ở vùng đồng bằng [24], [38],[39], [106] Đối với một số học giả, ĐCĐC và thực hành các chính sách phát triểnđược quan niệm như một chương trình “văn minh hóa” phản ánh cách thức của giớiquan chức và những người có học nơi đô thị nhìn về các nhóm thiểu số [102]
Trang 201.1.1.2 Tác động của định canh định cư lên văn hóa và lối sống
Như đã chỉ ra ở trên, có sự khác biệt rất lớn trong quan điểm của các nhànước và các cộng đồng cư dân du canh Các chính phủ và những nhà hoạch địnhchính sách phát triển tin rằng, ĐCĐC sẽ làm cho các dân tộc bản địa vốn dựa vàokinh tế du canh có mức sống tốt hơn, tăng cường khả năng tiếp cận với sản xuấthàng hóa và dịch vụ xã hội thông qua phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế Trong khi đó, người dân lo lắng nhận thấy, cuộc sống mới ĐCĐC mang đến cho họnhiều bất ổn cùng với những thay đổi mà họ khó có thể thích ứng [47] Đã có nhiềunghiên cứu phân tích tác động của chính sách ĐCĐC của các nhà nước khác nhautrên thế giới và hiệu quả của nó Học giả Falah [104] cho rằng, sự can thiệp của nhànước thông qua ĐCĐC thường đạt được kết quả tốt hơn nếu thực hiện biện phápcan thiệp có tính khuyến khích trên tinh thần tự nguyện của người dân Tuy nhiên,các chương trình ĐCĐC nhấn mạnh vào việc loại bỏ các yếu tố “lạc hậu” ở các dântộc thiểu số làm cho phần lớn các dự án ĐCĐC của nhà nước không như mong đợi[102] Từ khảo sát ở nhiều nước châu Á, C Keyes [38, tr 483-486] cho rằng, những
nỗ lực ép buộc các nhóm thiểu số từ bỏ cuộc sống du canh truyền thống và dichuyển họ tới môi trường sống phi truyền thống có thể dẫn tới những xung đột
Những đánh giá, thảo luận về sự can thiệp của nhà nước để thực hiện ĐCĐCthường được xem xét dưới góc độ nhân học chính trị và môi trường trong đó mốiquan hệ giữa nhà nước và tộc người dường như đã trở thành trọng tâm của các quantâm khoa học Khuynh hướng chung là nhìn nhận có tính phê phán về ý đồ của nhànước bên cạnh những tiến bộ của chính sách đem lại Văn hóa tộc người thường
được quan tâm bênh vực và bảo vệ trước sự tác động của ĐCĐC
Một chủ đề nổi bật trong các thảo luận về chính sách can thiệp của các nhànước vào nền kinh tế du canh là mối quan tâm đến tác động của ĐCĐC và chínhsách phát triển đến xã hội, văn hóa và môi trường Các nghiên cứu này đã đi sâuphân tích những ảnh hưởng của ĐCĐC và chỉ ra những tác động đa chiều tới đờisống người dân Những ảnh hưởng này có thể giống và khác nhau ở các quốc gia docách thức thực hiện chính sách và bối cảnh chính trị xã hội chi phối Cho nên, bên
Trang 21cạnh những thành công, kết quả thực hiện ĐCĐC đem đến không như mong đợi ởnhiều nước [109], [118], [119], [130] Mặc dù không phủ nhận những lợi ích quantrọng do ĐCĐC mang lại, các nghiên cứu này cũng cung cấp những cơ sở khoa họccho thấy sự thay đổi sinh kế và môi trường sống để lại nhiều hệ lụy xã hội, sinh kếcủa người dân ít bền vững hơn và vấn đề nghèo dinh dưỡng trở nên phổ biến trongcác nhóm cư dân bản địa chuyển sang ĐCĐC [119] Chẳng hạn, kế hoạch định cưngười dân vùng cao nhằm ngăn chặn du canh và nạn trồng cây thuốc phiện như ởLào được xem là nguyên nhân gia tăng di cư nông thôn, làm phức tạp thêm mốiquan hệ tộc người và tổn thương văn hóa truyền thống [102] Hơn nữa, ĐCĐC làmcho không gian sống của cư dân bị thu hẹp, văn hóa truyền thống bị tan rã, đất canhtác nghèo kiệt dần; tài nguyên bị khai thác mạnh mẽ, vv… Những áp lực và hậu quảcủa chính sách ĐCĐC ở nhiều nước trên thế giới đã tiềm ẩn hoặc đã gây ra nhữngcăng thẳng trong quan hệ dân tộc [39] [118], [123].
Ngoài ra, một số công trình cũng xem xét tác động của ĐCĐC ở những lĩnhvực cụ thể như: mối quan hệ giữa ĐCĐC với đa dạng sinh học, văn hóa và sinh kế[125], [133], [138]; vấn đề dân số, sinh đẻ, lực lượng lao động và tỷ lệ thất nghiệpkhi chuyển sang ĐCĐC [131]; tác động của ĐCĐC đối với nguồn dinh dưỡng trongchế độ ăn uống và sức khỏe người dân [103]; vệ sinh môi trường trong cuộc sốngĐCĐC [120]; quyền sử dụng đất và quản lý tài nguyên; v.v…
Nhìn chung, những công trình về tác động của ĐCĐC khá đa dạng, trong đó
xu hướng chung thường nhấn mạnh đến những hậu quả của ĐCĐC đối với ngườidân Mối quan tâm thường trực của các nhà nhân học là về sự phai nhạt bản sắc vănhóa và những bất ổn xã hội do ĐCĐC gây ra Một thực tế được nhiều nghiên cứuthừa nhận là việc chuyển đổi sang ĐCĐC là một quá trình tất yếu không thể cưỡnglại Những thay đổi mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong quátrình ĐCĐC được lưu ý cho việc thực hiện các chính sách phát triển tiếp theo
Về mặt phương pháp tiếp cận, các công trình nghiên cứu về nông nghiệp ducanh và chương trình ĐCĐC trên thế giới có khuynh hướng chú trọng nhiều vàonghiên cứu sâu ở tầm cộng đồng Phân tích đa biến từ các tiếp cận liên ngành cũng
Trang 22được sử dụng ở nhiều nghiên cứu Mặt khác, tiếp cận chính sách vĩ mô, đặt cácquan tâm nghiên cứu vào bối cảnh rộng lớn của khu vực và quốc tế cũng là mộthướng quan trọng, đặc biệt là của các tổ chức quốc tế có ảnh hưởng như các tổ chứcphát triển thuộc Liên hợp quốc.
1.1.1.3 Kinh tế du canh và ĐCĐC ở Việt Nam cũng là một chủ đề được các
học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các học giả nước ngoài có xuhướng phủ định nỗ lực phát triển vùng dân tộc miền núi của nhà nước Việt Nam khixem xét các chính sách phát triển ở miền núi của Nhà nước ta như một nỗ lực đồnghóa văn hóa các dân tộc thiểu số hơn là nhìn nhận nó theo quan điểm phát triển kinh
tế xã hội và chức năng quản lý nhà nước Họ đã lờ đi sự khác biệt về bản chất chứcnăng tốt đẹp của nhà nước XHCN ở Việt Nam với các kiểu nhà nước của xã hội cógiai cấp đối kháng trong mối quan hệ giữa nhà nước và tộc người Tiêu biểu choquan điểm này là ba nhà nhân học được biết đến nhiều ở Việt Nam, đó là CharlesKeyes, Oscar Salemink và Pamela McElwee
Charles Keyes [113] tranh luận rằng, các tộc người thiểu số, dù sinh sốngdưới bất kỳ thể chế nhà nước nào, nền văn hóa và bản sắc riêng biệt của họ cũngđều bị xem là đối tượng mà nhà nước thấy cần phải xóa bỏ Theo ông, mặc dù ViệtNam có thể chế và hệ tư tưởng khác phần còn lại của Đông Nam Á, nhưng chínhsách dân tộc thì không có gì khác biệt Quan điểm của C Keyes được O Saleminkphát triển trên cơ sở xem xét chính sách ĐCĐC của Việt Nam ở Tây Nguyên TheoSalemink, một nhà nước từng bị nước ngoài can thiệp như Việt Nam thì vấn đề chủquyền, an ninh và thống nhất lãnh thổ là mối quan tâm hàng đầu của chính sách caitrị trong đó việc mang lại phúc lợi và sự “cải thiện” đời sống chỉ là những kỹ thuậtnhằm đưa người dân vào khuôn khổ Cái gọi là Chương trình định canh định cư đãcho phép chính phủ can thiệp vào lối sống của người Thượng Tây Nguyên [55].Pamela McElwee cho rằng, thực chất của chính sách ĐCĐC ở vùng núi Việt Namđược xây dựng trên quan điểm đầy định kiến của nhà nước đối với các dân tộc thiểu
số, thay vào đó là lý do các chương trình ĐCĐC được tiến hành với mục đích canthiệp vào lối sống các dân tộc và xóa bỏ truyền thống văn hóa của họ [116]
Trang 23Trong một nỗ lực hiếm hoi, nhóm các học giả sinh thái môi trường và nôngnghiệp thuộc Trung tâm Đông -Tây, Đại học Hawaii đã hợp tác với các nhà nghiêncứu Việt Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội để khảo sát sâu hơn phương thức ducanh ở miền núi phía Bắc Việt Nam và khả năng thích ứng của cư dân Nghiên cứucủa họ gợi ý rằng sự kết hợp giữa phương thức canh tác truyền thống trong môitrường sinh thái chuyển đổi sau định canh có thể là một giải pháp cho phát triển bềnvững ở vùng núi Việt Nam [15], [134]
Trong khi các nghiên cứu nói trên có tính phê phán cao, nhiều lỗ hổng trongnhận thức thực tế vẫn còn bỏ ngỏ Có rất ít nghiên cứu đặt nền kinh tế du canh củacác tộc người ở miền núi Việt Nam vào trong bối cảnh lịch sử văn hóa - xã hội cụthể để xem xét Những quan điểm nói trên thường làm nảy sinh các tranh luận họcthuật mang các thiên kiến chủ quan và có màu sắc chính trị Cách nhìn phiến diệnmang tính quy kết như vậy sẽ được chúng tôi tranh luận và phân tích ở các phần sautrong lý thuyết về nhà nước và tộc người; chủ trương, chính sách ĐCĐC của nhànước Việt Nam; đồng thời luận chứng bằng kết quả thực hiện ĐCĐC ở hai cộngđồng Khơ mú và Hmông tại huyện Kỳ Sơn, Nghệ An
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ĐCĐC ở Việt Nam
Trong khoảng thời gian từ 1960 đến 1990, ĐCĐC là một trong nhữngchương trình phát triển ở miền núi nhận được sự quan tâm đáng kể của giới nghiêncứu với một số lượng lớn sách báo và các hội thảo khoa học đã được công bố Nhìnchung, về cơ sở lý luận và hướng tiếp cận, có thể chia các công trình, bài viết vềnông nghiệp du canh và chương trình ĐCĐC ở Việt Nam thành hai nhóm chủ đạo:
1) Những nghiên cứu dựa trên quan điểm phát triển và sinh thái môi trườngthuần túy, xem nông nghiệp du canh đơn giản chỉ là một phương thức canh tác vàphân tích tác động của nó đến môi trường sống Thuộc về nhóm này là các nhà kinh
tế nông – lâm nghiệp và sinh thái – môi trường
2) Những nghiên cứu dựa trên quan điểm văn hóa và tộc người xem xét nôngnghiệp du canh trong mối liên hệ với tập tục, tri thức bản địa, lối sống và mô tả hoạtđộng kinh tế du canh từ góc nhìn văn hóa Hầu hết các công trình nghiên cứu thuộcloại này do các nhà nhân học/dân tộc học công bố
Trang 24Ngoài ra, các nhà quản lý nhà nước các cấp và hoạch định chính sách pháttriển miền núi cũng tham gia tích cực vào việc viết bài và thảo luận về ĐCĐC Hầuhết các ấn phẩm nhóm này dựa trên quan điểm chính trị và đường lối phát triển củaĐảng, có tính minh họa cho các chủ trương đường lối về phát triển miền núi củaĐảng và Nhà nước đã đề ra thay vì dựa vào các phân tích khoa học có hệ thống
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về cơ sở lý luận và hướng tiếp cận, cả haikhuynh hướng nghiên cứu nói trên đều có xu hướng coi du canh là phương thức sảnxuất lạc hậu và nguyên thủy, có tác động xấu lên môi trường và do đó, thực hiệnĐCĐC là cần thiết để phát triển miền núi và cải thiện cuộc sống của cư dân du canh.Đáng lưu ý là các nhà khoa học thuộc hai trường phái nói trên tiếp cận cùng mộtvấn đề nhưng thường làm việc riêng rẽ và ít có ảnh hưởng lẫn nhau, ít khi tiếp thuthành quả nghiên cứu của nhau Những quan ngại và kiến nghị nhân học ít đượcnhận thấy trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện ĐCĐC
Có thể thấy các nhà khoa học nông lâm nghiệp và môi trường là nhữngngười sớm quan tâm đến phương thức sản xuất du canh ở miền núi và tác động của
nó lên hệ sinh thái Nghiên cứu của họ đã mang lại những nhận thức có ý nghĩaquan trọng về kinh tế du canh và chiến lược ĐCĐC Tiêu biểu trong số này là cácnghiên cứu của Đỗ Đình Sâm, Hoàng Xuân Tý, Trần Đức Viên và các cộng sự.Chẳng hạn, GS Đỗ Đình Sâm đã tổng kết nghiên cứu nhiều thập kỷ của ông trongmột báo cáo công bố năm 1994 [100], trong đó phân biệt hai loại hình canh tácnương rẫy chủ yếu của các cộng đồng cư dân miền núi Việt Nam mà ông gọi là
“pioneer shifting cultivation” – du canh mở và “rational shifting cultivation” – luân
canh quay vòng khép kín Theo ông, ở nhóm thứ nhất, người canh tác sử dụng đấttrong một thời gian nhất định và khi đất đã cạn kiệt thì bỏ đi mà không có ý địnhquay lại canh tác trên mảnh đất đó Tiêu biểu cho loại hình canh tác nương rẫy kiểunày là người Hmông Loại hình canh tác nương rẫy thứ hai mà ông mô tả cho thấyngười canh tác thường không bỏ hoang hoàn toàn mảnh đất họ đã sử dụng, cũngkhông di chuyển quá xa khỏi địa bàn cư trú truyền thống của họ Họ bỏ hóa cácmảnh rẫy trong khoảng 10 đến 15 năm rồi quay về sử dụng trở lại Ông cho rằnghầu hết các nhóm cộng đồng du canh ở vùng núi Việt Nam thuộc về loại hình này
Trang 25Trên cơ sở phân loại như trên, Đỗ Đình Sâm đã khảo sát tác động của từngloại hình canh tác nương rẫy lên tài nguyên đất và rừng, những thay đổi của hệ sinhthái và đi đến nhận xét rằng các chương trình ĐCĐC thường được thực hiện có tínhhình thức hơn là thực chất và chưa tập trung vào từng loại hình canh tác cụ thể
Theo hướng tiếp cận sinh thái nông lâm nghiệp còn có các công trình của D.Donovan và cộng sự [15], Trần Đức Viên - Phạm Chí Thành [88] Dù không tiếpcận hệ canh tác miền núi trên cơ sở văn hóa nhưng các nghiên cứu của họ có nhữngđóng góp quan trọng về kinh tế du canh và tác động của nó đối với môi trường
Trong số các công trình nghiên cứu tiếp cận kinh tế nương rẫy từ góc độ vănhóa, có thể thấy các nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn [80], [81], [82], [83],Nguyễn Anh Ngọc [49], [50], Nguyễn Ngọc Thanh, Vương Xuân Tình [62], TrầnBình [5], Hoàng Hữu Bình [6], Bùi Minh Đạo [21], Lê Sỹ Giáo [27], v.v đã manglại những đóng góp quan trọng để hiểu sâu thêm về tập tục, tri thức và thực hành ducanh của các cộng đồng thiểu số ở vùng núi Việt Nam Ít nhất, theo thống kê củachúng tôi thì chỉ riêng trong giai đoạn 1968 – 2000 đã có khoảng 60 công trìnhnghiên cứu chuyên đề bàn về nông nghiệp nương rẫy từ góc nhìn văn hóa
Có thể nói, một nhà nghiên cứu có ảnh hưởng trong lĩnh vực này là tác giảĐặng Nghiêm Vạn Những công trình nghiên cứu chuyên sâu của ông về nôngnghiệp nương rẫy xuất bản trong các năm 1975, 1979, 1980, 1982 đã tập trung mô
tả và phân tích loại hình nông nghiệp nương rẫy, từ phương pháp canh tác, kỹ thuật,công cụ sản xuất cho đến sự tiến triển của các loại hình nương rẫy Ông đã góp phầnlàm rõ những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nương rẫy, chỉ ra những mặt hợp lý
và hậu quả của hình thái canh tác này về môi trường và đời sống xã hội Theo ông,sản xuất nương rẫy của các dân tộc thiểu số là một phương thức lạc hậu chỉ thíchứng trong điều kiện dân số nhất định Canh tác nương rẫy truyền thống không thểduy trì được trong điều kiện hiện nay Chính sách ĐCĐC là giải pháp hữu hiệu đểbảo đảm đời sống các dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
Những nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn đã ảnh hưởng rộng rãi và mở ramột xu hướng có tính khuôn mẫu trong nghiên cứu về canh tác nương rẫy và ĐCĐC
Trang 26ở Việt Nam mà ta có thể dễ dàng nhận ra trong các công trình dân tộc học xuất bản
từ sau 1985 đến gần đây Những tác giả này đều khẳng định cần phải đẩy mạnh thựchiện ĐCĐC mặc dù đã xuất hiện một vài quan điểm mới về thực hiện ĐCĐC [28],[58], trong đó không đồng nhất giữa nương rẫy với du canh du cư (DCDC) mà chỉ
ẩn tàng khả năng đó tuỳ từng vùng, từng dân tộc [27], [49]
Từ khoảng hai thập kỷ nay đã có một số nghiên cứu xem xét lại vị trí củacanh tác nương rẫy trong hệ sinh thái nông nghiệp miền núi Theo đó, phương phápluân canh truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam được coi là thế ứng xửhợp lý và bảo vệ môi trường sinh thái [9], [12], [21], [121], [122] Tuy nhiên, họđồng ý rằng nông nghiệp du canh không thể tiếp tục như trước đây và do đó canthiệp là cần thiết nhưng phải phát huy được kiến thức bản địa trong quá trình ĐCĐCthay vì làm cho nó biến mất [121]
Ngoài ra, xu hướng nhìn lại chính sách ĐCĐC và kiên định quan điểm cũcòn khá phổ biến trong sách báo viết về chủ đề này sau năm 1990 [42], [68] Hầuhết các nghiên cứu đều tập trung đánh giá thành tựu, kết quả của ĐCĐC và nêu lênnhững vấn đề đặt ra, giải pháp thực hiện trong giai đoạn tiếp theo [22], [31], [85],
Một nghiên cứu đáng chú ý gần đây do Lê Ngọc Thắng và các cộng sự tiếnhành [64] đã phân tích chính sách ĐCĐC ở Việt Nam trong tương quan so sánh vớimột số chính sách ĐCĐC ở các nước trên thế giới Quan tâm chính của công trìnhnày tập trung vào đánh giá thực hành chính sách ĐCĐC và tác động đến sinh kếngười dân từ năm 2000 đến nay trong khuôn khổ chương trình 135
Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu trong nước thường xem du canh làphương thức canh tác lạc hậu với những hậu quả xấu về môi trường và kinh tế xãhội Đáng chú ý là hầu hết các công trình dân tộc học về hệ thống canh tác nươngrẫy thường thiên về mô tả, quan sát trên cơ sở quan điểm duy lý của người ngoàicuộc Tuy nhiên, không thể phủ nhận đóng góp của các nghiên cứu thuộc nhóm nàybởi nó đã đem lại cái nhìn rộng lớn về lối sống và văn hóa nông nghiệp nương rẫycủa các dân tộc thiểu số Việt Nam với nguồn tư liệu thực địa phong phú
Bên cạnh các nghiên cứu mô tả dân tộc học về hệ canh tác nương rẫy và chỉđến sự cần thiết phải thực hiện ĐCĐC, cũng đã xuất hiện những nghiên cứu phân
Trang 27tích tác động của ĐCĐC đối với sự biến đổi kinh tế xã hội các dân tộc thiểu số, nhưtrong nghiên cứu của Lê Trọng Cúc [10], Phan Hữa Dật [13], Khổng Diễn và cộng
sự [14], S.Thomas và cộng sự [60] Những vấn đề nêu ra thường tập trung vào đánhgiá tình hình ĐCĐC và một số tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường nhưngthường dừng ở mức độ nhận định, khái quát Có một số bài viết đã đi vào tìm hiểunhững biến đổi trong đời sống ở vùng ĐCĐC trong lĩnh vực dân cư, dân số vànguồn lao động [18], môi trường và khai thác tài nguyên rừng [44]; tập quán ănuống và an toàn lương thực [69]; cơ cấu xã hội [17], vv…Hướng nghiên cứu nàycũng được các học viên cao học lựa chọn làm đề tài nghiên cứu [56], [72]
Tóm lại, các nghiên cứu về nông nghiệp nương rẫy và chính sách ĐCĐC ởViệt Nam và trên thế giới, dù đã được quan tâm nghiên cứu từ hàng thế kỷ nay, vẫnđang còn là chủ đề có tính thời sự thu hút sự quan tâm của giới học thuật và ngườilàm chính sách Những phát hiện mới của các nhà nghiên cứu trên thế giới có xuhướng ủng hộ quan điểm cho rằng nông nghiệp du canh không phải là một hìnhthức canh tác, mà hơn thế, là một lối sống có liên hệ đến toàn bộ nền văn hóa củacác cộng đồng có hệ canh tác này Nông nghiệp du canh cũng không phải là tácnhân chính gây ô nhiễm khí thải và thoái hóa rừng Các nghiên cứu đều khuyếnnghị sự can thiệp của nhà nước cần được tiến hành thận trọng để tránh làm mất đitính đa dạng, bản sắc văn hóa và kiến thức bản địa của các cộng đồng dân cư
Ở Việt Nam, nông nghiệp nương rẫy cũng đã nhận được sự quan tâm của cácnhà khoa học và quản lý từ rất sớm Tuy nhiên, các nghiên cứu còn nặng về mô tảhiện tượng và quy kết hơn là phân tích bản chất của hệ canh tác này cũng như lắngnghe quan điểm của các cộng đồng đang thực hành hệ canh tác nương rẫy Trongkhi các nghiên cứu ở Việt Nam thường kết thúc bằng các khuyến nghị theo hướngcan thiệp để thay đổi lối sống du canh, có rất ít nghiên cứu tập trung xem xét hậuquả của sự thay đổi lên sinh kế và lối sống của các cộng đồng là đối tượng củaĐCĐC Chúng tôi hy vọng luận án này sẽ góp phần bổ khuyết kiến thức về vấn đềcòn đang bị bỏ ngỏ đã nói ở trên Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào trườnghợp ĐCĐC ở các nhóm dân tộc Khơ mú và Hmông (Nghệ An) nhưng được đặt vào
Trang 28bối cảnh tổng thể của mối quan hệ giữa nhà nước và tộc người ở Việt Nam Cơ cấu
lý thuyết hiện đại hóa, lý luận về phát triển, biến đổi và thích ứng văn hoá sẽ đượcvận dụng để đánh giá quá trình thực hiện và tác động của ĐCĐC lên hai cộng đồngđịa phương từ quan điểm so sánh nhân học
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Về một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án
1.2.1.1 Du canh du cư và định canh định cư
Cho đến nay, chúng ta vẫn sử dụng thuật ngữ du canh du cư để mô tả hệ
canh tác nương rẫy của các cộng đồng cư dân miền núi Đáng ngạc nhiên là saunhiều thập kỷ, thuật ngữ này vẫn được sử dụng như một mặc định không thay đổi
dù đã có nhiều nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước chỉ ra rằng phần lớncác cộng đồng thực hành canh tác nương rẫy ở vùng núi Việt Nam không du cư màchỉ luân canh trên không gian sinh tồn truyền thống của cộng đồng Cách sử dụng
thuật ngữ du canh đi liền với du cư dễ tạo ra định kiến về các cư dân nương rẫy và
lối sống của họ1 Trong các tài liệu khoa học nước ngoài, có ba thuật ngữ (tiếngAnh) thường được sử dụng phổ biến khi nói về canh tác nông nghiệp nương rẫy ởmiền núi, bao gồm "shifting cultivation" (canh tác luân phiên), "swiddenagriculture" (nông nghiệp nương rẫy) và "slash-and-burn agriculture" (nông nghiệp[sử dụng kỹ thuật] phát đốt) Mặc dù có sự khác biệt nhất định trong ngữ nghĩa, cả
ba thuật ngữ này đều được sử dụng với ý nghĩa chung nhằm mô tả hệ canh tác nôngnghiệp theo phương thức luân canh/du canh/phát đốt có ở các tộc người miền núi
Việt Nam Từ điển Khoa học Thực vật (Dictionary of Plant Sciences, Michael
Allaby, 1998) định nghĩa như sau:
Du canh - Shifting cultivation, là một hệ thống nông nghiệp cổ truyền sử
dụng phương pháp phát và đốt để làm rẫy, mỗi mảnh rẫy thường chỉ canh tác
từ 1 đến 5 năm, bỏ hóa trong một thời gian đủ lâu để đất có thể hồi phục và
1
1 Lâu nay, ở Việt Nam, thuật ngữ du canh du cư được hiểu là một tập quán sinh hoạt và canh tác “lạc hậu” của các dân tộc thiểu số ở miền núi thường “ di chuyển nơi canh tác và di chuyển nơi cư trú” để phát đốt rừng làm rẫy kèm theo những hậu quả nặng nề về kinh tế xã hội và môi trường.
Trang 29cây rừng mọc lại và rồi lại bắt đầu một chu kỳ canh tác mới Đây là phươngpháp phổ biến trên thế giới trong lịch sử, nhưng hiện nay chỉ còn thấy ở cácvùng rừng mưa nhiệt đới Hệ thống canh tác này phù hợp với điều kiện mật
độ dân số thấp nhưng với mật độ dân số tăng cao, đất phải quay vòng nhanh
sẽ dấn đến tình trạng suy thoái độ phì và làm suy thoái rừng
Trong khi đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam [35, tr 684] có cái nhìn tương đối thiên kiến với nông nghiệp nương rẫy du canh khi cho rằng: Du canh du cư là
tập quán sinh hoạt và canh tác của các dân tộc ít người ở miền núi Họ không canhtác và cư trú cố định ở một nơi mà thường thay đổi địa bàn sau khi sử dụng hết độphì nhiêu của một đám nương rẫy lại bỏ hoá đi tìm đất mới làm rẫy Khi nơi làm rẫy
xa nơi cư trú phải chuyển đến vùng đất mới (du cư) Sự di chuyển nơi canh tác dẫnđến phải di chuyển nơi ở cho phù hợp Cứ như vậy, cả trồng trọt và cư trú đềukhông ổn định lâu dài, từ du canh dẫn đến du cư
Quan điểm này không phản ánh toàn diện đặc điểm chung của nền nôngnghiệp nương rẫy luân canh ở vùng núi Việt Nam khi nhìn nhận hệ thống canh tácnày với ngụ ý rằng đó là một phương thức sản xuất tiềm ẩn nguy hại Trong nghiêncứu của mình, để tránh thiên kiến chủ quan, chúng tôi sử dụng quan điểm củaUNESCO [136] cho rằng, hệ nông nghiệp nương rẫy du canh là một lối sống củanhiều cộng đồng dân tộc bản địa Chúng tôi cho rằng không phải tất cả, nhưng phầnlớn các cư dân miền núi nước ta canh tác nương rẫy luân phiên quay vòng đất và có
thể sử dụng thuật ngữ du canh để mô tả hoạt động kinh tế của họ, nhưng du canh
không tất yếu sẽ dẫn đến du cư bởi nhiều tộc người thực hành phương pháp này vẫnsinh tồn trên địa bàn truyền thống của họ từ hàng trăm năm qua; chẳng hạn, trườnghợp người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai Phương pháp luân canh truyền thống của phầnlớn các dân tộc thiểu số Việt Nam được coi là thế ứng xử hợp lý và bảo vệ môitrường sinh thái Theo Nguyễn Từ Chi, các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên không “ducanh du cư” như người ta thường nghĩ Phương pháp luân canh theo chu kỳ khépkín thuộc phạm vi ranh giới từng bản làng mà gọi là DCDC là chưa sát [9] Cácnghiên cứu sâu trên thực địa ở miền núi cũng cho rằng, hầu hết các dân tộc thiểu sốViệt Nam không di chuyển nơi cư trú (du cư) mà thực hành lối canh tác quay vòngluân phiên trên một vùng đất cố định [9], [21], [55], [64]
Trang 30Định canh định cư là một thuật ngữ ra đời khi có chủ trương can thiệp vào hệ
canh tác nương rẫy du canh nhằm tạo ra các làng định cư và canh tác nông nghiệptrên một địa bàn ổn định lâu dài hoặc chuyển đổi sang nghề nghiệp khác như trồngrừng và làm dịch vụ Định canh và định cư có nội hàm riêng nhưng giữa chúng có
mối quan hệ với nhau Định canh là một khái niệm để chỉ phương thức canh tác ở một nơi cố định trên những mảnh đất được trồng trọt liên tục (intensive agriculture, intensive farming) Định cư được dùng để chỉ hình thức cư trú tại một nơi cố định,
lâu dài để sinh sống và làm ăn Trong trường hợp chính sách ĐCĐC thì thuật ngữ
“định cư” là cách nói để chỉ quá trình khuyến khích hay bắt buộc “tái định cư” các
cư dân nông nghiệp du canh vào một địa bàn cư trú tập trung Như vậy, định canh định cư là một khái niệm được dùng để chỉ chiến lược phát triển ở miền núi của các
nhà nước đối với các nhóm dân cư thực hành nông nghiệp phát đốt/du canh, phươngthức cố định địa bàn sản xuất và cư trú của cư dân nông nghiệp Các nhà làm chínhsách Việt Nam tin rằng, định cư phải gắn liền với định canh và là kết quả của địnhcanh Định canh làm cho sản xuất ổn định và phát triển trong khi định cư tạo điềukiện cho tổ chức lối sống tiến bộ, năng suất cây trồng tăng [35, tr 871] Trong đề
tài: "Định canh định cư ở người Khơ mú và người Hmông, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An", ĐCĐC được hiểu là quá trình thực hiện chính sách ĐCĐC của Nhà nước đối
với người Khơ mú và người Hmông
Tóm lại, ở Việt Nam, DCDC và ĐCĐC thường được hiểu theo hai nghĩa: 1)Chỉ một hoạt động kinh tế, một phương thức canh tác [51]; 2) Chỉ một lối sống, mộtphương thức sản xuất và sinh hoạt đặc trưng, một nền văn hóa nông nghiệp [80].Mặt khác ở Việt Nam, nông nghiệp du canh cũng được dùng để chỉ phương thứccanh tác nương rẫy Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, nương rẫy để chỉ: "những mảnhđất trồng do chặt cây, đốt rừng mà có, không sử dụng vĩnh viễn, không liên tục, cóthời gian bỏ hóa, từ du canh dẫn đến du cư"[80, tr 7] Theo ông, kinh tế nương rẫy
ở nước ta có 4 hình thức khác nhau tùy từng dân tộc, từng vùng, đó là: 1) DCDCkhép kín; 2) DCDC luân khoảnh; 3) định cư du canh; 4) DCDC mở
Trong khuôn khổ của chương trình ĐCĐC thì khái niệm “định cư’ thực chất
là một hình thức “tái định cư”, tức di chuyển các hộ gia đình ra người khỏi nơi ở cũ
và bố trí lại chỗ ở mới một cách có kế hoạch và có mục đích [114, tr 29], [64, tr
Trang 3152], [92], vv ) Các nhà nghiên cứu trên thế giới thường chia tái định cư thành 4loại hình: Tái định cư hay nói cách khác là ĐCĐC cho những người dân du canh; táiđịnh cư cho các chính sách cải cách đất đai và phân bố lại dân cư; tái định cư chocác dự án phát triển hạ tầng; tái định cư cho các dự án bảo tồn [64, tr 52], [92],[106], [109], vv Ở một cách phân loại khác, người ta phân chia tái định cư thành
2 hình thức là tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc [64], [130] Tái định cư
tự nguyện là việc người dân được vận động, khuyến khích di chuyển đến nơi ở mớimột cách tự nguyện theo kế hoạch, do họ lựa chọn ĐCĐC những cư dân du canhthường được xếp vào loại hình tái định cư tự nguyện Tái định cư bắt buộc hoặckhông tự nguyện chỉ hiện tượng người dân buộc phải di dời nơi cư trú đến một nơi
ở khác theo quy hoạch để nhường lại đất đai cho các dự án phát triển Như vậy, quátrình vận động ĐCĐC ở Việt Nam thực chất là một hình thức của tái định cư Kếtquả nghiên cứu thực địa của chúng tôi cũng củng cố chứng cứ cho rằng có nhữnghình thức du canh khác nhau nhưng phần lớn các dân tộc thiểu số nước ta thực hành
định cư du canh chứ không DCDC theo cách hiểu lâu nay
1.2.1.2 Biến đổi và thích ứng văn hóa
Văn hoá được xem là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độphát triển đạt được trong lịch sử phát triển xã hội [76, tr 656]
Mỗi tộc người đều có nền văn hóa đặc trưng mang bản sắc riêng Văn hoátộc người vừa chịu tác động của nhân tố kinh tế xã hội để có sự biến đổi vừa có cốtlõi tồn tại bền vững xuyên qua các giai đoạn lịch sử của tộc người Cho dù sự pháttriển kinh tế tác động lớn lao đến văn hóa tộc người, nhiều giá trị truyền thống vàbản sắc riêng vẫn tồn tại bền bỉ qua thời gian [91], [110] Văn hoá nằm trong quyluật vận động phát triển nói chung Văn hoá là biến đổi và phát triển Nếu một nềnvăn hoá không biến đổi để phát triển, nền văn hoá ấy sẽ tàn lụi
Chúng tôi quan niệm biến đổi văn hoá là những thay đổi diễn ra trong đời
sống xã hội của tộc người so với văn hoá truyền thống Biến đổi văn hoá xảy ratrong quá trình tộc người, quá trình di dân hoặc giao lưu tiếp xúc dân tộc Biến đổi
có thể diễn ra trên từng lĩnh vực hoặc toàn bộ nhưng thường theo hai xu hướng: từ
Trang 32bỏ văn hoá truyền thống dẫn đến xoá nhoà bản sắc (đồng hoá); biến đổi để thíchứng với điều kiện mới tạo ra sự phát triển văn hoá
Biến đổi văn hoá hoặc là do sự phát triển nội tại tự thân (nội sinh) hoặc do sựcan thiệp từ bên ngoài dẫn đến biến đổi (ngoại sinh) Sự biến đổi tự thân của vănhoá tộc người là do giáo dục, học hỏi, sáng tạo, do tiếp xúc giao lưu cộng cư, di cư
Sự can thiệp, tác động của các thiết chế và quyền lực xã hội dẫn đến biến đổi vănhoá dù bằng cách áp đặt hay vận động, khuyến khích, thường được coi là đồng hoá
Sự can thiệp mang tính khuyến khích thường thông qua vận động, quảng bá đểhướng người dân đi theo ý đồ mang tính duy lý Trong trường hợp sự biến đổi tựthân, bản sắc tộc người được giữ gìn và phát triển Sự biến đổi văn hoá do can thiệp
có thể làm mất đi bản sắc văn hoá mặc dù đời sống người dân có thể được nâng lên
Thích ứng văn hoá là một quá trình trong đó nhiều yếu tố văn hóa mới, qua
“bộ lọc” của thời gian và “kháng thể” tự thân của một cộng đồng cư dân hay mộttộc người có thể thay đổi cùng với quá trình biến chuyển của môi trường sống và tácđộng của ngoại cảnh để dần phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới trên cơ sở điềuchỉnh nhất định để tiếp biến văn hoá (acculturation) mà vẫn không mất đi cốt lõibản sắc của mình Thích ứng văn hoá là cả một quá trình giao lưu, đan xen, hỗndung và tiếp biến văn hoá Khi văn hóa tộc người có sự thích ứng, bản sắc tộc ngườichẳng những được gìn giữ mà văn hóa tộc người còn phát triển lên một tầm caomới Chính quá trình biến đổi và thích ứng làm cho văn hóa tộc người phát triển
Phát triển là sự thay đổi, nhưng thay đổi không đồng nghĩa với phát triển.
Chúng tôi quan niệm rằng, phát triển là sự vận động biến đổi của sự vật hiện tượngtheo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao một cách bền vững Theo Trần QuốcVượng thì: "Phát triển có nghĩa là chuyển biến một cấu trúc xã hội bền vững để tạodựng một nền văn hóa và được tạo dựng bằng một nền văn hóa" [91, tr 111]
Văn hóa tộc người phát triển, hoàn thiện không ngừng bởi hai tác nhân nộisinh và ngoại sinh Theo Phan Hữu Dật, trong các quốc gia, sự phát triển của vănhoá thường theo hai con đường: 1) Sự điều tiết của nhà nước thông qua các công cụluật pháp, tài chính, kế hoạch, giáo dục, các phương tiện truyền thông đại chúng; 2)
Trang 33Sự phát triển tự phát, tự giác từ phía người dân Những yếu tố văn hoá mới nảy sinhtrong quá trình ĐCĐC không phải do tự thân vận động một cách tuần tự mà chủ yếu
do sự tác động của kiến trúc thượng tầng để theo kịp những bước tiến chung vànhanh chóng của đất nước[11, tr 433] Cho nên, ĐCĐC không những để xóa đóigiảm nghèo mà chính là cách giải quyết tối ưu vấn đề dân tộc và phát triển, truyềnthống và hiện đại [13, tr 514 – 523]
Như vậy, chính sách ĐCĐC mà chúng ta đã và đang thực hành là một quátrình can thiệp của Nhà nước vào văn hoá tộc người nhằm thay đổi lối sống nôngnghiệp du canh, phát triển kinh tế xã hội và văn hóa tộc người ĐCĐC chính là mộtcách thức can thiệp vào quá trình phát triển văn hóa tộc người, can thiệp để biến đổi
và phát triển văn hóa tộc người, biến đổi theo chiều hướng phát triển
Tuy nhiên, các dân tộc thiểu số ở miền núi nước ta đang đứng trước nhữngthách thức, xung đột giữa phát triển, hội nhập và bảo tồn bản sắc văn hóa [8, tr 12].ĐCĐC và các chương trình phát triển đang thực hiện ở miền núi Việt Nam khôngchỉ là giải pháp mà cùng với nó là hàng loạt các vấn đề nảy sinh Bởi vì, đi đôi vớinhững thay đổi có tính tiến bộ, quá trình thực hành phát triển đã nổi lên nhiều vấn
đề về môi trường, lối sống, mất bản sắc truyền thống, phân tầng xã hội và đóinghèo, v.v… Các vấn đề này cần phải được nhận thức thấu đáo khi thực hành pháttriển, đặc biệt ở các nhóm tộc người nhỏ lẻ miền núi
1.2.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài và hướng tiếp cận
1.2.2.1 Nhà nước, nông nghiệp du canh và hiện đại hóa
Trong phần khảo cứu tài liệu ở trên, chúng ta thấy rằng, ĐCĐC các nhóm cưdân du canh là chính sách phổ biến dưới những hình thức khác nhau của các nhànước, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, việc giải thích chương trình ĐCĐC của cácnhà nước như một biện pháp can thiệp vào phát triển thường được dẫn dắt bởi các lýluận và quan điểm khác nhau Trong luận án này, chúng tôi đã đặt ra hai vấn đềchính để tập trung nghiên cứu, đó là: 1) ĐCĐC đã được thực hiện như thế nào ởmiền núi Việt Nam, cụ thể là trường hợp các nhóm Khơ mú và Hmông ở huyện KỳSơn, Nghệ An?; 2) ĐCĐC đã tác động thế nào đến lối sống ở các nhóm thực hiệnĐCĐC và họ đã thích ứng thế nào với điều kiện kinh tế môi trường thay đổi?
Trang 34Trong nhân học văn hóa nghiên cứu về nông nghiệp du canh và chính sáchĐCĐC trong nước và trên thế giới, nhiều quan điểm lý luận đã được vận dụng đểgiải thích hay phản bác ĐCĐC ĐCĐC là một hình thức can thiệp vào phát triển đốivới các nhóm thiểu số du canh miền núi Vì vậy, có hai thực thể cần nghiên cứu vàlàm rõ, đó là nhà nước - cơ quan tạo ra và thực hiện chính sách và các cộng đồngdân tộc thiểu số - đối tượng của chính sách này Các nghiên cứu cần tìm kiếm cơ sở
lý luận để giải thích và phân tích các quan hệ này, hay nói một cách cụ thể hơntrong nghiên cứu của chúng tôi, là quan hệ nhà nước và các tộc người
Quan hệ nhà nước và xã hội là một lý thuyết do James Scott [127], [128] đềxuất để phân tích vai trò của nhà nước và phản ứng của người dân đối với các chínhsách do nhà nước ban hành Lý luận này sau đó được B Kerkvliet phát triển thànhkhái niệm “chính trị học về đời sống hàng ngày” để nghiên cứu tác động của cácchính sách nhà nước ở cấp cộng đồng dân cư [112], phân biệt với cách tiếp cậnchính trị học ở cấp thượng tầng kiến trúc Kerkvliet đã vận dụng một cách có hệthống lý luận này vào phân tích chính sách hợp tác hóa nông nghiệp ở Việt Nam và
lý giải tại sao chương trình hợp tác hóa nông nghiệp không thành công như mong
đợi Luận thuyết của ông được trình bày trong công trình nổi tiếng The Power of Everyday Politics How Vietnamese Peasants Transformed National Policy [112] Trước đó, một phần quan trọng của tư tưởng này đã được dịch và in trong “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” [37]
Chính trị học hàng ngày là một cách tiếp cận hữu ích để tìm hiểu phản ứngcủa người dân đối với chính sách ĐCĐC James Scott, người sáng lập trường pháihọc thuật này, đã từng đặt vấn đề:
Kế hoạch ĐCĐC của nhà nước và chiến lược tái định cư các nhóm du canh
ở Malaysia và nhiều nước khác hiếm khi biết trước được kết quả thế nào.Các mục tiêu phát triển dường như cứ tuột khỏi tầm kiểm soát của các nhàhoạch định can thiệp Nhưng chúng ta không được phép bỏ sự thật rằng, tácđộng của các chương trình ĐCĐC này, tùy thuộc rất nhiều vào cái hệ thống
họ định thay thế, trong một chừng mực nào đó, làm cho nó chỉ còn là nhữnglời tuyên bố sáo rỗng [128, tr.191]
Trang 35J.Scott tin rằng, ĐCĐC là một chính sách đầy chất nhân văn của các nhànước ở Đông Nam Á, nhưng có một khoảng cách lớn giữa tham vọng và kết quả donhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện do hiểu biết sai lầm cho rằng nôngnghiệp du canh chỉ là một kỹ thuật sản xuất đơn thuần và có ít mối liên hệ với tậptục và văn hóa lối sống của một cộng đồng
Trong luận án của mình, bên cạnh tham khảo lý luận về quan hệ nhà nước và
xã hội nói trên, chúng tôi đã cố gắng chắt lọc những quan điểm được nêu ra trong lý
thuyết về hiện đại hóa và thích ứng văn hóa để hiểu nông nghiệp du canh và sự can
thiệp của nhà nước trong ĐCĐC như một chiến lược phát triển ở miền núi
Lý thuyết hiện đại hóa (modernization theory) được khởi xướng từ khá sớm
trong kinh tế học và được các nhà nhân học xã hội – văn hóa vận dụng và phát triển
để phân tích các chính sách phát triển của nhà nước Những nguyên tắc căn bản của
lý thuyết này xuất phát từ tư tưởng phát triển nảy sinh từ kỷ nguyên Ánh Sáng thế
kỷ 18 cho rằng, con người tự mình có thể phát triển và làm thay đổi xã hội của họ.Marquis de Condorcet, một nhà tư tưởng người Pháp đương thời cho rằng sự tiến bộ
về kỹ thuật và những đổi thay kinh tế có thể tạo điều kiện để làm thay đổi các giá trịđạo đức và văn hóa Condorcet tin rằng phát triển kinh tế và xã hội có tác dụng liênkết và kéo theo tiến bộ và cải thiện trong lĩnh vực nhân văn Ông tranh luận rằng,những phát triển của kỹ thuật làm cho con người kiểm soát được môi trường sốngcủa họ, và từ đó, tiến bộ kỹ thuật dẫn đến tiến bộ xã hội Quan điểm về phát triểntrên cơ sở tương tác giữa tiến bộ kỹ thuật và cải thiện giá trị nhân văn đã được nhà
xã hội học Emile Durkheim phát triển thành khái niệm chức năng luận trong đónhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau của các thiết chế trong một xã hội và tương tácgiữa chúng trong việc duy trì thống nhất văn hóa và xã hội [111]
Lý thuyết hiện đại hóa thường được sử dụng để giải thích quá trình hiện đạihóa trong xã hội Nó cho phép xem xét các yếu tố nội tại của một quốc gia từ mộtgiả thiết rằng bằng sự can thiệp (từ bên ngoài), các cộng đồng cư dân có lối sốngtruyền thống hoàn toàn có thể trở thành các xã hội phát triển giống như mọi xã hộikhác Lý thuyết hiện đại hóa cố gắng xác định các biến số góp phần vào tiến bộ và
Trang 36phát triển của xã hội, nó không chỉ nhấn mạnh quá trình thay đổi mà cả những phảnhồi của xã hội đối với thay đổi đó Đặc biệt, lý thuyết hiện đại hóa nhìn nhận nhữngnăng động nội tại của cộng đồng trong sự tham chiếu với các cấu trúc văn hóa xãhội và khả năng thích ứng với những kỹ thuật mới
Vận dụng lý thuyết này vào xem xét trường hợp ĐCĐC ở vùng núi ViệtNam, có thể thấy sự can thiệp của nhà nước vào nông nghiệp du canh là có cơ sở vìchức năng của nhà nước là quản lý và xây dựng chiến lược phát triển Sự kết hợptrợ giúp hay can thiệp từ bên ngoài và phát huy nội lực của cộng đồng để tạo ra conđường phát triển riêng của mình có ý nghĩa sống còn đối với chiến lược can thiệpvào các cộng đồng đang duy trì lối sống truyền thống Chính các nguyên lý của chủnghĩa Mác về nhà nước cũng được phát triển trên nền tảng của lý thuyết chức năngtrong đó tập trung vào vấn đề các hình thái xã hội vận hành như thế nào để duy trì
sự cân bằng và ổn định của các bộ phận cấu thành trong đó; xã hội được xem nhưmột chỉnh thể thống nhất và mỗi thành tố đều có chức năng, vai trò và vị thế đónggóp vào sự liên kết tạo nên sự cân bằng và ổn định xã hội [57, tr.113-116]
Nhà nước là một thiết chế quyền lực đặc biệt trong xã hội có giai cấp Nhànước có hai chức năng cơ bản là chức năng giai cấp và chức năng xã hội Nhà nướcthực thi chức năng xã hội với vai trò là tổ chức quyền lực công, bảo đảm lợi íchchung của toàn xã hội, ví dụ nhà nước giải quyết các vấn đề về môi trường, quan hệdân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội khác… Chức năng xã hội cũng chính làvai trò kinh tế xã hội của nhà nước, là thuộc tính khách quan và phổ biến Tuynhiên, mức độ biểu hiện và thực hiện chức năng xã hội không giống nhau giữa cácnhà nước của xã hội có giai cấp đối kháng và nhà nước XHCN
Theo nguyên tắc tổ chức nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lê nin, một trongnhững chức năng của nhà nước XHCN là bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích các dântộc và mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trên nguyên tắc: “Các dân tộc hoàn toànbình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộclại” [41, tr 375] Bản chất nhà nước XHCN có sự thống nhất giữa bản chất giai cấpcông nhân với tính nhân dân và tính dân tộc Tính dân tộc của nhà nước Cộng hòa
Trang 37XHCN Việt Nam thể hiện trước hết ở việc nhà nước ra đời từ cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc Trong các thời kỳ cách mạng, nhà nước luôn tổ chức nhân dân cácdân tộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, gắn lợi ích giai cấp công nhânvới lợi ích dân tộc Nhà nước ta là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinhsống trên lãnh thổ Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách dân tộc nhất quán làbình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc [63, tr 129] Chính sách ĐCĐC làmột bộ phận trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, thực chất là một bộphận của chính sách phát triển quốc gia - dân tộc, nhằm phát triển các dân tộc, xâydựng và củng cố vững chắc quan hệ dân tộc - quốc gia ở Việt Nam [3]
Như vậy, trên quan điểm lý luận về hiện đại hóa và vai trò nhà nước, ta cóthể xem xét chính sách ĐCĐC như một phương thức nhằm thực hiện vai trò chứcnăng của nhà nước, nhất là vai trò kinh tế - xã hội của các nhà nước Tuy nhiên,mục đích, nội dung và thực hiện chính sách ĐCĐC biểu hiện ở những mức độ khácnhau tùy thuộc bản chất, đặc trưng của các kiểu nhà nước
1.2.2.2 Lý thuyết biến đổi và thích ứng văn hóa
Như đã chỉ ra ở trên, chương trình ĐCĐC nhằm thay đổi lối sống du canhchuyển sang lối sống ĐCĐC và do đó tất yếu dẫn đến những biến đổi trong lối sống
và văn hóa của cộng đồng cư dân thực hiện định canh Cho nên, nghiên cứu vềĐCĐC ở người Khơ mú và Hmông cần phải lý giải khả năng thích ứng văn hóa trêntrên cơ sở lý thuyết về biến đổi văn hóa
Theo Vương Xuân Tình, các lý thuyết về biến đổi trên thế giới được xây
dựng trên 3 nền tảng tư tưởng chính: 1) Thuyết khải hoàn: Thuyết này chịu ảnh
hưởng của Thiên Chúa giáo, coi sự vận động của thế giới là tất yếu đi đến cái tốt
đẹp; 2) Thuyết tiến hóa: Nhìn nhận sự vật biến đổi theo quá trình, cái sau phát triển hơn cái trước; 3) Thuyết chu kỳ: Nhìn nhận sự vật phát triển theo quy luật chung, có
sinh thành và có tiêu vong, và sau đó, cái mới lại xuất hiện Trên cơ sở của các lýthuyết này, các học giả phát triển thêm nhiều lý thuyết biến đổi khác như thuyếtkinh tế; thuyết tư tưởng; thuyết kỹ thuật; thuyết xung đột; thuyết thích ứng [71]
Ngay từ năm 1951, Kurt Lewin đã đưa ra mô hình 3 giai đoạn mang tínhkhuôn mẫu của quá trình biến đổi là: Bất ổn định, biến đổi và tái ổn định
Trang 38(Unfreezing, Changing and Refreezing) [115] Sau đó, các yếu tố cản trở tới biến
đổi đã được G Zaltman & R Duncan luận giải gồm 4 yếu tố cơ bản là: cản trở vềvăn hóa, cản trở về xã hội, cản trở về tổ chức và cản trở về tâm lý [139]
Về lý thuyết biến đổi văn hóa (Cultural change), chúng tôi tham khảo lý
thuyết về quá trình biến đổi văn hóa của nhà nhân học Mỹ Dennis O’Neil [124].Dennis O’Neil đã tóm tắt về lý thuyết biến đổi văn hóa như sau (dẫn theo VươngXuân Tình [71]):
Trong xã hội Giữa các xã hội
Theo Dennis O’Neil, tất cả các nền văn hóa thay đổi qua thời gian Tuynhiên, hầu hết các nền văn hóa về cơ bản là bảo thủ trong đó có xu hướng chống lại
sự thay đổi Quá trình thay đổi các nền văn hóa là rất phức tạp Vì vậy, chúng taphải có một cách tiếp cận toàn diện để nghiên cứu các nền văn hóa và môi trườngtrong đó chúng tồn tại Có ba nguồn gốc ảnh hưởng hoặc tạo áp lực cho cả thay đổi
và sự phản kháng với thay đổi: Áp lực trong xã hội; sự liên hệ giữa xã hội; sự thayđổi trong môi trường tự nhiên Khi các nền văn hóa thay đổi, chúng có thể có tácđộng đến môi trường Tương tự, khi thay đổi môi trường, văn hóa sẽ bị ảnh hưởng
Trong một xã hội, quá trình dẫn đến thay đổi bao gồm sự can thiệp và mấtvăn hóa Sự can thiệp có thể là công nghệ, tư tưởng, chính sách Mất văn hóa là mộtkết quả tất yếu của các mô hình văn hoá cũ được thay thế bằng những cái mới Quá
Năng động củanhómbên trong
Trang 39trình dẫn đến sự phản kháng thay đổi bao gồm tập quán và sự hội nhập của nhữngđặc điểm văn hóa Các thiết chế văn hóa hội nhập với nhau và sự ảnh hưởng lẫnnhau là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi Quá trình dẫn đến sự thay đổi như
là kết quả liên hệ giữa các xã hội, đó là: Sự khuếch tán (suffusion), tiếp biến(acculturation), chuyển biến văn hóa (transculturation)
1.2.2.3 Cơ sở phương pháp luận của luận án
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin về vấn
đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH, về vấn đề dân tộc và nhà nước:Cương lĩnh dân tộc của Lê nin; quan điểm của Lê nin về nhà nước và dân tộc; tưtưởng Hồ Chí Minh về giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam; quan điểm, chínhsách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; Nghị quyết Hội nghị Trung ương (TW) 5khóa VIII (1998) [19], Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa IX (2003) [20]
Nghị quyết Hội nghị TW 5, khóa VIII của Đảng về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (16/7/1998) là nghị quyết
chuyên đề về văn hóa đặt ra chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa nước tatrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghị quyết có 5 quan điểm cơ bản vềvăn hóa: 1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; 2) Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; 3) Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạngcủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam; 4) Xây dựng và phát triển văn hóa là sựnghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo; 5) Văn hóa là một mặt trận, xây dựng vàphát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài cần kiên trì, thận trọng
Nghị quyết Hội nghị TW 7 khóa IX (2003) của Đảng về công tác dân tộc đã
bổ sung, phát triển và cụ thể hóa một bước hệ thống mục tiêu, quan điểm, nội dungchính sách và những giải pháp cơ bản thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết nêu rõ: Vấn đề dân tộc
và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề
cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ giúp nhau cùng phát triển Kiên quyết chống lại sự chia rẽ, kỳ thị và phân biệtdân tộc Phát triển toàn diện vùng dân tộc miền núi trong thời kỳ mới
Trang 40Trên cơ sở lý luận và các lý thuyết trình bày ở trên, chúng tôi đi vào luận giảinội dung các vấn đề nghiên cứu mà luận án đặt ra.
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề ĐCĐC có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Nghiên cứunày tiếp cận vấn đề từ cơ sở nhân học văn hóa xã hội; trong đó, phân tích định tínhđược đặc biệt nhấn mạnh Tuy nhiên, sự kết hợp và bổ sung các nguồn thông tinđịnh tính và định lượng cũng như các tư liệu lịch sử được lưu trữ ở các cơ sở nhànước và người dân được xem là có ý nghĩa quan trọng trong các phân tích khoa học
Chúng tôi bắt đầu bằng việc tiến hành thu thập và đánh giá thông tin hiện cóliên quan đến đề tài Các tài liệu và báo cáo của các cấp chính quyền về chủ trươngchính sách ĐCĐC của Đảng và Nhà nước trong khoảng thời gian từ năm 1968 chođến nay, các báo cáo, các tài liệu lưu trữ, và tài liệu tham khảo đều được thu thậpnhằm phục vụ nghiên cứu Những nguồn tài liệu này đã mang lại hiểu biết có hệthống về cơ sở của chính sách ĐCĐC và quá trình thực hiện chính sách này Rấtmay mắn là đã có một vài nghiên cứu phân tích ĐCĐC từ nguồn tài liệu lưu trữ làmcho quá trình tìm kiếm và hệ thống thông tin của chúng tôi rút ngắn được thời gian
và có thêm thông tin tham chiếu [40]
Trong quá trình bắt tay vào nghiên cứu, tôi đã tham khảo ý kiến của cácchuyên gia và những người có kinh nghiệm nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề nàytrong giới chuyên môn nông lâm nghiệp, sinh thái và đặc biệt là của các nhà dân tộchọc Ngoài ra, trải nghiệm cuộc sống và các câu chuyện đời sống của người dân vànhững cán bộ đã từng công tác tại địa phương trong khoảng thời gian trước và sauĐCĐC để từ đó xác định những trọng tâm nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học được xem là phương pháp
nghiên cứu chủ yếu để thu thập thông tin và phân tích vấn đề của luận án Phươngpháp này bao gồm các thao tác cơ bản như: thu thập các tài liệu văn bản và thống kêkinh tế - xã hội có liên quan đến đề tài nghiên cứu, quan sát tham gia, phỏng vấnsâu các đối tượng nghiên cứu và thảo luận nhóm Thực ra, quan tâm của tôi vềchính sách ĐCĐC đã được tích lũy trong một thời gian dài, bắt đầu từ năm 2005,khi tôi nghiên cứu về biến đổi văn hóa – xã hội ở các cộng đồng ĐCĐC làm luậnvăn thạc sỹ Nghiên cứu này là sự tiếp nối, phát triển và nâng cao cả về lý luận và