1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

74 800 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 38,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ục tiêu: làm rõ đặc điểm và hiện trạng các hệ thống sử dụng đất của từng nhóm dân tộc Thái, H Mông, Kinh trên địa bàn xã Đông Sang, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp sử dụng đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠÍ HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN

Chủ trì đề tài: TS Trần Văn Tuấn

Những người tham gia: Th.s Nguyễn Xuân Sơn

Th.s Lê Thị Hồng ThS Phạm Thị Phin

CN Nguyễn Thị Bích Hảo

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ò C G ia h a N Ọ '

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

Trang 2

TÓM TẮT BÁO CÁO

1 Tên đề tài: Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục

vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Mã số: QT - 09 - 42

2 Chủ trì đề tài: TS Trần Văn Tuấn

3 Cán bộ phối hợp: ThS Nguyễn Xuân Sơn

ThS Lê Thị Hồng Ths Phạm Thị Phin

CN Nguyễn Thị Bích Hảo

4 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

4.1 M ục tiêu: làm rõ đặc điểm và hiện trạng các hệ thống sử dụng đất của

từng nhóm dân tộc (Thái, H Mông, Kinh) trên địa bàn xã Đông Sang, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp sử dụng đất bền vững phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng các hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộctại khu vực nghiên cứu đối với yêu cầu phát triển bền vững

- Đánh giá tiềm năng đất đai và mức độ thích nghi sinh thái của đất đai đối với một số loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất định hướng sử dụng đất, các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất tại khu vực nghiên cứu

5 Các kết quả đạt được

- Làm rõ đặc điểm các hệ thống sử dụng đất của từng nhóm dân tộc trên địa bàn xã Đông Sang: của người Thái gắn với trồng lúa ruộng nước và làm

Trang 3

làm nương, chăn nuôi đại gia súc; của người Kinh gắn với các hoạt động phi nông nghiệp (kinh doanh, dịch vụ).

- Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc trên địa bàn xã Đông Sang còn thấp Tình trạng độc canh cây ngô trên đất dốc dẫn đến xói mòn, rửa trôi làm giảm chất lượng đất

- Đã đánh giá phân hạng thích nghi đất đai cho ba loại hình sử dụng đất chính gồm: ngô, mận và chè

- Đã đề xuất định hướng sử dụng đất xã Đông Sang theo hướng mở rộng diện tích trồng cây lâu năm, phát triển rừng; thiết lập các mô hình hệ kinh

tế - sinh thái nông hộ và mô hình sử dụng đất bền vững

- Công bổ 01 bài bảo: Trần Văn Tuấn, Nguyễn Xuân Sơn Phân tích

hiện trạng sử dụng đất của các nhỏm dân tộc thiểu số phục vụ phát triển bền vững tại xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tạp chí Khoa học đo

đạc và bản đồ số 03/2010

- về đào tạo: đã hướng dẫn 01 khóa luận tốt nghiệp “Xây dựng phương

án quy hoạch sử dụng đất xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến 2020” (sinh viên Nguyễn Thị Bích Hảo khóa K50 ngành Địa chính) Đã bảo

Trang 4

PROJECT SUMMARY

1 Project title: Research on land use system of etthnic groups for sustainable

development in Dong Sang commune, Moc Chau district, Son La province

2 Code number: QT - 09 - 42

3 Project head: Dr Tran Van Tuan

4 Research objective and contents

Trang 5

- Social, economic and environmental productivity of etthnic group’s land use systems is still low Com cultivation on the steep land lead to erosion and land degeneration.

- Project has evaluated and classified the land adaptation level of some main land use types for instance: com, tea, plum

- Project has proposed the orientations of land use such as: enlargement the perennial area and forest; establishing the economic-ecological models for farmer and sustainable land use models

- Published one paper: Tran Van Tuan, Nguyen Xuan Son Analysis land use status of ethnic minorities for sustainable development at Dong Sang

Commune, Moc Chau District, Son La Province Journal o f Surveying

Trang 6

8

12

16 17

Loại hình sử dụng đẩt nông, lâm nghiệp Loại hình sử dụng đất phỉ nông nghiệp

Cơ sở phương pháp luận về sử dụng đất hợp lý và bền vững ở khu 13 vực miền núi của nước ta hiện nay

Phương pháp nghiên cửu

ĐIÈU KIỆN T ự NHIÊN, KINH TÉ - XẢ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG

HỆ THÓNG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC NHÓM DÂN T ộ c TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG SANG

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đông SangĐiều kiện tự nhiên

Đặc điểm kinh tế - xã hộiHiện trạng hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc trên địa bàn 32

xã Đông Sang

Nhận xét, đánh giá các hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc 38 đối với phát triển bền vững

ĐẺ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP s ử DỤNG ĐẤT 40 PHỤC VỤ PHÁT TRIẺN BÈN VỬNG XÃ ĐÔNG SANG

17 17 20

Trang 7

3.1.3 Tiềm năng đất đai sử dụng vào mục đích lâm nghiệp 483.2 Định hướng sử dụng bền vững đất đai xã Đông Sang 493.3 Đề xuất các mô hình hệ kinh tế -sinh thái và sử dụng đất bền vững 50

cho các nhóm dân tộc trên địa bàn xã

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Cấu trúc hệ thống sử dụng đất (Theo Dent và Young, 1987) 7

Hình 3 Cơ sở thiết lập mô hình hệ kinh tế sinh thái và sử dụng đất bền vững 15Hình 4 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Đông Sang năm 2009 29Hình 5 Biêu đô cơ câu các loại đât phỉ nông nghiệp năm 2009 31Hình 6 Sơ đô đánh giá, phân hạng thích nghỉ đât đai trên cơ sở ứng dụng

ArcGis

46

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Nhóm các loại hình sử dụng đẩt chính khu vực nông thôn miên

Bảng 7 Hiệu quả kinh tê các loại hình sử dụng đât chính của dân tộc

Thái trên địa bàn xã Đông Sang

35

Bảng 8 Hiệu quả kinh tê các loại hình sử dụng đât chính của dân tộc

H Mông trên địa bàn xã Đông Sang

37

Bảng 9 Bảng phân cap chỉ tiêu thích nghi sinh thái đối với cây ngô,

mận và chè Shan tại xã Đông Sang

44

Bảng 10 Yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất 45

Bảng 12 Thống kê diện tích các mức độ thích nghi đất đai đối với cây

Trang 10

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quá trình phát triển này diễn ra trên khắp các vùng lãnh thổ Các dạng tài nguyên cơ bản như đất, nước được khai thác, huy động tối đa vào sử dụng, kết quả tất yếu là ở nhiều nơi tài nguyên bị suy giảm gây ra ảnh hưởng xấu ngược lại với sự phát triển

Để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, con đường duy nhất phải chọn là sự phát triển dựa trên nguyên tắc bền vững Đó là chiến lược chung toàn cầu về môi trường và đã được khẳng định trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành Đẻ đạt được mục tiêu phát triển bền vững thì nhiệm vụ khai thác, sử dụng hợp lý

và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên đất - tư liệu sản xuất chủ yếu và nền tảng cơ bản cho các hoạt động sản xuất đóng vai trò rất quan trọng

Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất đai tại nhiều địa phương ở nước ta ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên tại nhiều khu vực, nhất

là khu vực miền núi, hiện trạng khai thác sử dụng đất vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Do đặc thù địa hình phức tạp và trên địa bàn phân bố nhiều các nhóm dân tộc, trong đó có nhiều dân tộc thiểu số với tập quán, trình

độ sử dụng đất còn lạc hậu dẫn đến tình trạng tài nguyên đất ở nhiều khu vực ngày càng bị suy giảm về chất lượng và ảnh hưởng đến môi trường Vì vậy định hướng sử dụng đất dốc như thế nào cho các mục đích phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái của địa phương đang là nhiệm vụ cấp thiết

Xã Đông Sang là một xã miền núi của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

có diện tích tự nhiên khá lớn (4553 ha) nhưng địa hình phức tạp Trên địa bàn

xã phân bổ ba nhóm dân tộc gồm Thái, H Mông và Kinh Mỗi dân tộc có tập quán, trình độ khai thác sử dụng đất riêng Trong những năm vừa qua dưới sức ép của gia tăng dân số và phát triển kinh tế, áp lực đối với tài nguyên đất trên địa bàn ngày càng gia tăng Sự phát triển bền vững của xã trong giai đoạn hiện tại và tương lai gắn liền với hệ thống sử dụng đất của các nhóm

Trang 11

dân tộc phân bố trên địa bàn Do đó, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài

nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhỏm dân

tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tinh Sơn

L a ”

Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện với mục tiêu làm rõ đặc điểm và hiện trạng các

hệ thống sử dụng đất của từng nhóm dân tộc (nhóm người Thái, H Mông, Kinh) trên địa bàn xã Đông Sang, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp

sử dụng đất bền vững phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài đề ra các nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống sử dụng đất và vai trò của nó đối với phát triển bền vững

+ Điều tra, khảo sát làm rõ đặc điểm và hiện trạng của các hệ thống sử dụng đất của từng nhóm dân tộc (nhóm người Thái, H Mông, Kinh) trên địa bàn xã Đông Sang trong mối quan hệ với truyền thống, tập quán canh tác, khai thác sử dụng đất

+ Đánh giá hiện trạng các hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc tại khu vực nghiên cứu đối với yêu cầu phát triển bền vững

+ Đánh giá tiềm năng đất đai và mức độ thích nghi sinh thái của đất đai đối với một số loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn nghiên cứu

+ Đề xuất định hướng sử dụng đất, các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất và bảo vệ môi trường tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện được nhiệm vụ đã nêu ở trên nhằm đạt mục tiêu đặt ra đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai theo FAO

Trang 12

- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích.

- Phương pháp bản đồ và GIS

- Phương pháp chuyên gia

Cấu trúc đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài

gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng hệ thống

sử dụng đất của các nhóm dân tộc trên địa bàn xã Đông Sang

Chương 3: Đề xuất định hướng và các giải pháp sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang

Trang 13

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên

và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN với nội dung “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”

Khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 trong báo cáo với tiêu đề “Tương lai của chúng ta”, hay còn gọi là Báo cáo Brundland của ủ y ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED Báo cáo này ghi rõ: phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Nói cách khác, đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, xã hội và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Tháng 6 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển họp tại Rio de Janeiro đã đưa ra bản tuyên

ngôn iivể Môi trường và Phát triển” và “Chương trình nghị sự 21” (Agenda

21 - Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) thống

nhất định nghĩa về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển

nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không làm tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai ” và phát triển bền vững

phải là mục tiêu của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Tiếp đến, vào năm

2002, Liên Hiệp Quốc tổ chức một hội nghị tại Johannesburg, Nam Phi với sự

tham gia của 196 quốc gia “Hội nghị Thượng đinh thế giới về phát triển bền

vững” Hội nghị Johannesburg đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda

Trang 14

21 và đã đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ mới Phát triển bền vững đã trở thành tuyên ngôn và chiến lược hành động chung của nhiều quốc gia trên thế giới.

Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường

Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết họp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc

độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ

Phát triển bền vững về xã hội là xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo cho mọi đối tượng xã hội

Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo được phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên, ) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người, ) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người được sống trong môi trường trong sạch,

Khái niệm phát triển bền vững được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX và bắt đầu được Nhà nước Việt Nam thông qua từ ngày 12/9/1991 với chủ đề “Ke hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000” - một trong những kế hoạch quốc gia đầu tiên được xây dựng theo quan điểm phát triển bền vững vừa được quốc tế chính thức công bố Ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW “Vẻ việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong

Trang 15

thời kỳ CNH, HĐH đất nước” nêu lên quan điểm “Bảo vệ môi trường phải gắn liền và là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững đất nước” Tiếp

đó, Đại hội IX của Đảng khẳng định con đường phát triển kinh tế -xã hội của Việt Nam là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trường kinh tể đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, “phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường, giữa nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” [13] Ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Để thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia thì tất cả các cấp, các ngành, đơn vị hành chính đều phải quán triệt chủ trương của Nhà nước, trong đó cấp xã - đơn vị hành chính cơ sở đóng vai trò rất quan trọng.1.2 Hệ thống sử dụng đất và vai trò của nó đối với phát triển bền vững

Theo quan niệm của FAO, hệ thống sử dụng đất (Land use system) là

sự kết hợp của loại hình sử dụng đất với điều kiện đất đai tạo thành hai hợp phần tác động lẫn nhau và từ sự tương tác này sẽ dẫn đến các đặc trưng về mức độ chi phí và đầu tư, năng suất, sản lượng cây trồng, mức độ và các biện pháp cải tạo đất [15]

Như vậy mỗi một hệ thống sử dụng đất có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai Hợp phần đất đai của hệ thống sử dụng đất là các đặc tính, tính chất của đất đai như thổ nhưỡng, độ dốc, thành phần cơ giới Hợp phàn sử dụng đất đai của hệ thống sử dụng đất là loại hình sử dụng đất và các hoạt động đầu tư, sử dụng, cải tạo đất của con người (Hình

Trang 16

Hệ thống sử dụng đất

(Land use system)

Loại sử dụng đất (Land utilization type)

Đơn vị đất đai (Land unit) Cái tao đất fLand improvement^

>

Nãng suất, thu nhập íOutnutsì 3áu tự (InDUtsì

Yêu cấu sử dụng đất (Land use requirements)

Chất lượng dất đai (Land qualities)

H ìnhl Cấu trúc hệ thống sử dụng đất (Theo Dent và Young, 1987)

Đầu vào của hệ thống sử dụng đất được xác định bởi các yếu tố của

quá trình sản xuất gồm: đất đai và các yếu tố tự nhiên như bức xạ, lượng

mưa, ; sự tác động của con người (lao động); đầu tư (vật tư, kỹ thuật) Đầu

ra của hệ thống sử dụng đất đó là hiệu quả kinh tế, xã hội và ảnh hưởng môi

trường (hình 2)

Hệ thống sử dụng đất đóng vai trò quyết định đối với phát triển bền

vững của từng địa phương và cả nước Vai trò này xuất phát từ đặc điểm và

chức năng của hệ thống:

- Hợp phần đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường

sống, có đất đai mới có các hoạt động sống diễn ra Đất đai ảnh hưởng trực

tiếp đến đời sống của con người và các sinh vật

- Đất đai là nền tảng phân bố mọi hoạt động sản xuất của con người

Trong công nghiệp, dịch vụ đất đai là địa bàn, cơ sở phân bổ không gian, địa

điểm để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong sản xuất nông,

lâm nghiệp, đất đai có vai trò đặc biệt, không những là địa điểm thực hiện

quá trình sản xuất mà nó còn là tư liệu lao động để con người khai thác và sử

dụng

Trang 17

Đầu vào về kinh tế:

Hình 2: Đầu vào và đầu ra của hệ thống sử dụng đất

(theo Đào Châu Thu, Nguyễn Khang 1998)

- Hợp phần loại hình sử dụng đất nếu được bố trí hợp lý sẽ có tác động tích cực và cải thiện môi trường sinh thái Ngược lại, nếu bố trí không hợp lý

sẽ dẫn đến hậu quả về xã hội, môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển bền vững

- Sự kết hợp, sử dụng họfp lý hợp phần đất đai và hợp phần loại hình sử dụng đất phụ thuộc vào phương thức tổ chức khai thác, sử dụng của con người, của cộng đồng dân cư, dân tộc trên từng địa bàn nhằm đảm bảo hài hòa ba lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường

1.3 Những ảnh hưởng chủ yếu của các loại hình sử dụng đất chính tại

khu vực miền núi ở nước ta đối với môi trường

1.3.1 Loại hình sử dụng đất nông, lâm nghiệp

Miền núi Việt Nam nói chung đa phần diện tích đều là đất dốc Do đặc thù về địa hình, tập quán canh tác, cũng như các điều kiện tự nhiên - kinh tế

xã hội nên hệ thống sử dụng đất ở khu vực miền núi tương đối đa dạng Trong hệ thống này, không những đa dạng về loại đất (thổ nhường), loại hình

Trang 18

sử dụng đât mà còn phong phú về chủng loại cây trồng Có những loại hình

sử dụng đât mang đậm truyên thông của đồng bào các dân tộc vùng cao, có những loại hình sử dụng đất gắn với trình độ thâm canh cao của đồng bào người Kinh Thực tien cho thấy, hầu hết các loại hình sử dụng đất đều có tác động đên tính chât đât cũng như môi trường sinh thái: bên canh tác động tích cực làm cải thiện tính chât đất cũng có các tác động tiêu cực làm nghèo dinh dưỡng đât, gia tăng xói mòn, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và hệ sinh thái

Các loại hình sử dụng đất ở khu vực miền núi có thể phân thành các nhóm chính như sau:

Bảng 1 Nhóm các loại hình sử dụng đất chính khu vực nông thôn

miền núi

Ruộng Chuyên lúa (1 vụ lúa, 2 vụ lúa)

Lúa - màu (1 vụ màu - 1 vụ lúa)

Nương Nương chuyên canh ngô, sắn, nương lúa, nương có

bỏ hóa, nương không bỏ hóa

Nương chè, cà phê

Rừng Rừng trông, rừng tự nhiên, rừng khoanh nuôi

Đât trông đôi trọc Đât trông đôi trọc

- Nhóm ruộng: bao gồm ruộng lúa nước và ruộng bậc thang Ruộng nước có khả năng giữ đất, giữ nước tốt Canh tác ruộng bậc thang cũng là cách giữ đất hữu hiệu, giảm thiểu xói mòn Ruộng bậc thang thường được xây dựng tại những khu vực có độ dốc nhỏ hơn 20° Nếu không làm ruộng bậc thang, canh tác trên nương 1 vụ sẽ làm xói mòn 1-2 cm đất (nguồn - Đường Hồng Dật, 2002)

- Nhóm nương, rẫy

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Minh, viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam cho thấy, loại hình sử dụng đất nương độc canh (lúa nương,

Trang 19

nương sắn, nương ngô ) không có biện pháp chống xói mòn tầng đất mặt bị rửa trôi mạnh, các hạt sét, câu trúc đât bị phá hủy, đất chặt cứng, sức chứa ẩm thấp, lượng chất hữu cơ so với cây lâu năm giảm đi một nửa, đất trở nên chua, nghèo dinh dưỡng [5].

Trồng cây ngắn ngày cũng làm cho lượng đất bị xói mòn khoảng 100 -

150 tân/ha/năm Việc cày bừa làm đât để gieo trồng ngày nay trước khi mùa mưa đên gây xói mòn nhiêu hom là phương thức chọc lỗ tra hạt của một số đồng bào dân tộc Đất bỏ hóa có thảm cỏ và cây bụi che phủ thì lượng đất mất khoảng 1 0 - 4 0 tấn/ha/năm [3]

Khi con người phát rẫy, khai hoang để canh tác, lóp thảm rừng bị biến mất, đất bị tác động của các trận mưa, gây xói mòn, rửa trôi và đất dần bị thoái hoá Tốc độ thoái hoá nhanh hay chậm phụ thuộc vào mức độ che phủ,

độ dốc, dòng chảy bề mặt và khả năng chống chọi của đất Lớp phủ thực vật, đặc biệt là thảm thực vật rừng nhiệt đới là chiếc áo tốt nhất bảo vệ cho đất khỏi bị hoặc giảm bớt xói mòn Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả thì lượng đất bị xói mòn dưới thảm rừng tự nhiên là ít nhất Sau khi phá rừng để trồng cây trên cùng độ dốc do độ che phủ khác nhau thì lượng đất bị xói mòn cũng khác nhau

Bảng 2: Ảnh hưởng của phương thức sử dụng đất đến

lượng đất bị xói mònPhương thức sử dụng

(loại hình sử dụng đất)

Lượng đất bị xói mòn (tấn/ha/năm)

Trồng cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê) 2 2 - 7 0

Nguồn: [6 ]

Tuy nhiên, ở vùng đất dốc, trồng cây nông nghiệp có băng chắn trồng xen làm giảm sự xói mòn đất từ 25 - 50%, hạn chế sự rửa trôi các cation kiềm kiềm thổ, tăng lượng lân dễ tiêu, tăng lượng hữu cơ trả lại đất làm cho đất tơi xốp, có sức chứa ẩm cao hơn là diện tích đất trồng trọt không có biện pháp chống xói mòn

Trang 20

- Nhóm cây lâu năm

Cây lâu năm tuy răng vẫn được đánh giá là loại cây bảo vệ đất tương đối tốt tuy nhiên, trồng ở khu vực miền núi với độ dốc tương đối lớn vẫn gây

ra hiện tượng rửa trôi, xói mòn, mât chât dinh dưỡng của đất Hàm lượng mùn trong đât là chỉ tiêu của độ màu mỡ của đất, khi mới khai hoang được xác định là 3,5% Sau 5 năm trông chè còn 2,5%; chè tuy là cây lâu năm chống xói mòn tốt vẫn mất 1% mùn Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệpi trên đất có độ dốc 15 - 25° và lượng mưa khoảng 1500mm/năm, thì lượng đất mất do xói mòn của đất trồng chè, cà phê cũng là 22 - 27 tấn/ha [ 6 ]

Nhiều chỉ tiêu khác về độ màu mỡ của đất cũng diễn biến theo chiều hướng xấu đi, như khả năng giữ chất dinh dưỡng trong đất giảm, kết cấu kém đi

- Rừng: Lớp phủ thực vật, đặc biệt là thảm thực vật rừng nhiệt đới là chiếc áo tốt nhất bảo vệ cho đất khỏi bị hoặc giảm bớt xói mòn Khi còn cây che phủ đất thì còn giữ được độ ẩm và mát cho rễ cây phát triển tốt Nhưng tính chất đất đã thay đổi sau khi phát và đốt rừng

Bảng 3: Sự thay đồi tính chất đất sau khi phát đốt rừng

trồng lúa nương

Độ chua trao đổi

Độ chua thủy phân

Dung lượng hấp thụ

Hữu cơ

Đất còn rừng trước mùa

mưa

Đât còn rừng sau mùa

mưa (lượng mưa 2450

*MÔ hình nông lâm kết họp

Mô hình nông lâm kết hợp thường được thực hiện ở những vùng xa nơi

Trang 21

ở chủ yêu là ở vùng rừng tái sinh, cây gỗ thưa thớt, cây bụi hoặc tre nứa Loại hình này chưa phổ biến, diện tích rừng thường chiếm 79 - 80%, diện tích nông nghiệp chiếm 15 — 20% chủ yếu là trồng sắn, lúa nương, đậu đỗ ở nơi ít doc Với phương thức trồng này, độ phì nhiêu của đất được duy trì và cải thiện.

Như vậy, loại hình sử dụng đất có khả năng duy trì độ phì, giảm thiểu xói mòn đất là rừng, ruộng và cây lâu năm Loại hình sử dụng đất có khả năng duy trì độ phì kém nhất là nương rẫy độc canh cây hàng năm và đất trống đồi trọc

1.3.2 Loại hình sử dụng đất phi nông nghiệp

Đối với khu vực nông thôn miền núi, loại hình sử dụng đất phi nông nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến môi trường và tính chất đất là khai thác khoáng sản Đây là một hoạt động công nghiệp không giống các hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu Một khối lượng lớn chất thải rắn được hình thành do nhũng vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối lượng quặng được khai thác, dẫn đến nhiều khi khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng nằm trong lòng đất Môi trường chịu ảnh hưởng lớn nhất trong khu khai thác là chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên bề mặt địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các

hố sâu và các đống đất đá

Đặc biệt ở những khu vực khai thác "thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều Một số diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt Các cồn đống cuội, đá thải trong quá trình khai thác vàng trên lòng sông ngăn cản, thay đổi dòng chảy gây sự xói lở đất bờ sông, đê điều, gây úng lụt cục

bộ Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Quá trình san lấp mặt bằng, xây dựng nhà tạm hoặc thủ công, hoặc cơ giới đều gây tiếng ồn, gây bụi làm ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nguồn nước cũng như làm đảo lộn môi trường đất tạo nên một vùng "đất mượn" Vùng "đất mượn", đặc biệt là ở những khu vực có độ dốc lớn, khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuổng vùng thấp, vùng đất canh tác,

Trang 22

gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra

lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội

Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất nông lâm nghiệp và ảnh hưởng đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm nghiệp để làm khai trường, bãi thải, thải các chất thải rắn như cát, đá, sỏi, bùn ra đất nông nghiệp, thải nước từ các hệ tuyển làm ô nhiễm đất nông nghiệp và giảm sút năng suất cây trồng

Ngoài loại hình sử dụng đất cho hoạt động khai thác khoáng sản, các loại hình khác như sử dụng đất cho hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đô thị nếu không được bố trí hợp lý và áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường cũng sẽ gây ra những tác động xấu đối với sự phát triển bền vững của khu vực miền núi nước ta

1.4 Cơ sở phương pháp luận về sử dụng đất hợp lý và bền vững ở khu vực miền núi của nước ta hiện nay.

Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên đất là vấn đề quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới Cách đây hơn 40 năm, Hội nghị chuyên viên giữa các Chính phủ về những cơ sở khoa học của việc sử dụng họfp lý và bảo vệ các nguồn dự trữ của sinh quyển đã diễn ra năm 1968 tại Pháp do Liên Hợp Quốc tổ chức Các điều kiện để sử dụng một nguồn dự trữ nào đó một cách hợp lý được xem xét đánh giá là: a/ Chất lượng

và những thuận lợi về vị trí; b/sự cần thiết thỏa mãn nhu cầu của một nhóm dân cư nào đó; c/ hiệu quả của những kết quả có thể đưa lại; d/ khả năng duy trì những kết quả này trong một thời gian dài; e/giá thành của đầu tư; f/ ảnh hưởng của việc sử dụng tài nguyên đó đến các hoạt động khác của dân cư Đe

sử dụng hợp lý các nguồn dự trữ, nhất là đất, nước đều cần phải có sự phối hợp toàn diện các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, và phụ thuộc trực tiếp vào nhận thức của xã hội về vấn đề đó một cách cụ thể [9] Nhiều nhà nghiên cứu

đã đưa ra định nghĩa về sử dụng hợp lý đât đai, trong đó đáng quan tâm là quan niệm của nhà khoa học Nga GS v.p Trôiski: sử dụng hợp lý đất là sự

sử dụng phù hợp với lợi ích của nền kinh tế trong tổng thể, đạt hiệu quả nhất đổi với mục đích đặt ra trong khi vẫn đảm bảo tác động thuận với môi trường xung quanh và bảo vệ một cách hữu hiệu đất đai trong quá trình khai thác sử dụng [17]

Trang 23

Trong điêu kiện các nguồn tài nguyên đất đai hạn chế và sức ép khai thác sử dụng ngày càng lớn, yêu cầu đảm bảo sử dụng đất hợp lý và bền vững nhăm đảm bảo thỏa mãn nhu câu không những cho nhu cầu của con người thê hệ hôm nay mà cả thế hệ mai sau ngày càng trở nên cấp thiết Tại Hội thảo về ’’Khung đánh giá việc quản trị đất đai bền vững” của FAO năm 1991

đã đưa ra 5 nguyên tăc chính là nền tảng cho việc sử dụng đất bền vững [16]:

1 Duy trì nâng cao sản lượng (khả năng sản xuất - Productivity)

2 Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (An toàn - Security)

3 Bảo vệ tiềm năng tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa chất lượng đất đai (Bảo vệ - Protection)

4 Có thể tồn tại về mặt kinh tế (Khả năng thực hiện - Viability)

5 Có thể chấp nhận về mặt xã hội (Khả năng chấp nhận -

Acceptability)

Trong điều kiện ở nước ta và cụ thể là tại khu vực miền núi, nhiều khu vực, đơn vị lãnh thổ hành chính có điều kiện địa hình rất phức tạp, quỹ đất đai phần lớn là đất dốc, thậm trí có những nơi hon 90% diện tích là đất có độ dốc > 25° nên vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và các mục đích kinh tế, xã hội như đảm bảo lương thực, xóa đói giảm nghèo là vấn

đề mang tính mâu thuẫn, xung đột Tuy nhiên, mâu thuẫn này có thể từng bước được giải quyết trên cơ sở đưa ra phương án sử dụng đất hợp lý đảm bảo hài hòa 3 lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể phải đạt được 3 yêu cầu cơ bản sau:

Để đạt được mục tiêu sử dụng đất hợp lý hướng tới bền vững thì việc

tổ chức các hệ thống sử dụng đất trên quan điểm kinh tế - sinh thái là một

Trang 24

hướng quy hoạch lãnh thổ có hiệu quả cao Theo hướng này cần thiết lập các

mô hình hệ kinh tế - sinh thái hộ gia đình (rộng hom là mô hình kinh tế - sinh thái thôn, bản) và từ đó xây dựng các hệ thống sử dụng đất hợp lý cho hiệu quả cao cả về kinh tế, xã hội và môi trường

Xác lập mô hình hệ kinh tế - sinh thái chính là xác định cây trồng, vật nuôi, sản xuất cái gì phù hợp với điều kiện sinh thái lãnh thổ, phù họp với tầm văn hoá (trình độ và khả năng tiếp thu kiến thức sản xuất) của người dân, cho hiệu quả kinh tế cao và gắn với bảo vệ môi trường Trên cơ sở đánh giá các điều kiện lãnh thổ, nhất là hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc, sinh thái tài nguyên đất và đặc điểm kinh tế, nhân văn của khu vực nghiên cứu tiến hành xây dựng các mô hình hệ kinh tế - sinh thái và sử dụng đất phù hợp cho người dân (hình 3)

Hình 3 Cơ sở thiết lập mô hình hệ kình tế sinh thái và sử dụng đất bền vững

Trang 25

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: làm rõ đặc điểm đất đai và

loại hình sử dụng đất thuộc các hệ thống sử dụng đất của từng nhóm dân tộc trên địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn: Cơ sở của phương pháp là tiếp cận với người dân địa phương để thu thập thông tin phục vụ mục đích nghiên cửu Đề tài đã thực hiện điều tra một số hộ gia đình trong từng nhóm dân tộc để thu thập các thông tin về mức đầu tư và nguồn thu nhập từ các loại hình sử dụng đất tiêu biểu trong khu vực Ngoài ra còn thực hiện lấy ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo ở các cấp huyện, xã và các phòng, ban có liên quan

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích làm rõ đặc điểm của các

hệ thống sử dụng đất và đánh giá tổng họp về hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đổi với mục tiêu phát triển bền vững

- Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái: dùng để đánh giá tiềm năng

và mức độ thích nghi đất đai đối với các loại hình sử dụng đất

- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích: phân tích hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất

- Phương pháp bản đồ và GIS: dùng để thành lập các bản đồ hiện trạng

sử dụng đất, bản đồ phân hạng thích nghi đất đai xã Đông Sang

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các cán bộ địa phương

về định hướng và các giải pháp sử dụng đất bền vững xã Đông Sang

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐIÈU KIỆN T ự NHIÊN, KINH TÉ - XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG

• Phía Bắc giáp thị trấn Mộc Châu

• Phía Tây giáp xã Mường Sang, huyện Mộc Châu

• Phía Đông giáp xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu

• Phía Đông Nam giáp xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu

• Phía Tây Nam giáp xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu

Do tiếp giáp với thị trấn Mộc Châu và nằm gần quốc lộ 6 nên xã Đông Sang nằm trong vùng các xã có tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh, có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội

2.1.1.2 Địa hình

Xã Đông Sang có địa hình phức tạp, mang nét đặc trưng của vùng núi cao nguyên Mộc Châu Địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi và hệ thống các khe, suối Hướng núi chạy theo hướng từ Đông sang Tây và có độ cao trung bình khoảng 985 m so với mặt nước biển Nằm xen kẽ giữa các dãy núi là những phiêng bãi được nhân dân khai thác, trồng các cây ăn quả á nhiệt đới

và các cây lương thực Địa hình phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình khai thác và sử dụng đất đai

2.1.1.3 Khỉ hậu, thời tiết

Trang 27

Mang đặc trưng khí hậu á nhiệt đới của vùng núi cao nguyên Mộc Châu Theo sô liệu quan trắc của Trạm khí tượng thuỷ văn khu vực, các yếu

tố khí hậu, thời tiết đo được như sau:

• Nhiệt độ trung bình trong năm là 18,5°c

• Độ ẩm trung bình năm là 85%

• Tổng lượng mưa trung bình 1650 mm/ năm

• Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.905 giờ/ năm

Đông Sang chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Gió mùa đông bắc vào mùa lạnh và gió đông nam thổi vào mùa hè Trong các tháng mùa lạnh, nước bốc hơi cao hơn lượng mưa nên thường gây hạn hán, đặc biệt vào các tháng mùa lạnh nhiệt độ nhiều năm xuống thấp 0° — 5° ảnh hưởng tới năng suất cây trồng và vật nuôi

2.1.1.4 Thủy văn

Nguồn nước mặt: Xã Đông Sang có mạng lưới suối thưa thớt Ngoài

suối chính chảy qua bản Tự Nhiên sang khu vực bản Áng có chiều dài khoảng 4,5 km thì trên địa bàn xã chỉ có suối Cạn có chiều dài 1,2 km Đây là nguồn nước mặt quan trọng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt đồng thời đóng vai trò là hệ thống thoát nước vào mùa mưa Tuy nhiên các con suối này thường cạn kiệt vào mùa khô gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân

Nguồn nước ngầm: Hiện tại chưa có điều kiện thăm dò, khảo sát đầy

đủ Song trong thực tế ở một số khu vực nước ngầm đã được nhân dân khai thác để phục vụ cho sinh hoạt

2.1.1.5 Tài nguyên đất

Theo kết quả tổng hợp được từ bản đồ thổ nhưỡng huyện Mộc Châu tỷ

lệ 1:50.000, trên địa bàn xã Đông Sang có các loại đất chính như sau:

• Đất đỏ nâu trên đá vôi: Diện tích 1.627 ha chiếm 35,84% diện tích

tự nhiên Loại đất này có thành phần cơ giới nặng, kết cấu tơi xốp Đất có phản ứng chua, độ PH 4,5 - 6,0 Hàm lượng mùn trong đất khá

Trang 28

• Đất Feralit mùn đỏ nâu trên đá vôi: Diện tích 1041 ha chiếm 22,93% diện tích tự nhiên Loại đất này có thành phần cơ giới nặng, kết cấu khá tơi xốp, phản ứng chua, tầng mặt tích lũy nhiều mùn, tuy nhiên có đá lẫn, đá lộ đầu.

• Đất Feralit mùn vàng trên đá cát: Diện tích 1.872 ha chiếm 41,23% diện tích tự nhiên Đất có thành phần cơ giới trung bình, kết cấu kém, đất khá tơi xốp Phản ứng đất rất chua, lượng mùn tích lũy ở tầng mặt khá, có nhiều đá lẫn

Nhìn chung, đất xã Đông Sang được hình thành trên nền địa chất có nguồn gốc trầm tích nên hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất (mùn, đạm, lân, ) ở mức trung bình, nhưng tầng đất khá dày Các loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng cạn như: Ngô, đậu tương và một số loại cây lâu năm có nguồn gốc ôn đới như: mận, đào, mơ và cây chè Shan Tuy nhiên, cần quan tâm chống xói mòn, bảo vệ giữ ẩm cho đất vào mùa khô, kết hợp bón phân hữu cơ và phân vô cơ

2.1.1.6 Tài nguyên rừng

Đông Sang là xã có nguồn tài nguyên rừng khá phong phú Diện tích rừng hiện có là 3.116,83 ha, độ che phủ rừng đạt khoảng 65% Tuy nhiên thảm thực vật tự nhiên Đông Sang có trữ lượng không cao, phân bố không đều trên toàn lãnh thổ, các vùng rừng tập trung chủ yếu ở những nơi hiểm trở Các quần thể thực vật ở xã phân bố theo các độ cao khác nhau Hệ động vật rừng của xã cạn kiệt do tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy, săn bắn thú rừng bừa bãi

2.1.1.7 Đánh giả chung về điều kiện tự nhiên

• Lơi thế: m

+ Xã Đông Sang nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, nằm gần trung tâm

huyện Mộc Châu và quốc lộ 6 nên việc giao lưu hàng hoá thuận tiện tạo điều kiện cho kinh tế phát triển nhanh

+ Với điều kiện đất đai và khí hậu mang tính á nhiệt đới nên thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả có nguồn gốc ôn đới như: mơ, mận, đào và cây lương thực: ngô, đậu tương, đ ồ

Trang 29

• Hạn chế:

+ Do địa hình phức tạp nên gây khó khăn cho việc đi lại giữa các

bản cũng như việc trồng trọt, nâng cao hệ số sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đồng thời cũng gây khó khăn cho việc đưa sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của xã ra các vùng tiêu thụ.+ Do nguồn nước mặt thường cạn kiệt vào mùa khô và nước ngầm thì chưa được khai thác sử dụng rộng rãi nên dẫn đến hiện tượng thiếu nước cho cây trồng đặc biệt vào mùa khô

+ Phân lớn diện tích đât đai có độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật còn hạn chế, đất đai bị xói mòn, có nhiều nguy cơ thoái hóa, bạc màu

2.1.2 Đăc điểm kinh tế - xã hôi

2.1.2.1 Tinh hình phát triển kinh tế

Nen kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp mà hoạt động chính là trồng trọt, chăn nuôi kết hợp với khoanh nuôi rừng tái sinh

và trồng rừng Các ngành tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ chiếm

tỷ trọng rất nhỏ không đáng kể Trong những năm gần đây xã đã có sự phát triển kinh tế tương đối ổn định do được quan tâm đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các giống mới có năng suất cao vào sản xuất

1 Ngành nông, lâm nghiệp

a Trồng trọt:

Trồng trọt chủ yếu là trồng cây hàng năm như: Lúa, ngô, đậu đỗ và rau các loại trong đó ngô là chính Những năm gần đây nhân dân đã tiến hành thâm canh trên diện tích đất canh tác cũng như đã thực hiện các biện pháp khoa học kỹ thuật và cho năng suất cao Diện tích đất trồng lúa có khoảng 60

ha, diện tích trồng ngô đã tăng từ 320 ha năm 2005 lên 430 ha năm 2008 Năng suất ngô tăng mạnh từ 3 tấn/ha năm 2005 lên 5,8 tấn/ha năm 2008 Diện tích trồng cây đậu tương cũng khá lớn khoảng 16 ha với năng suất bình quân đạt 1,2 tấn/ha (bảng 4)

Trang 30

Bảng 4: Diện tích, năng suất một sổ cây trồng chính trên địa bàn

xã Đông Sang

Cây trồng

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Diện tích (ha)

Năng suất (tấn/ha)

Nguôn: Phòng Thông kê huyện Mộc Châu

Ngoài ra, xã còn trồng một số các loại cây ăn quả như mận, sản lượng quả tươi đạt hơn 1000 tấn, cây dâu tằm: 13,5 ha, sản lượng kén tằm đạt 3.500

kg Diện tích trồng cây chè Shan có 20,8 ha cũng cho sản lượng và chất lượng tốt

b Chăn nuôi:

Ngành chăn nuôi phát triển ở quy mô hộ gia đình, sản phẩm hàng hóa chủ yếu là lợn thịt Chăn nuôi trâu bò lấy sức kéo phục vụ sản xuất là chính Ngoài ra, người dân còn chăn nuôi: gà, vịt, ngan, ngỗng đê cải thiện đời sống, chưa mang tính sản xuất hàng hóa

Theo sổ liệu thống kê năm 2008, toàn xã có 1.393 con trâu bò, bình quân 1,4 con/ hộ, trong đó trâu có 670 con, bò có 723 con Lợn có 2.850 con, bình quân 3 con/hộ Đàn gia cầm có 26.110 con

c Lâm nghiệp:

Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 3.116,83 ha, trong đó đất rừng sản xuất 593,3 ha, đất rừng phòng hộ 2.523,53 ha Rừng tự nhiên có trừ lượng thấp Diện tích rừng trồng có 137,88 ha, trong đó rừng trồng phòng hộ 65,3

ha rừng trồng sản xuất 72,6 ha Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp chủ yếu

Trang 31

thu từ khoanh nuôi bảo vệ rừng và khai thác gỗ, củi, măng lay, Trong những năm tới cân tuyên truyên, vận động đồng bào tiếp tục tham gia trồng rừng.

2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (đan lát, thổ cẩm) chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chưa thể hiện được vai trò là một ngành trong cơ cấu kinh tế chung của xã Xã gần thị trấn Mộc Châu nên phần lớn các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu tập trung trong địa bàn thị trấn, sự hoạt động của các cơ sở này đã góp phần thu hút lao động ở các bản xung quanh thị trấn, tạo điều kiện về công ăn việc làm cho lực lượng lao động trẻ trên địa bàn xã Đông Sang

Hoạt động thương mại dịch vụ ở quy mô nhỏ do dân tự mở để kinh doanh các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của nhân dân Ngoài ra còn có các điểm thu mua kén tằm nhưng các điểm thu mua này chỉ hoạt động theo thời vụ và thường không cố định

2.1.2.2 Dân c ư - dân tộc, lao động việc làm và đời sống dân cư

Dân cư - dân tộc: Dân số của xã Đông Sang năm 2009 có 4875 người

với 1023 hộ, trong đó dân tộc Thái có 2882 người chiếm 59,1 %, dân tộc HMông có 1618 người chiếm 33,2 %, dân tộc Kinh có 375 người chiếm 7,7

% Dân số phân bố không đều trong xã, đông nhất là bản Áng có 1416 người,

301 hộ, ít nhất là bản Nà Kiến với 171 người, 33 hộ Dân tộc HMông sống tập trung tại khu vực vùng cao của xã tại các bản Co Sung, Chăm Cháy, Nà Kiến, Pa Phách còn người Thái chủ yếu sinh sống tại khu vực thấp hơn tại các bản Áng, Búa, bản Tự Nhiên Mỗi nhóm dân tộc thiểu số có bản sẳc văn hóa và tập quán canh tác riêng

Lao động và việc làm: Lực lượng lao động khá dồi dào với khoảng

2.056 người Trong đó lao động phi nông nghiệp có 192 người chiếm 9,34%, lao động nông nghiệp có 1.864 người chiêm 90,66% Chât lượng lao động nông nghiệp nhìn chung còn thâp, phân lớn là lao động chưa qua đào tạo, tỷ

lệ lao động được đào tạo còn thấp Lao động phi nông nghiệp chủ yếu là giáo viên cán bộ viên chức của xã và các hộ kinh doanh dịch vụ, lực lượng lao động khá trẻ Hiện nay, việc làm cho người lao động đang là vấn đề được

Trang 32

chính quyền cũng như nhân dân rất quan tâm cần phải có giải pháp để tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định trật tự an toàn xã hội.

Đời sống dân cư: Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng

bộ, chính quyên, cùng với sự nỗ lực của bản thân nhân dân, nền kinh tế của

xã đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện Năm

2008 sô hộ nghèo còn 105 hộ, không còn hộ đói Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,5 - 6 triệu đồng/người/năm

2.1.2.3 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn

Hiện tại 100% dân số trên địa bàn xã là dân cư nông thôn với 1.023 hộ gia đình sống trên địa bàn 7 bản và 1 tiểu khu, bình quân đất ở 440 m2/hộ cao hơn mức bình quân chung của toàn huyện (436 m2/hộ) Các khu dân cư nông thôn trên địa bàn xã Đông Sang được hình thành từ lâu Do có nhiều dân tộc cùng sinh sống vì vậy có nhiều hình thức quần cư, nhưng phổ biến nhất vẫn

là hình thái bản làng Các bản ở cách xa nhau theo những cự ly nhất định Cá biệt có những bản ở rất cao và hẻo lánh như bản Pa Phách Nhìn chung cơ sở

hạ tầng trong khu dân cư nông thôn còn nghèo nàn lạc hậu, giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn Các công trình điện, nước, y tế, giáo dục, văn hóa thể thao còn thiếu hoặc đang bị xuống cấp

2.1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội

1 Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông của xã còn thấp kém Tuyến đường trục chính từ Thị trấn Mộc Châu đến trung tâm xã khoảng 3 km hiện trạng dải cấp phối đã xuống cấp Hệ thống đường liên bản có chất lượng thấp, đặc biệt là đường lên các bản vùng cao như Co Sung, Chăm Cháy và bản Pa Phách có dốc cao, vào mùa mưa trơn trượt đi lại rất khó khăn

2 Hệ thống thủy lợi

Hệ thống thủy lợi tập trung ở các bản vùng thấp (bản Áng, bản Búa) với 4 5 km mương được bê tông hóa 0 vùng cao chỉ có bản Cóc có mương tưới được kiên cố hóa với chiều dài khoảng 1 km

3 Mạng lưới điện

Trang 33

Xã Đông Sang đã được đầu tư xây dựng hệ thống điện nhưng chưa hoàn chỉnh, xã có trạm biến áp 180 KVA ở trung tâm phục vụ điện sinh hoạt cho 4 bản (bản Áng, bản Búa, bản Tự Nhiên, tiểu khu 34) với hệ thống đường dây 0,4 KV đến từng bản Riêng Bản Pa Phách, Bản Chăm Cháy đã được xây dựng trạm biến áp và hệ thống đường dây những vẫn chưa đưa vào sử dụng điện.

4 Giáo dục và đào tạo

Hệ thống trường học khá hoàn chỉnh, gồm trường chính ở xã (trường tiểu học, trường THCS được xây dựng kiên cố 2 tầng), các lớp học cắm bản

và xã đã có trường mẫu giáo, nhà trẻ Theo số liệu thống kê năm 2009 thì diện tích đất giáo dục và đào tạo là 1,45 ha, tăng hơn 0,5 ha so với năm 2005 Nhìn chung trường học trong xã được xây dựng khá kiên cổ, trang thiết bị, tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập tương đối đầy đủ Hiện nay toàn xã có 21 phòng học, 45 lóp học, 63 giáo viên và 656 học sinh Công tác giáo dục có nhiều chuyển biến tốt, kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa

mù chữ được công nhận đạt chuẩn quốc gia

5 Y tế

Trạm y tế xã có diện tích 0,04 ha nằm trong khuôn viên của ƯBND xã,

có 2 giường bệnh với 5 cán bộ y tế: 3 y sỹ, 1 y tá và 1 nữ hộ sinh Trạm y tế của xã hiện nay là nhà cấp 4 Hiện nay đang xây dựng cơ sở y tế mới để phục

vụ, đảm bảo cho sức khỏe của người dân Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm thực hiện có hiệu quả, công tác khám chữa bệnh cho nhân dân đã có nhiều tiến bộ

6 Văn hóa - thể dục thể thao

Thực hiện theo Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII về phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao đã có những tiến bộ Tính đến nay xã đã có: 8 đội văn nghệ, 3 đội bóng đá, 2 đội bóng chuyền, 1 câu lạc bộ thơ của người cao tuổi, 1 câu lạc bộ cầu lông

7 Thông tin liên lạc

Trang 34

Do gân trung tâm huyện nên thông tin liên lạc của xã có nhiều thuận lợi, xã có 1 điêm bưu điện văn hóa Hiện xã Đông Sang đã được phủ sóng điện thoại di động góp phân nâng cao chất lượng cho các hoạt động thông tin.

8 Quốc phòng, an ninh

Công tác an ninh — quốc phòng luôn được quan tâm, củng cố; đảm bảo giữ vững ôn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Lực lượng dân quân tự vệ được bô sung, thường xuyên luyện tập ngăn chặn và xử lý kịp thời các tệ nạn

và các vấn đề trong xã hội: Nghiện hút, cờ bạc và các hoạt động trái phép

2.1.2.5 Tập quán canh tác, khai thác sử dụng đất của các nhóm dân tộc trên địa bàn xã

• Tập quán canh tác, khai thác sử dụng đẩt của dân tộc Thải

Tại khu vực miền núi dân tộc Thái thường sinh sống tại vùng thấp ven sông suối, là những nơi tương đối bằng phẳng và thuận tiện về nguồn nước Việc bố trí đất ở của người Thái không phân tán mà tập trung thành các bản làng đông đúc Trong khuôn viên, ngoài diện tích để làm nhà ở, người Thái

có thói quen sử dụng đất làm vườn nhà để trồng rau, cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu của gia đình

Người Thái là một dân tộc ít người nổi tiếng với nghề trồng lúa nước truyền thống Những khu đất bồi gần sông suối được người dân khai khẩn thành những ruộng lúa nước Những nơi nước ít chỉ sử dụng được cho trồng lúa một vụ, chủ yếu dựa vào mùa mưa được gọi là “ruộng nước mưa” Ruộng

2 vụ “ruộng nước ngâm” là loại ruộng thường được tập trung trong các thung lũng, lòng chảo Nguồn nước tưới cho “ruộng nước ngâm” thường được lấy

từ các khe, lạch tự nhiên hoặc hệ thống thủy lợi nhỏ như mương, phai

Ngoài trồng lúa nước, người Thái còn sử dụng đất trên nương để trồng các cây hàng năm như ngô, lúa nương, khoai, sắn, Do diện tích đất nương trước đây khá lớn nên người Thái chỉ trồng 1 vụ/năm Trước khi trồng, đất sử dụng làm nương được người dân cải tạo Tháng 2 băt đâu phát nương Sau khi phát nương được khoảng 1 tháng, tới tháng 3 người dân sẽ đốt nương và rải đều gio lên nương Công việc đốt và rải gio được thực hiện trong khoảng

1 tháng tức là kết thúc vào khoảng đầu tháng 4 Chỉ sau khi rải đều gio lên

Trang 35

nương người dân mới bắt đầu gieo trồng Khi phát nương, người Thái luôn chừa lại khoảng 1/3 diện tích nương, ở phần đỉnh của ngọn đồi Lý do người dân không phát hết toàn bộ được lý giải: thứ nhất, họ muốn giữ lại diện tích đât được phủ xanh Thảm thực vật, các loại cây còn lại nơi đây có vai trò ngăn chặn, làm giảm bớt dòng chảy của nước mưa, giúp đất phía dưới tránh khỏi xói mòn mạnh Đây cũng là nơi người dân có thể nghỉ ngơi sau những lúc lao động mệt mỏi; thứ hai, quan trọng hom, diện tích đất được giữ lại sẽ thực hiện nhiệm vụ giữ nước, giữ độ ẩm cho cả nương Sau khi phát, đốt nương người Thái bắt đầu giai đoạn cày nương và làm đất nương Nương được cày theo chiều ngang theo sườn đồi Do trước kia đất đai khá rộng lớn

và màu mỡ nên người dân ít dùng phân bón, nếu có chỉ dùng phân chuồng Tuy nhiên hiện nay đa số người dân phải sử dụng phân bón hóa học để trồng trọt

Người Thái từ xa xưa đã biết trồng xen canh và luân canh các loại cây trồng trên nương Họ có thể trồng xen canh ngô, sắn với đậu tương, lạc - một giống cây cao với một giống cây thấp, vừa để cải tạo đất vừa cho thêm thu nhập Khi đất bạc màu đến một mức độ nhất định, thậm chí sau khi bón phân vẫn cho năng suất không cao, người dân sẽ luân canh khu vực đó Đất tại đó

sẽ được bỏ hoang 1-2 năm trước khi người dân tiếp tục quay lại trồng trọt Những nơi đất tốt màu mỡ, sử dụng 5-10 năm đất vẫn chưa bạc màu thì người dân sẽ thâm canh, sử dụng không ngừng

Trong sử dụng đất lâm nghiệp, từ xa xưa người Thái đã ý thức được việc cần phải bảo vệ rừng đầu nguồn sông, suối Họ đã biết tác dụng của rừng trong việc giữ nước, giúp đất đai phì nhiêu, chống xói mòn đất Đặc biệt, họ cũng hiểu rõ tác hại như thể nào nêu rừng đâu nguôn bị chặt phá Đã có những bài học là các com lũ xảy ra với thiệt hại vô cùng to lớn mang đến mà người dân đã trải qua Vì vậy người Thái đã có những quy ước, tục lệ cấm xâm hại rừng đầu nguồn Những khu rừng đâu nguôn trờ thành các khu rưng cấm và thường có những câu truyện ma lưu truyên đê cảnh bao khong cho người dân vào rừng đầu nguồn săn băn hay chặt phá

Qua nghiên cứu tập quán khai thác sử dụng đất cua dân tộc Thái cho thấy biện pháp giữ diện tích đât rừng tại các chỏm đoi khi phat nương, cay

Trang 36

theo đường đông mức, trồng xen canh các cây họ đậu trên nương và bảo vệ rừng đâu nguon là những biện pháp góp phần sử dụng đất bền vững, cần tiếp tục được sử dụng trong hệ thống sử dụng đất của người dân trong giai đoạn hiện nay.

• Tập quản canh tác, khai thác sử dụng đất của dăn tộc Hmông

Dân tộc H Mông cư trú ở khu vực vùng cao, thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển So với các dân tộc khác, dân tộc H Mông sống ở độ cao lớn nhất, địa hình có độ dốc lớn Người H Mông có thể sống tập trung thành các bản hoặc phân bố phân tán trên các sườn núi

Người H Mông sống ở vùng núi cao nên việc trồng lúa gặp khó khăn, nhưng họ có truyền thống xây dựng những thửa ruộng bậc thang để canh tác lúa dựa vào nguồn nước tự nhiên, chủ yếu là canh tác ruộng 1 vụ vào mùa mưa Nước từ suối chảy vào ruộng bậc thang, từ bậc trên xuống bậc dưới và không có hệ thống mương máng Tuy nhiên do diện tích đất làm ruộng bậc thang rất hạn chế nên phương thức canh tác chủ yếu của dân tộc H Mông là làm nương rẫy Đó là những mảnh đất trồng trọt do chặt cây, đốt rừng hàng năm mà có, do không có điều kiện thâm canh nên không sử dụng vĩnh viễn

mà có thời gian để hóa Thời gian canh tác trên một khoảnh nương rẫy được tính ngắn hay dài tùy thuộc độ phì của đất, có khi từ 2-3 năm đến 6-10 năm Trên diện tích nương rẫy chủ yếu trồng ngô, lúa nương, sắn và một số cây hàng năm khác

Do phân bố tại khu vực núi cao nên sử dụng đất rừng và khai thác rừng

có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của người H Mông Mỗi khi cần gỗ để sản xuất, làm đồ dùng sinh hoạt, làm nhà hay làm nông cụ, người HMông đều vào rừng khai thác Đối với người H Mông, rừng là nguồn cung cấp gỗ

để họ có thể khai thác phục vụ nhu cầu cuộc sống Ngoài ra, rừng cũng là nơi

để họ kiếm củi mang về đun nấu hoặc sưởi ấm trong mùa đông giá rét Trước đây khi đất rừng còn nhiều, người H Mông vẫn còn tập quán du canh, du cư, chặt phá rừng làm nương rẫy Nhưng người H Mông cũng có những quy ước cấm chặt phá tại khu vực rừng đâu nguôn

Trang 37

Hiện nay dân tộc H Mông phát triển trồng trọt trên nương rẫy định canh và kết hợp với chăn nuôi đại gia súc nhưng chủ yếu vẫn dùng hình thức chăn thả tự do trên các bãi cỏ tự nhiên.

Qua nghiên cứu tập quán khai thác sử dụng đất của dân tộc H Mông thì việc thiết kế và canh tác ruộng bậc thang là giải pháp khá hữu hiệu để giảm xói mòn và giữ độ phì nhiêu của đất

Tập quản canh tác, khai thác sử dụng đẩt của dân tộc Kinh

Dân tộc Kinh có tập quán và truyền thống canh tác lúa nước Những thửa ruộng có mặt băng được be bờ, giữ nước, thâm canh, sử dụng năm này qua năm khác Từ xa xưa họ đã biết khai thác các nguồn nước, biết làm thủy lợi Trong nông nghiệp họ đã sử dụng sức kéo và quy trình canh tác tuân thủ theo một nông lịch khá chặt chẽ Tùy theo từng vùng và những điều kiện địa

lý, thời tiết, khí hậu đã hình thành những quy trình canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nơi cư trú

Tại khu vực miền núi, do điều kiện canh tác lúa nước hạn chế nên người Kinh thường kết hợp trồng lúa với phát triển trồng cây hàng năm khác, cây lâu năm trên cơ sở quy mô hộ gia đình hoặc hình thành các trang trại Ngoài ra, người Kinh còn khai thác những vị trí đất thuận lợi để sử dụng cho mục đích kinh doanh, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp

2.1.2.6 Hiện trạng và cơ cẩu sử dụng đất đai của xã Đông Sang

Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai năm 2009, tổng diện tích tự nhiên của xã là 4.553 ha Trong đó bao gồm các loại đất chính thể hiện ở bảng 5:

Bâng 5: Diện tích, cơ cấu các loại đất chính xã Đông Sang

Loai đất• Diện tích (ha) Cơ cấu (%)Tổng diện tích đất tự nhiên 4553 100

Ngày đăng: 18/03/2015, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Quy trình đảnh giá đất đai phục vụ nông nghiệp. NXB Nông nghiệp, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình đảnh giá đất đai phục vụ nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
2. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tiêu chuẩn định mức quy hoạch nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. NXB Nông nghiệp, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn định mức quy hoạch nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
3. Lê Văn Khoa. Nông nghiệp và môi trường. NXB Giáo dục, Hà Nội 1999 4. Vũ Công Hậu. Trồng cây ăn quả Việt Nam. NXB Nông nghiệp, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và môi trường." NXB Giáo dục, Hà Nội 19994. Vũ Công Hậu. "Trồng cây ăn quả Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Hoàng Thị Minh. Ảnh hưởng của một số loại hình sử dụng đất dốc đến tỉnh chất đất vùng miền núi phía bẳc Việt Nam, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số loại hình sử dụng đất dốc đến tỉnh chất đất vùng miền núi phía bẳc Việt Nam
6. Trần An Phong (chủ biến). Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
8. Đào Châu Thu, Nguyễn Khang. Đảnh giá đất. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảnh giá đất
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Tổ chức Liên Hợp Quốc. Sử dụng hợp lí các nguồn dự trữ cùa sinh quyển. 1971 (bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hợp lí các nguồn dự trữ cùa sinh quyển
10. UBND huyện Mộc Châu. Báo cảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đât chi tiết xã Đông Sang đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đât chi tiết xã Đông Sang đến năm 2010
Tác giả: UBND huyện Mộc Châu
11. UBND huyện Mộc Châu. Báo cảo quy hoạch, kể hoạch sử dụng đất huyện Mộc Cháu đến năm 2010 và dự bảo đên 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cảo quy hoạch, kể hoạch sử dụng đất huyện Mộc Cháu đến năm 2010 và dự bảo đên 2015
Tác giả: UBND huyện Mộc Châu
12. UBND huyện Mộc Châu. Định hướng phát triển kỉnh tể - xã hội của huyện Mộc Châu đến 2015. Mộc Châu, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển kỉnh tể - xã hội của huyện Mộc Châu đến 2015
Tác giả: UBND huyện Mộc Châu
Nhà XB: Mộc Châu
Năm: 2009
7. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mộc Châu, số liệu thống kê, kiểm kê đất đai xã Đông Sang năm 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Nội dung Trang - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
nh Nội dung Trang (Trang 8)
Hình 2: Đầu vào và đầu ra của hệ thống sử dụng đất - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Hình 2 Đầu vào và đầu ra của hệ thống sử dụng đất (Trang 17)
Bảng 1. Nhóm các loại hình sử dụng đất chính  khu vực nông thôn - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 1. Nhóm các loại hình sử dụng đất chính khu vực nông thôn (Trang 18)
Bảng 3:  Sự thay đồi tính chất đất sau  khi phát đốt rừng - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 3 Sự thay đồi tính chất đất sau khi phát đốt rừng (Trang 20)
Hình 3.  Cơ sở thiết lập mô hình hệ kình tế sinh thái và sử dụng đất bền  vững - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Hình 3. Cơ sở thiết lập mô hình hệ kình tế sinh thái và sử dụng đất bền vững (Trang 24)
Bảng 4:  Diện tích, năng suất một sổ cây trồng chính trên địa bàn - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 4 Diện tích, năng suất một sổ cây trồng chính trên địa bàn (Trang 30)
Hình 4: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Đông Sang năm 2009 - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Hình 4 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Đông Sang năm 2009 (Trang 38)
Bảng 6: Hiện trạng phân bổ sử dụng đất của hai nhóm dân tộc Thái và - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 6 Hiện trạng phân bổ sử dụng đất của hai nhóm dân tộc Thái và (Trang 42)
Bảng 9 . Bảng phân cấp chỉ tiêu xác định các đơn vị đẩt đai  xã Đông Sang - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 9 Bảng phân cấp chỉ tiêu xác định các đơn vị đẩt đai xã Đông Sang (Trang 53)
Sơ đồ đánh giá, phân hạng trình bày ở hình 6. - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
nh giá, phân hạng trình bày ở hình 6 (Trang 54)
Hình 6: Sơ đồ  đánh giá, phân hạng thỉch nghi đất đai - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Hình 6 Sơ đồ đánh giá, phân hạng thỉch nghi đất đai (Trang 55)
Bảng  11:  Chỉ tiêu đánh  giá thích  nghi tổng hợp - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
ng 11: Chỉ tiêu đánh giá thích nghi tổng hợp (Trang 56)
Bảng 12: Thống kê diện tích các mức độ thích  nghi đất đai - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Bảng 12 Thống kê diện tích các mức độ thích nghi đất đai (Trang 56)
Bảng  1:  Hiện  trạng phân  b ổ  sử  dụng - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
ng 1: Hiện trạng phân b ổ sử dụng (Trang 69)
Bảng  2:  Hiệu  quả kinh  tê các loại hình  sử  dụng  đất chính - Nghiên cứu hệ thống sử dụng đất của các nhóm dân tộc phục vụ phát triển bền vững xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
ng 2: Hiệu quả kinh tê các loại hình sử dụng đất chính (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm