1. Diễn ngôn nói 1.1. Định nghĩa diễn ngôn Cho đến thời điểm hiện nay, thuật ngữ “diễn ngôn” không còn quá xa lạ trong các nghiên cứu văn học, xã hội. Tuy nhiên về nội hàm của thuật ngữ này còn chưa có sự nhất quán giữa các nhà nghiên cứu, chẳng hạn: Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể. (Crystal) “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đứctrí tuệ”. (Jacob Torfing) “Diễn ngôn là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình mô tả thực tiễn xã hội khác với quan điểm riêng”. (Norman Fairclough) “Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”.(Vladimir Karasik) “Diễn ngôn là hoạt động diễn đạt bằng lời nói biểu nghĩa được hiểu như tổng thể của quá trình và kết quả, nó có bình diện ngôn ngữ học thuần tuý, và cả những bình diện ngoài ngôn ngữ học”. (Victoria Krasnyk) Từ những ý kiến trên và một số tài liệu khác, theo nhóm người viết, có thể hiểu “diễn ngôn là đơn vị giao tiếp lớn nhất ở dạng điển mẫu thì diễn ngôn có thể tồn tại ở hai dạng nói hoặc viết. Nó truyền tải một nội dung giao tiếp nhất định. Và nhắm đến một đối tượng giao tiếp nhất định.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NG Ữ VĂN
***
Đề tài:
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Trịnh Sâm Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 7
Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2017
Trang 2M ỤC LỤC
1.Diễn ngôn nói 1
1.1 Định nghĩa diễn ngôn 1
1.2 Đặc điểm của diễn ngôn nói 1
1.2.1 Đặc điểm chi phối 1
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ 2
2 Trọng âm 4
2.1 Định nghĩa 4
2.2 Chức năng 5
2.2.1 Chức năng ngữ pháp 5
2.2.2 Chức năng dụng học 5
2.2.3 Các quy tắc trong trọng âm tiếng Việt 7
3 Phân tích ví dụ 9
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 7
1 Nguyễn Thị Ngọc Bích K40.601.011
3 Nguyễn Thị Hằng K40.601.032
4 Nguyễn Thị Thu Nga K40.601.079
6 Đinh Thị Hoài Thu K40.601.125
Trang 4TI ẾN TRÌNH LÀM VIỆC
Th ời gian Ho ạt động N ội dung hoạt động Ghi chú
31/10/2017 Họp nhóm lần 1
Xác định đề tài thuyết trình,
phạm vi tìm kiếm tài liệu
Giao việc cho các thành viên
cùng lên ý tưởng dàn bài
2/11/2017 Họp nhóm lần 2
Thống nhất dàn bài Chia sẻ tình hình tìm tài liệu tham khảo Phân công từng nhóm thành viên tìm luận điểm cho
chương nội dung
4/11/2017 Đăng bài Đọc, tổng hợp và thảo luận lấy ý kiến và chỉnh sửa
5/11/2017 Đăng bài lần 2 Đọc và chỉnh sửa
9/11/2017 Họp nhóm lần 3 Đọc và chỉnh sửa
Trang 5B ẢNG PHÂN CÔNG – ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC NHÓM 7
N ội dung
chính
N ội dung c ụ
Kí tên
Lý thuyết
Diễn ngôn nói
Dương Yến Nhi Nguyễn Thị Thu Nga
Trọng
âm
Đinh Thị Hoài Thu Lâm Thị Bảo Trâm
Bài tập Trọng
âm
Nguyễn Thị Ngọc Bích Ngô Thành Được Nguyễn Thị Hằng Đặng Tường Vy
Tổng hợp
Word và
chỉnh sửa Nguyễn Thị Ngọc Bích
Làm power
Thuyết trình Nguyễn Thị Hằng
Đặng Tường Vy
Nhận xét của
nhóm trưởng
Trang 61 Di ễn ngôn nói
1.1 Định nghĩa diễn ngôn
Cho đến thời điểm hiện nay, thuật ngữ “diễn ngôn” không còn quá xa lạ
trong các nghiên cứu văn học, xã hội Tuy nhiên về nội hàm của thuật ngữ này còn chưa có sự nhất quán giữa các nhà nghiên cứu, chẳng hạn:
- Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói)
lớn hơn một câu thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể (Crystal)
- “Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng như đạo đức-trí tuệ” (Jacob Torfing)
- “Diễn ngôn là ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình mô tả thực tiễn xã hội khác với quan điểm riêng” (Norman Fairclough)
- “Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”.(Vladimir Karasik)
- “Diễn ngôn là hoạt động diễn đạt bằng lời nói biểu nghĩa được hiểu như tổng thể của quá trình và kết quả, nó có bình diện ngôn ngữ học thuần tuý, và cả
những bình diện ngoài ngôn ngữ học” (Victoria Krasnyk)
Từ những ý kiến trên và một số tài liệu khác, theo nhóm người viết, có thể
hiểu “diễn ngôn là đơn vị giao tiếp lớn nhất ở dạng điển mẫu thì diễn ngôn có
th ể tồn tại ở hai dạng nói hoặc viết Nó truyền tải một nội dung giao tiếp nhất định Và nhắm đến một đối tượng giao tiếp nhất định.”
1.2 Đặc điểm của diễn ngôn nói
1.2.1 Đặc điểm chi phối
Đặc điểm chi phối được hiểu là những nhân tố ngữ dụng quan yếu chi phối đến toàn bộ hoạt động văn bản, từ quá trình hình thành, chất liệu sử dụng, đến hình thức giao tiếp
1.2.1.1 Ng ữ cảnh tự nhiên
Văn bản nói là kết quả của một sự tương tác hết sức tự nhiên Do vậy, bên cạnh thủ pháp quy chiếu bao gồm quy chiếu nội chỉ và việc khai thác tính kế thừa thông báo, thì các thủ pháp quy chiếu ngoại chỉ với các thao tác chỉ xuất không gian, chỉ xuất thời gian, chỉ xuất chỉ định đều được phát huy tối đa, thậm chí trong trường hợp này ngoại chỉ còn quan trọng hơn cả nội chỉ, và chính ngữ cảnh tự nhiên kéo theo hàng loạt hệ quả làm nên sự khác biệt giữa văn bản nói so với văn bản viết
Trang 71.2.1.2 Giao ti ếp đối mặt
Văn bản nói, kết quả của sự tương tác liên nhân, một loại giao tiếp trực tiếp,
mặt đối mặt Trong đó, sự luân phiên thay đổi vai, sự thương lượng nghĩa được thực hiện một cách dễ dàng Do là giao tiếp trực tiếp nên các tham thoại luôn nhận
rõ đặc điểm của môi trường, không khí, đặc biệt là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp, từ đó mới phân biệt đâu là nhân vật chính, tức người nói (addressor) và người nghe mà người nói nhắm đến (addressee) và đâu là nhân vật vai phụ, người nghe tình cờ người nghe hóng chuyện (audience) để xây dựng các chiến lược giao tiếp tương thích
1.2.1.3 Tính cá th ể
Tính cá thể trong văn bản nói được hiểu là những đặc điểm đại diện cho
một cộng đồng diễn ngôn nhưng đồng thời cũng có thể là một cá nhân với những nét riêng với tư cách là một con người độc lập Hiển nhiên, do giao tiếp trực tiếp,
gắn liền với không khí tự nhiên nên hơn đâu hết, đây là môi trường dễ bộc lộ cá tính dù muốn hay không, dù xét với tư cách là bản ngữ cộng đồng hay cá nhân riêng lẻ Ngôn ngữ nói cho phép người ta nhận ra đặc điểm diễn đạt ở một con người, đây là ngôn ngữ bản ngữ hay ngoại ngữ Ngay cùng là bản ngữ nhưng là người ở vùng nào, nước nào cũng được bộc lộ thông qua giọng nói Chẳng hạn cùng là bản ngữ tiếng Anh phổ biến nhưng tiếng Anh Mỹ khác với tiếng Anh Anh, tiếng Anh Island, tiếng Anh Úc…
1.2.1.4 Ph ản ứng linh hoạt
Nếu như văn bản viết do nhiều lí do khác nhau, sự ứng xử, lựa chọn ngôn
từ là kết quả của một sự cân nhắc kĩ lưỡng, thậm chí còn được biên tập, chỉnh sửa cẩn trọng thì văn bản nói không có đặc điểm này Văn bản nói luôn bị khống chế bởi thời gian, và tình huống Nó đòi hỏi chủ thể giao tiếp một sự phản ứng nhanh
nhạy và linh hoạt, sử dụng các thủ pháp lấp chỗ trống, đẩy đưa, nối kết các ngữ đoạn, xét từ phía tạo lập cũng như nhận hiểu Trong đó, việc cùng tham chiếu,
việc dùng các biểu thức chỉ xuất, việc tung hứng, việc cộng hưởng, việc phô diễn, nhận hiểu các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ nói rất năng động
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ
Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản nói sẽ được bài viết lần lượt trình bày dưới các cấp độ: ngữ âm, từ vựng, cú pháp và tổ chức văn bản
1.2.2.1 Ng ữ âm
Văn bản nói là văn bản có chất liệu âm thanh Các tham thể bao giờ cũng phát ngôn dưới dạng một giọng nói nhất định Đối với người Việt, nếu quan sát,
Trang 8dựa vào giọng nói cụ thể, chúng ta có thể nhận biết quê quán người ấy ở vùng nào, tất nhiên chỉ là trên những vùng lớn như phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam
Do tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, ranh giới hình vị trùng với âm tiết cho nên các âm tiết bao giờ cũng được phát âm một cách tách bạch rạch ròi Trọng
âm trong tiếng Việt có mối quan hệ với ngữ pháp Trọng âm bao giờ cũng rơi vào
âm tiết cuối cùng hay âm tiết duy nhất của ngữ đoạn Đáng chú ý là trọng âm có
chức năng phân giới ngữ đoạn Hoa hồng [01] có gai, khác với Hoa hồng [11]
lên trong nắng Cả nhà hát [01] đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt khác với Cả nhà hát [11] bài thánh ca m ừng chúa trong đêm Noel
1.2.2.2 T ừ vựng
Do văn bản nói là kết quả của sự giao tiếp trực tiếp nên hay xuất hiện các
từ ngữ có chức năng đưa đẩy, nhấn nhá đệm lót hay bộc lộ tình thái Đây cũng là phương tiện để lấp chỗ trống trong quá trình lựa chọn ngôn từ để giao tiếp và như
đã phân tích ở trước, cùng với ngữ âm, từ vựng cũng góp phần tạo nên cá tính trong giao tiếp của các tham thể Trong văn bản nói thường xuất hiện các tiểu từ
như: à, ơi, nhỉ, nhé…, các từ ngữ lấp chỗ trống như vâng…vâng…, còn còn, và,
thế là…, với các từ ngữ có chức năng kiểm thông như thế à, thế sao, phải hông, ừ
nh ỉ…, các dạng rút gọn ở bển, ổng, bả, ngoải, ở trỏng… các từ ngữ chỉ xuất kiểu như ấy, đấy, này, nọ, đó kia…, các từ ngữ có chức năng phân đoạn lời nói hừm,
h ừm, à à… các từ ngữ bày tỏ cảm xúc như ngạc nhiên ối trời ơi, úi dào, mèn đéc
ơi, lạy chúa tui, hết sẩy, năm bờ oăn… Và bao trùm lên tất cả là một lớp từ thông
tục rất được ưa dùng, được sử dụng khá rộng rãi như: cà kê dê ngỗng, búa xua, ê
h ề, sao quả tạ, xúi quẩy, số dách, bá láp, lủ khủ…, biết chết liền; các từ ngữ địa
phương: rú, cơi, chộ, mô…; các từ nghề nghiệp như: chạp phô, hàng xén, hàng
xáo, n ậu nguồn, nậu rỗi…; các từ ngữ lóng: cớm, bồ câu, đồ chơi… cúp, phao, đạn, bùa, giáo sư gây mê, tiến sĩ gây mê…; các quán ngữ: nói nào ngay, nghiệt
n ỗi là, nói vô phép, nói khí không phải, nói bỏ ngoài tai… Tùy theo ngữ vực, các
đơn vị thành ngữ, tục ngữ được sử dụng với số lượng khác nhau, màu sắc khác
nhau như bằng mặt chứ không bằng lòng, ông nói gà, bà nói vịt, tùy cơ ứng biến ,
nh ập gia tùy tục, cá không ăn muối cá ươn, mất bò mới lo làm chuồng Phổ biến
và đa dạng nhất là những đơn vị gắn ngữ vực sinh hoạt hằng ngày: vào ba ra bảy,
cho chó ăn chè, xả láng sáng về sớm, yêu thì khổ không yêu thì lỗ, tới luôn bác tài, ba gai, teo bu gi… Mật độ hư từ, tức lớp từ vựng ngữ pháp trong văn bản nói
xuất hiện cao hơn văn bản viết
1.2.2.3 Cú pháp
Do nhiều lí do khác nhau, các ngữ đoạn trong văn bản nói thường không được nối kết theo chuỗi một cách mạch lạc liên tục mà thường có nhiều chỗ gián đoạn, chêm xen Vả lại, do tương tác với ngữ cảnh cho nên người ta ít sử dụng
Trang 9trường cú Do vậy cấu trúc câu đơn giản, ít có tầng bậc và trong nhiều trường hợp rất khó xác định thuộc sở hữu của chủ thể phát ngôn nào
1.2.2.4 T ổ chức văn bản
Về nguyên tắc các diễn ngôn nói thường diễn đạt một nội dung trọn vẹn, trong đó chúng ta có thể chỉ ra các mối liên kết về mặt hình thức cũng như nội dung Tuy nhiên, diễn ngôn nói luôn luốn gắn liền với ngữ cảnh, do tương tác của
ngữ cảnh ta có thể nhận diện nội dung Ngữ cảnh đối với diễn ngôn nói rất quan
trọng, thậm chí theo ngôn ngữ học hiện đại cho rằng ngữ cảnh khác, nghĩa khác
2 Tr ọng âm
2.1 Định nghĩa
Trọng âm là một hiện tượng nhấn mạnh vào một âm tiết nào đó trong ngữ lưu.Sự nhấn mạnh đó thể hiện bằng ba cách: (1) tăng độ mạnh phát âm; (2) tăng
độ dài phát âm; và (3) tăng độ cao ( Theo “Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học”
Hoàng Dũng- Bùi Mạnh Hùng)
Phân loại:
- Trọng âm từ
+ Trọng âm từ là trọng âm xuất hiện trong một từ đa tiết đứng tách riêng + Có hai loại trọng âm từ: cố định và tự do Trọng âm cố định bao giờ cũng ở một vị trí nhất định trong từ và dù nhúng từ có trọng âm cố định vào một kết cấu lớn hơn, thì vị trí của trọng âm vẫn không thay đổi
- Trọng âm ngữ đoạn
+ Trọng âm ngữ đoạn là trọng âm có hiệu lực trong phạm vi một ngữ đoạn Tuy nhiên cần lưu ý ngữ đoạn ở đây xét trên quan điểm âm vị học chứ không
phải trên quan điểm ngữ pháp Một phát ngôn có thể được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm có thể có nhiều từ không có trọng âm và một từ có trọng âm- đó là ngữ đoạn âm vị học
Ví dụ: Đôi chân /không/ nhúng xuống nước
Đây là trọng âm ngữ đoạn, từ không mang trọng âm
+ Cần phân biệt trọng âm ngữ đoạn và chỗ ngừng: Mặc dù thông thường
chỗ ngừng là chỗ có trọng âm ngữ đoạn nhưng không nhất thiết phải ngừng khi
có trọng âm Có khi có trọng âm mà không ngừng
Ví dụ: Con ông cháu cha [0101]
Cắt tóc cắt tai [0101]
Làm tình làm tội [0101]
Trang 10- Trọng âm câu
+ Trọng âm câu là trọng âm có độ nhấn trội nhất, hay nói cách khác là đỉnh tuyến điệu của một phát ngôn Khi nhúng từ vào trong câu, trọng âm từ có thể thay đổi
- Trọng âm logic
+ Trọng âm logic được dùng để đánh dấu một từ nào đó quan trọng về
mặt logic hay thông tin Như vậy trọng âm logic tùy thuộc vào ý định của người nói, nghĩa là thuộc địa hạt dụng học
Ví dụ: Tôi đi Hà Nội (1)
Tôi đi Hà Nội (2)
Nếu để trả lời cho câu hỏi “Anh đi đâu?” thì “tôi” không có trọng âm, “Hà
N ội” có trọng âm nhưng để trả lời cho câu hỏi “Ai đi Hà Nội” thì “tôi” lại phải
có trọng âm, còn “Hà Nội” thì không có trọng âm
2.2 Ch ức năng
2.2.1 Chức năng ngữ pháp
Trong “Ti ếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa”, Cao Xuân
Hạo đã chỉ rõ trên cơ sở xác định sự tương phản giữa các âm tiết với nhau để nhận biết trọng âm [1], khinh âm [0] Theo tác giả, trong phạm vi từ ngữ, trọng âm góp
phần xác định quan hệ kết hợp giữa các tiếng Chẳng hạn, từ “bàn học” được đọc
với trọng âm là [01], chỉ mối quan hệ phụ thuộc của tiếng (hay hình tố) thứ hai
đối với tiếng thứ nhất; nhưng “bàn ghế” lại được đọc với trọng âm là [11], chỉ ra
mối quan hệ đẳng lập của hai yếu tố này với nhau
Trên phạm vi rộng hơn, trọng âm có chức năng phân giới từng ngữ đoạn trong một câu, phân giới giữa câu này với câu khác Với ngữ đoạn trong câu, trọng
âm chỉ ra ranh giới giữa các ngữ đoạn với nhau, trong đó mỗi ngữ đoạn kết thúc
bằng một trọng âm [1], trọng âm câu là trọng âm của ngữ đoạn cuối cùng:
Ví d ụ: (1) Ba tôi // đang đọc báo // ở ngoài sân
Sơ đồ trọng âm là : [1 10 0 1 0 0 1]
Theo Cao Xuân Hạo, mỗi câu nói “đều mang một hay nhiều trọng âm, mỗi
trọng âm đánh dấu một ngữ đoạn: nó được đặt vào tiếng (âm tiết) cuối cùng hay duy nh ất của ngữ đoạn”; và “nếu ngữ đoạn là những đơn vị cú pháp của câu thì câu ph ải được chia hết thành ngữ đoạn, và do đó phải kết thúc bằng một trọng
âm câu - tr ọng âm của ngữ đoạn cuối cùng hay trọng âm của câu”
2.2.2 Chức năng dụng học
Tính chất dụng học của trọng âm thể hiện ở việc nó được dùng làm phương tiện chỉ xuất và đánh dấu thành tố từ vựng chứa thông tin được người nói cho là
Trang 11quan trọng nhất Sự đánh dấu này thể hiện ở chỗ người nói gia tăng cường độ, cao
độ hay trường độ giọng nói trên yếu tố nào đó trong lời nói cần được đánh dấu, báo hiệu cho người nghe biết nơi đó là thông tin tiêu điểm Do sự gia cố các chỉ
số âm học trong giọng nói trên thành tố thông tin tiêu điểm mà loại trọng âm này được phân biệt với loại trọng âm thông thường (xét theo tiêu chuẩn trọng âm [1]
và khinh âm [0] của Cao Xuân Hạo) bằng một cái tên khác: “trọng âm cường
điệu” hay “trọng âm tiêu điểm” Trọng âm cường điệu khác trọng âm thông
thường ở tính mạnh hơn về cường độ hay cao độ, và dài hơn về trường độ
Như vậy, xét về tính chất và chức năng, có thể phân biệt hai loại trọng âm:
trọng âm câu/ trọng âm ngữ đoạn và trọng âm cường điệu/ trọng âm tiêu điểm Loại thứ nhất là trọng âm dùng để phân giới ngữ đoạn và câu; loại thứ hai là trọng
âm ngữ dụng, dùng để đánh dấu tiêu điểm thông tin, nhấn mạnh hay tương phản thông tin tiêu điểm Tuy nhiên trong thực tế, hai loại trọng âm này có thể trùng
hợp nhau, rơi vào một đơn vị thực từ đứng ở cuối câu, thường đơn vị từ ấy là đơn
vị mang tiêu điểm trong phần thông tin mới, được gọi là TĐTTM Khi ấy, đơn vị
từ ngữ này vừa mang trọng âm câu, vừa mang trọng âm TĐTTM
Ví dụ: (2) Mai// làm toán
Trong câu này, phần thông tin mới là phần sau của phát ngôn, toàn bộ ngữ
đoạn vị từ “làm toán” nằm trong tiêu điểm, trọng âm tiêu điểm rơi vào từ “toán”,
đồng thời trùng với trọng âm câu Tuy nhiên, khi có sự đánh dấu tương phản (nhấn
mạnh) thì hai loại trọng âm này có sự phân biệt Trọng âm tiêu điểm tương phản (TĐTP) có thể rơi vào bất kỳ yếu tố nào trong câu, bất kể yếu tố đó nằm trên phần thông tin cũ hay thông tin mới
Chẳng hạn:
(3) B ạn An mới là người làm vỡ bình hoa
Phát ngôn trong ví dụ (3) có hai tiêu điểm: Tiêu điểm thứ nhất là danh ngữ
“người làm vỡ bình hoa”, nó là TĐTTM, nằm trên phần thông tin mới, có vị trí
cuối câu, trọng âm tiêu điểm trùng với trọng âm câu Tiêu điểm thứ hai là từ “bạn
An”, nằm ở phần đầu câu, là phần của thông tin cũ, nhưng nó mang TĐTP vì nó
ở thế đối lập với một đối tượng khác nào đó cũng đang bị nghi ngờ là “người làm
v ỡ bình hoa” chứ không phải ai khác
(4) Sáng s ớm nay bác nông dân dắt trâu ra đồng (Chứ không phải núi) Sáng s ớm nay bác nông dân dắt trâu ra đồng (Chứ không phải bò.)
Sáng s ớm nay bác nông dân dắt trâu ra đồng (Chứ không phải bác tiều phu.)
Ở (4), các từ “đồng, trâu, bác nông dân” được nhấn mạnh để đối lập chúng
với các yếu tố khác “núi, bò, bác tiều phu” trong ngữ cảnh Như thế, vị trí trọng