LIÊN KẾT VÀ LIÊN KẾT TRONG DIỄN NGÔN HƯ CẤU Liên kết hình thức, Liên kết nội dung, Liên kết chủ đề, Liên kết lô – gic 1. Những vấn đề chung 1.1. Diễn ngôn và diễn ngôn hư cấu Theo Trần Đình Sử “Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới,về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khía niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biến trong xã hội.”. Theo Jacob Torfing “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đứctrí tuệ”. Theo Norman Fairclough “Diễn ngôn là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình mô tả thực tiễn xã hội khác với quan điểm riêng”. Từ đó, nhóm cho rằng: Diễn ngôn là hoạt động diễn ra bằng lời nói, ý nghĩa mà nó biểu trưng là tổng thể kết quả mà con người giao tiếp với nhau được hình thành từ quá trình, ở bình diện ngôn ngữ học thuần túy và bình diện ngoài ngôn ngữ học.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN - -
ĐỀ TÀI
LIÊN KẾT VÀ LIÊN KẾT TRONG
DIỄN NGÔN HƯ CẤU
GVHD: Trịnh Sâm Nhóm thực hiện: nhóm 12
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 10 năm 2018
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
z
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC
Đánhgiá Huỳnh Thị Kim
Thoa
k39
601.115
.5Nguyễn Thị Yến
Nhi
41.01.601.076
Trịnh Thúy Ngân 41.0
1.601.064
1.601.099
Dương Ngọc Đức 41.0
1.601.015
Nguyễn Thị Mai 41.0
1.601.057
Bùi Nguyễn
Quỳnh Phương
41.01.601.092
1.1.1;
1.2; 2.2.1;
Tổng hợpbài
9
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung
1.1 Diễn ngôn và diễn ngôn hư cấu
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 4
1.1.2 Diễn ngôn hư cấu 4
1.2 Liên kết và quy chiếu trong diễn ngôn
1.1.1 Liên kết và các phương thức liên kết 6
1.1.2 Quy chiếu và các phương thức quy chiếu 7
2 Liên kết trong diễn ngôn hư cấu
2.1 Liên kết hình thức 8
Trang 42.2 Liên kết nội dung 12
2.2.1 Liên kết chủ đề 12
2.2.2 Liên kết lô – gic 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 51 Những vấn đề chung
1.1 Diễn ngôn và diễn ngôn hư cấu
Theo Trần Đình Sử “Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về conngười, thế giới,về các sự việc trong đời sống Diễn ngôn biểu hiện thành hìnhthức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễnđạt thành khía niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từthen chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biến trong xã hội.”.Theo Jacob Torfing “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mụcđích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đức-trítuệ”
Theo Norman Fairclough “Diễn ngôn là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình
mô tả thực tiễn xã hội khác với quan điểm riêng”
Từ đó, nhóm cho rằng: Diễn ngôn là hoạt động diễn ra bằng lời nói, ý nghĩa mà
nó biểu trưng là tổng thể kết quả mà con người giao tiếp với nhau được hìnhthành từ quá trình, ở bình diện ngôn ngữ học thuần túy và bình diện ngoài ngônngữ học
1.1.2 Diễn ngôn hư cấu
1.1.2.1 Khái niệm diễn ngôn hư cấu
Khái niệm hư cấu: “Hư cấu là phương thức xây dựng hình tượng điển hình qua việc sáng tạo ra những giá trị mới, những yếu tố mới, như sự kiện, cảnh vật, nhân vật trong một tác phẩm theo sự tưởng tượng của tác giả Đây là một yếu tố không thể thiếu của sáng tác văn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật bắt nguồn
từ cuộc sống nhưng không sao chép nguyên nó Từ những chất liệu thực tế, nghệ
sĩ tổ chức, nhào nặn, sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét
và điển hình hơn, tuy thuộc chủ đề của tác phẩm.”
Theo.Foucault “diễn ngôn biểu hiện ra bề ngoài thành hình thức ngôn ngữ, nhưng nó không phải là ngôn ngữ thuần tuý, mà là một phương thức biểu đạt của tư tưởng và lịch sử”.
Từ đó, nhóm cho rằng: Diễn ngôn hư cấu là đề cập đến một triết lí nhânsinh, một sự việc huyền thoại nào đó để nói lên tư tưởng của người diễn đạt màthông qua sự việc được cường điệu theo cách riêng nó gửi gắm, bàn đến nhữngvấn đề sát sườn, liên quan đến cuộc sống
Trang 61.1.2.2 Đặc điểm của diễn ngôn hư cấu
Cấu trúc câu thường có độ dài trên dưới 200 hình tiết, xuất hiện không chỉtrong giao tiếp chính trị mà còn trong văn xuôi nghệ thuật Cách diễn đạt thườngxuyên xuất hiện các phương thức ẩn dụ ngữ pháp Diễn ngôn hư cấu phức tạp và
do nó đa nghĩa, nhiều hình tượng Vì trước hết ngôn ngữ trong diễn ngôn hư cấuvừa là phương tiện, mục đích Diễn ngôn hư cấu đề cập đến những chuyện không
có thực nhưng giải quyết những vấn đề trong cuộc sống “Mượn xưa nói nay”,
“Mượn nay nói xưa” Nguyễn Huy Thiệp
Liên kết trong các loại diễn ngôn viết là không như nhau, chẳng hạn liênkết nối ít xuất hiện, thậm chí không xuất hiện trong diễn ngôn tin vắn điển dạng,trong khi đó liên kết liên tưởng xuất hiện dày đặc trong diễn ngôn nghệ thuật vàcác diễn ngôn có tính miêu tả thường liên quan đến các biện pháp liên kết phốihợp từ vựng Văn bản viết hay sử dụng các ngữ đoạn liên kết chỉ trình tự diễn đạt,
mở đầu, chuyển tiếp, kết thúc như: trước hết, đầu tiên, kế đến, tiếp theo, saunữa, ngoài ra, vả lại, hơn thế nữa, thêm vào đó…, thế là, rồi thì, để đạt được yêucầu đó, sẽ vô cùng thiếu sót (phiến diện, không đầy đủ) nếu không nhắc đến (đềcập, bàn về…), cuối cùng là, sau chót là, để kết thúc, nói tóm lại, nói gọn lại
Cấu trúc và chức năng của tiêu đề trong các loại hình diễn ngôn viết là khá
đa dạng Nhưng có lẽ thú vị nhất, đa dạng nhất là tiêu đề trong diễn ngôn nghệthuật, đây là hệ thống hoàn toàn để mở, ở đó tập trung rất nhiều biện pháp nghệthuật tu từ, đôi khi ý đồ nghệ thuật được mã hóa rất sâu, đòi hỏi phải có lời bình,người đọc mới hiểu được
Bố cục ba thành phần của diễn ngôn nghệ thuật:
về kết cục đó, hoặc đẩy lùi sự kiện về quá khứ, phóng chiếu về tương lai vàdẫn về kết cục đó; (3) Chọn những chi tiết có tính chất biểu trưng đưa lêntrước và các chi tiết biểu trưng này sẽ chi phối toàn bộ cấu trúc truyện
- Đề cập một triết lí nhân sinh, rồi thông qua số phận của hình tượng nhânvật, minh họa cho tư tưởng triết học đó
Trang 7- Đề cập một số chi tiết lịch sử nhưng về dụng ý nghệ thuật là muốn nhắcđến hiện tại hoặc ngược lại Cách mở đầu trước là muốn mượn xưa nói nay,cách sau là mượn nay để nói xưa.
- Đề cập chuyện của xứ người nhưng về thực chất là muốn nói đến chuyệncủa ta
- Đề cập vấn đề có tính chất huyền thoại hay hư ảo nhưng thực chất là muốnbàn đến những vấn đề sát sườn của cuộc sống
- Nếu mở đầu bằng triết lí nhân sinh, bằng các hình thức vay mượn có tínhchất ẩn dụ, phần triển khai được cấu trúc hầu như không theo một khuônthước nào
Một số cách kết thúc của diễn ngôn hư cấu:
- Kết thúc đóng mở
- Kết thúc có hậu
- Kết thúc theo nhu cầu đạo đức
- Kết thúc mở bỏ lửng
1.2 Liên kết và quy chiếu trong diễn ngôn
1.2.1 Liên kết và các phương thức liên kết
Liên kết là mối quan hệ giữa các cấu tố làm nên văn bản Nhờ có sự gắn bómật thiết giữa liên kết nội dung và liên kết hình thức mà ta phân biệt được một
Trang 8“diễn ngôn” và một “phi diễn ngôn” Liên kết trong văn bản được thực hiện nhờcác phương tiện liên kết và các phương thức liên kết (phép liên kết).
Phương tiện liên kết là những yếu tố hình thức cụ thể của ngôn ngữ thamgia vào việc tạo ra sự kết nối giữa các câu trong văn bản Trong tiếng Việt, liênkết được hình thành không chỉ qua việc sử dụng các phương tiện ngữ pháp nhưtĩnh lược, từ nối mà còn qua việc sử dụng từ vựng như lặp từ vựng, liên tưởng.Ngoài ra, việc sử dụng trật tự từ, ngữ điệu, cũng giúp kết nối các câu
Phương thức liên kết là cách sử dụng các phương tiện liên kết có đặc tínhchung vào việc liên kết câu với câu Các phương tiện dùng trong một phép liênkết đều có một đặc tính chung giúp chúng tập hợp lại với nhau trong một hệthống con nhưng giữa chúng có những nét riêng phân biệt được với nhau để sửdụng trong từng ngữ cảnh cụ thể Các phương tiện liên kết thường khác nhau,những phương tiện thuộc cùng một lớp từ thì có đặc tính chung của cả lớp như
đặc tính thay thế, hồi chỉ của đại từ: hắn, y , gã, nó, chúng, đây, đó,
1.2.2 Quy chiếu và quy chiếu trong diễn ngôn
Quy chiếu và liên kết là hai hiện tượng khác nhau về thực chất và có phầnnào đó quan hệ với nhau: liên kết sử dụng một phần của sự quy chiếu để làm cơ
sở cho sự tồn tại của mình Cho nên muốn hiểu đúng và đủ về liên kết thì cần tìmhiểu về quy chiếu
Quy chiếu trong ngôn ngữ học được hiểu theo hai cách Thứ nhất, quychiếu được hiểu là mối quan hệ xác lập giữa biểu thức ngôn từ với vật nằm ngoàivăn bản được nói đến bằng biểu thức ngôn từ đó, trong trường hợp cụ thể của mộtphát ngôn Kiểu quy chiếu này gọi là quy chiếu ngoại hướng (hay ngoại chỉ)
Ví dụ: Cái tòa nhà kia là khách sạn
Thứ hai, quy chiếu được hiểu là mối quan hệ đồng nhất hoặc tương tự xác lậpgiữa các đơn vị ngữ pháp thường gặp giữa các yếu tố ngôn ngữ trong một vănbản Kiểu quy chiếu này gọi là quy chiếu nội hướng (hay nội chỉ)
Ví dụ: Hương rất buồn Đêm hôm đó cô ấy đã thức trắng đêm
Đối với sự liên kết giữa câu với câu (kể cả trường hợp những câu này nằm trongnhững tổ chức ngôn ngữ lớn hơn câu như đoạn văn) thì kiểu quy chiếu nội chỉgiữa vai trò rất quan trọng Vì thế, phần liên kết sẽ tập trung chú ý vào kiểu quychiếu nội chỉ
Trang 9Trong sự quy chiếu nội hướng lại có sự phân biệt hai hướng quy chiếu: Hồi chiếu
là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiệnsau trong văn bản Khứ chiếu là trường hợp yếu tố được giải thích xuất hiệntrước, yếu tố giải thích xuất hiện sau Có thể tóm lược khái niệm về quy chiếunhư sau:
Liên kết hình thức thể hiện sự gắn bó giữa các câu, các đoạn văn, các khổthơ với nhau bởi các yếu tố hình thức Đây là sự nối kết biểu hiện ở bề mặt củahai câu văn, là cấu trúc ngôn ngữ của đoạn văn
2.1.2 Phương thức liên kết hình thức
Phương thức lặp
Phép lặp là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những bộ phậnkhác nhau (trước hết ở đây là những câu khác nhau) của văn bản nhằm liên kếtchúng lại với nhau Ngoài khả năng kết nối các bộ phận hữu quan của văn bản lạivới nhau, phép lặp còn có thể đem lại những ý nghĩa tu từ như nhấn mạnh gâycảm xúc, gây ấn tượng
Trang 10 Lặp ngữ âm
Lặp ngữ âm là phương thức liên kết được thực hiện bằng cách lặp lạinhững yếu tố ngữ âm (âm tiết, số lượng âm tiết, khuôn vần, phụ âm đầu, thanhđiệu…) đã được sử dụng trong những câu trước đó Trong lặp ngữ âm, cácphương tiện ngữ âm được sử dụng để liên kết thường ở hai kiểu: lặp số lượng âmtiết và vần
“Nu na nu nốngCái bống nằm trongCon ong nằm ngoài
Ví dụ:
“Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!”
(Cây tre Việt Nam- Thép Mới)
Trang 11Cấu tạo ngữ pháp ở 2 câu này là: Sử dụng đề ngữ - dạng câu đặc biệt => tạo sắcthái cảm thán.
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn, có thể phân loại phép lặpngữ pháp thành bốn kiểu: lặp đủ, lặp khác, lặp thừa, lặp thiếu Nếu căn cứ vàomức độ lặp thì có thể chia thành lặp hoàn toàn và lặp bộ phận Còn nếu căn cứvào tính cân đối của chủ ngôn và kết ngôn thì lặp ngữ pháp lại chia thành hainhóm: lặp cân và lặp lệch Dưới đây ta sẽ đi vào xem xét từng kiểu
- Lặp đủ (Lặp cân - Lặp hoàn toàn):
Toàn bộ cấu trúc chủ ngôn và các bộ phận của nó được lặp lại hoàn toàn ở kếtngôn
Họ không đi làm vào sáng nay Họ cũng không liên lạc với chúng tôi
Lặp khác cho phép thoát khỏi sự gò bó của lặp đủ, cho phép lặp câu một cáchuyển chuyển, linh hoạt
- Lặp thừa (Lặp lệch – Lặp hoàn toàn):
Toàn bộ các thành phần của chủ ngôn vẫn được lặp lại trong kết ngôn nhưngtrong kết ngôn còn chứa những bộ phận mà chủ ngôn không có Tức là cấutrúc của chủ ngôn được bao hàm trong kết ngôn
Ví dụ:
Anh Tiến thì thông minh Anh Hoài thì thành thực và chăm chỉ
Trang 12Có thể chia thành 3 phần thêm sau đây:
Phần thêm vào là những phụ tố của các thành phần phát ngôn hoặc yếu tốđồng loại của chúng
Ví dụ:
“Kế hoạch Taylor đã tiêu tan Kế hoạch Macnamara cũng phá sản Kếhoạch leo thang mà hiện nay đế quốc Mỹ đang cố gắng thực hiện ở miềnBắc cũng nhất định sẽ thất bại.”
(Hồ Chí Minh)Phần thêm vào là các thành phần đồng loại hoặc các thành phụ của phátngôn
Ví dụ:
“Hoa vạn thọ thì đôn hậu Hoa đào thì duyên dáng và khôi ngô”
Phần thêm vào là vế của câu ghép
Có thể chia thành 3 phần không lặp như sau:
Phần không lặp là một hoặc một số thành phần của phát ngôn
Ví dụ:
“Vẫn vui như lúc này, vợ đi trước thổi sáo Chồng đằng sau hát theo.”
(Tô Hoài)Phần lặp là bổ ngữ thể hiện bằng một cú:
Ví dụ:
Trang 13“Chúng ta đều biết rằng, trình độ khoa học kĩ thuật của ta hiện naycòn thấpkém Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều Cách thức làm việc cònnặng nhọc Năng suất lao động còn thấp kém Phong tục, tập quán còn lạchậu.”
(Hồ Chí Minh)Phần không lặp là một vế (Trước hoặc sau) của phát ngôn ghép
- Để tạo nên sự cận đối về nhịp điệu, cần dồn chỗ lặp về phía sau
2.2 Liên kết nội dung
Khác với ở bình diện liên kết hình thức, ở bình diện liên kết nội dung (hoặcliên kết ngữ nghĩa), các phương tiện liên kết phong phú hơn rất nhiều Ở đây cóthể quan sát thấy sự tham gia của tất cả các yếu tố ngôn ngữ trong việc tạo ra tínhhoàn chỉnh về nội dung của văn bản
Liên kết nội dung trước hết nhằm tới ba mục tiêu: thể hiện được chủ đề củavăn bản, tạo được tính chặt chẽ, lôgích của văn bản và kết nối được các văn bản,nếu cần, trong những tình huống giao tiếp nhất định Điều này có nghĩa là liên kếtnội dung văn bản quyết định tới việc, liệu văn bản có thỏa mãn được sáu đặctrưng còn lại (tức là trừ đặc trưng về ‘tính liên kết hình thức’) của văn bản haykhông
Trang 142.2.1 Liên kết chủ đề
Nói một cách chung nhất thì liên kết chủ đề đòi hỏi toàn văn bản phải xoayquanh một chủ đề Chủ đề toàn văn bản được phân chia thành các chủ đề con vàthể hiện qua phần chủ đề và phần nêu của các phát ngôn Như thế, liên kết chủ đềcủa diễn ngôn chính là sự tổ chức những chủ đề và phần nêu của các phát ngôn
Hai phát ngôn có thể coi là có liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đốitượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau Đơn vị cơ sởtham gia liên kết chủ đề là các đối tượng của hiện thực, trong đó chủ yếu là các sựvật, khái niệm,v.v được thể hiện bằng các tên gọi (danh từ, đại từ)
Theo đó, có thể thấy có bảy phương thức được chuyên dùng để liên kếtnhững tên gọi chỉ cùng một đối tượng hoặc những đối tượng có liên quan mậtthiết với nhau, đó là: lặp từ vựng, đối, thế đồng nghĩa, liên tưởng, thế đại từ, tỉnhlược yếu và tỉnh lược mạnh Bảy phương thức này là những phương thức thể hiệnliên kết chủ đề
Những tên gọi (danh từ, đại từ) biểu thị cùng một đối tượng có tác dụngduy trì chủ đề và tạo nên một chuỗi đồng nhất Các yếu tố trong chuỗi đồng nhấtphải liên kết với nhau bằng năm phương thức sau: lặp từ vựng, thế đồng nghĩa,thế đại từ, tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh Năm phương thức này gọi là nhữngphương thức liên kết duy trì chủ đề
Dưới đây là sự phân tích cụ thể các phương thức được sử dụng để liên kếtchủ đề
2.2.1.1 Phép liên tưởng
Khái niệm
Sự liên tưởng là quan hệ giữa hai từ bất kì mà sự xuất hiện của từ này kéotheo sự xuất hiện của từ kia trong kí ức Chúng phải có ít nhất một nét nghĩachung, tức là cùng một trường nghĩa Đó là liên tưởng theo nghĩa rộng
Trang 15Liên tưởng đồng chất :
- Liên tưởng bao hàm: Chủ tố và liên tố chỉ những đối tượng có quan hệ baohàm nhau (Cái chung, cái toàn thể với cái riêng, cái bộ phận)
Ví dụ: Chim chóc cũng đua nhau tới bên hồ làm tổ Những con sít lông tím,
mỏ hồng kêu vang Những con bói cá mỏ dài lông sặc sỡ những con cuốcđen trùi trũi len lủi giữa các bụi ven hồ
- Liên tưởng đồng loại: Là loại liên tưởng của những đối tượng đồng chấtngang hàng nhau, không phân biệt cái nào bao hàm trong cái nào Chúngđều là cái riêng trong một cái chung, những giống của cùng một loài
Ví dụ: Cóc chết nhái mồ côi
Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ơi là chàng!
Ễnh ương đánh lệnh đã vang!
Tiền đâu mà chả nợ làng ngóe ơi!
- Liên tưởng định lượng:
Liên tưởng định lượng hợp – phân :Là loại liên tưởng mà một trong hai yếu
tố liên kết là một số từ chỉ lượng chung,yếu tố kia là từ chỉ lượng bộ phận.Khi số từ chỉ số lượng chung nằm ở kết ngôn, ta có liên tưởng định lượnghợp
Ví dụ: Hôm nay Vân và tôi, cùng bị cô giáo trách phạt vì không làm bàitập về nhà Cả hai đứa đều thấy buồn và cảm thấy có lỗi, chúng tôi hứa lầnsau sẽ không tái phạm
Liên tưởng đối chiếu:Là kiểu liên tưởng mà các số lượng được đối chiếuvới nhau, thường theo xu thế tăng dần hoặc giảm dần
Ví dụ:
Năm hôm, mười hôm… rồi lại nửa tháng ( Nguyễn Công Hoan )
Liên tưởng không đồng chất:
- Liên tưởng định vị: Là liên tưởng giữa một động vật, một tĩnh vật hoặc mộthành động với vị trí tồn tại điển hình của nó trong không gian (hoặc đôi khi
là cả thời gian)
Ví dụ: “Nhân dân là bể
Văn nghệ là thuyền”