Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê arabica của hộ nông dân .... Có 3 mục tiêu cụ thể bao gồm: Tổng quan cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởnghiệu quả kinh tế
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Vũ Quang
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả đượctrình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong côngtrình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thế Bảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
luận và tích lũy thực tế của tác giả
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Hoàng Vũ Quang – Phó ViệnTrưởng Viện Chính Sách & Chiến Lược PTNN-NT, người Thầy đã tận tình giúp đỡ tôihoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn đồng chí Bùi Tuấn Anh - Cán bộ Trung tâm Phát Triển NôngThôn đã cùng tôi xử lý số liệu trong luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cùng các đồng nghiệp cơ quan Trungtâm Phát Triển Nông Thôn, Bộ môn Phân Tích Định Lượng, Khoa Kinh tế & PTNT đãgiúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo phòng nông nghiệp các huyệnMai Sơn, Thuận Châu và Thành Phố Sơn La, và lãnh đạo UBND các xã Hua La, Chiềng
Cọ, Chiềng Pha, Bon Phặng, Chiềng Mung, Chiềng Ban, những hộ nông dân sản xuất càphê thuộc 3 vùng trên đã cung cấp đầy đủ thông tin một cách chính xác để giúp tôi đưa
ra những phân tích đúng đắn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thế Bảo
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục hộp
viii Trích yếu luận văn ix Thesis abstract xi Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
2 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Đối tượng thu thập thông tin (đối tượng điều tra) 3
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa thực tiễn
4 Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Đặc điểm của hộ nông dân và sản xuất cà phê arabica 5
2.1.2 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ
6 2.1.3 Hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 9
2.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế 21
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới 21
Trang 52.2.2 Tình hình sản xuất arabica ở việt nam 24
Trang 62.2.3 Bài học kinh nghiệm của các nước sản xuất trên thế giới về nâng cao hiệu
quả kinh tế trong sản xuất cà phê 25
2.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê tại Việt Nam 27
2.2.5 Chính sách hỗ trợ phát triển cà phê arabica 29
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 33
3.1.3 Đất đai 34
3.1.4 Khí hậu 36
3.1.5 Đặc điểm kinh tế, văn hóa – xã hội 36
3.1.6 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cà phê arabica 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 39
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 39
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu 40
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 40
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu trong nghiên cứu 41
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44
4.1 Tình hình sản xuất cà phê arabica tại sơn la 44
4.2 Đặc điểm sản xuất của hộ 47
4.2.1 Nguồn lực sản xuất 47
4.2.2 Diện tích sản xuất và sản lượng 49
4.3 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê arabica của hộ nông dân 52
4.3.1 Kết quả sản xuất cà phê arabica của hộ nông dân 52
4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất 53
4.3.3 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê arabica của hộ 73
4.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê arabica của hộ nông dân 79
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cà phê arabica tại sơn la 84
Trang 74.4.1 Thuận lợi 84
4.4.2 Khó khăn 85
4.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuât cà phê arabica của hộ nông dân 86
4.5.1 Một số quan điểm phát triển 86
4.5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế 87
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 95
Tài liệu tham khảo 96
Phụ lục 99
Trang 8IC : Giá trị trung gian
ICO : Tổ chức cà phê Thế giới
: Thủ tướng UBND : Ủy
ban nhân dân
USDA : Bộ Nông nghiệp Mỹ
VA : Giá trị gia tăng
VietGAP : Thực hành nông nghiệp tốt
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng cà phê của các nước hàng đầu Thế giới 22
Bảng 2.2 Số lượng các nước nhập khẩu cà phê trên Thế giới 23
Bảng 2.3 Diện tích trồng cà phê Arabica của Việt Nam 25
Bảng 3.1 Diện tích đất tỉnh Sơn La năm 2014 35
Bảng 3.2 Dân số tỉnh Sơn La theo giới tính và khu vực 36
Bảng 4.1 Diện tích trồng cà phê tại Sơn La năm 2015 44
Bảng 4.2 Tình hình nguồn nhân lực của hộ 47
Bảng 4.3 Trình độ văn hóa các hộ khảo sát 48
Bảng 4.4 Năng suất cà phê tươi/ha/năm 53
Bảng 4.5 Nguồn gốc giống cà phê Arabica của hộ nông dân sản xuất 54
Bảng 4.6 Năng suất trung bình của địa bàn chia theo nguồn gốc giống 55
Bảng 4.7 Năng suất trung bình của địa bàn chia theo mức độ làm cỏ 58
Bảng 4.8 Tỷ suất bón phân các hộ điều tra 59
Bảng 4.9 Lượng phân bón sử dụng thời kỳ kiến thiết cơ bản 60
Bảng 4.10 Lượng phân bón sử dụng thời kỳ kinh doanh (1 năm) 61
Bảng 4.11 Năng suất trung bình của địa bàn chia theo tỷ lệ trồng xen 65
Bảng 4.12 Cách thức phòng trừ sâu bệnh của hộ nông dân 68
Bảng 4.13 Tiêu chuẩn điều kiện tự nhiên của cây cà phê tại các địa bàn 70
Bảng 4.14 Bảng chỉ tiêu so sánh chất đất các vùng khảo sát 72
Bảng 4.15 Chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản/ha 74
Bảng 4.16 Chi phí thời kỳ kinh doanh trong 1 năm 75
Bảng 4.17 Doanh thu các nhóm hộ năm 2014 76
Bảng 4.18 Lợi nhuận các nhóm hộ sản xuất năm 2014 77
Bảng 4.19 Hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê của hộ nông dân 78
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Sơn La 32
Hình 4.1 Biến động diện tích trồng cà phê tại Sơn La 45
Hình 4.2 Sản lượng cà phê nhân của tỉnh Sơn La qua các năm 46
Hình 4.3 Đặc điểm các hộ khảo sát 49
Hình 4.4 Tỷ lệ đất trồng cà phê Arabica năm 2010 50
Hình 4.5 Tỷ lệ đất trồng cà phê Arabica năm 2014 51
Hình 4.6 Sản lượng cà phê các vùng khảo sát 52
Hình 4.7 Thời vụ trồng cà phê tại các địa bàn 56
Hình 4.8 Tỷ lệ tiến hành làm cỏ của các hộ khảo sát 57
Hình 4.9 Hình ảnh so sánh quả cà phê tưới ẩm và không tưới ẩm 63
Hình 4.10 Tỷ lệ trồng xen tại Sơn La 64
Hình 4.11 Tỷ lệ tỉa cành giữa các nhóm hộ 67
Hình 4.12 Biến động giá cà phê Thế giới 82
DANH MỤC HỘP Hộp 4.1 Phân bón và năng suất 59
Hộp 4.2 Hiệu quả kinh tế trồng xen tại huyện Mai Sơn 64
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Phạm Thế Bảo
2 Tên luận văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabicacủa hộ nông dân ở tỉnh Sơn La”
3 Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 60.62.01.16
4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của
hộ nông dân ở tỉnh Sơn La” được thực hiện từ tháng 10/2015 với mục tiêu nghiên cứu
là đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của hộnông dân ở Sơn La, góp phần cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo nâng cao chấtlượng cuộc sống hộ nông dân ở tỉnh Sơn La
Có 3 mục tiêu cụ thể bao gồm: Tổng quan cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởnghiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê; đánh giá hiện trạng sản xuất, các yếu tố ảnhhưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của hộ nông dân
ở Sơn La và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất của càphê Arabica của hộ nông dân tại Sơn La
Đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê kinh tế bao gồm thống kê mô tả; thống
kê so sánh; kiểm định giá trị “t” hai đuôi; phân tích phương sai ANOVA; phân tíchtương quan (Correlation analysis) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và
so sánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của các nhóm hộ
Qua nghiên cứu, Sơn La là một tỉnh có điều kiện tự nhiên và địa hình phù hợp vớiviệc trồng, phát triển cây cà phê mang lại nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ nông dân,đặc biệt là những hộ người đồng bào dân tộc Thái
Nghiên cứu cũng chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây cà phê đượctrồng ở các vùng Mai Sơn, Thuận Châu và Thành phố Sơn La bao gồm các yếu tố kỹthuật: giống và chất lượng giống; thời vụ; làm cỏ; bón phân; trồng xen; mật độ; tướitiêu; tỉa cành tạo tán; sâu bệnh và các yếu tố điều kiện tự nhiên: nhiệt độ; ẩm độ; lượngmưa; chất đất
Năng suất quả tươi của các vùng khảo sát khác nhau trong đó huyện Mai Sơn cónăng suất cao nhất (15,67 tấn/ha), huyện Thuận Châu đạt năng suất thấp nhất (9,23tấn/ha) và Thành phố Sơn La đạt 12,27 tấn/ha Năng suất giữa các nhóm hộ khá giàu vàtrung bình cũng có sự khác nhau rõ ràng do mức đầu tư, tác động vào các yếu tố ảnhhưởng khác nhau Năng suất của nhóm hộ trung bình đạt bình quân 10,83 tấn/ha, các hộkhá giàu có năng suất cao gấp 1,4 lần đạt 15.35 tấn/ha Tính trên các hộ khảo sát tại các
Trang 12sự khác nhau khá lớn Hộ trung bình trong 1 năm đầu tư chi phí khoảng 54,47 triệuđồng/ha còn nhóm hộ khá giàu có mức độ đầu tư chi phí nhiều hơn cao gấp 1,48 lần.Với mức chi phí như vậy thì bình quân doanh thu của hộ khá giàu là hơn 164 triệuđồng/ha cao gấp 1,58 lần doanh thu của nhóm hộ trung bình.
Trung bình lợi nhuận/ha của nhóm hộ khá giàu là 83,83 triệu đồng cao gấp 1,7 lầnlợi nhuận của nhóm hộ trung bình Tại Thuận Châu do doanh thu của nhóm hộ trungbình thấp nên lợi nhuận cũng thấp nhất, chỉ đạt 19,46 triệu đồng Lợi nhuận cao nhất lànhóm hộ khá giàu của Mai Sơn đạt 93,84 triệu đồng Lợi nhuận/kg quả tươi là 4,84nghìn đồng, trong đó lợi nhuận của huyện Mai Sơn cao nhất là 5,54 nghìn đồng/kg quảtươi, thấp nhất là lợi nhuận của huyện Thuận Châu chỉ 3,95 nghìn đồng/kg quả tươi Lợinhuận/kg quả tươi của các nhóm hộ các địa bàn cũng có sự khác nhau, lợi nhuận/kg quảtươi của nhóm hộ khá giàu là 5,46 nghìn đồng, nhóm hộ trung bình là 4,52 nghìn đồng.Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất càphê Arabica của hộ nông dân ở tỉnh Sơn La đề tài đã đưa ra các giải pháp cho chínhquyền địa phương và hộ nông dân Nhóm giải pháp đối với chính quyền địa phương nhưgiải pháp về giống, vốn, cơ sở hạ tầng, khuyến nông, xây dựng quản lý và phát triểnthương hiệu Nhóm giải pháp đối với hộ nông dân là giải pháp về đất đai và các giảipháp về kỹ thuật chăm sóc vườn cà phê nhằm đạt năng suất cao, giảm chi phí, nâng caohiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnhSơn La
Trang 13THESIS ABSTRACT
1 Master candidate: Pham The Bao
2 Thesis title: "Solutions to improve economic perfomance in Arabica coffeeproduction of farmers in Son La province"
3 Major: Rural Development Code: 60.62.01.16
4 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)The study " Solutions to improve economic perfomance in Arabica coffeeproduction of farmers in Son La province " was carried out from October 2015 with themain objectives are to propose solutions to improving economic perfomance inproduction of Arabica coffee for farmers in Son La province, contributing to incomesimproving, poverty reduction and enhance the life quality for households in Son Laprovince
There are 3 specific objectives include: An overview the theoretical basis offactors affecting oneconomic perfomance in coffee production; assess the stituation ofproduction, factors impact on productivity and economic performance of Arabica coffeeproduction of farmers in Son La and propose solutions to enhance economicperformance in the production of Arabica coffee farmers in Son La
The study used economic statistical methods including: descriptive statistics;comparison statistics; value test "t" two-tailed; ANOVA analysis and Correlationanalysis to analyze the factors affect on productivity and comparative economicperformance of produced coffee by the group
Through the research, Son La province has natural and terrain condition suitablefor cultivation and development of coffee trees which gave major source of income formany farmers, especially those in Thai ethnic minority households
The study also pointed out the factors impact on productivity of coffee plants aregrown in Mai Son, Thuan Chau districts and Son La City including: technical factors:seed and seed quality; season schelule; weeding; fertilizing; intercropping; density;irrigation; Canopy trimming; pests and the elements of natural conditions: temperature;humidity; rain; soil quality
Fresh fruit yield of the different areas in which survey Mai Son district had thehighest yield (15.67 tonnes / ha), Thuan Chau district has lowest yield (9.23 tonnes / ha)and the Son La city reach 12.27 tonnes / ha Productivity between average and richhouseholds groups also clearly differ from investment, the impact on the various
Trang 14influencing factors The productivity of the nomal households reached an average of10.83 tonnes / ha, the yield relatively wealthy households reached 1.4 times at 15.35tonnes / ha Calculated on survey households in the district, the average yield ofaverage households less wealthy households groups than from 2 to 4 tonnes of freshfruit / ha
The average production costs in the first year of the trading period to invest is63.64 million / ha Investment costs are highest in Mai Son district (77.38 million / ha)and the lowest is in Thuan Chau district (51.15 million / ha) Total cost / ha of groupsdiffer is quite large The average household in the first year invest of around 54.47million / ha, while wealthy households expense more than 1.48 times With the paymentlike that, average revenue of welthy households reaching to 164 millions/ha, higher than1.58 times the revenue of the average households
Average profit / ha of relatively wealthy households is 83.83 million, 1.7 timeshigher than the average group The revenue of household in Thuan Chau is very lowlead to profit stand at lowest level, only about 19.46 million/ha The highest gain belong
to almost rich group in Mai Son reached 93.84 million/ha Profit / kg of fresh fruit is4.84 thousand VND, of which the highest profits is Mai Son district, around 5.54thousand VND / kg fresh fruit, Thuan Chau district has lowest profits at 3.95 thousandVND / kg of fresh fruit The profit / kg of fresh fruit among groups also have differ,profits / kg of fresh fruit in fairly wealthy households is about 5.46 thousand đong,average group reaching to 4.52 million dong
Base on assessing the situation and analyze the factors affecting on Arabica coffeeproduction of farmers in Son La, the study has given the solution to the localgovernment and farmers Group solutions for local government are capital,infrastructure, brand creation, development and management Group solution forfarmers including land and technical solution for coffee plantations to achieve higherproductivity, lower costs, improve economic performance in Arabica coffee production
of farmers in Son La province
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây cà phê Arabica được trồng ở Sơn La vào những năm 1989 và đượcnhiều người nhận xét chất lượng cà phê ở đây ngon vào dạng nhất nhì của nước
ta, chỉ sau chất lượng cà phê được trồng Lâm Đồng do có điều kiện tự nhiênthích hợp Từ đó đến nay, cây cà phê đã tạo công ăn việc làm cho nhiều ngườidân đặc biệt là các hộ người đồng bào dân tộc, góp phần tích cực vào tăng trưởngkinh tế của địa phương Nhờ vào đó, nhiều nông dân đã có cuộc sống khá giả hơn
so với trước, hạn chế được tình trạng du canh, du cư, chặt phá rừng và hủy hoạimôi trường sinh thái Trong những năm qua việc phát triển sản xuất cà phê làbước tiến đáng kể, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, góp phần chuyển đổikinh tế nghành nông nghiệp của các huyện theo định hướng của tỉnh
Để mở rộng diện tích trồng cà phê, ngày 14/11/2011 UBND tỉnh Sơn La đãban hành Quyết định số 2661/QĐ-UBND phê duyệt, rà soát, bổ sung quy hoạchvùng trồng cà phê tập trung giai đoạn 2011-2020 Theo đó, đến năm 2020 diệntích cà phê ổn định khoảng 10.000 ha tại các vùng có điều kiện thuận lợi, nângcao năng suất bình quân khoảng 15-30 tấn quả tươi/ha; tập trung xây dựng vùngnguyên liệu cà phê chất lượng cao ở Mai Sơn, Thuận Châu và Thành phố Sơn La
và tiếp tục mở rộng diện tích ở một số huyện như Sốp Cộp, Yên Châu Thực tếcho đến nay diện tích cà phê được trồng ở toàn tỉnh đã lên đến 11.706 ha
Tuy diện tích toàn tỉnh có tăng lên nhưng năng suất bình quân chưa đạt yêucầu của đặt ra Năng suất trung bình của tỉnh những năm trước chỉ đạt 7-8 tấnquả tươi/ha, nhưng đến nay chỉ đạt 12-13 tấn quả tươi/ha Nguyên nhân năng suất
có tăng lên trong vài năm trở lại đây do người dân đã biết áp dụng thâm canhtrong sản xuất nâng cao năng suất và chất lượng
Tại Sơn La do nhiều hộ tại các vùng có những điều kiện canh tác khác nhaudẫn đến năng suất và chất lượng cà phê của các hộ cũng khác nhau Như tạiThành phố Sơn La và Thuận Châu do tập quán canh tác của người dân từ lúcbắt đầu trồng đến nay không được chú trọng nhiều đến việc đầu tư thâm canh bónphân, tỉa cành tạo tán, nguồn nước tưới chỉ dựa vào nước trời nên năng suất trungbình cũng chỉ đạt 7-8 tấn quả tươi/ha Nhưng tại Mai Sơn, các hộ dân đã biết ápdụng thâm canh vào sản xuất, đầu tư kỹ thuật và phân bón nên năng suất trungbình cao hơn,
Trang 16đạt từ 13-15 tấn quả tươi/ha Có nhiều hộ đầu tư, chăm sóc tốt đạt bình quân 20tấn quả tươi/ha Với năng suất khác nhau giữa các hộ và các vùng dẫn đến hiệuquả kinh tế của các hộ và vùng cũng có sự khác nhau (UBND Tỉnh Sơn La,2015)
Tiềm năng thế mạnh của vùng đã được nhiều người khẳng định phù hợp vớiviệc phát triển cây cà phê, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân sản xuấtnhưng hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất chưa được như mong muốn do ảnhhưởng của các yếu tố như năng suất, quy mô sản xuất, giá vật tư đầu vào, liên kếtthị trường và các chính sách của nhà nước
Xuất phát từ lý do trên nên tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Giải pháp nângcao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của hộ nông dân ở tỉnhSơn la” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ nhằm góp phần thúc đẩy việctăng hiệu quả kinh tế cây cà phê Arabica cho người dân trên địa bàn tỉnh Sơn La.1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
- Thực trạng sản xuất cà phê Arabica ở tỉnh Sơn La như thế nào ?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả kinh tế trong sản xuất càphê Arabica ?
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kinh tế cà phê Arabica ở Sơn La ?
Trang 171.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề lý luận và thực tiễn về các giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất của hộ nông dân với cà phê Arabica.1.4.2 Đối tượng thu thập thông tin (đối tượng điều tra)
- Cà phê Arabica được người dân trồng nhiều tại các huyện Mai Sơn, ThuậnChâu và Thành phố Sơn La nên đối tượng điều tra sẽ tập trung lại các huyện trên
- Các cơ quan quản lý nhà nước, hành chính (Sở Nông nghiệp &PTNT, Sởkhoa học công nghệ, phòng kinh tế - UBND thành phố Sơn La)
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu
1.4.3.1 Phạm vi nội dung
- Nghiên cứu tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuấ cà phê cấp hộ
- Tình hình phát triển cà phê ở Sơn La trong thời gian qua
- Hiện trạng năng suất cà phê Arabica của hộ nông dân ở Sơn La
- Hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sảnxuất cà phê Arabica ở cấp hộ gia đình ở tỉnh Sơn La
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của
hộ nông dân ở tỉnh Sơn La
1.4.3.2 Phạm vi không gian
- Tập trung nghiên cứu tại 3 huyện Mai Sơn, Thuận Châu và Thành phốSơn La do có diện tích, sản lượng cà phê Arabica lớn, đặc điểm tự nhiên, khí hậuphù hợp với phát triển cây cà phê
- Thời gian khảo sát và thu thập thông tin được tiến hành vào tháng 10 năm
2015 Do đặc điểm thu hoạch cây cà phê Arabica từ tháng 10 đến cuối năm nên
số liệu năm 2015 chưa tổng hợp, vì vậy tôi lấy số liệu của năm 2014 trở về trước
Trang 181.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Đề tài nghiên cứu, thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, hiệuquả kinh tế trong sản xuất cà phê Arabica của hộ nông dân ở tỉnh Sơn La Trên
cơ sở đó có những đóng góp mới về mặt lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiêncứu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của các
hộ nông dân
Về mặt lý luận, đề tài đã hệ thống hóa lý thuyết về kinh tế hộ nông dân;năng suất và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất; hiệu quả kinh tế và các yếu tốảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của hộ nông dân
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài đã áp dụng được các phương phápthống kê kinh tế bao gồm thống kê mô tả; thống kê so sánh; kiểm định giá trị “t”hai đuôi; phân tích phương sai ANOVA; phân tích tương quan (Correlationanalysis) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và so sánh hiệu quảkinh tế trong sản xuất cà phê của các nhóm hộ
Về mặt thực tiễn, đề tài đã đánh giá được thực trạng hiệu quả kinh tế trongsản xuất cà phê của hộ Chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tếtrong sản xuất Đánh giá được tác động của việc tăng chi phí trong sản xuất càphê tới hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê Phân tích được ảnh hưởng của cácloại yếu tố đầu vào tới năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê củacác hộ nông dân
Đề tài đã chỉ ra được tăng giá các yếu tố đầu vào làm ảnh hưởng đến việcnâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của các hộ nông dân, từ đó cócác giải pháp khắc phục, hạn chế tác động của các yếu tố này nhằm mang lại hiệuquả kinh tế trong sản xuất của hộ nông dân tối đa
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Đặc điểm của hộ nông dân và sản xuất cà phê Arabica
Cây cà phê Arabica hay còn gọi cây cà phê chè là loại cây lâu năm, thườngthì cây cà phê chè 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa nhưngthực tế nó vẫn sống được thêm 70 năm (Wikipedia) Là loại cây thân gỗ nhỏ vỏmỏng có nhiều vết rạn nứt dọc, dạng thân bụi, cao từ 3 m đến 4 m, trong điềukiện thích hợp cây có thể cao tới 6 - 7 m Cây cà phê chè có đặc tính sinh trưởngtheo hai chiều, chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang Sinh trưởng theo chiềuthẳng đứng gồm chồi đỉnh phát triển thành thân chính và các chồi mọc từ thânchính theo hướng thẳng đứng được gọi là chồi vượt Cành cấp 1 nhỏ, yếu và cónhiều cành cấp 2 tạo với cành cấp 1 một mặt phẳng cắt ngang thân cây (Van DerVossen, 1974; Charrier và Berthaud, 1985; Wintgens, 2004a)
Cây cà phê chè ưa điều kiện khí hậu mát mẻ, ánh sáng nhẹ, tán xạ Hầu hết
cho cây cũng như quả cà phê chè tăng trưởng phát triển kém Điều quan trọng làbiến thiên nhiệt độ trong một ngày cũng như trong cả năm không quá lớn(Wrigley, 1988a)
Cây cà phê chè đòi hỏi điều kiện ẩm độ không khí trên 80 % và lượngmưa trung bình hàng năm 1.500 - 2.500 mm Sự phân bố lượng mưa lý tưởng làtrong một năm có 9 tháng mùa mưa trong giai đoạn sinh trưởng, phát triển và 3tháng mùa khô trùng với giai đoạn thu hoạch Trong điều kiện mùa mưa và mùakhô phân biệt, cây cà phê chè ra hoa mang tính chu kỳ rõ rệt (Michell, 1988;Wrigley, 1988b)
Cũng theo Michell (1988) cây cà phê chè có thể phát triển trên các loại đất
có nguồn gốc phát sinh khác nhau, như đá gơ nai, sa thạch, đá vôi, bazan, dungnham và tro núi lửa Tuy nhiên tầng đất sâu, tơi xốp, kết cấu và khả năng thấmnước tốt là lý tưởng nhất Cây cà phê chè phát triển tốt trên đất có độ chua nhẹvới độ pH từ 5,5 đến 6,5
Trang 20Bộ NN & PTNT và Trung Tâm Khuyến nông Quốc gia đã đưa ra điều kiệnkhí hậu để cây cà phê sinh trưởng và cho năng suất cao cần có những yêu cầusinh thái như sau:
tượng lá héo rồi cháy khô và rụng
- Lượng mưa: cây cà phê chè cần lượng mưa từ 1.200-1.900mm/năm, cần
có mùa khô hạn ngắn tối thiểu 2 tháng vào cuối và sau vụ thu hoạch, cộng vớinhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình phân hoá mầm hoa
- Ẩm độ: Ẩm độ không khí trên 70% thuận lợi cho sinh trưởng và pháttriển Khi cà phê nở hoa cần ẩm độ cao, nếu không mưa cần phải tưới nước thời
Như vậy với những đặc điểm trên cây cà phê Arabica là một loại cây trồngkhó tính, yêu cầu điều kiện sinh thái khắt khe nên việc lựa chọn vùng có điềukiện tự nhiên để trồng là một trong những yếu tố cần xem xét nhằm mục đích đạtnăng suất và hiệu quả cao nhất
2.1.2 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ
2.1.2.1 Khái niệm hộ
Có nhiều khái niệm về hộ từ các nguồn khác nhau như sau:
Theo từ điển chuyên nghành kinh tế và ngôn ngữ “ Hộ là tất cả nhữngngười cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm nhữngngười cùng chung huyết tộc và những người làm công”
Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan tổ chức năm
1980, các đại biểu nhất trí cho rằng: "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế"
Năm 1981, Harris (London - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: "Hộ
là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động và trên góc độ này, nhóm các đại biểu
Trang 21thuộc trường phái "Hệ thống Thế Giới" (Mỹ) là Smith (1985 - Martin và Beiltell(1987) có bổ sung thêm: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồnlao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung"
Tổng hợp các khái niệm hộ ở trên Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩachung Hộ là là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ
Định nghĩa của Liên Hợp Quốc đã nêu lên được đặc điểm chung nhất của
hộ Hộ có những điểm đặc trưng sau đây:
vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trongmột nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơnhẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đờisống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặctính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở củacác nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làcông việc của gia đình chứ không phải là công việc kinh doanh thuần túy” nókhác với 23 đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là chủ vốn đầu
tư và tích lũy cũng như khái niệm hòa vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Theo Nguyễn Văn Huân (1995) thì Hộ nông dân là hộ gia đình được xemnhư một đơn vị kinh tế có đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất thuộc sở hữu của
hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất trong lĩnh vựcnông nghiệp Các thành viên trong hộ đều hưởng phần thu nhập và mọi quyếtđịnh đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình
Trang 22Trong “Kinh tế hộ nông dân” của Đào Thế Tuấn (1995) thì Hộ nông dân làmột nhóm người cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống chung vớingười khác huyết tộc trong cùng mái nhà ăn chung và có cùng chung ngân quỹ.Khái niệm này chưa hoàn toàn phản ánh chính xác về hộ nông dân vì hộ nôngdân xuất thân từ những vùng nông thôn và quanh năm sống dựa vào ruộng đất,điều này đúng với khái niệm của Frank Ellis đưa ra Tuy nhiên, Đào Thế Tuấncũng xác định hộ nông dân là những hộ là nông nghiệp mà ở đó họ vừa là ngườisản xuất, vừa là người tiêu thụ nông sản
Cũng theo Đào Thế Tuấn, 1995 đưa ra khái niệm kinh tế hộ nông dân làloại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa và lao động giađình và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của
hộ gia đình
Có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra về hộ nông dân và kinh tế hộnhưng đúc kết lại hiểu hộ nông là những hộ gia đình có sử dụng kinh tế đất đai,vốn, tư liệu sản xuất của gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của mình trongsản xuất nông nghiệp
Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế trước hết các hoạt động sản xuấtchủ yếu dựa vào lao động gia đình và mục đích nhằm phục vụ nhu cầu của hộ giađình chứ không phải mục đích để thương mại
2.1.2.3 Đặc điểm hộ nông dân và hộ nông dân sản xuất cà phê
Trải qua nhiều hình thái xã hội khác nhau, hộ nông dân mang một số đặcđiểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa làđơn vị tiêu dùng
- Hộ nông dân có khả năng tự duy trì được tái sản xuất giản đơn do hộ nôngdân có tư liệu sản xuất của riêng họ đó là đất đai và lao động Việc tối đa hóa lợinhuận không phải là mục tiêu duy nhất và không phải mục tiêu chủ yếu của sảnxuất trong hộ nông dân
- Hộ nông dân có thể vượt qua áp lực của thị trường bằng việc sử dụng laođộng của gia đình
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp trong hộ nông dân có sự gắn bóchặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Tính thống nhất giữa lao động quản
lý và lao động trực tiếp rất cao
Trang 23- Hộ nông dân có khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh tế của hộ, do đó
ho có thể giảm thiểu bớt rủi ro
- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, có khảnăng thích nghi và sự điều chỉnh rất cao (Chu Văn Vũ, 1995)
Trên đây là những đặc trưng nhất của hộ nông dân, còn với hộ nông dânsản xuất cà phê ngoài mang những đặc điểm chung trên còn mang một số đặcđiểm sau:
Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, diện tích cach tác chỉ dao động từ 1đến 2 ha và nhiều mảnh ở các khu vực khác nhau
Trình độ dân trí thấp nên nếu có đủ có yếu tố cần thiết người nông dân sảnxuất cà phê cũng không thể tính toán được hiệu quả kinh tế tối ưu nhất
Hộ nông dân sản xuất cà phê ở Sơn La có địa hình đồi núi phức tạp nênchịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện khí hâu, thời tiết
2.1.3 Hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
2.1.3.1 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế
Một số quan điểm cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữakết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quanđiểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằngcách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh "Đây là quanđiểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quảkinh tế của các quá trình kinh tế
Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế
Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằngđơn vị giá trị.Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan
hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân
tố đầu vào (giờ, lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệuquả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinhdoanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tếphải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệuquả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền vàcác nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vịhiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất
Trang 24tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí
Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý
và sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quátrình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánhđược tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng trong sảnxuất nông nghiệp thì hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra cóích với đầu vào được sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thờigian lao động hao phí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăngthêm (Lê Dân, 2007)
Từ các quan điểm trên có thể hiểu rằng hiệu quả kinh tế chính là phầnchênh lệch giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra trong sản xuất, là lợi nhuậnngười sản xuất thu về được sau khi đã trừ các chi phí
2.1.3.2 Các chỉ số đo hiệu quả kinh tế
Chi phí/ha: Trong kinh tế vi mô tùy theo mục đích nghiên cứu và phươngpháp tiếp cận, người ta thường dựa vào các tiêu thức để phân loại chi phí
Dựa vào đặc điểm, tính chất và phương pháp tính chi phí gồm có chi phí tàinguyên và chi phí tính toán Chi phí tài nguyên là khoản tài nguyên tiêu tốn trongquá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái hiện vật Còn chi phítính toán là khoản chi phí bằng tiền doanh nghiệp đã bỏ ra để mua hoặc thuê cácyếu tố sản xuất
Dựa vào thời gian thì chi phí được chia thành chi phí ngắn hạn và chi phídài hạn Chi phí ngắn hạn là loại chi phí tính đến trong thời gian ngắn ứng vớitừng chu kỳ sản xuất, là chi phí của thời kỳ trong đó có một số yếu tố đầu vào coinhư là cố định, còn các yếu tố đầu vào khác sẽ biến đổi Còn chi phí dài hạn làloại chi phí được tính đến trong thời gian tương ứng với nhiều chu kỳ sản xuấtkinh doanh
Xét trong ngành sản xuất cà phê chi phí yếu tố đầu vào trong thời kỳ cơ bản
cố định, các yếu tố đầu vào trong thời kỳ kinh doanh sẽ thay đổi theo sản lượngsản xuất Vì thế chi phí ở đây là chi phí ngắn hạn Chi phí ngắn hạn bao gồm chiphí cố định và chi phí biến đổi
Trang 25Chỉ số chi phí/ha là số tiền người sản xuất bỏ ra đầu tư vào các vật tư đầuvào bao gồm giống, phân bón, thuốc trừ sâu,…trên một đơn vị diện tích cho sảnphẩm Việc giảm chi phí đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận trong sản xuấtnhưng cần giảm chi phí đến một mức nào để không ảnh hưởng mới năng suất cầnphải có sự tính toán kỹ càng
Doanh thu/ha: Theo Wikipedia doanh thu là toàn bộ số tiền thu được dotiêu thụ sản phẩm Trong kinh tế học doanh thu bằng số giá bán nhân với sảnlượng Doanh thu cà phê chính là tổng số tiền thu được từ bán sản phẩm cà phêtươi nhân với diện tích sản xuất Như vậy doanh thu/ha là tổng số tiền thu đượctrên 1 ha sẽ bằng năng suất nhân với giá bán
Lợi nhuận/ha: Trong kinh tế vi mô đưa ra khái niệm lợi nhuận là phầnchênh lệch giữa tổng doanh thu của doanh nghiệp khi bán hàng hóa dịch vụ vàtổng chi phí đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa dịch vụ đó trong khoản một thời giannhất định
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx “cái phần trộilên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận” Karl Marx cho rằng:
“giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đólao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã đượcvật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”
Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn
“kinh tế học” xuất bản năm 1989 thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoảnthu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “ lợinhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công
ty và tổng chi phí”
Từ những quan điểm trên ta rút ra được lợi nhuận chính là kết quả tài chính,
là tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế trong một ngành sản xuất Trong ngành sảnxuất cà phê lợi nhuận trên đơn vị diện tích sẽ bằng doanh thu trừ đi chi phí trênmột đơn vị diện tích
Lợi nhuận/kg quả tươi: Trong trường hợp lợi nhuận/ha là mức đầu tư chiphí lớn mới cho hiệu quả kinh tế thì lợi nhuận/kg quả tươi có thể đánh giá đượchiêu quả kinh tế ở mức độ nhỏ hơn, đầu tư chi phí bao nhiêu mới cho hiệu quảkinh tế cao
Trang 262.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
a) Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí
- Chi Phí: Chi phí (TC) = Chi phí biến đổi (VC) + Chi phí cố định (FC)
- Chi phí biến đổi (VC): là những khoản chi phí tăng giảm cùng với mứcsản lượng Chi phí này sẽ thay đổi nếu người sản xuất tăng sản lượng Trong sảnxuất cà phê chi phí biến đổi là chi phí thay đổi giá của các vật tư đầu vào baogồm giá phân bón, giá thuốc BVTV, chi phí lao động
+ Chi phí phân bón: Đối với giá cả vật tư phân bón đầu vào, nhiều nhànghiên cứu có chung ý kiến rằng: nếu giá vật tư phân bón đầu vào biến độngtăng sẽ là tăng chi phí sản xuất và có thể dẫn đến việc nông dân hoặc sẽ hạn chếđầu tư thâm canh, hoặc sẽ chuyển đổi hệ thống sản xuất lựa chọ những câytrồng khác, ít phải đầu tư hơn nhằm giảm sức ép về vốn Hệ quả là năng suất càphê có thể giảm xuống và thu nhập của người nông dân cũng bị giảm theo(Frank Ellis, 1995)
Như vậy theo Frank nếu giá vật tư phân bón đầu vào tăng cao làm cho chiphí sản xuất của người dân tăng lên thì lợi nhuận của người sản xuất sẽ giảm đi
Vì thế để tránh sức ép về phân bón cần có biện pháp, cách làm như mua chung,thành lập Hợp tác xã, Tổ hợp tác chuyên cung cấp dịch vụ nông nghiệp Nhữnghình thức này nhằm làm một phần chi phí phân bón cho hộ nông dân sản xuất.+ Chi phí thuốc BVTV: Giá thuốc BVTV sẽ phụ thuộc nhiều hay ít vàotình hình sâu bệnh của hộ gia đình Thực tế trên cây cà phê có rất nhiều loại bệnhhại, tại địa phương các hộ chỉ biết mua loại thuốc về phòng trừ sâu bệnh hại chứkhông quan tâm đến giá thành sản phẩm Nếu sâu bệnh nhiều dẫn đến hộ phải sửdụng nhiều thuốc BVTV làm cho chi phí tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận Cần phải
có các biện pháp kỹ thuật phòng tránh sâu bệnh hại để giảm chi phí thuốc BVTVcho người dân sản xuất
+ Chi phí lao động: Trong một vụ (năm) sản xuất cà phê, chi phí lao độngthuê mướn chủ yếu tập trung vào thời vụ thu hoạch Chi phí lao động thuê mướnđược chủ hộ hạch toán dựa vào kết quả số lượng làm việc của người được thuêmướn Giá thành được tính trên 1 kg số lượng quả cà phê tươi của lao động thuêmướn Muốn giảm chi phí lao động thuê mướn chỉ bằng cách thay thế bằng laođộng gia đình vì lao động gia đình hộ nông dân không hạch toán chi phí
Trang 27- Chi phí cố định (FC): Trong kinh tế học vi mô chi phí cố định là nhữngkhoản chi phí không thay đổi khi sản lượng thay đổi Nói rõ hơn trong ngành sảnxuất cà phê chi phí cố định là chi phí người sản xuất phải bỏ ra trước đó Là chiphí người sản xuất buộc phải bỏ ra nếu muốn sản xuất Chi phí cố định ở đây baogồm giá về giống, tiền thuê đất sản xuất, giá làm đất, chi phí thuê máy móc
Ở đây do cà phê có 3 năm đầu là thời kỳ cơ bản người dân phải bỏ chi phíđầu tư giống, vật tư, phân bón nhưng không có doanh thu Khó khăn của nghiêncứu là cây cà phê được trồng từ lâu và thời gian cho thu hoạch cả một chu kỳ dàikhông biết năm kết thúc nên việc phân bổ chi phí cố định cho thời kỳ sản xuất sẽkhông chính xác
+ Chi phí giống: Để có được diện tích thu hoạch cà phê thì thời gian kiếnthiết cơ bản ban đầu mất 3 năm Thực tế hiện nay giống cà phê được trồng tại địaphương là giống Catimor được người dân trồng cách đây đã khá lâu Nếu ngườidân muốn thay thế hoặc trồng mới thường trồng bằng cây thực sinh là chủ yếu,mua các loại giống ghép ở các trung tâm, đại lý giống rất ít Nếu trồng bằng câythực sinh các hộ sản xuất sẽ không mất tiền, những nếu mua ngoài thị trường sốtiền đầu tư cho cây giống cũng chiếm một phần chi phí đáng kể trong tổng chiphí sản xuất của người dân
+ Chi phí thuê đất: Hiện nay tại vùng nghiên cứu các hộ đa phần sản xuấttrên diện tích đất tự có của hộ, chỉ một lượng rất nhỏ hộ thuê đất sản xuất nhưngthuê với điều kiện lâu năm do sản xuất cây cà phê cần thời gian dài Giá thuê đấtđược người cho thuê định giá theo hình thức đấu thầu tư nhân
+ Chi phí làm đất: Là chi phí ban đầu khi người dân bắt đầu sản xuất.Trong thời kỳ cơ bản của sản xuất cà phê người dân phải làm đất để trồng,thường những hộ gia đình sẽ bỏ sức lao động gia đình bằng hình thức thủ công,hoặc thuê thêm lao động bên ngoài
+ Chi phí thuê máy móc: Là số tiền chi trả cho máy móc thực hiện cáccông việc thay cho sức lao động thủ công Trong sản xuất cà phê chi phí máymóc chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí
b) Các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu
- Doanh thu: Doanh thu bằng năng suất nhân với giá sản phẩm Vậy yếu tốảnh hưởng đến doanh thu ở đây chính là năng suất và giá sản phẩm Để doanh
Trang 28Theo Cục Thống kê định nghĩa năng suất cây trồng là số lượng sản phẩmchính thu được tính trên một đơn vị diện tích gieo trồng hoặc diện tích thu hoạchcủa từng loại cây trồng trong một vụ sản xuất hoặc cả năm của một đơn vị sảnxuất nông nghiệp, một địa phương hay cả nước Công thức tính năng suất câytrồng có sự khác biệt giữa cây hàng năm và cây lâu năm Ở đây do cà phê là câydài ngày nên công thức tính năng suất của cây cà phê sẽ áp dụng như sau:
Năng suất là khối lượng sản phẩm thu hoạch được trên một đơn vị diện tích trong
1 đơn vị thời gian Thời gian thường là vụ hoặc năm
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm và chỉ cho thu hoạch 1 lần trong 1 nămnên năng suất sẽ được tính trên 1 năm hay 1 vụ thu hoạch
Năng suất cà phê thường được tính bằng khối lượng quả tươi cho mỗi câyhoặc cho mỗi lô và chuyển thành sản lượng cà phê nhân bằng cách chuyển đổitheo tỷ lệ tươi/nhân
Khối lượng cà phê tươi: là khối lượng quả cà phê chín sau khi được ngườidân thu hái trên một đơn vị diện tích trong một vụ (năm)
Khối lượng cà phê nhân: Là khối lượng quả cà phê chín sau khi được thuhái về được loại bỏ tạp chất, đưa vào máy xát tươi để tách vỏ quả, ngâm rửa vàlên men bằng phương pháp sinh học, cuối vùng hạt cà phê được rửa bằng nướcsạch và sấy khô hoặc phơi khô lúc này sẽ được gọi là cà phê thóc khô Cuối cùngsau khi xay sát sẽ được cà phê nhân
Tại Sơn La tỷ lệ chuyển đổi từ cà phê tươi sang cà phê nhân khoảng 5-6 kg
cà phê tươi được 1 kg cà phê nhân ở ẩm độ 13% Tuy nhiên với hình thức canhtác của người dân địa phương là bán cà phê tươi sau ngay sau khi thu hoạch cho
Trang 29các cơ sở kinh doanh chế biến nên trong trường hợp này của chúng tôi, năng suấtđược tính bằng số lượng kg hạt cà phê tươi trên đơn vị diện tích 1 ha trong 1 vụhay 1 năm sản xuất
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
- Giống: Mỗi giống cây trồng đều có tiềm năng năng suất nhất định, khicác yếu tố đầu vào bao gồm: chăm sóc, phân bón,… được đáp ứng đầy đủ thìgiống cũng không thể vượt qua ngưỡng tiềm năng năng suất của nó Trongthực tiễn cho thấy nhờ ứng dụng giống mới, năng suất đã từng bước đượcnâng cao
Về tiềm năng năng suất cà phê chè, các chương trình chọn giống trước đâycho thấy ưu thế lai ở hầu hết các con lai F1 tăng từ 20 % đến 40 % khi so với cácgiống đối chứng của bố mẹ tốt nhất Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy conlai có ưu thế lai từ 30 % đến 60 % vượt trội so với bố mẹ ở Ethiopia, Cameroon,Trung Mỹ Đây được xem là tiêu chí chọn giống quan trọng và là chiến lượctrong chương trình chọn giống (Walyaro, 1983; Nguyễn Hữu Hòa, 1997; Van derVossen, 2001; Trần Anh Hùng, 2003; Eskes and Leroy, 2004)
Theo Eskes và Leroy (2004), để đánh giá được sự ổn định năng suất của cácloại giống trong các môi trường khác nhau cần thử nghiệm ở nhiều điểm trồngkhác nhau Thông thường, khuyến nghị giống có thể trồng ở nhiều địa điểm trongcùng một quốc gia
Ở nước ta cà phê chè được trồng là loại giống Catimor và các con lai dạngTimor được nhân rộng và thay thế dần các giống cà phê chè truyền thống làTypica và Bourbon Những giống này tuy kháng lại một số loại sâu bệnh hạichính và cho năng suất cao nhưng chất lượng nước uống không bằng nhữnggiống truyền thống (Hoàng Thanh Tiệm và cs., 2011) Theo Ông cần phải cholai tạo với giống truyền thống để tạo ra những giống có năng suất và chất lượngtốt hơn
Qua đó có thể thấy rằng giống có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây
cà phê Để nâng cao năng suất trước hết cần phải biết tiềm năng năng suất của nó
để có sự đầu tư hợp lý trong sản xuất
- Tuổi cây: Cà phê là cây công nghiệp lâu năm nên thời gian sẽ ảnh hưởngđến năng suất theo đồ thị dưới đây
Trang 30Q`(max)Q
t`: thời gian năng suất đạt cao nhất
Chu kỳ sản xuất cây cà phê được chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn kiếnthiết cơ bản và giai đoạn kinh doanh Giai đoạn kiến thiết cơ bản chiếm 3 nămđầu cây cà phê không cho thu hoạch Thời gian này người dân sẽ phải đầu tư chiphí như giống, đất, phân bón, công chăm sóc nhưng không có lợi nhuận Bắt đầu
từ năm thứ 4 trở đi cây cho năng suất ổn định và đến một điểm Q` tức là năngsuất đạt cao nhất
Qua điểm Q` năng suất của cây trồng sẽ giảm dần theo (f) Nếu đầu tư chiphí quá mức cần thiết trong khi năng suất theo (f) không tăng và giảm dần dẫnđến người dân sản xuất không có lợi nhuận, thậm chí lỗ Vì vậy thời gian cũng cóảnh hưởng đến năng suất của cây cà phê
- Vật tư đầu vào: Bao gồm phân bón, thuốc BVTV và công lao động.+ Phân bón: Bón phân cho các loại cây trồng nói chung và cây cà phê nóiriêng phải đảm bảo các nguyên tắc: Bón phân cân đối (đúng tỷ lệ); Bón phân kịpthời vụ (đúng lúc) và Bón phân đủ hàm lượng (đúng hàm lượng)
Bộ NN & PTNT khuyến cáo lượng phân bón cho cây cà phê chè trong thời
kỳ cơ bản 3 năm đầu sẽ cần khoảng 590 – 700 kg ure, lân nung chảy từ 2.050 đến2.400 kg, Kali clorua từ 435 đến 500 kg/ ha Ngoài phân đơn hộ cần bón thêmphân chuồng 3 năm một lần với lượng 5-10 kg/gốc, hoặc bón các nguồn phânhữu cơ khác, hoặc phân xanh với số lượng không hạn chế
Trang 31Theo Viện KHKT nông lâm nghiệp Tây Nguyên (1999) lượng phân bón và
kỹ thuật bón phân đã trở thành một biện pháp quyết định đến năng suất câytrồng Đối với cây cà phê có thể sử dụng phân bón NPK hay phân hóa học, thanbùn, phân hữu cơ, vỏ cà phê Tuy nhiên sử dụng phân NPK hay phân hữu cơ hợp
lý, đặc biệt là NPK hợp lý sẽ đạt năng suất cao (Lê Ngọc Báu, 1999)
Nguyễn Võ Linh đã trích dẫn các kết quả phân tích của Viện Thổ nhưỡngNông hóa tiến hành trên cây cà phê vối ở vùng Tây Nguyên và cà phê chè ở vùng
quả và tăng năng suất cà phê, tăng phẩm cấp và kích cỡ nhân (Nguyễn Võ Linh,2006)
+ Thuốc trừ sâu: Trên cây cà phê chè hiện nay có nhiều loại sâu bệnh nêntùy thuộc vào tình hình sâu bệnh để phun thuốc diệt trừ Theo khuyến cáo của Bộ
NN & PTNT cần phải chủ động phòng trừ sâu bệnh bằng cách phun thuốc theotừng thời điểm sâu bệnh hại nhiều vào tháng 4,5 và tháng 10,11 Sâu bệnh ảnhhưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng nên phòng trừ, hạn chế được tỷ lệ sâubệnh là một yếu tố quyết định đến năng suất của vườn cà phê
+ Công lao động: Trước hết những người lao động là những người trên 15tuổi có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương vàchịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (Bộ luật lao động, 2016).Lao động được chia làm 2 loại là lao động gia đình và lao động thuê mướn
Lao động gia đình: là những người trong cùng một gia đình bỏ công sứcthực hành, làm các công việc của gia đình mình
Lao động thuê mướn: Là một người lao động được thuê mướn theo hìnhthức thỏa thuận giữa người đi thuê và người được thuê
Những nguồn lao động này trong nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệttham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người tham gia mà còn cảchất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như kỹnăng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng quantrọng đến gia tăng sản lượng Ví dụ nguồn lao động thuê mướn có kỹ năng thuhái tốt chỉ hái quả chín, không lẫn tạp chất, không làm ảnh hưởn đén năng suấtcho ra quả của cây vào vụ sau
Thực tế do đặc tính cây cà phê cho quả chín không đồng đều nên đến thời
vụ thua hoạch mới cần thuê lao động bên ngoài, thời gian chăm sóc chủ yếu làlao động gia đình Vì vậy, khi tính giá công lao động thườg xác định theo giá
Trang 32công lao động phổ thông tại thời điểm trên thị trường dao động từ 120 -150 nghìnđồng/ ngày công/8 tiếng đồng hồ.
- Kỹ thuật chăm sóc: Theo Đoàn Triệu Nhạn (2004) việc tỉa cành, tạo hìnhthường xuyên, giảm lượng cành xanh vô hại trên cây có thể ra hoa trên cành đãhóa gỗ 1, 2 năm tuổi Tỉa bỏ cành tăm, chồi vô hiệu cũng để dành dinh dưỡngnuôi quả chống hiện tượng quả lép, nâng cao năng suất Cũng theo ông cần xemxét kỹ chế độ bón phân, có thể giảm lượng đạm, nâng cao lượng lân và kali vàtrồng một số cây ăn quả quanh vườn để đa dạng hóa sinh học, đa dạng hóa sảnphẩm cũng là một cách nâng cao năng suất cho vườn cà phê
Ngoài các yếu tố kỹ thuật trên còn có các yếu tố tự nhiên tác động gây ảnhhưởng đến năng suất cây cà phê Các yếu tố tự nhiên bao gồm chất đất, khí hậu,
…là những yếu tố tự nhiên do vùng địa lý tạo nên
Đất trồng cà phê là loại đất phải có tầng canh tác dày trên 0,7m, tơi xốp, cókhả năng thoát nước và giữ ẩm tốt, thành phần cơ giới từ trung bình đến hơinặng Về hóa tính cây cà phê có thể trồng trên đất có pHkcl từ 4,5 đến 6,5, songthích hợp nhất từ 4,5 -5,0 Hàm lượng mùn trong đất phải > 3%, nếu hàm lượngmùn < 3% vẫn có thể trồng được nhưng sinh trưởng kém và năng suất sẽ giảm(Đoàn Triệu Nhạn, 2004)
Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1999) thì đất giàu mùn và hàmlượng dinh dưỡng thì cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, những nếu đất có độdinh dưỡng trung bình nhưng biết cách áp dụng các biện pháp thâm canh phùhợp thì cây cà phê vẫn cho năng suất cao
T
ó m lạ i : Những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên đưa ra kết luận cácyếu tố ảnh hưởng đến năng suất là các yếu tố về giống, vật tư đầu vào, kỹ thuậtchăm sóc và các yếu tố tự nhiên bao gồm khí hậu, chất đất
+ Giá sản phẩm: Trong ngành cà phê giá sản phẩm cà phê là giá bán sảnphẩm cà phê tươi và cà phê nhân
Giá sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất, doanh thu và hiệuquả của người sản xuất cà phê Một số tác giả cho rằng giá sản phẩm cà phê caokhông chỉ là tăng thu nhập cho người sản xuất cà phê mà còn góp phần điềuchỉnh thu nhập giữa các khu vực nông thôn và thành thị Nói cách khác là giá caogóp phần chuyển một phần thu nhập từ thành phố nơi đa phần là người tiêu dùngsản phẩm cà phê về nông thôn Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng vấn đề
Trang 33không đơn giản như vậy Sự phân bổ này ngoài sự phụ thuộc và cơ cấu sản lượng
tự tiêu của chính nông hộ, còn phụ thuộc và tỷ lệ người dân không có đất ở nôngthôn là nhiều hay ít Những người dân nông thôn không có đất canh tác phải muagiá nông sản cao sẽ là gia tăng tỷ lệ nghèo ở nông thôn (Frank Ellis, 1995)
Một quan điểm của Nakajima, 1986 cho rằng nếu tăng giá sản phẩm đồngnghĩa với tăng thu nhập cho các hộ nông dân, lúc đó sẽ kéo theo sự tiêu dùngtăng trong nông hộ dẫn đến sản lượng cung cấp cho thị trường sẽ giảm đi Có thểkhẳng định các nông hộ khu vực nông thôn cũng có nhu cầu tiêu dùng như các
hộ gia đình ở khu vực thành thị nhưng do rào cản về kinh tế nên không dám tiêudùng (Cambridge, 1992)
Điều này trái với nhận xét của Timer, 1983 cho rằng: khi tăng giá sản phẩmthì nông dân sẽ tăng lượng bán ra thị trường Nhưng sản lượng tăng phụ thuộcvào nhiều yếu tố như quy mô sản xuất, kỹ thuật chăm sóc của các hộ Nếu quy
mô bé, manh mún thì việc tăng sản lượng của các hộ sản xuất này khó thực hiện
do đầu tư chi phí dàn trải Nếu kỹ thuật chăm sóc không theo quy trình thì sảnlượng cũng không tăng
Để tăng giá cà phê cần có những biện pháp như tăng chất lượng sản phẩm,làm cho sản phẩm sản xuất có những đặc trưng nổi bật được người tiêu dùng yêuthích và sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm Trường hợp này cần phải tạo dựngthương hiệu cà phê cho vùng nhằm kích thích sự tiêu dùng của thị trường Nhưvậy, khi giá bán cà phê tăng sẽ mang lại chiều hướng tích cực cho các hộ sảnxuất, hộ sẽ đầu tư thêm vốn sản xuất, tăng chi phí vật tư đầu vào nhằm tăng năngsuất đạt mục đích tăng doanh thu tối đa
Giá cà phê có những đặc điểm sau:
+ Giá cà phê biến động theo mùa vụ
Một vụ sản xuất cà phê có thể có nhiều mức giá khác nhau tùy vào từngthời điểm khác nhau Hộ chủ yếu bán cà phê tươi, trong khi nếu nhu cầu thịtrường tăng cao giá sản phẩm cà phê tươi tăng theo Giá được niêm yết trên thịtrường thế giới nhưng khi về đến các cơ sở chế biến thu mua còn tùy thuộc vào
cơ sở hạ tầng khu vực mua nên giá có thể giảm đi
+ Giá quyết định sự đầu tư của hộ
Giá sản phẩm cà phê tăng tức là doanh thu tăng dẫn đến quyết định đầu tưsản xuất vào vụ sau, nếu giá sản phẩm thấp tức là doanh thu giảm, lợi nhuận
Trang 34D Ricardo (1772-1803) xem lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiềncông, lợi nhuận là lao động không được trả của công nhân Ông nhận thấy:lượng
tư bản bằng nhau thì đem lại lợi nhuận bằng nhau, nhưng Ông không chứng minhđược vì Ông chưa hiểu được giá cả sản xuất Đồng thời Ông chưa nhận ra giá trịthặng dư Sau này khi Các Mác phát hiện ra tính 2 mặt của lao động, những vấn
đề mà trường phái kinh tế của D Ricardo chưa vượt qua được đã giải quyết vàtrở thành một trong 3 nguồn gốc của chủ nghĩa Mác (Kar Marx, 1962)
Đây là những ý kiến về lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường đối với cácdoanh nghiệp Còn trong sản xuất nông nghiệp nói chung lợi nhuận được hiểunôm na chính là số tiền hộ nông dân thu về được trong sau khi đã trừ đi chi phísản xuất như quan điểm của các nhà kinh tế tư sản hiện đại đưa ra
Lợi nhuận được phân thành 2 loại sau:
+ Lợi nhuận dài hạn: là khoản lợi nhuận tính trong cả một chu kỳ sản xuấtcủa của loại cây trồng đó Cây cà phê là cây công nghiệp dài ngày nên việc đầu
tư và sản lượng thu về diễn ra trong một thời gian dài Hiệu quả kinh tế chịu tácđộng của nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, sự biếnđộng giá cả thị trường Bên cạnh đó chu kỳ sản xuất và hiệu quả kinh tế còn chịutác động của kỹ thuật canh tác
Mức đầu tư và kết quả thu hoạch của cà phê trong thời kỳ kinh doanh khácnhau qua từng năm nên nếu tính lợi nhuận dài hạn sẽ không phản ánh đúng hiệuquả kinh tế cây cà phê Vì thế trong nghiên cứu này chúng tôi không tính lợinhuận dài hạn
+ Lợi nhuận ngắn hạn: là lợi nhuận được hạch toán hàng năm, sử dụngcác chỉ tiêu để tính toán mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Việchạch toán hàng năm để chỉ ra năng suất, chi phí và lợi nhuận thu được hàng năm.Lợi nhuận ngắn hạn nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê đượctiến hành từ năm thứ 4 trở đi khi cây cà phê bước vào thời kỳ kinh doanh Các
Trang 352.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào, một ngành kinh tế hay một doanh nghiệp nàocũng cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất Khi sản xuất ra một sảnphẩm bất kỳ mọi người đều có mong muốn các yếu tố sản xuất đầu vào thấp nhất
và đầu ra đạt được năng suất cao nhất
Nâng cao hiệu quả kinh tế đồng nghĩa với việc là cơ hội để tăng lợi nhuận,
từ đó tích luỹ sản xuất vốn và tiếp tục đầu tư tái mở rộng Nâng cao hiệu quảkinh tế sẽ làm thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện, là cái gốc
để giải quyết mọi vấn đề để nâng cao hiệu kinh tế
Trong ngành cà phê việc nâng cao hiệu quả kinh tế không những có ý nghĩaquan trọng đối với người dân sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng đối vớingành hàng nông sản của nước ta Như đã biết kim ngạch xuất khẩu của cà phêđứng thứ 2 của nước ta sau lúa gạo, chiếm tỷ trọng lớn trong những mặt hàngxuất khẩu, bên cạnh đó nhờ vào sản xuất cà phê ở nhiều vùng còn tạo công ănviệc làm cho nhiều hộ gia đình, tăng thu nhập giúp nhiều hộ vươn lên thoátnghèo bền vững và được xem là cây trồng chủ lực của nhiều địa phương
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê trên Thế Giới
Theo số liệu của tổ chức cà phê quốc tế (ICO) hiện nay có khoảng 20 đến
30 nước sản xuất cà phê tập chung chủ yếu vào các khu vực: Bắc và Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á - Thái Bình Dương
Phân bổ sản lượng cà phê thế giới theo các khu vực này như sau: Châu Mỹsản xuất ra 60 - 70 % sản lượng cà phê thế giới, tức là khoảng gần 4 triệu tấn càphê nhân Châu Phi sản xuất ra 20 - 22% khoảng hơn 1 triệu tấn Châu Á hàngnăm sản xuất khoảng 70 ngàn tấn cà phê chiếm 12% sản lượng toàn thế giới, sản
Trang 36Bảng 2.1 Sản lượng cà phê của các nước hàng đầu Thế giới
ĐVT: Nghìn bao (1 bao 60kg)T
20
20
%thay
26
27
3,80
3,
3,
8,301
3,
3,
3,40
Nguồn: Diễn đàn người làm cà phê (2015)
Nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới rất lớn Hàng năm, lượng tiêu thụ trênthế giới ước tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn)
Là nước uống cao cấp, nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng vẫn không ngừngtăng lên chưa và có những sản phẩm nhân tạo được chấp nhận để thay thế cho càphê, vì vậy việc trồng, xuất khẩu, nhập khẩu, loại hàng hoá đặc biệt này vẫn cómột ý nghĩa kinh tế lớn đối với nhiều nước
Trang 37Vấn đề quan trọng cần có nhận thức đầy đủ là: Sản phẩm cà phê đem ra thịtrường phải đảm bảo chất lượng, trong cơ chế thị trường: Tiền nào- của nấy, lạicàng đúng với mặt hàng cà phê Trong đó Brazil là nước đứng đầu về sản xuất càphê của Thế giới và diện tích chủ yếu trồng cà phê chè đã có thương hiệu trên thịtrường, mang lại nguồn thu nhập chính cho nhiều người dân
Bảng 2.2 Số lượng các nước nhập khẩu cà phê trên Thế giới
ĐVT : Triệu bao
TăngT
201
201
trưởn
41
42
1,2
23
23
2,5
7,
7,
2,2
3,
4,
2,3
3,
3,
3,1
1,
1,
2,0
1,
1,
101
1,
1,
2
-Nguồn: ICO (2015)
Như đã nói ở trên do cà phê chỉ thích nghi với những vùng có điều kiện thổnhưỡng, khí hậu phù hợp vì vậy những Quốc gia nhập khẩu cà phê do khôngtrồng được hoặc có trồng nhưng không đủ cung cấp cho thị trường nội địa nênphải nhập khẩu Trong khi nhu cầu tiêu dùng sử dụng của người dân các nướcngày càng cao nên việc nhập khẩu là việc tất yếu
Nhìn vào Bảng 2.2 ta có thể thấy các nước trong khối Châu Âu, chủ yếu làĐức, Pháp là những nước nhập khẩu cà phê nhiều nhất những năm qua Số liệuthống kê của tổ chức cà phê Quốc tế cho thấy năm 2014 các nước Châu Âu đãnhập hơn 42,2 triệu bao, mức độ nhập khẩu tăng bình quân 1,2 % gần tươngđương với sản lượng của nước xuất khẩu lớn nhất Thế giới là Brazil Nước nhậpkhẩu đứng thứ 2 là Mỹ với bình quân số lượng nhập khẩu trên 23 triệu bao Chỉ
Trang 38tính 2 nước nhập khẩu chính này cũng đã thấy nhu cầu thưởng thức cà phê rất lớncủa người tiêu dùng trên khắp Thế giới nên việc mở rộng diện tích trồng cà phêcủa các nước xuất khẩu ngày càng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trườngcác nước nhập khẩu
Trong khi gu thưởng thức người tiêu dùng ngày càng nâng cao nên việc sảnlượng xuất khẩu cà phê cũng đang được các nước có tiềm năng sản xuất ngàycàng để ý đến, nhất là cà phê chè Arabia được người tiêu dùng để ý hơn dohương vị và chất lượng ngày càng chiếm được lòng tin người tiêu dùng NgoàiViệt Nam, các nước sản xuất cà phê lớn bao gồm Brazil, Indonesia, Ấn Độ,Uganda, Colombia là những nước có diện tích sản xuất cà phê Arabica lớn trênthế giới Theo báo cáo giữa năm của dịch vụ nông nghiệp nước ngoài Bộ Nôngnghiệp Mỹ (USDA) sản lượng niên vụ 2016/17 tăng 2,4 triệu bao so với niên vụtrước Trong đó sản lượng cà phê Arabica tại Brazil kỳ vọng phuc hồi tăng lên60% bù lại sản lượng cà phê Robusta giảm do tình trạng khô hạn kéo dài tạinhiều bang
2.2.2 Tình hình sản xuất Arabica ở Việt Nam
Cây cà phê Arabica hay còn gọi là cà phê chè trước đây được trồng khárộng rãi ở miền Bắc nước ta với chủng giống chủ yếu là Typica, và có một phần
là Bourbon Tuy nhiên vì tác hại của sâu bệnh trắng, chủ yếu là sâu đục thânmình còn gọi là sâu Bore và bệnh gỉ sắt hay nấm vàng da cam, nên chưa đượcđưa vào kế hoạch phát triển thời gian trước đây
Trong vòng 20 năm lại đây do kết quả khả quan của công tác chọn tạogiống chúng ta đã đưa được cây cà phê chè Catimor có khả năng chống bệnh gỉsắt, chúng ta mới đặt vấn đề mở rộng diện tích cà phê chè Từ giống Catimor F6được đưa vào sản xuất từ năm 1996 đến nay chúng ta lại tiếp tục nghiên cứu laitạo và đưa ra những giống cà phê chè cho năng suất cao, kích cỡ hạt lớn và chấtlượng nước uống được cải thiện so với Catimor như các giống TN1, TN2 Đếnnay cây cà phê chè đã được nhiều địa phương quan tâm, và đưa vào kế hoạchphát triển và đã đạt được kết quả khả quan
Giống cà phê chè TN1, TN2 đã được Viện KHKT Nông lâm nghiệp TâyNguyên khuyến cáo đưa vào trồng thử nghiệm tại một số tỉnh do các loại giốngnày đã thể hiện một số đặc điểm ưu thế hơn so với giống cà phê chè Catimortrước đây
Trang 39Khí hậu nước ta chi làm hai vùng rõ rệt miền Nam và miền Bắc Điều đó đãcho phép ngành cà phê trồng cà phê vối Robusta yêu cầu khí hậu nóng ẩm ở phíaNam và trồng cà phê chè Arabica thích nghi với khí hậu ôn hòa hơn ở phía Bắc,
và một số vùng cao rải rác ở phía Nam Đó là một chiến lược khai thác tiềm năngđất đai, khí hậu và lao động của cả nước một cách hợp lý, mang lại hiệu quả cao.Vùng sinh thái trồng cà phê chè ở nước ta thể hiện ở Bảng 2.3
Bảng 2.3 Diện tích trồng cà phê Arabica của Việt Nam
ĐVT: haTỉ
ổn 31,07134 34,6 36,5 Nguồn: Cục xúc tiến thương mại (2015)
Ở nước ta cà phê chè Arabica được trồng chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng,Quảng Trị, Sơn La, Điện Biên Một số ít diện tích được trồng ở Nghệ An và KonTum Tại Nghệ An diện tích cà phê Arabica ngày càng giảm dần do cây bị thiệthại vì sâu bệnh và sương muối nên người dân đã chuyển đổi mục đích sử dụngđất sang trồng các loại cây khác
Trong khi diện tích cà phê vối được trồng ở khu vực Tây Nguyên đang cónguy cơ giảm dần do người dân chuyển đổi diện tích đất sản xuất thì diện tích càphê Arabica ở khu vực phía Bắc lại có xu hướng tăng Diện tích trồng cà phêArabica ở Tỉnh Sơn La tăng dần qua các năm, chỉ sau diện tích của Lâm Đồng, làmột tỉnh có diện tích trồng nhiều cà phê Arabica, được xem là trung tâm cà phêArabica của cả nước Tỉnh Điện Biên sau mấy năm chững lại thì nay cũng đã mởrộng diện tích trồng lên đến 4.500 ha (xem Bảng 2.3)
2.2.3 Bài học kinh nghiệm của các nước sản xuất trên Thế giới về nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê
Theo kinh nghiệm của Brazil, mô hình tổ chức ngành cà phê được chia làm
4 nhóm tổ chức chính: Tổ chức của các nhà sản xuất (bao gồm các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các hợp tác xã), Tổ chức của các nhà rang xay; Tổ chức của các nhà sản
Trang 40xuất cà phê hoà tan và tổ chức của các nhà xuất khẩu Điều phối toàn bộ hoạtđộng của các tổ chức trên là Hội đồng Cà phê Quốc gia (CNC), có văn phòngthường trực (Cục Cà phê) đặt tại Bộ Nông nghiệp Brazil Thành viên của hộiđồng bao gồm 50% là thành viên của Chính phủ (Bộ và các cơ quan nghiên cứuthuộc Bộ) và 50% là đại diện của 4 nhóm tổ chức trên Chủ tịch hội đồng là Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp, Phó chủ tịch là một Thứ trưởng phụ trách nông nghiệp.Hội đồng bao gồm 4 uỷ ban: Uỷ ban thị trường và tiếp thị, Uỷ ban chính sáchchiến lược, Uỷ ban nghiên cứu kỹ thuật và Uỷ ban phụ trách các tổ chức quốc tế.Trách nhiệm chính của Hội đồng là điều phối toàn bộ hoạt động của ngành hàng,đưa ra các định hướng chính sách trên cơ sở tham vấn các thành viên đại diện,xác định các ưu tiên nghiên cứu và phân bổ vốn cho hoạt động nghiên cứu vàchuyển giao cũng như các chương trình khác như xúc tiến thương mại trongnước, nâng cao chất lượng cà phê, bảo vệ môi trường
Điểm mạnh của tổ chức này là có thể liên kết theo ngành dọc và quản lýchuỗi ngành hàng cà phê một cách tổng thể, chặt chẽ và dễ dàng chuyển giao cácgiai đoạn giữa các quốc gia Các Hiệp hội được phân định chức năng rất cụ thể,
có thể lập kế hoạch, điều phối, giám sát các cơ sở liên quan đến ngành hàng càphê, đặc biệt thông qua quỹ hỗ trợ Fund Coffee – là quỹ có nguồn kinh phí choviệc hoạch định và thực hiện các chính sách của ủy ban cà phê quốc gia Đây làquỹ quan trọng nhất của Brazil thực hiện các việc hỗ trợ chi phí, thu hoặc tạmtrữ, xúc tiến thương mại, mua nghiên cứu hỗ trợ về chi phí, quảng cáo, phát triểnthị trường một cách có tổ chức
Đoàn Triệu Nhạn (2007) cho biết, ở Comlombia, hiệp hội những người sảnxuất cà phê Colombia có chủ trương áp dụng biện pháp quản lý vườn cây tốt hơn
để nâng cao năng suất cà phê Hiệp hội chủ trương tập trung sức vào việc nângcao sản lượng cà phê chất lượng cao và sản phẩm cà phê giá trị gia tăng Nhưvậy, Colombia là quốc gia đã rất chú trọng nâng cao sản lượng cà phê đi đôi vớigia tăng chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu.Hiện nay cà phê Việt Nam đã không ngừng gia tăng về sản lượng nhưng chấtlượng lại không được chú ý đúng mức, vì vậy trong mỗi hộ gia đình cần chútrọng nâng cao chất lượng cà phê theo khuyến cáo của các cơ quan hữu quan
Ở Uganda, chính phủ đối phó giải quyết nạn khô hạn bằng cách đôn đốc cácchủ vườn, lo tưới nước cho cà phê và trồng cây che bóng cho cà phê Chính phủcũng khuyến khích việc trồng 500 dòng cà phê chọn lọc có khả năng chống bệnh