Do đó, nghiên cứu các phương tiện LKHC trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt, chuyển dịch các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ là một vấn đề cân thiết và có ý nghĩa cả về lý l
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHÂN ÁI
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT HỒI CHỈ TRONG DIỄN NGÔN TRÊN BÌNH DIỆN DỤNG HỌC (THEO CỨ LIỆU TIẾNG ANH VÀ
Trang 2Công trình hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG CỔN
Phản biện 1: GS.TS Bùi Minh Toán
Phản biện 2: PGS.TS Lê Hùng Tiến
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện tại: phòng …, Học viện Khoa học xã hội
vào hồi … giờ … phút, ngày… tháng … năm 2017
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện của Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những phương thức liên kết diễn ngôn phổ biến là liên kếtquy chiếu
(referential cohesion) Vì vậy, nó là một phương thức liên kết được đề cập đến đầu tiên trong phân tích diễn ngôn (discourse analysis)
Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết (ngôn ngữ khuất chiết, hay ngôn ngữ chuyển dạng) các phương tiện liên kết văn bản nói chung và liên kết hồi chỉ (LKHC) nói riêng trong văn bản tiếng Anh luôn luôn thay đổi dạng thức trong những ngữ cảnh sử dụng
cụ thể Trong khi đó, thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính, các phương tiện liên kết văn bản nói chung và LKHC nói riêng trong văn bản tiếng Việt không thay đổi hình thức của chúng Chính vì vậy việc chuyển các văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại luôn luôn gây nên những khó khăn trong việc dịch thuật cũng như trong việc học ngoại ngữ Do đó, nghiên cứu các phương tiện LKHC trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt, chuyển dịch các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ là một vấn đề cân thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhất là hiện nay tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trên toàn thế giới
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu để triển khai luận
án là "Nghiên cứu phương tiện liên kết hồi chỉ trong diễn ngôn trên bình diện dụng học (theo cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)"
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở khảo sát, miêu tả và phân tích các phương tiện LKHC trong diễn ngôn qua
cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, luận án làm sáng rõ vai trò, chức năng của các phương tiện LKHC được sử dụng thực tế trong các diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ
sở đó luận án tiến hành so sánh các phương tiện LKHC để chỉ ra những đồng nhất và
khác biệt trong cách sử dụng các phương tiện LKHC này trong hai ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Tổng quan tình hình nghiên cứu về liên kết, quy chiếu nói chung và liên kết quy chiếu hồi chỉ nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam;
b Trình bày một số cơ sở lí luận chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài luận án như: lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, các khái niệm liên kết, mạch lạc, quy chiếu và các phương thức quy chiếu trong diễn ngôn, LKHC và các phương
Trang 4tiện LKHC trong diễn ngôn; lí thuyết đối chiếu ngôn ngữ và phân tích đối chiếu diễn ngôn giữa các ngôn ngữ;
c Miêu tả, phân tích phương tiện LKHC được thực hiện bằng phép quy chiếu hồi chỉ chỉ ngôi và chỉ định trong tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện kết học, nghĩa học và dụng học
d Đối chiếu phương tiện LKHC bằng đại từ chỉ ngôi, đại từ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt, xác định những điểm giống nhau và khác nhau của các phương tiện LKHC trong hai ngôn ngữ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện LKHC chỉ ngôi và LKHC chỉ định trong tiếng Anh và tiếng Việt nói chung và các phương tiện LKHC này thể hiện qua diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu phương tiện LKHC chỉ ngôi và LKHC chỉ định trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời luận án cũng nghiên cứu các phương tiện LKHC chỉ ngôi và LKHC chỉ định trong diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt
(qua tác phẩm “Tiếng gọi của hoang dã” của Jack London và “Số đỏ” của Vũ
Trọng Phụng.)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để khảo sát đặc điểm hình thức (kết
học), chức năng (dụng học) của các phương tiện LKHC trong tiếng Anh và tiếng Việt (qua các diễn ngôn văn học Anh - Việt)
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để phân tích vai trò của các
phương tiện LKHC trong việc tạo lập mạng liên kết, tính hệ thống của các sự kiện được thể hiện trong các diễn ngôn văn học của hai ngôn ngữ
- Phương pháp đối chiếu: được sử dụng để phân tích, đối chiếu các phương
tiện LKHC trong tiếng Anh và tiếng Việt về các mặt hình thức, chức năng và dụng nhằm làm rõ những tương đồng và những khác biệt của các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ
Ngoài ra luận án còn được sử dụng một số thủ pháp như: thống kê, phân
loại, cải biến, phân tích ngữ cảnh để xác định các phương tiện LKHC trong diễn
ngôn văn học được khảo sát
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trang 5Nghiên cứu các phương tiện LKHC về phương diện dụng học trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt, luận án góp phần vào việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn và các phương tiện LKHC được sử dụng thực tế trong các diễn ngôn văn học bằng các ngôn ngữ khác nhau, nhằm nêu lên được đặc điểm dụng học của các
phương tiện LKHC được sử dụng trong diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt
6 Ý nghĩa của luận án
Về mặt lý luận: Góp phần vào việc nghiên cứu lý thuyết liên kết văn bản nói chung,
các phương tiện LKHC nói riêng Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò, chức năng của các phương tiện LKHC trong tổ chức diễn ngôn nói chung và liên kết diễn ngôn (hay văn bản) nói riêng Trên cơ sở làm sáng rõ đặc điểm của các phương tiện LKHC trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận án có thể được sử dụng vào việc giảng dạy
tiếng Anh ở Việt Nam, cũng như trong công tác biên, phiên dịch tài liệu tiếng Anh sang tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được áp dụng để giảng dạy, phân tích các văn bản về phương diện sử dụng các phương tiện liên kết ngôn ngữ
để tạo lập sự liên kết các nội dung của văn bản
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có cấu trúc gồm 3 chương Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt Chương 3: Các phương tiện LKHC chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết trong tiếng Anh
Khái niệm liên kết (cohension) cùng với khái niệm mạch lạc (coherence) được dùng nhiều trong Ngôn ngữ học văn bản (Text linguistics) và trong Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) Hai khái niệm này có quan hệ với nhau cả trong tên gọi (tiếng Anh) lẫn về đối tượng nghiên cứu Trong tiếng Anh, thuật ngữ liên kết được M A K Halliday và R Hassan đưa ra năm 1976 và hiểu đó là những phương tiện ngôn ngữ khác nhau giúp cho các câu và các khúc đoạn lớn hơn câu có
Trang 6thể nối lại với nhau về mặt nghĩa M A K Halliday và R Hassan dùng thuật ngữ
kết nối(tie) để chỉ quan hệ liên kết giữa hai yếu tố ngôn ngữ Bản chất của sự kết
nối thuộc ngữ nghĩa, nghĩa là hai yếu tố ngôn ngữ của bất kì sự kết nối nào cũng gắn chặt vào nhau qua quan hệ ngữ nghĩa nào đó
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên kết hồi chỉtrong diễn ngôn tiếng Anh
Halliday đã từng đề cập đến LKHC từ rất sớm Theo ông, quy chiếu đã
tiến hóa như một mối quan hệ “ngoại chỉ”, she, it, they có thể được sử dụng theo
“ngoại chỉ”, nghĩa là như một phương tiện nối “những cái ở bên ngoài” với một
hay một vật thể nào đó trong một trường (field) David Nunan chỉ xác định ba loại biểu thức liên kết trong phép liên kết quy chiếu, đó là: Liên kết quy chiếu bằng đại
từ nhân xưng (Personal reference); Liên kết quy chiếu bằng đại từ chỉ định hoặc
các chỉ định từ (this, that, these, those) (demonstrative reference); Liên kết quy
chiếu so sánh (Comparative reference)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên kết và liên kết hồi chỉ trong tiếng Việt
1.1.2.1.Tình hình nghiên cứu về liên kết trong diễn ngôn tiếng Việt
Trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ ở Việt Nam, có thể nói Hệ
thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm là tác phẩm đầu tiên nghiên
cứu các phép liên kết trong văn bản tiếng Việt Hiểu văn bản như một hệ thống nên tác giả quan niệm "sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy" Sự liên kết ở đây cũng chủ yếu được đặt trên cơ sở ngữ nghĩa Trần Ngọc Thêm đã chia các phương thức liên kết thành 3 nhóm lớn: Các phương thức liên kết chung, dùng chung được cho cả ba loại câu tự nghĩa, hợp nghĩa, ngữ trực thuộc; Các phương thức liên kết hợp nghĩa, dùng cho loại câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc; Các phương thức liên kết trực thuộc, chỉ dùng riêng cho loại ngữ trực thuộc
Diệp Quang Ban cho rằng: "Liên kết, xét tổng thể, là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau Các kiểu quan hệ nghĩa này làm thành những cấu hình nghĩa của liên kết, hay những khuôn hình tạo sinh diễn ngôn"
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu liên kết hồi chỉtrong diễn ngôn tiếng Việt
Việc nghiên cứu LKHC trong tiếng Việt còn khiêm tốn Ngoài những tài liệu có giá trị và có tính tiêu biểu nghiên cứu về liên kết trong tiếng Việt đã nêu trên, hầu hết các tài liệu khác đều chỉ đề cập đến các phép liên kết văn bản với những chứng minh qua mệnh đề, câu, đoạn văn mà chưa đi sâu vào tất cả các phép
liên kết Trong công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Diệp Quang
Trang 7Ban đã đi sâu nghiên cứu quy chiếu và quy chiếu trong văn bản Theo ông, hướng quy chiếu được xét theo cách xuất phát từ yếu tố chưa cụ thể đến yếu tố cụ thể, do
đó có sự phân biệt hai hướng quy chiếu là hồi chiếu (anaphora, còn dịch là hồi chỉ, hồi quy) và khứ chiếu (cataphora, còn dịch là khứ chỉ, dự báo)
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.2.1.1 Về khái niệm diễn ngôn
Halliday & Hasan cho rằng “văn bản (hay diễn ngôn) là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp” Nunan dùng thuật ngữ văn bản để chỉ "sự ghi lại (thể hiện) bằng ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp", còn "diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh"
1.2.1.2 Các đặc trưng của diễn ngôn
Theo Diệp Quang Ban, diễn ngôn có các đặc trưng sau: a Mục đích sử dụng của văn bản chi phối cách cấu tạo văn bản, phản ánh cấu trúc của văn bản; b Yếu
tố nội dung của văn bản giúp phân biệt nó với chuỗi câu nối tiếp tình cờ đứng cạnh
nhau (gọi là phi văn bản); c Yếu tố cấu trúc: Văn bản có cấu trúc về hình thức và
về nội dung phù hợp với các lĩnh vực hoạt động xã hội sử dụng ngôn ngữ; d Mạch lạc và liên kết là những yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của văn bản; e Yếu tố chỉ lượng được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của nhiều câu, nhờ đó liên kết và mạch lạc mới được thể hiện; f Yếu tố định biên xác định có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầu ra), nhờ đó có tính kết thúc tương đối
1.2.1.3 Phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn (PTDN) (discourse analysis) là một cách tiếp cận việc nghiên cứu diễn ngôn, nó dựa trên khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống, có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp các khái niệm và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc với bất cứ nhà nghiên cứu ngữ pháp nào Nội dung của phương pháp PTDN là miêu tả cách khám phá các cơ chế cấu trúc mà người viết/ người nói xử lý khi phát ngôn; làm rõ những gì chúng ta đọc được trong các văn bản, hiểu được những gì người phát ngôn nói, nhận biết được những chuỗi câu liên kết và mạch lạc; phân tích chức năng ngôn ngữ và cách nó chi phối các quan niệm
và nhận thức; nghiên cứu những biểu thức ngôn ngữ và quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh văn hóa - xã hội
Trang 81.2.2 Liên kết và quy chiếu trong diễn ngôn
1.2.2.1 Liên kết và các phương thức liên kết
Liên kết trong văn bản được thực hiện nhờ các phương tiện liên kết và các phương thức liên kết (phép liên kết) Phương tiện liên kết là những yếu tố hình thức
cụ thể của ngôn ngữ tham gia vào việc tạo ra sự kết nối giữa các câu trong văn bản Khi phân tích tính liên kết của văn bản, nhà nghiên cứu thường phải xác định xem các phát ngôn có liên kết với nhau theo những kết nối nào và thuộc phép liên kết nào
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về liên kết văn bản thường dựa trên Hệ thống liên kết
văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm và Cohesion in English (Hệ thống liên kết trong tiếng Anh) (1976) của M.A.K Halliday & R Hassan Halliday chia các phương
thức liên kết được phân ra thành 2 loại: liên kết ngữ pháp và liên kết từ vựng
1.2.2.2 Quy chiếu và các phương thức quy chiếu
Quy chiếu là quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ được sử dụng với đối tượng/ thực thể (entity) (vật chất hoặc tinh thần, có thật hoặc tưởng tượng hay hư cấu, số ít hay một tập hợp, ) trong một thế giới khả hữu (possible world) mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại Do vậy, quy chiếu thể hiện mối quan hệ giữa 4 yếu tố trong hoạt động giao tiếp: người nói / viết - biểu thức ngôn ngữ - "vật" trong thế giới khách quan - người nghe / đọc
Nunan [98] cũng cho rằng cách thức trong một văn cảnh gắn kết với nhau
từ quan điểm phép quy chiếu đó là hành động sử dụng biểu ngữ quy chiếu để tham chiếu đối tượng quy chiếu trong ngữ cảnh Có thể tóm gọn phép quy chiếu theo sơ
đồ sau để dễ nắm bắt hơn như sau:
Quy chiếu
Ngoại chiếu Nội chiếu
Hồi chỉ Khứ chỉ Các nhà nghiên cứu đã phân biệt các phương thức quy chiếu (phép quy chiếu) sau
đây: Quy chiếu chỉ ngôi sử dụng các yếu tố chỉ ngôi với tư cách là những yếu tố có
nghĩa chưa cụ thể ở câu này xét trong mối quan hệ với yếu tố có nghĩa cụ thể tương
ứng ở câu khác; Quy chiếu chỉ định sử dụng các tổ hợp gồm danh từ có nghĩa cụ thể cũng như danh từ chỉ loại cùng với các từ chỉ định này, kia, nọ, ấy, để tạo ra
Trang 9những tổ hợp có tính chất xác định, nhưng nghĩa chưa cụ thể (như bà ấy, anh kia,
cái bàn ấy, em học sinh này; cái đó, con ấy, việc này, ) và đặt chúng trong mối
quan hệ nghĩa với những yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu khác;Quy chiếu so sánh
là cách sử dụng trong câu những tổ hợp có nghĩa không cụ thể và có chứa các từ mang ý nghĩa so sánh
1.2.2.3 Liên kết quy chiếu trong diễn ngôn
Liên kết quy chiếu là một phương thức liên kết được đề cập đến đầu tiên trong PTDN (discourse analysis) LKHC (anaphora) là việc sử dụng một biểu thức (thông qua một từ hay ngữ) để chỉ một khái niệm (cũng được diễn đạt bởi từ hay một ngữ) đã được đề cập đến phía trước (attencedent) (tạm dịch là “tiền tự”) trong chuỗi diễn ngôn LKHC thường sử dụng các phương tiện ngôn ngữ: đại từ nhân xưng (personal reference); đại từ chỉ định hoặc các chỉ định từ (demonstrative reference); phương thức so sánh (Comparative reference)
1.2.3 Liên kết quy chiếu hồi chỉ trong diễn ngôn
1.2.3.1 Khái niệm liên kết quy chiếu hồi chỉ
LKHC gồm: a) Liên kết trực chỉ là liên kết “khiếm diện”, tức là “cái được quy
chiếu” không xuất hiện trong văn bản nhưng người giao tiếp đều hiểu đại từ đó trỏ
ai hoặc cái gì trong ngữ huống; b) Liên kết hồi chỉ là một loại liên kết mà muốn biết
đại từ ấy trỏ ai/cái gì, thay thế ai/cái gì, người giao tiếp phải “nhìn lại” tiền tự
(attencetent) của nó; c) Liên kết khứ chỉ là một loại liên kết mà muốn biết đại từ
quy chiếu ai/cái gì thì chúng ta phải “nhìn tới” những dấu hiệu phía sau đó
1.2.3.2 Bản chất, chức năng của liên kết hồi chỉ
- Tạo nên tính liên kết giữa các thành phần, các yếu tố trong diễn ngôn hay trong văn bản;
- Tạo nên tính lô gic, tính thống nhất về mặt nội dung của toàn diễn ngôn hay văn bản, nghĩa là tạo nên sự rõ ràng, mạch lạc về nội dung ý nghĩa của toàn bộ diễn ngôn hay văn bản
1.2.3.3 Các phương tiện quy chiếu (liên kết) hồi chỉ
Căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ dùng ở vị trí yếu tố có nghĩa chưa cụ thể,
phép LKHC gồm có ba trường hợp sau đây: LKHC đại từ (gồm đại từ nhân xưng,
đại từ sở hữu và đại từ phản thân);LKHC danh ngữ (Nominal anaphora) (dùng các danh ngữ xác định: danh ngữ có chỉ định từ (this, that, these, those) (demonstrative
reference) và danh ngữ có quán từ xác định (the + NP)
1.2.4 Phân tích đối chiếu và phân tích đối chiếu diễn ngôn
Trang 101.2.4.1 Phương pháp phân tích đối chiếu
Phân tích đối chiếu (contrastive analysis) là cách phân tích đồng đại dùng để phân tích những điểm khác biệt được biểu hiện ra giữa hai (hay hơn hai) ngôn ngữ Mục đích của ngôn ngữ học đối chiếu là nghiên cứu so sánh hai hoặc một số ngôn ngữ để làm sáng rõ sự giống nhau và khác nhau của chúng ở tất cả các cấp độ của cấu trúc ngôn ngữ
1.2.4.2 Nguyên tắc đối chiếu
Trong quá trình nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: a) Đảm bảo các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng; b) Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống; c) Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp; d) Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm và mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu; e) Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối chiếu vì nó cho phép người nghiên cứu có thể lựa chọn được cách tiếp cận thích hợp nhất đối với quá trình đối chiếu
1.2.4.3 Phạm vi đối chiếu
Về mặt lý thuyết, căn cứ vào phạm vi đối chiếu, người ta phân biệt đối chiếu
hệ thống và đối chiếu bộ phận Đối chiếu hệ thống là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau Còn đối chiếu bộ phận là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng
cụ thể của hai ngôn ngữ
1.2.4.4 Các bước phân tích đối chiếu
Một công trình nghiên cứu đối chiếu có thể chọn một trong hai cách tiếp cận chủ yếu sau: đối chiếu hai (hay nhiều) chiều và đối chiếu một chiều Nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều: xem xét các hiện tượng được so sánh của hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một cơ sở đối chiếu, dựa trên một cơ sở so sánh (tertium comparationis - TC) nhất định Nghiên cứu đối chiếu một chiều: xem xét ý nghĩa của một phương tiện nào đó trong ngôn ngữ này và xác định những phương tiện biểu hiện ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác Việc phân tích đối chiếu thường được tiến hành theo hai giai đoạn: miêu tả và đối chiếu Hai giai đoạn này có thể phân chia thành 3 bước: miêu tả; xác định những cái có thể đối chiếu với nhau; đối chiếu
Trang 111.3 Tiểu kết chương 1
Liên kết là một trong những đặc trưng quan trọng làm cho văn bản thực sự là văn bản với sự tham gia của nhiều yếu tố ngôn ngữ có quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp khác nhau Liên kết không chỉ là mối quan hệ có tính hình thức trên bề mặt ngôn từ mà còn có mối liên hệ ngữ nghĩa giữa các câu, làm cho các câu trong văn bản kết dính với nhau Điều đó có được là nhờ có các phương tiện liên kết Nếu xét
về hướng quy chiếu thì liên kết chủ yếu là LKHC và liên kết khứ chỉ LKHC và liên kết khứ chỉ là hai dạng liên kết nổi bật thuộc liên kết nội chỉ Các khái niệm cơ bản của lí thuyết PTDN như khái niệm diễn ngôn, các đặc trưng của diễn ngôn, mạch lạc và liên kết, các phương thức liên kết, cũng như vấn đề phân tích đối chiếu
và phân tích đối chiếu diễn ngôn với các khái niệm cơ bản như đối chiếu ngôn ngữ, các bước phân tích đối chiếu, các phạm vi đối chiếu và cách tiếp cận trong nghiên cứu phân tích đối chiếu ngôn ngữ cũng được trình bày cụ thể trong chương này
Chương 2 CÁC PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT HỒI CHỈ CHỈ NGÔI TRONG
DIỄN NGÔN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Dẫn nhập
Chương này chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân tích các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là: 1) Nhận diệnphương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt; 2) Mô tả và đối chiếu các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện kết học, nghĩa học, dụng học; 3) Nghiên cứu đối chiếu đặc điểm dụng học của các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn văn học tiếng Anh và
tiếng Việt (qua các tác phẩm văn học tiếng Anh: “Call of the wild” (Tiếng gọi của
hoang dã) của Jack London và “Số đỏ” Dumb luck của Vũ Trọng Phụng)
2.2 Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh
2.2.1 Nhận diện các phương tiện liên kết hồi chỉchỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh
Để nhận diện các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn, có thể dựa vào các tiêu chí sau đây: a Phải có các yếu tố ngôn ngữ làm phương tiện liên kết các câu trong nội bộ một diễn ngôn (văn bản); b Các yếu tố liên kết này phải nằm
ở hai câu khác nhau trong diễn ngôn (văn bản); c.Trong hai yếu tố liên kết này, thì yếu tố có nghĩa cụ thể (yếu tố giải thích) xuất hiện trước, yếu tố có nghĩa chưa cụ thể (yếu tố được giải thích xuất hiện sau trong diễn ngôn (văn bản) Luận án chỉ tập
trung khảo sát, miêu tả và phân tích các đại từ nhân xưngtiếng Anh với chức năng
Trang 12chủ ngữ được sử dụng làm các phương tiện LKHC chỉ ngôi Đồng thời đối chiếu
với các phương tiện LKHC được dùng biểu thị bằng đại từ nhân xưng tiếng Anh trong văn bản dịch sang tiếng Việt
2.2.2 Mô tả đặc điểm chung của các phương tiện liên kết hồi chỉchỉ ngôi trong tiêng Anh
2.2.2.1 Liên kết hồi chỉ chỉ ngôi bằng đại từ nhân xưng (he, she, it, they)
Đại từ nhân xưng là các phương tiện được sử dụng trong LKHC chỉ ngôi Đại từ nhân xưng có thể đề cập đến vật hồi chỉ có bất cứ chức năng ngữ pháp nào, nghĩa là chức năng ngữ pháp của yếu tố hồi chỉ có thể khác với chức năng của vật hồi chỉ Trong LKHC chỉ ngôi, các từ ngữ tham gia liên kết có sự phân biệt ngữ nghĩa trong bản thân chúng và khi được dùng để thay thế danh từ hoặc danh ngữ sẽ
có nghĩa của danh từ hay danh ngữ mà chúng thay thế Trong tiếng Anh, các đại từ
ngôi thứ ba (gồm he/him, she/her, it/it, they/them) có chức năng hồi chỉ nổi trội Để
có thể xác định yếu tố được hồi chỉ bằng các đại từ này trong văn bản thì người nghe/ người đọc phải liên hệ với các câu trước đó (LKHC)
2.2.2.2 Liên kết hồi chỉ chỉ ngôi bằng đại từ sở hữu (his, hers, its, theirs)
Đại từ sở hữu tiếng Anh có thể thay thế cho cả danh ngữ chỉ chủ sở hữu lẫn danh ngữ chỉ đối tượng thuộc sở hữu.Việc lựa chọn hình thái sở hữu nào không phụ thuộc vào danh từ chỉ đối tượng thuộc sở hữu, mà phụ thuộc vào đặc điểm của chủ sở hữu Trong trường hợp chủ sở hữu là đối tượng không thuộc người nói và
người nghe thì his được sử dụng để hồi chỉ cho danh từ chỉ người, động vật giống đực số ít còn hers thì được sử dụng để hồi chỉ đến danh từ chỉ người, động vật giống cái số ít Its được sử dụng để hồi chỉ đến danh từ chỉ vật số ít, còn theirs là hình thức số nhiều của his, hers, its
2.2.2.3 Liên kết hồi chỉchỉ ngôi bằng đại từ phản thân (himself, herself, themselves,
itself)
Đại từ phản thân là đại từ chỉ thực thể nêu ở bổ ngữ mà thực thể đó cũng chính là
thực thể nêu ở bổ ngữ Các đại từ phản thân (himself, herself, themselves, itself) có
chức LKHC trong văn bản tiếng Anh
2.2.3 Đặc trưng dụng học của các phương tiện Liên kết hồi chỉ chỉ ngôitrong tiếng Anh (nghiên cứu trường hợp Liên kết hồi chỉchỉ ngôi trong tác phẩm “Call
of the wild” (Tiếng gọi của hoang dã) của Jack London.)
Chúng tôi đã tìm hiểu các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tác phẩm “Tiếng
gọi của hoang dã” (Call of the wild) của nhà văn Jack London, trong đó chỉ tập
trung miêu tả và phân tích các đại từ nhân xưng tiếng Anh được sử dụng với tư
Trang 13cách là các phương tiện LKHC chỉ ngôi Khảo sát, thống kê các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba được dùng với tư cách phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tác phẩm
„Call of the wild‟ (Tiếng gọi của hoang dã), chúng tôi thu được kết quả như sau
Bảng 2.2 Kết quả thống kê, phân loại các đại từ nhân xưng là phương tiện LKHC
Phép liên kết Các phương tiện
liên kết
Số lần xuất hiện
Tỷ lệ %
LKHC chỉ ngôi
Đại từ nhân xưng
ít Bên cạnh chức năng hồi chỉ cho người, đại từ nhân xưng he/him, she/ her còn có
thể được sử dụng để hồi chỉ cho những yếu tố không mang nghĩa chỉ người, như
con vật, đồ vật, sự vật v.v Trong tiếng Anh cặp đại từ nhân xưng it/it thuộc ngôi thứ ba số ít, chỉ sự vật để phân biệt với cặp he/him và cặp she/ her cũng là ngôi thứ
ba số ít nhưng chỉ người) Xét về đặc điểm ngữ pháp, đại từ it (cả chủ ngữ và bổ
ngữ) đều có thể sử dụng để thay thế cho từ, ngữ, cú, câu hay thậm chí cả chuỗi câu trong phần trước của văn bản Đấy chính là cơ sở cho chức năng LKHC văn bản
của đại từ it Cặp đại từ they/ them được xem là hình thức số nhiều của it/it, he/him
và she/her, có thể thay thế được cho cả người và vật trong diễn ngôn hay văn bản
2.3 Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Việt
2.3.1 Nhận diện các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Việt
Diệp Quang Ban đã chỉ ra trong tiếng Việt các phương tiện ngôn ngữ của
LKHC chỉ ngôi đó là: đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít và số nhiều, từ ngữ chỉ
quan hệ thân tộc được dùng như từ xưng hô, từ ngữ chỉ chức vụ nghề nghiệp
Trong chương này của luận án chúng tôi chỉ tập trung khảo sát các phương tiện
LKHC chỉ ngôi, đó là: đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít và số nhiều, từ ngữ chỉ
quan hệ thân tộc được dùng như từ xưng hô, từ ngữ chỉ chức vụ nghề nghiệp
2.3.2 Mô tả đặc các phương tiện liên kết hồi chỉchỉ ngôi trong tiếng Việt
2.3.2.1 Liên kết hồi chỉ chỉ ngôi là đại từ nhânxưng