Có thể nói, nếu liên kết quy chiếu không được sử dụng khi cần thiết hoặc sử dụng không chính xác, không phù hợp,… thì nhiều khía cạnh văn bản sẽ bị ảnh hưởng như ý nghĩa bị mơ hồ, thông
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHÂN ÁI
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT HỒI CHỈ TRONG DIỄN NGÔN TRÊN BÌNH DIỆN DỤNG HỌC (THEO CỨ LIỆU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 62 22 02 41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỒNG CỔN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Nhân Ái
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về liên kết và LKHC 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và LKHC của diễn ngôn trong tiếng Anh 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên kết và LKHC trong tiếng Việt 13
1.2 Cơ sở lí luận 19
1.2.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 19
1.2.2 Liên kết và quy chiếu trong diễn ngôn 26
1.2.3 Liên kết quy chiếu hồi chỉ trong diễn ngôn 39
1.2.4 Phân tích đối chiếu và phân tích đối chiếu diễn ngôn 46
1.3 Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT HỒI CHỈ CHỈ NGÔI TRONG DIỄN NGÔN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 56
2.1 Dẫn nhập 56
2.2 Các phương tiện LKHC trong diễn ngôn tiếng Anh 57
2.2.1 Nhận diện các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh 57
2.2.2 Mô tả đặc điểm chung của các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tiêng Anh 58
2.2.3 Đặc trưng dụng học của các phương tiện LKHC trong tiếng Anh (nghiên cứu trường hợp LKHC chỉ ngôi trong tác phẩm “Call of the wild” (Tiếng gọi của hoang dã) của Jack London 69
2.3 Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Việt 75
2.3.1 Nhận diện các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Việt 75
1.3.2 Mô tả đặc các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tiếng Việt 76
2.3.3 Đặc điểm dụng học của các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tiếng Việt (nghiên cứu trường hợp) tác phẩm “Số đỏ” (Dumb luck) của Vũ Trọng Phụng) 90 2.4 Nhận xét sự giống nhau và khác nhau giữa các phương tiện LKHC chỉ ngôi trong tiếng Anh và tiếng Việt 99
Trang 42.4.1 Những điểm giống nhau 100
2.4.2 Những điểm khác nhau 100
2.5 Tiểu kết chương 2 110
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG TIỆN LIÊN KẾT HỒI CHỈ CHỈ ĐỊNH TRONG DIỄN NGÔN TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 112
3.1 Dẫn nhập 112
3.2 Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh 112
3.2.1 Nhận diện các phương tiện LKHC chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh 112
3.2.2 Mô tả các phương tiện LKHC chỉ định trong tiếng Anh 113
3.2.3 Đặc trưng dụng học của các phương tiện LKHC chỉ định trong tiếng Anh (qua tác phẩm „Call of the wild‟ (Tiếng gọi của hoang dã) của Jack London) 117
3.3 Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Việt 123
3.3.1 Nhận diện các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Việt 123
3.3.2 Mô tả các phương tiện LKHC chỉ định trong tiếng Việt 124
3.3.3 Đặc trưng dụng học của các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định (qua tác phẩm “Số Đỏ” (Dumb luck) của nhà văn Vũ Trọng Phụng) 133
3.4 Nhận xét sự giống nhau và khác nhau về các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt 137
3.4.1 Những điểm giống nhau 137
3.4.2 Những điểm khác nhau 140
3.5 Tiểu kết chương 3 142
KẾT LUẬN 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Tiếng Việt 148
Tiếng Anh 153
NGUỒN NGỮ LIỆU 158
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Quy chiếu (reference) là một trong những vấn đề đầu tiên được các nhà ngôn ngữ học quan tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức bởi lẽ quy chiếu là một trong những phương tiện thể hiện được mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ và hiện thực khách quan làm nên ngữ cảnh của hoạt động giao tiếp Do đó, quy chiếu bằng ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện được dùng để mở ra cánh cửa vào thế giới của diễn ngôn, bất chấp các đặc điểm riêng về thể loại diễn ngôn hay đặc trưng của ngôn ngữ cụ thể được sử dụng để tạo lập ra diễn ngôn
1.2 Trong diễn ngôn văn học, ngôn ngữ được xem như một loại mã với những nguyên tắc xử lí và giải mã riêng Việc tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngôn ngữ dùng để quy chiếu đến vật được quy chiếu của chúng thể hiện trong tác phẩm văn học sẽ là những thao tác cần thiết mà bất kì người đọc bình thường nào cũng phải tiến hành nếu muốn hiểu tác phẩm Một trong những phương thức liên kết diễn
ngôn phổ biến là liên kết quy chiếu (referential cohesion) Có thể nói, nếu liên kết
quy chiếu không được sử dụng khi cần thiết hoặc sử dụng không chính xác, không phù hợp,… thì nhiều khía cạnh văn bản sẽ bị ảnh hưởng như ý nghĩa bị mơ hồ, thông tin diễn ngôn có khả năng bị diễn dịch không đúng với ý đồ giao tiếp của người viết/nói; về mặt văn phong, có thể sẽ mất đi tính nghệ thuật của văn bản,… Liên kết quy chiếu, vì vậy, là một phương thức liên kết được đề cập đến đầu tiên trong phân tích diễn ngôn (discourse analysis)
1.3 Khi nói đến liên kết quy chiếu, không thể không nhắc đến hiện tượng liên kết “hồi chỉ” (anaphoric cohension) mà chúng tôi gọi là liên kết hồi chỉ (LKHC) Đó
là việc sử dụng một biểu thức (thông qua một từ hay ngữ) để chỉ một sở chỉ (referent)
đã được đề cập (được diễn đạt) bởi môt từ hay một ngữ phía trước, tạm gọi là “tiền ngữ” (attencedent) trong chuỗi diễn ngôn Hãy xét một mẩu đối thoại tiếng Anh đơn
giản sau đây: Ví dụ:
(1) A: What do you think about the new secretary?
Trang 6B: Well, she‟s quite fickle and talkative
Trong ví dụ trên, she như đã biết, về ngữ pháp và ngữ nghĩa, là một đại từ
nhân xưng quy chiếu đến một sở chỉ là là ngôi thứ ba số ít (third singular number),
thuộc giới nữ (giống cái) She được dùng ở ngữ cảnh này là để thay thế cho tiền ngữ
the new secretary xuất hiện ở câu trước, hay nói cách khác là nó được dùng với chức
năng là phương tiện quy chiếu hồi chỉ (hồi chiếu) cho tiền ngữ “the new secretary”
trước đó
Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết (ngôn ngữ khuất chiết, hay ngôn ngữ chuyển dạng) các phương tiện liên kết văn bản nói chung và LKHC nói riêng trong văn bản tiếng Anh luôn luôn thay đổi dạng thức trong những ngữ cảnh sử dụng cụ thể Trong khi
đó, thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính, các phương tiện liên kết văn bản nói chung và LKHC nói riêng trong văn bản tiếng Việt không thay đổi hình thức của chúng Chính vì vậy việc chuyển các văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại luôn luôn gây nên những khó khăn trong việc dịch thuật cũng như trong việc học ngoại ngữ Do đó, nghiên cứu các phương tiện LKHC trong văn bản tiếng Anh và tiếng Việt, chuyển dịch các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ là một vấn đề cân thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhất là hiện nay tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trên toàn thế giới
Trong luận án này, chúng tôi tìm hiểu các phương tiện LKHC trong các diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt nhằm xác định được các phương tiện LKHC thường được sử dụng trong hai ngôn ngữ Đồng thời như một nghiên cứu trường hợp luận án nghiên cứu các phương tiện LKHC trong văn bản văn học tiếng Anh (qua tác
phẩm “Call of the wild” (Tiếng gọi của hoang dã) của Jack London) và tiếng Việt (qua tác phẩm “Số Đỏ” (Dum Luck)của Vũ Trọng Phụng) Trên cơ sở đó luận án tiến
hành so sánh các phương tiện LKHC để chỉ ra những đồng nhất và khác biệt trong cách sử dụng các phương tiện LKHC này trong hai ngôn ngữ
Trang 7Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu để triển khai luận
án là "Nghiên cứu phương tiện liên kết hồi chỉ trong diễn ngôn trên bình diện
dụng học (theo cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)"
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở khảo sát, miêu tả và phân tích các phương tiện LKHC trong diễn ngôn qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, luận án làm sáng rõ vai trò, chức năng của các phương tiện LKHC được sử dụng thực tế trong các diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó đối chiếu để xác định những điểm giống nhau và khác nhau trong cách sử dụng các phương tiện LKHC giữa hai ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:
a Tổng quan tình hình nghiên cứu về liên kết, quy chiếu nói chung và liên kết quy chiếu hồi chỉ nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam;
b Trình bày một số cơ sở lí luận chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài luận án như: lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, các khái niệm liên kết, mạch lạc, quy chiếu và các phương thức quy chiếu trong diễn ngôn, LKHC và các phương tiện LKHC trong diễn ngôn; lí thuyết đối chiếu ngôn ngữ và phân tích đối chiếu diễn ngôn giữa các ngôn ngữ;
c Miêu tả, phân tích phương tiện LKHC được thực hiện bằng phép quy chiếu hồi chỉ chỉ ngôi và chỉ định trong tiếng Anh và tiếng Việt
d Đối chiếu phương tiện LKHC bằng đại từ chỉ ngôi, đại từ chỉ định trong diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ dụng học
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện LKHC trong tiếng Anh
và tiếng Việt (thể hiện qua diễn ngôn văn học tiếng Anh và tiếng Việt)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 8Luận án tập trung nghiên cứu phương tiện LKHC được thể hiện bằng quy chiếu chỉ ngôi và quy chiếu chỉ định trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở đó, với tư cách một nghiên cứu trường hợp, luận án nghiên cứu các phương tiện LKHC được thể hiện bằng quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định trong diễn ngôn văn học
tiếng Anh và tiếng Việt: tác phẩm “Call of the wild” (Tiếng gọi của hoang dã) của Jack London và “Số đỏ” (Dumb Luck) của Vũ Trọng Phụng
Do dung lượng luận án có hạn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát hai phương tiện
LKHC chủ yếu là là hồi chỉ chỉ ngôi và hồi chỉ chỉ định trong các diễn ngôn tiếng Anh
và tiếng Việt, còn phương tiện LKHC so sánh, qua kết quả khảo sát thấy ít xuất hiện
nên chúng tôi không xem xét trong nghiên cứu này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: được sử dụng để khảo sát đặc điểm hình thức (kết học),
chức năng (dụng học) của các phương tiện LKHC trong tiếng Anh và tiếng Việt (qua các diễn ngôn văn học Anh - Việt)
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để phân tích vai trò của các
phương tiện LKHC trong việc tạo lập mạng liên kết, tính hệ thống của các sự kiện được thể hiện trong các diễn ngôn văn học của hai ngôn ngữ
- Phương pháp đối chiếu: được sử dụng để phân tích, đối chiếu các phương tiện
LKHC trong tiếng Anh và tiếng Việt về các mặt hình thức, chức năng và dụng nhằm làm rõ những tương đồng và những khác biệt của các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ
Ngoài ra luận án còn được sử dụng một số thủ pháp như: thống kê, phân loại,
cải biến, phân tích ngữ cảnh để xác định các phương tiện LKHC trong diễn ngôn
văn học được khảo sát
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nghiên cứu các phương tiện LKHC về phương diện dụng học trong diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt, luận án góp phần vào việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn và các phương tiện LKHC được sử dụng thực tế trong các diễn ngôn văn học bằng các
Trang 9ngôn ngữ khác nhau Ở một chừng mực nhất định, luận án cố gắng nêu lên được đặc điểm ở bình diện dụng học của các phương tiện LKHC được sử dụng trong diễn ngôn
văn học tiếng Anh và tiếng Việt
6 Ý nghĩa của luận án
Về mặt lý luận: Với việc làm sáng rõ đặc điểm của các phương tiện LKHC
trong tiếng Anh và tiếng Việt và chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của các phương tiện liên kết này trong hai ngôn ngữ, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò, chức năng của các phương tiện LKHC trong tổ chức diễn ngôn nói chung và liên kết diễn ngôn (hay văn bản) nói riêng
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận án có thể được áp dụng vào việc giảng
dạy tiếng Anh ở Việt Nam, cũng như trong công tác biên, phiên dịch tài liệu tiếng Anh sang tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được áp dụng để giảng dạy, phân tích các văn bản về phương diện sử dụng các phương tiện liên kết ngôn ngữ để tạo lập sự liên kết các nội dung của văn bản
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ ngôi trong diễn ngôn tiếng Anh
và tiếng Việt
Chương 3: Các phương tiện liên kết hồi chỉ chỉ định trong diễn ngôn tiếng Anh
và tiếng Việt
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về liên kết và liên kết hồi chỉ
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết và liên kết hồi chỉ của diễn ngôn trong tiếng Anh
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết trong tiếng Anh
Vấn đề liên kết trong diễn ngôn tiếng Anh, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
Khái niệm liên kết (cohension) cùng với khái niệm mạch lạc (coherence) được dùng nhiều trong Ngôn ngữ học văn bản (Text linguistics) và trong Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) Hai khái niệm này có quan hệ với nhau cả trong tên gọi (tiếng Anh) lẫn về đối tượng nghiên cứu Trong tiếng Anh, thuật ngữ liên kết được M A K Halliday và R Hassan đưa ra năm 1976 và hiểu đó là những phương tiện ngôn ngữ khác nhau giúp cho các câu và các khúc đoạn lớn hơn câu có thể nối
lại với nhau về mặt nghĩa Trong rất nhiều công trình nghiên cứu văn bản và diễn
ngôn của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, có thể nói Cohesion in English của M
A K Halliday và Ruquaiya Hassan là công trình nổi bật nhất Kể từ khi ra đời công trình này được xem là nền tảng cho các khái niệm, luận điểm và các kiến giải cụ thể liên quan đến các phép liên kết với đơn vị khảo sát chủ yếu là cú trong văn bản tiếng Anh Tính liên kết đặt trên cơ sở nghĩa và các yếu tố ngôn ngữ được dùng làm phương tiện liên kết có quan hệ nghĩa với nhau theo kiểu yếu tố này giải thích cho yếu tố kia, làm cho yếu tố kia trở thành cụ thể hoặc xác định theo một cách nào đó
Mặt khác, M A K Halliday và R Hassan quan niệm liên kết là một phần trong hệ thống của một ngôn ngữ và khái niệm liên kết là một khái niệm thuộc ngữ nghĩa Nó liên quan đến những quan hệ về ý nghĩa tồn tại trong văn bản và chính những quan hệ này xác định nó là một văn bản Và liên kết chỉ có khi việc giải thích một yếu tố nào đó trong văn bản hay trong diễn ngôn tùy thuộc vào một yếu tố khác Những yếu tố này cùng xuất hiện đan xen vào nhau trong văn bản Việc giải thích hay hiểu những yếu tố chưa rõ nghĩa có thể dựa vào phép liên kết mà người
Trang 11tạo lập văn bản đã sử dụng kết hợp với sự bổ sung tương tác của người tiếp nhận văn bản Ví dụ:
(2) It was an ugly, horrible house Its windows was large But there was
nothing to watch from them but the flat backyard and the tall, grey paling fence
[NNL 10]
[Đó là một ngôi nhà xấu xí và đáng sợ Những cửa sổ của nó thì rộng
Nhưng nhìn qua chúng thì chẳng thấy gì ngoài các sân sau phẳng lì và dãy hành
rào cao màu xám nhạt]
Các phát ngôn trên có liên kết với nhau theo kiểu quy chiếu: its là từ dùng trong quy chiếu chỉ định, xác định rõ danh từ windows với vật quy chiếu là house Them là từ quy chiếu chỉ ngôi liên quan đến danh từ windows Như vậy, như những quan hệ ngữ
nghĩa khác, liên kết được biểu hiện qua việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ
M A K Halliday và R Hassan dùng thuật ngữ kết nối (tie) để chỉ quan hệ
liên kết giữa hai yếu tố ngôn ngữ Nếu hiểu văn bản như một không gian liên tục trong đó các các thông điệp riêng lẻ liên tiếp nhau thì những yếu tố liên kết chính là hai đầu của kết nối Đầu kết nối này có thể ở vị trí trung gian, sát gần hoặc xa cách với đầu kết nối kia Một đầu có thể là một phần của thông điệp và đầu kia là một phần của thông điệp kế tiếp Quan hệ giữa hai đầu kết nối có thể hồi chỉ hay khứ chỉ Bản chất của sự kết nối thuộc ngữ nghĩa, nghĩa là hai yếu tố ngôn ngữ của bất
kì sự kết nối nào cũng gắn chặt vào nhau qua quan hệ ngữ nghĩa nào đó Halliday và
Hassan xác định "những quan hệ ngữ nghĩa như vậy hình thành cơ sở cho sự liên kết giữa các thông điệp của một văn bản" [115; tr.72] Ví dụ:
(3) Wash and core six cooking apples Put the apples into a fireproof dish
[Hãy rửa và lấy lõi sáu quả táo được dùng để nấu ăn ra Để những quả táo (này) vào một cái đĩa chịu lửa]
Trong ví dụ này có hai kết nối: một là quan hệ bằng phép lặp từ apples ở phát ngôn trước và phát ngôn sau và một là quy chiếu hồi chỉ giữa the trong the
apples và six cooking apples The cho biết apples ở phát ngôn sau là apples trong six cooking apples đã được đề cập ở phát ngôn trước đó Trong tiếng Anh mạo từ
xác định the là một trong những phương tiện liên kết được dùng trong quy chiếu chỉ
Trang 12định có ý nghĩa xác định rõ đối tượng đang được đề cập Trong tiếng Anh, mạo từ
xác định the thường được dùng với ý nghĩa liên kết ngoại chỉ Ví dụ:
(4) We always use the car since it is large enough to put everything inti it [Chúng tôi lúc nào cũng dùng chiếc xe hơi này vì nó đủ rộng để cho hết mọi
thứ vào trong đó]
The có ý nghĩa liên kết ngoại chỉ được dùng để nói đến chiếc xe mà người
nói hiện có, nghĩa là đối tượng hay vật quy chiếu mà cả người nói và người nghe đều tự xác định được Quy chiếu đến thế giới ngoài văn bản là quy chiếu ngoại chỉ Quy chiếu nội chỉ là mối quan hệ đồng nhất hoặc tương tự được xác lập giữa các đơn vị ngữ pháp thường gặp giữa các yếu tố ngôn ngữ trong một văn bản Quy chiếu nội chỉ có vai trò quan trọng trong việc giải thích các yếu tố ngôn ngữ trong văn bản Trong tiếng Anh, quy chiếu hồi chỉ thường liên quan đến việc sử dụng từ chỉ ngôi, từ sở hữu và từ chỉ định Ví dụ:
(5) Susie is a healthy woman and does not neet to work, but she still loves
markihỉ vớing things happen (*) She said recently, "Right now I'm trying to work less" (**) My children are growing up, and I want to spend more time with them while they are young (***) (International Express - Intermediate)
[Susie là một phụ nữ khỏe mạnh và không cần làm việc, nhưng cô vẫn thích
làm mọi việc Gần đây cô đã nói "Ngay bây giờ tôi đang cố làm việc ít hơn" Các con của tôi đang lớn lên, và tôi muốn dành nhiều thời gian hơn cho chúng trong lúc chúng còn nhỏ]
She trong (*), I và she trong (**) là các đại từ nhân xưng liên kết hồi chỉ với Susie trong (*) My là từ sở hữu trong (***) liên kết liên kết với Susie theo quy
chiếu chỉ định Them và they trong (***) cũng liên kết hồi chỉ với my children
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên kết hồi chỉ trong diễn ngôn tiếng Anh
Nói về LKHC, George Yule chỉ ra rằng “Chúng ta thường phải lưu giữ dấu vết của người hoặc của vật mà ta đang nói đến trong hơn một câu Sau phần giới thiệu ban đầu về một thực thể nào đó, người nói sẽ dùng những cách diễn đạt khác nhau để duy trì sự quy chiếu, như trong (*) [106] Tuy nhiên, trước khi công nhận sự đa dạng
Trang 13về các loại biểu thức LKHC, hầu hết các học giả nghiên cứu tiếng Anh đều xác định biểu thức tiêu biểu nhất là các đại từ thay thế, đại diện cho đối tượng là sự vật khác
Halliday đã từng đề cập đến vấn đề này rất sớm Theo ông, quy chiếu đã tiến
hóa như một mối quan hệ “ngoại chỉ”, she, it, they có thể được sử dụng theo “ngoại
chỉ”, nghĩa là như một phương tiện nối “những cái ở bên ngoài” với một hay một
vật thể nào đó trong một trường (field) [115] Ví dụ:
(6) In the film, a man and a woman were trying to wash a cat The man was
holdoing the cat while the woman poured water on it He said something to her and they started laughing
[Trong phim, một người đàn ông và một người đàn đang cố tắm cho một con mèo Người đàn ông giữ con mèo trong khi người đàn bà dội nước lên nó Ông ta nói
gì đó với bà ta và họ bắt đầu cười]
Theo Halliday [31], thường thì trong tất cả các ngôn ngữ mà chúng ta biết, những đơn vị ấy lại có chức năng hồi chỉ (anaphoric) Nghĩa là chúng không chỉ ra ngoài môi trường mà lại chỉ về phần trước (backwards) của văn bản, nằm ngay trong văn bản đó “Chúng ta có thể giả thuyết một giai đoạn tưởng tượng trong quá trình
tiến hóa của ngôn ngữ khi phạm trù quy chiếu cơ bản NGÔI (PERSON) có chức năng CHỈ TRỎ (DEICTIC) theo nét nghĩa nghiêm ngặt của nó, “được giải thích
trong mối liên hệ với tình huống theo thời gian và không gian” “Do đó I (tôi) là
“người nói”; you (bạn) là người được nói với”; he (anh ấy), she (cô ấy), it (nó), they (họ) là những bên thứ ba, “những người khác trong tình huống” Ngôi thứ nhất I
và ngôi thứ hai you vẫn giữ nguyên nét nghĩa chỉ trỏ này một cách tự nhiên; ý nghĩa
của chúng được xác định trong hành động lời nói Dưới đây là một ví dụ điển hình:
(7) Peter, Peter, pumpkin eater, [Peter, Peter, thằng ăn bí ngô,
Had a wife and couldn‟t keep her Có vợ mà không giữ được nàng
He put her in a pumpkin shell, Hắn đặt nàng trong vỏ của quả bí,
And there he kept her very well Và ở đó hắn giữ được nàng.]
Ở đây he và her là tham chiếu “hồi chỉ”, lần lượt “chỉ” Peter và vợ của anh
ta Mối quan hệ này được gọi là liên kết Được thể hiện bằng một trong những từ
này, người nghe phải nhìn đến chỗ khác để giải thích nó; và nếu họ nhìn ngược trở
Trang 14lại cái đã được nói trước đó, thì điều này có tác dụng nối hai đoạn văn lại thành một thể thống nhất mạch lạc Chúng trở thành một phần của một ngôn bản đơn lẻ Bên cạnh đó hầu hết các tác giả đều cho rằng những từ được đề cập ở trước trong diễn ngôn được quy chiếu bởi biểu thức hồi chiếu (anaphor) được gọi là tiền biểu thức (antecedent, hay là tiền từ)
Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu như: Asher (1987); Edellberg (1986); Geach (1967); Kamp (1990); King (1994) George Yule (1997) đã đưa ra những ví dụ nói về quy chiếu hồi chỉ trong việc dạy và học tiếng Anh Ví dụ:
(8) Peel and slice six potates Put them in cold salted water [106]
[Gọt và thái sáu củ khoai tây Cho chúng vào nước lạnh có muối]
Ở ví dụ trên ta thấy biểu thức ban đầu được hồi chỉ đến là (“sáu củ khoai
tây”) lại đồng nhất với một cái gì đó khác so với đại từ hồi chỉ “them” (“chúng”) là
từ cần được hiểu là “the six peeled and sliced potatoes” (“sáu củ khoai tây đã được
gọt và thái lát”) Cũng đi theo hướng nghiên cứu này, vào đầu những năm 1980,
các tác giả như Irene Heim (1982) và Hans Kamp (1981), đã tiến hành một nghiên cứu cụ thể nhằm tìm ra các phương thức giải quyết những lỗi câu hồi chỉ
Thậm chí Morton Ann Gernsba Cher chỉ đề cập đến hồi chỉ của đại từ They
(„The case of the English singular They‟) Gần đây nhất trong cuốn“The Syntax and
Semantics of do so Anaphora” (2010) của mình, Michael John Houser đã đi sâu phân
tích về bản chất của biểu thức LKHC theo bình diện cú pháp và ngữ nghĩa [135]
Trong cuốn “Phân tích diễn ngôn”, Gilliam Brown [107] nhìn nhận vấn đề quy chiếu dưới một tên gọi khác là thuật ngữ “đồng quy chiếu” (co-reference) Các
hình thức đồng quy chiếu là những hình thức mà “thay vì được giải thuyết theo ngữ nghĩa như tư cách của chúng (…) thì lại quy chiếu đến một cái gì khác để giải thuyết” Khi giải thuyết của chúng nằm ngoài văn bản, trong bối cảnh, mối quan hệ
đó được gọi là quan hệ ngoại chiếu (exophoric) và hình thành nên sợi dây liên kết kết văn bản Theo tác giả quan hệ nội chiếu chia thành hai loại là quan hệ hồi chỉ (anaphora) và quan hệ khứ chỉ (cataphora) Trong đó, quan hệ ngược chiều là quan
hệ hồi chỉ Nó là những quan hệ theo hướng ngược lại văn bản để có được giả
Trang 15thuyết Với hướng này các yếu tố hồi chỉ có tần suất sử dụng rất cao so với quan hệ ngược với nó tức khứ chỉ Ví dụ:
(9) Look at the sun It‟s rising quickly
Mối quan hệ đồng quy chiếu tồn tại giữa một biểu thức có nghĩa từ vựng đầy
đủ là “the sun” với một biểu thức đại từ it It quy chiếu trở lại the sun, hay nói cách khác hai câu chứa hai biểu thức it và the sun đã liên kết với nhau bằng LKHC (quan
hệ hồi chỉ)
Một số tác giả như Davies và Martin (1981); Groenendijk, J và M.Stokhof (1991); Hay Kanazawa và Makoto (1994a) Carl Pollard (1992); cũng đã có những công trình nghiên cứu về LKHC trong tiếng Anh
M.A.K Halliday cũng đã đề cập đến “đơn vị quy chiếu là CHỈ ĐỊNH TỐ
(DEMONSTRATIVE), this/ that, these/ those (này kia) với tư cách như là đại từ hay
chỉ định từ (Determiner) Tác giả cho rằng các yếu tố chỉ định cũng có thể hoặc khứ chỉ hoặc hồi chỉ; về nguồn gốc có lẽ chúng giống với các hình thức ngôi thứ ba, nhưng chúng giữ lại được đặc điểm chỉ trỏ mạnh mẽ hơn các yếu tố, và đã tiến hóa thành các chức năng hồi chỉ khu biệt của chúng.” [115]
Năm 2008, các tác giả Volker Gast & Ekkehard Koning đã tiến hành một nghiên cứu về sự so sánh phương tiện hồi chỉ (anaphora) giữa tiếng Anh và tiếng
Đức “Sentence Anaphora in English and German” của Volker Gast & Ekkehard
Koning (Freie university Berlin 2008)
So sánh đối chiếu các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều của tiếng Việt
(“Chúng ta” và “Chúng tôi”) và tiếng Anh (We/Us/Ours) như là những biểu thức
hồi chỉ mang tính chất ngữ dụng học, Ngô Hữu Hoàng đã phân tích các đại từ nhân
xưng này và cho rằng: “Trong tiếng Anh, we vẫn được tri nhận và diễn đạt bởi người bản ngữ nhưng không có hai hình thái rõ ràng như “chúng ta” và “chúng
tôi” như tiếng Việt mà chỉ thông qua một hình thái duy nhất là WE, tân ngữ là US
và sở hữu là OURS” Tác giả đưa ra ví dụ:
(10) Nếu (chúng) ta đi vắng quá lâu thì nhà (của chúng) ta ai sẽ trông coi? (11) Nếu chúng tôi đi vắng quá lâu thì nhà (của) chúng tôi ai trông coi?
Trang 16và phân tích rằng “trong câu ví dụ (10) bất kì một người Việt Nam nào cũng hiểu rằng người nói và người nghe đều sẽ tham gia hành động “đi vắng” và người nói và người nghe đều sở hữu căn nhà Có thể hiểu người nói và người nghe có khả năng
là thành viên thuộc về một gia đình Nhưng nếu phát ngôn này được chuyển chủ ngữ (và tất nhiên sở hữu cách cũng buộc phải thay đổi để nghĩa tương thích) như ví
dụ (11) thì bất kì một người Việt Nam nào cũng hiểu (10) người nghe sẽ không tham gia hành động “đi vắng” với người nói và (11) chỉ có người nói (đại diện cho một hoặc vài người khác không phát ngôn) là sở hữu căn nhà Khi dịch phát ngôn này sang tiếng Anh thì chúng ta chỉ được một phát ngôn duy nhất” Ví dụ:
(12) If we are out for a long time, who will look after our house?
Trong cuốn sách Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) của mình, David
Nunan [98] chỉ xác định ba loại biểu thức liên kết trong phép LKHC, đó là:
+ LKHC bằng đại từ nhân xưng (Personal reference) Ví dụ:
(13) Mikhail Gorbachew didn‟t have to change the world He could have chosen
to rule much as his predecessors did
+ LKHC bằng đại từ chỉ định hoặc các chỉ định từ (this, that, these, those)
(demonstrative reference) Ví dụ:
(14) Recognising that his country had to change, Gorbachev could have become a
cautious modernizer in the Chinese fashion, promoting economic reform and sponsoring new technology while holding firm against political change This did not happen
+ LKHC so sánh (Comparative reference) Ví dụ:
(15) A: Would you like these seats?
B: No, as a matter of fact I‟d like the other seats
David Nunan đã phân định rất rõ giữa liên kết quy chiếu với liên kết thay thế (subsituition), liên kết tỉnh lược (ellipsis) và liên kết từ vựng (lexical cohesion) [98, tr 22]
Quan điểm trên của NuNan (tất nhiên tác giả này cũng tham khảo nhiều quan điểm của tác giả khác) có phần gây tranh cãi M.A.K Halliday & R Hasan đã nghiên cứu phép tỉnh lược chủ yếu dựa trên bản chất hoạt động của các từ loại
(danh từ, tính từ, động từ) trong hệ thống ngữ pháp Theo các tác giả, trong các
Trang 17nhóm từ thuộc từ loại khác nhau, chúng có những cương vị ngữ pháp và cú pháp khác nhau, vì vậy khả năng lâm thời vắng mặt (tỉnh lược) còn tùy vào các loại khác nhau Halliday & Hasan [115] cho rằng không phải bất kì từ nào cũng có thể cho phép người nghe (người đọc) chấp nhận đưa vào một “cấu trúc mang tính giả định”,
“Một hình thức thông qua tỉnh lược (ellipsis), nơi mà chúng ta tiền giả định một thành phần nào đó bằng thành phần bị bỏ ngỏ Giống như tất cả các phương tiện
liên kết tỉnh lược góp phần vào cấu trúc ngữ nghĩa ngôn bản”
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên kết và liên kết hồi chỉ trong tiếng Việt
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về liên kết trong diễn ngôn tiếng Việt
Ở Việt Nam thuật ngữ diễn ngôn và văn bản được sử dụng rộng rãi từ cuối thập niên 80 của thế kỉ 20 Công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm xuất bản năm 1985 đã đánh dấu mốc ra đời của ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam Trong tác phẩm này, văn bản được nghiên cứu theo quan điểm riêng của tác giả với những kiến giải sâu sắc về hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt Tác giả cho rằng bản thân văn bản là một hệ thống, trong đó phần tử là các câu và giữa các câu - phần
tử ấy tồn tại những mối quan hệ, liên hệ và làm thành cấu trúc của văn bản Hiểu văn bản như một hệ thống nên tác giả quan niệm "sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy" [68, tr.22] Sự liên kết ở đây cũng chủ yếu được đặt trên cơ sở ngữ nghĩa (giống như quan niệm của Halliday và nhiều nhà nghiên cứu khác), phần liên kết hình thức thuần túy chiếm một tỉ lệ rất thấp Do đó, tên gọi liên kết hình thức là tên quy ước
để chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ dùng để thể hiện các quan hệ ngữ nghĩa, theo đó nó được phân biệt với liên kết nội dung "Giữa liên kết hình thức và liên kết nội dung có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu được dùng để diễn đạt
sự liên kết nội dung liên kết" [68, tr.24] Phương thức liên kết là việc sử dụng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ vào nhiệm vụ liên kết câu với câu, nhờ đó các phương thức này góp phần làm bộc lộ các kiểu câu được phân loại căn cứ vào tính hoàn chỉnh về nghĩa
Lí thuyết về liên kết văn bản bao gồm cả mặt liên kết hình thức lẫn mặt liên kết nội dung Trần Ngọc Thêm cho rằng "liên kết nội dung và liên kết hình thức là
Trang 18hai mặt gắn bó mật thiết với nhau", nên "tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản"[68, tr.22] "Liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung" [68, tr.24] Liên kết nội dung sẽ được nhận rõ hơn thông qua việc xem xét hai bình diện của nó là liên kết chủ đề và liên kết lô gic Sau công trình này việc nghiên cứu về diễn ngôn và văn bản đã phát triển theo các hướng khác nhau
- Khuynh hướng nghiên cứu liên kết văn bản: Sau công trình nêu trên của Trần Ngọc Thêm còn có một số tác giả nghiên cứu theo hướng này, như Nguyễn Thị Việt
Thanh với công trình “Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt”, Phạm Văn Tình với
“Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong tiếng Việt.”
- Khuynh hướng tiếp cận văn bản theo hướng văn PTDN Theo đó, đối tượng nghiên cứu là từng kiểu loại văn bản cụ thể, được xem xét trong hoạt động của ngôn ngữ Nhiều tác giả đã theo hướng nghiên cứu này như: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Hòa, Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn/ văn bản của họ đã được xuất bản:
Diệp Quang Ban: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp, diễn ngôn và
cấu tạo văn bản (1998, 2009)
Đỗ Hữu Châu: Đại cương ngôn ngữ, t.2 (2001)
Nguyễn Thiện Giáp: Dụng học Việt ngữ (2000)
Nguyễn Hòa: Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp (2003)
Một số nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết PTDN vào khảo sát, phân tích một số
loại diễn ngôn cụ thể Chẳng hạn, đề tài nghiên cứu của Lê Hùng Tiến “Phân tích
diễn ngôn văn bản luật pháp tiếng Việt so sánh với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch văn bản luật pháp”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hương “Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt” (2003), v.v
Những năm gần đây, những công trình nghiên cứu về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn ở Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng về cách tiếp cận Xin điểm qua đó là một số công trình có tính định hướng trong nghiên cứu diễn ngôn là
công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban Trong công
Trang 19trình này tác giả chú ý đặc biệt đến hiện tượng liên kết theo hướng ứng dụng lí thuyết mới vào vào tiếng Việt trong giảng dạy Trong đó, tác giả trình bày các phép liên kết theo hệ thống liên kết của Halliday và Hassan được ứng dụng vào tiếng Việt Diệp Quang Ban cho rằng: "Liên kết, xét tổng thể, là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau Các kiểu quan hệ nghĩa này làm thành những cấu hình nghĩa của liên kết, hay những khuôn hình tạo sinh diễn ngôn" [4, tr.347] Định nghĩa này về liên kết được xây dựng dựa vào khả năng vượt qua biên giới câu của
sự liên kết, để giúp cho một chuỗi câu trở thành một thể hoàn chỉnh toàn vẹn, cụ thể
là bằng cách giải thích nghĩa cho nhau giữa hai yếu tố nằm trong hai câu khác nhau, thường là xét hai câu kề cận nhau Ví dụ:
(16) Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu
của ta [Hồ Chí Minh]
Từ đó, trong câu thứ hai trên đây là từ có nghĩa chưa cụ thể, muốn hiểu nghĩa của nó thì phải tìm ở câu trước Nghĩa của toàn bộ câu trước có tác dụng giải thích nghĩa cho từ đó ở câu sau Mối quan hệ giải thích nghĩa này giúp cho câu sau liên kết với câu trước Ví dụ:
(17) Nhà tôi mới mua một con mèo tam thể rất đẹp Sáng nay nó chạy mất rồi
Trong ví dụ này, nó được cụm từ một con mèo tam thể rất đẹp giải thích nghĩa Các yếu tố ngôn ngữ đó cùng chỉ con mèo mà nhà tôi mua (đồng chiếu)
Ngoài hai kiểu liên kết hình thức và liên kết nội dung như nhiều công trình nghiên cứu đã nêu ra, Diệp Quang Ban đã đề xuất một kiểu liên kết khác nữa là liên kết phi cấu trúc tính Theo ông, "liên kết theo Diệp Quang Ban quan điểm phi cấu trúc tính cũng lấy nghĩa làm cơ sở Nét riêng của quan điểm này là chỉ tính đến các phương tiện hình thức tạo liên kết, trên cơ sở đó mà xếp loại các phương tiện liên kết (các phép liên kết)" [4, tr.174]
Công trình “Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề về lí luận và phương pháp” của Nguyễn Hòa (2003) là 1 công trình chuyên sâu, tập trung nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lí luận và thực tiễn của PTDN Các đường hướng chính trong
Trang 20PTDN đã được tác giả trình bày một cách rõ ràng, khúc chiết Đó là các đường hướng: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, dân tộc học giao tiếp, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội, giao tiếp văn hóa, phương pháp phân tích tổng hợp Tác giả cũng đã lựa chọn và phân tích một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu liên kết hồi chỉ trong diễn ngôn tiếng Việt
Việc nghiên cứu LKHC trong tiếng Việt còn khiêm tốn Ngoài những tài liệu
có giá trị và có tính tiêu biểu nghiên cứu về liên kết trong tiếng Việt đã nêu trên, hầu hết các tài liệu khác đều chỉ đề cập đến các phép liên kết văn bản với những chứng minh qua mệnh đề, câu, đoạn văn mà chưa đi sâu vào tất cả các phép liên kết Có thể thấy những đề tài đã được nghiên cứu gần đây như:
- Công trình Sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt của Nguyễn Tú Quyên
(2010) Đối tượng nghiên cứu của luận án là các biểu thức sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt được dùng để chỉ cá thể nhân vật được khảo sát qua các tác phẩm văn chương Trên cơ sở đó, luận án tiến hành tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa
và chức năng của các biểu thức sở chỉ;phân tích các cơ sở tạo lập, thay thế và nhận diện các biểu thức đồng sở chỉ, đồng thời tìm ra giá trị của các biểu thức này
- Luận án Các biểu thức chiếu vật chứa "trăng", "hoa", "gió" trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du (so sánh với ca dao và thơ mới) của Đặng Thị Thu Hiền (2015) nghiên
cứu đặc điểm của các biểu thức chiếu vật chứa "trăng", "hoa", "gió" trong Truyện Kiều
trên các bình diện cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác và sự vật được quy chiếu của các biểu thức chiếu vật đó, tiến hành so sánh các đặc điểm này của các biểu thức chiếu vật trong Truyện Kiều với ca dao và Thơ mới nhằm tìm ra giá trị riêng của các biểu thức chiếu vật này đối với việc thể hiện sự tiếp biến và chuyển hóa ý
nghĩa của các biểu tượng trăng, hoa, gió cũng như việc thể hiện các quan niệm về quan
hệ giữa thiên nhiên và con người trong Truyện Kiều
- Luận văn thạc sĩ Liên kết và LKHC trong tiếng Việt của Đinh Thị Hồng Hạnh
(2004) đã mô tả và phân tích vai trò của liên kết hồi chỉ và khứ chỉ trong liên kết nội chỉ với chủ định chứng minh sự liên kết giữa hai hay nhiều yếu tố ngôn ngữ trong văn bản xét theo vị trí và hướng giải thích nghĩa của chúng
Trang 21- Trong công trình Liên kết quy chiếu trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh
của Tống Khánh Ngọc (2006), liên kết quy chiếu được tác giả khảo sát và so sánh ở bình diện cấu tạo, ngữ nghĩa, cú pháp và chức năng trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh Quy chiếu cũng được đề cập đến như một trong những phép liên kết quan trọng gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp
Trong công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Diệp Quang Ban
đã đi sâu nghiên cứu quy chiếu và quy chiếu trong văn bản Ông cho rằng quy chiếu
và liên kết là hai hiện tượng khác nhau về thực chất và có phần nào đó quan hệ với nhau: liên kết sử dụng một phần của sự quy chiếu để làm cơ sở cho sự tồn tại của mình Đối với việc tạo lập và hiểu văn bản, nhất là đối với sự liên kết giữa câu với câu trong văn bản thì kiểu quy chiếu nội hướng giữ vai trò rất quan trọng Đề cập đến “hướng quy chiếu”, Diệp Quang Ban [4] cho rằng, việc xác định hướng quy chiếu được đặt ra với trường hợp quy chiếu nội hướng, tức là sự quy chiếu giữa hai yếu tố ngôn ngữ có quan hệ quy chiếu tồn tại trong cùng một văn bản Một trong hai yếu tố đó là yếu tố có nghĩa cụ thể có tác dụng giải thích nghĩa cho yếu tố có nghĩa chưa cụ thể Theo đó, yếu tố có nghĩa cụ thể được gọi là yếu tố giải thích (hay yếu
tố được tiền giả định), yếu tố có nghĩa chưa cụ thể được gọi là yếu tố được giải thích (hay yếu tố chứa tiền giả định) Hướng quy chiếu được xét theo cách xuất phát
từ yếu tố chưa cụ thể đến yếu tố cụ thể Tùy theo vị trí tương đối giữa hai loại yếu tố này mà có sự phân biệt hai hướng quy chiếu là hồi chiếu (anaphora, còn dịch là hồi chỉ, hồi quy) và khứ chiếu (cataphora, còn dịch là khứ chỉ, dự báo)
Theo ông, hồi chiếu là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được giải thích xuất hiện sau trong văn bản Do vậy, muốn hiểu yếu tố được giải thích, yếu tố có nghĩa chưa cụ thể, thì phải quay ngược trở lại với yếu tố giải thích, yếu tố có nghĩa cụ thể nằm ở phần trước văn bản
Theo Nguyễn Thiện Giáp [27], thuật ngữ quy chiếu (reference) được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế Quy chiếu là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn
Tác giả Cao Xuân Hạo [34] cũng đã nói đến hồi chỉ dựa trên khung đề thuyết
“Ngay khi dùng một đại từ hồi chỉ (thứ danh ngữ có thể coi là có tính xác định cao hơn
Trang 22cả) làm đề, người nói (người viết) có thể không cần biết đến người nghe (người đọc) có
xác định được sở chỉ hay không Trong truyện Chí Phèo, Nam Cao mở đầu bằng câu: (18) “Hắn vừa đi vừa chửi.” [NNL 2]
Vì trước câu này chưa có một câu nào khác, người đọc không thể nào biết hắn
là ai, và dĩ nhiên là người viết cũng biết như thế Lẽ đương nhiên, khi mở đầu truyện
ngắn như vậy, tác giả có chủ ý làm như thể người đọc biết hắn là ai, đó là thủ pháp tự
sự nhằm đưa ngay tức khắc người đọc vào trung tâm của sự việc bằng cách coi người đọc như một người chứng kiến sự việc từ trước Vậy ta có thể nhận thấy rằng cái “xác định” không phải là cái “biết sẵn”
Tác giả Đỗ Hữu Châu [11] cũng đã nói về chiếu vật và các phương thức chiếu vật “Phương thức chiếu vật là phương thức tổ chức các kiểu biểu thức chiếu vật nhờ chúng mà người nói thực hiện sự chiếu vật và người nghe suy ra nghĩa chiếu vật Qua biểu thức chiếu vật, người nói (người viết) thể hiện ý định chiếu vật
và người nghe (người đọc) khi suy nghĩ ý để tìm ra nghĩa chiếu vật là đã thừa nhận
ý định chiếu vật của người nghe Khi quyết định dùng một biểu thức chiếu vật nào
đó, người nói (người viết) tin vào khả năng suy ý chiếu vật của người nghe và khi suy ý chiếu vật, người nghe (người đọc) đã dựa vào niềm tin của mình, vào ý định chiếu vật của người nói (người viết) khi người này dùng biểu thức đó dù cho niềm tin vào khả năng suy ý chiếu vật và vào ý định chiếu không được nói ra một cách hiển ngôn, trừ khi người nói và người nghe được hỏi Vì lẽ đó, cho nên cùng một sự vật, nhưng nói với người này, một người nói có thể dùng một biểu thức chiếu vật hết sức sơ sài, còn nói với một người nghe khác, anh ta phải dùng một biểu thức
chiếu vật phức tạp, kĩ lưỡng hơn
Khi nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược, Phạm Văn Tình cho rằng sở chỉ ở phát ngôn giữ vai trò chủ thể hành động ở các phát ngôn Yếu tố hồi chỉ được chuyển tiếp từ phát ngôn cho trước giữ một chức năng ngữ pháp khác ở cấu trúc được giả định ở yếu tố phát ngôn Đây là sự chuyển tiếp theo logic diễn giải và lần lượt xuất hiện trên trật tự tuyến tính Trong mạch diễn ngôn, không có những tiền đề logic như vậy không thể hình thành một mạch liên kết Các yếu tố hồi chỉ không tường minh trong phát ngôn tỉnh lược bắt buộc chúng ta phải sử dụng quy tắc chiếu vật để xác lập sở chỉ của các phát ngôn và tiếp theo là vị trí nó đảm nhiệm [71, tr 82 - 83]
Trang 231.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.2.1.1 Về khái niệm diễn ngôn
Z.Harris – nhà cấu trúc luận Mỹ đã đặt tên phân tích diễn ngôn là một phần tiếp theo của ngôn ngữ học cấu trúc, ban đầu người ta sử dụng bộ thuật ngữ nghiên cứu câu của cấu trúc luận vào nghiên cứu diễn ngôn (đơn vị trên bậc câu), nên nó có tên gọi “cú pháp văn bản”, nhưng gần 30 năm vẫn chưa có kết quả cuối cùng Vào thập kỷ 70, mối quan hệ về lĩnh vực phân tích diễn ngôn bùng nổ Các nhà ngôn ngữ học của thế hệ chức năng như Dik [99], Givon [109], Halliday [115], Palmer [139] là những người đã có những nghiên cứu cụ thể đầu tiên về lĩnh vực này Các nhà ngôn ngữ mới nhận ra rằng, diễn ngôn là đơn vị thuộc về nghĩa, không thuộc về cấu trúc như đơn vị câu, cho nên không thể dùng bộ thuật ngữ của việc nghiên cứu câu vào việc nghiên cứu diễn ngôn được
Khái niệm diễn ngôn được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nếu các nhà cấu trúc luận quy diễn ngôn cho một loại đơn vị nào đó như câu, đoạn văn, chương sách… thì các nhà chức năng luận lại xem xét khái niệm này một cách tổng thể hơn như một ngôn ngữ hành chức hay tương tác xã hội Diễn ngôn (discourse) trong thực tế thường đi kèm với một khái niệm song hành khác là văn bản (text) Halliday & Hasan [31] thì chỉ đơn giản định nghĩa diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó, đó là “văn bản (hay diễn ngôn) là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp” Cho dù bằng cách này hay cách khác, các định nghĩa về diễn ngôn cũng tập trung vào các khía cạnh chuỗi nhiều câu liên tục và chức năng giao tiếp của ngôn ngữ của văn bản đó Broww & Yule [107] coi: "văn bản là sự thể hiện ngôn từ của một hành động giao tiếp" Ở chỗ khác hai tác giả này lại cho rằng: "văn bản là sự thể hiện của diễn ngôn" Nunan [98] dùng thuật ngữ văn bản để chỉ "sự ghi lại (thể hiện) bằng ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp", còn "diễn ngôn chỉ việc hiểu một sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh" Là người chủ trương phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản giống với Brow & Yule và Nunan, Widdowson [103] đã định nghĩa diễn ngôn như sau: "Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ và sản phẩm của quá trình này là Văn bản"
Trang 24Như vậy, để đưa ra một định nghĩa cho diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đã xuất phát từ phương diện cấu trúc, hình thức hay chức năng Từ phương diện cấu trúc, diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu Từ phương diện chức năng, diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng, trong quá trình giao tiếp, ý nghĩa của ngôn ngữ được dựa trên ngữ cảnh để xác định Theo đó, cùng một đơn vị ngôn ngữ ở những ngữ cảnh khác nhau sẽ có ý nghĩa khác nhau
Với cách nhìn nhận như vậy, rõ ràng là trên một phương diện nhất định, diễn ngôn hay văn bản có thể coi là hai mặt của một sự vật, tuy ngoại diên của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản, bởi lẽ với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học, và tác động của các chiến lược văn hóa (cultural strategy) ở người
sử dụng ngôn ngữ Chúng ta có thể hiểu văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể
Do đã xác định được là một sự kiện hay quá trình giao tiếp, cho nên diễn ngôn không phải chỉ là một đoạn hay một chuỗi các câu bất kỳ, mà nó là toàn bộ sự kiện giao tiếp có tính mục đích, thống nhất và có mạch lạc được ghi lại bằng toàn bộ văn bản Chính vì vậy, chúng ta có thể quan niệm diễn đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể [41]
Diễn ngôn là tổ chức, là chuỗi do các đơn vị của ngôn ngữ kết hợp với nhau theo các quy tắc kết học, vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của giao tiếp Qua các diễn ngôn mà người tham gia giao tiếp tác động lẫn nhau [11]
Diễn ngôn có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau
* Cách phân loại theo loại hình văn bản như: phân loại theo cấu trúc nội tại của văn bản; phân loại theo khuôn hình văn bản; phân loại theo chức năng của văn bản; phân loại theo phong cách học
* Cách phân loại theo ngữ vực theo quan niệm Nguyễn Hòa cho rằng có thể dùng ngữ vực theo quan niệm của Halliday để phân loại diễn ngôn Khi phân định các diễn ngôn tiếng Anh, Halliday đã phân loại thành các ngữ vực và các tiểu ngữ vực như văn chương, chính luận, khoa học, báo chí và hội thoại thường ngày
Trang 25Ngữ vực văn chương gồm có các tiểu ngữ vực như: văn xuôi, thơ, văn học dân gian các tiểu ngữ vực có các thể loại cụ thể như: truyện ngắn, tiểu thuyết văn học, tiểu thuyết lịch sử thơ ca,
Luận án sử dụng cách phân loại diễn ngôn theo ngữ vực, chọn đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn, tiểu thuyết văn học thuộc ngữ vực văn chương
1.2.1.2 Các đặc trưng của diễn ngôn
Là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn phải có tính chủ đề từ chủ đề
bộ phận đến chủ đề chung Diễn ngôn cũng phải có tính mạch lạc Để tạo mạch lạc, diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn có
sự tổ chức một cách hợp lí của các yếu tố quan yếu của diễn ngôn (các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ; các yếu tố văn hóa; yếu
Khi tìm hiểu đặc trưng của văn bản/ diễn ngôn, Diệp Quang Ban đã chỉ rõ các tác giả sử dụng tên gọi văn bản và diễn ngôn không thống nhất và không phân biệt với nhau một cách chặt chẽ Theo ông, ở mặt thực hành, văn bản / diễn ngôn có các đặc trưng sau:
a Mục đích sử dụng của văn bản / diễn ngôn có quan hệ với đề tài - chủ đề, lĩnh vực
xã hội của việc sử dụng văn bản, phương tiện truyền tải văn bản (nói hay viết) Mục đích sử dụng chi phối cách cấu tạo văn bản, phản ánh cấu trúc của văn bản
b Yếu tố nội dung: Văn bản có đề tài - chủ đề xác định, giúp phân biệt nó với chuỗi
câu nối tiếp tình cờ đứng cạnh nhau (gọi là phi văn bản), mặc dù có thể có liên kết
bằng các phương tiện hình thức, nhưng không tạo ra được một đề tài thống nhất
c Yếu tố cấu trúc: Văn bản có cấu trúc về hình thức và về nội dung phù hợp với các lĩnh vực hoạt động xã hội sử dụng ngôn ngữ
Trang 26d Mạch lạc và liên kết: Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong
đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của văn bản Mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết, cũng có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết Mạch lạc và liên kết có quan hệ với mạng mạch (texture) của diễn ngôn
e Yếu tố chỉ lượng: văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của nhiều câu, nhờ đó liên kết và mạch lạc mới được thể hiện
f Yếu tố định biên: Văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầu ra), nhờ đó có tính kết thúc tương đối
Mỗi đặc trưng nêu trên là một dấu hiệu có tác dụng nhất định góp phần làm cho một khúc đoạn lời nói trở thành một văn bản Trong số các đặc trưng nêu trên thì mạch lạc được coi là đặc trưng quyết định đối với việc làm cho một khúc đoạn lời nói là một văn bản [6, tr 218 - 222]
"Mạch lạc là sự kết nối có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, đượ trình bày trong qúa trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết ), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là
sự liên kết câu với câu" [6, tr 297] Trong định nghĩa này, mạch lạc được xác định qua các đặc trưng về mặt nghĩa, về mặt chức năng của nó đối với việc hình thành và
sử dụng văn bản, đồng thời cũng có sự phân biệt mạch lạc với liên kết
Mạch lạc là "sợi dây nối" nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản, kể cả trong một câu, nối từ ngữ trong văn bản với tình huống hữu quan Biểu hiện của mạch lạc được nêu trong các phạm vi cụ thể sau đây:
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu
- Mạch lạc biểu hiện trong trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu
có quan hệ nghĩa với nhau
- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu hay các mệnh đề
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong văn bản với tình huống bên ngoài văn bản
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận [6, tr 298 - 299]
Trang 27Trừ một số ít văn bản chỉ có một từ, một ngữ hay một câu ra, phần lớn các loại
văn bản là tập hợp của nhiều câu Tuy nhiên, văn bản không đơn giản là phép cộng
của nhiều câu Halliday & Hassan có quan điểm cho rằng yếu tố quan trọng nhất
quyết định một tập hợp câu có tạo nên hay không tạo nên văn bản là tùy thuộc vào
quan hệ liên kết bên trong mỗi câu và giữa các câu với nhau Điều đó tạo ra tính văn
bản (texture) mà hai ông cho là cái đặc tính "là một văn bản" (being a text) và được
giải thích rõ hơn: đó là sự liên kết đặc thù bên trong văn bản, nó không giống với
cấu trúc của câu Quan hệ liên kết trong văn bản được xác lập "trong trường hợp
việc giải thuyết một yếu tố nào đó trong diễn ngôn lại tùy thuộc vào việc giải quyết
một yếu tố khác Yếu tố này giả định yếu tố kia ở chỗ nó không thể giải mã một
cách hữu hiệu ngoại trừ trông dựa vào nó" [107, tr 296] Halliday và Hasan [114]
xác định, liên kết là một quan hệ ngữ nghĩa có được khi việc giải thích nghĩa của
một yếu tố ngôn ngữ nào đó trong văn bản phụ thuộc vào nghĩa của một yếu tố
ngôn ngữ khác trong cùng văn bản Yếu tố ngôn ngữ này giả định yếu tố ngôn ngữ
kia và chỉ có thể nhờ yếu tố ngôn ngữ kia ta mới có thể hiểu được yếu tố ngôn ngữ
này trong đoạn văn đó Ví dụ:
(19) Peel and slice six potates Put them in cold salted water [106]
[Gọt và thái sáu củ khoai tây Cho chúng vào nước lạnh có muối.]
Đại từ nhân xưng them ở câu thứ hai được hiểu là six potatoes, chứ không
phải là một yếu tố ngôn ngữ nào khác Chức năng trùng lặp này của them đã liên kết
hai câu lại với nhau, cho nên chúng ta có thể giải thuyết chúng như một tổng thể;
hai câu này đã tạo nên một văn bản Mối quan hệ có tính hồi chỉ này (anaphora)
giúp củng cố niềm tin của người tiếp nhận văn bản phải rằng hai câu này không
phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, mà là hai câu được đặt liền kề nhau có
chủ đích Chính mối quan hệ này sẽ tạo nên tính văn bản cho hai câu
Halliday & Hassan đã đưa ra một hệ thống các loại hình quan hệ liên kết
được thiết lập một cách hình thức trong văn bản, cung cấp các "sợi dây" nối kết,
ràng buộc các câu lại với nhau Đó là các quan hệ tiếp nối, thay thế, quy chiếu, tỉnh
lược và quan hệ từ vựng, tương ứng với các quan hệ đó là các phương thức liên kết
Trang 28Tiếp thu quan niệm về liên kết của Halliday & Hassan vào nghiên cứu liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã định nghĩa: "Liên kết, xét tổng thể, là một bộ (tập hợp) các hệ thống ngữ pháp - từ vựng phát triển một cách chuyên biệt thành một nguồn lực có thể vượt qua các biên giới của câu, giúp cho các câu trở thành một chỉnh thể
Liên kết, xét cụ thể, là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau Nói rõ hơn, liên kết
là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở
đó hai câu (hai mệnh đề) chứa chúng liên kết được với nhau" [6, tr 347] Hai định nghĩa này về liên kết được xây dựng dựa vào khả năng vượt qua biên giới câu của
sự liên kết, để giúp cho một chuỗi câu trở thành một thể hoàn chỉnh toàn vẹn, cụ thể
là bằng cách giải thích nghĩa cho nhau giữa hai yếu tố nằm trong hai câu khác nhau, thường là xét hai câu kề cận nhau Quan niệm về liên kết nêu trên không chỉ là quan niệm của Halliday và Diệp Quang Ban mà hầu hết các nhà phân tích văn bản đều có chung quan niệm như vậy Họ thường chú trọng vào sự nối kết liền mạch của hai câu kế cận nhau bằng cách chú ý đi tìm những yếu tố ngôn ngữ (dấu hiệu hình thức) thể hiện sự liên kết.Như vậy, liên kết tuy không phải là duy nhất nhưng là yếu tố vô cùng quan trọng làm nên văn bản Liên kết là các mối quan hệ có tính hình thức nổi
rõ trên bề mặt văn bản Hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận liên kết là một trong những thuộc tính quan trọng của văn bản, giữ vai trò nối kết câu trong văn bản lại với nhau
1.2.1.3 Phân tích diễn ngôn
Theo định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp [29], phân tích diễn ngôn (PTDN)
(discourse analysis) là một cách tiếp cận việc nghiên cứu diễn ngôn, nó dựa trên khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống Phân tích diễn ngôn (PTDN) có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp các khái niệm và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc với bất cứ nhà nghiên cứu ngữ pháp nào và cố gắng nhận ra xem những khái niệm đó cần thiết trong sự cấu trúc diễn ngôn như thế nào PTDN cố gắng mở rộng sự phân tích cấu trúc câu đến những đơn vị lớn hơn câu, nó thường bắt đầu bằng sự cố gắng nhận diện những đơn vị tối thiểu của diễn ngôn, sau đó, tìm kiếm
Trang 29những quy luật chi phối những đơn vị tối thiểu đó cùng nhau kết hợp thành chuỗi để tạo nên diễn ngôn như thế nào
Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Diệp Quang Ban [5], Phân tích diễn
ngôn (discourse analysis) là cách tiếp cận thuộc phương pháp luận (chưa được đồng
thuận xác nhận như một lý thuyết) đối với việc phân tích ngôn ngữ trên bậc câu, bao gồm cả các tiêu chuẩn như "liên kết" (cohesion – gồm hồi chiếu, thay thế), "mạch lạc" (coherence), "mạng mạch" (texture) v.v, có tính đến mối quan hệ với tình huống bên ngoài và các quy ước xã hội ảnh hưởng đến giao tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ Diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng cho nên PTDN liên quan tới hoạt động ngôn ngữ Diễn ngôn là khái niệm, còn PTDN là phương pháp Khi PTDN, các nhà phân tích tạo ra một kịch bản ngôn từ, thông qua đó để hiểu được bản chất và chức năng của diễn ngôn Vì thế, PTDN nhấn mạnh đến bình diện sử dụng ngôn ngữ nên
nó liên quan đến ngữ dụng học, bình diện liên giao và liên nhân
Từ việc xác định khái niệm diễn ngôn, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các nội dung của phương pháp PTDN Theo Nunan [98], Brown & Yule [30] những nội
dung chính của phương pháp PTDN là:
(i) PTDN là miêu tả cách khám phá các cơ chế cấu trúc mà người viết/ người nói xử lý khi phát ngôn; tập trung vào kiến thức về ngôn ngữ vượt ra khỏi phạm vi
từ, ngữ, cú và câu cần thiết cho cuộc giao tiếp thành công
(ii) PTDN là làm rõ những gì chúng ta đọc được trong các văn bản, hiểu được những gì người phát ngôn nói, nhận biết được những chuỗi câu liên kết và mạch lạc, cũng có thể tham gia vào các cuộc hội thoại một cách thành công
(iii) PTDN là phân tích chức năng ngôn ngữ và cách nó chi phối các quan niệm
và nhận thức, cách nó phân phối quyền lực cho những người có ít quyền hơn
(iv) PTDN là nghiên cứu những biểu thức ngôn ngữ và quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và bối cảnh văn hóa - xã hội; là tìm hiểu cách mà ngôn ngữ thể hiện những cách nhìn và cách hiểu khác nhau về thế giới PTDN còn xem xét phương thức mà ngôn ngữ bị chi phối bởi mối quan hệ giữa các thành viên cũng như
xem xét tác động của việc sử dụng ngữ lên các mối quan hệ xã hội
Như vây, PTDN vừa là một khái niệm, vừa là một phương pháp có bản chất và đặc trưng PTDN riêng của nó Diễn ngôn liên hệ với nhiều yếu tố cần phải xem xét
Trang 30Trong phạm vi của luận án, PTDN được xem xét từ phương diện chức năng
nó liên quan tới mối quan hệ giữa ngôn và ngữ cảnh sử dụng, với hình thức biểu hiện
là viết (thể hiện qua văn bản) Theo đó, PTDN được nghiên cứu ở hai phương diện:
Chức năng thông tin: Cung cấp thông tin về sự việc hướng tới những đích cụ thể Chức năng thông tin có liên quan trực tiếp đến cách tổ chức diễn ngôn như: cách dùng từ ngữ, cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp, các kiểu liên kết mạch lạc, v.v để chuyển tải nội dung của diễn ngôn một cách hiệu quả
Chức năng liên nhân: Quan hệ liên nhân là quan hệ có tính chức năng nhưng hiện diện trong đó cấu trúc ngôn ngữ Nó góp phần tạo ra tiềm năng ý nghĩa ngôn ngữ, cái được hiện thực hóa trong các cấu trúc ngôn ngữ Theo Halliday, chức năng liên nhân là chức năng mang tính xã hội rõ nhất Con người sử dụng ngôn ngữ như thế nào và ngôn ngữ làm thế nào để thực hiện chức năng truyền tải thông tin Chức năng liên nhân của ngôn ngữ là chức năng tham dự của nó vào các dịch vụ trong đời sống của con người Thông qua ngôn ngữ, người nói làm cho mình tham dự vào trong một ngữ cảnh tình huống nào đó, để biểu đạt thái độ và suy đoán của họ, đồng thời dự tính gây ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người khác Chức năng này còn biểu đạt vai quan hệ với tình huống có liên quan bao gồm vai quan hệ giao tiếp tức là quan
hệ giữa các vai mà người nói, người nghe sắm vai trong quá trình giao tiếp Chức năng liên nhân đặc trưng cho cả người nói, người sử dụng ngôn ngữ với ngữ cảnh, với việc tăng cường lực ngôn trung Ngôn ngữ có nhiệm vụ là phải làm sao cho người nói, người nghe trở nên gần gũi với nhau để hiểu được thông tin và chia sẻ thông tin
1.2.2 Liên kết và quy chiếu trong diễn ngôn
1.2.2.1 Liên kết và các phương thức liên kết
Liên kết trong văn bản được thực hiện nhờ các phương tiện liên kết và các phương thức liên kết (phép liên kết)
Phương tiện liên kết là những yếu tố hình thức cụ thể của ngôn ngữ tham gia vào việc tạo ra sự kết nối giữa các câu trong văn bản Trong tiếng Anh và tiếng Việt, liên kết được hình thành không chỉ qua việc sử dụng các phương tiện ngữ pháp như tỉnh lược, quy chiếu, từ nối, mà còn qua việc sử dụng từ vựng như lặp từ vựng, liên tưởng Ngoài ra, việc sử dụng trật tự từ, ngữ điệu… cũng giúp kết nối kết câu Tuy nhiên, quá trình hình thành liên kết không chỉ phụ thuộc vào các phương
Trang 31tiện liên kết vừa nêu trên mà còn có sự hỗ trợ của các yếu tố ngôn ngữ chung quanh Các phương tiện này là những hệ thống con trong hệ thống từ vựng hay hệ thống
ngữ pháp của một ngôn ngữ xác định Chẳng hạn, các từ đây, đấy, đó, thế, vậy, nó,
hắn, chúng nó, chúng, họ, trong tiếng Việt làm thành một hệ thống con do chúng
có chức năng hồi chỉ, khứ chỉ có tác dụng tạo tính liên kết trong văn bản Các từ vì,
nếu, tuy, để, mà, nhưng, trong tiếng Việt là một hệ thống con các quan hệ từ có
chức năng kết nối các từ ngữ, các câu Các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa, bao nghĩa, cũng là những hệ thống con trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ và cũng có tác dụng liên kết văn bản theo phép liên kết từ vựng Hoạt động cụ thể của từng lớp phương tiện liên kết làm thành phương thức liên kết, hay phép liên kết
Liên kết trong văn bản là hiện tượng chung cho các ngôn ngữ, nhưng các phương tiện ngôn ngữ dùng để liên kết có thể khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau Khi phân tích tính liên kết của văn bản, nhà nghiên cứu thường phải xác định xem các phát ngôn có liên kết với nhau theo những kết nối nào và thuộc phép liên kết nào Khái niệm về sự kết nối là khái niệm quan trọng nhất khi nói về tính chất văn bản Sự liên kết có thể diễn ra giữa câu với câu hoặc giữa đoạn văn này với đoạn văn khác trong cùng một văn bản Tuy nhiên, về thực chất, sự liên kết chỉ diễn ra giữa các câu có liên quan với nhau về nghĩa, và những câu này có thể đứng gần nhau, hoặc đứng trong các đoạn văn khác nhau trong những phần văn bản cụ thể lớn hơn
"Phương thức liên kết (phép liên kết) là cách thức sử dụng các phương tiện liên kết có đặc tính chung vào việc liên kết câu với câu" [4, tr 351] Các phương tiện dùng trong một phép liên kết đều có cùng một đặc tính chung giúp chúng tập hợp lại với nhau trong một hệ thống con Các phương tiện liên kết thường khác nhau, những phương tiện thuộc cùng một lớp từ thì có những đặc tính chung của cả
lớp như đặc tính thay thế, hồi chỉ của các đại từ: hắn, y, gã, nó, chúng, đây, đó, đấy,
thế, vậy, ; đặc tính kết nối của các quan hệ từ: và, còn, nên, nếu, nhưng, vì, Hoạt
động cụ thể một cách có quy luật của từng lớp các phương tiện liên kết làm thành phương thức liên kết Chẳng hạn, việc dùng các quan hệ từ và các từ ngữ có chức năng tương tự với chúng để liên kết câu được gọi là phép nối; dùng các đại từ thay
Trang 32thế hoặc hồi chỉ các yếu tố ngôn ngữ khác trong văn bản có tác dụng liên kết câu được gọi là phép thế đại từ hay quy chiếu
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về liên kết văn bản thường dựa trên Hệ thống
liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm và Cohesion in English (Hệ thống liên kết trong tiếng Anh) (1976) của M.A.K Halliday & R Hassan
Trần Ngọc Thêm phân biệt rõ liên kết hình thức và liên kết nội dung trên
cơ sở một cách nhìn riêng Thực ra, cái gọi là liên kết hình thức là tên gọi quy ước để chỉ các yếu tố của ngôn ngữ được dùng để diễn đạt các quan hệ nghĩa,
có chức năng liên kết và được phân biệt với liên kết nội dung (gồm liên kết chủ
đề và liên kết lô gic) Tác giả cho rằng: "Giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: Liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung" [68, 24] Tác giả đã chia các phương thức liên kết thành 3 nhóm lớn:
- Các phương thức liên kết chung dùng chung được cho cả ba loại câu (phát ngôn): câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa, ngữ trực thuộc
- Các phương thức liên kết hợp nghĩa dùng cho loại câu hợp nghĩa và ngữ trực thuộc
- Các phương thức liên kết trực thuộc chỉ dùng được cho loại ngữ trực thuộc
Bảng 1.1 Hệ thống các phương thức liên kết của Trần Ngọc Thêm [4, tr 536]
Câu tự nghĩa và ptlk được
sử dụng
Câu hợp nghĩa và ptlk được sử dụng
Ngữ trực thuộc và ptlk được sử dụng
(3) Thế đồng nghĩa (3) Thế đồng nghĩa (3) Thế đồng nghĩa
(6) Thế đại từ (6) Thế đại từ (7) Tỉnh lược yếu (7) Tỉnh lược yếu
(9) Tỉnh lược mạnh (10) Nối chặt
Trang 33Có thể nhận thấy rằng, khái niệm liên kết hình thức của Trần Ngọc Thêm không đồng nhất với khái niệm liên kết của các nhà ngôn ngữ học chức năng Chẳng han, Halliday & Hassan cho rằng quan hệ ngữ nghĩa là một phần không thể thiếu được của quan hệ liên kết Khái niệm liên kết nội dung (gồm liên kết chủ đề và liên kết lô gic) của Trần Ngọc Thêm gần với khái niệm mạch lạc hiện nay Cả hai khái niệm này đều nhấn mạnh tính thống nhất và tính lô gic của các mối quan hệ nằm ẩn dưới bề mặt văn bản Cũng cần nói thêm là trong hệ thống các phương thức liên kết văn bản của Trần Ngọc thêm không có phép quy chiếu, nhưng nếu chiếu theo cách phân loại các phương thức liên kết trong tiếng Việt của tác giả thì phép thế đại từ chính là phép quy chiếu, vì phép quy chiếu là một phương thức liên kết hình thức luôn vận hành trên nền tảng liên kết nội dung (liên kết các quan hệ ngữ nghĩa)
Quan niệm về liên kết, Halliday & Hassan cho rằng trong phạm vi nối kết câu với câu trong văn bản, cái gọi là liên kết được dành cho những phương tiện hình thức làm thành những hệ thống con xác định bên trong một hệ thống ngôn ngữ Theo các tác giả này, "liên kết chỉ do các yếu tố ngôn ngữ làm thành hệ thống con - các đối hệ thực hiện, không tính sự liên kết do các quan hệ cấu trúc của các yếu tố ngôn ngữ tạo ra, với cách hiểu cho rằng cấu trúc tự thân đã là liên kết" [4, tr.284] Halliday & Hassan chỉ đề cập đến các yếu tố hình thức có chức năng, tác dụng tạo
ra sự liên kết, vì vậy không có sự phân biệt liên kết hình thức với liên kết nội dung
Sự liên kết nội dung có quan hệ đến ý nghĩa, lô gic, tâm lí học và dụng học ngôn ngữ đã được các tác giả này đưa vào phần nghiên cứu mạch lạc
Trong hệ thống của Halliday, các phương tiện liên kết là những hệ thống con trong hệ thống từ vựng (hoặc đã được ngữ pháp hóa) của một ngôn ngữ, còn các phương thức liên kết được phân ra thành 2 loại: liên kết ngữ pháp và liên kết từ vựng Liên kết ngữ pháp và liên kết ngữ pháp - từ vựng gồm: phép quy chiếu, phép nối, phép thế và phép tỉnh lược Liên kết từ vựng gồm: phép lặp từ ngữ (repetition); phép dùng từ đồng nghĩa (synonymy), gần nghĩa (như từ ngữ thượng danh - superodinates, từ ngữ trong quan hệ cấp loại - hyponymy và từ ngữ trái nghĩa - antonymy); phối hợp từ ngữ [4, tr.352]
Trang 34Bảng 1.2 Hệ thống các phương thức liên kết của Halliday & Hassan [4, tr 352]
(1) Phép nối (conjunction; chỉ ra tính liên tục) Ngữ pháp
ngữ pháp – từ vựng
(2) Phép quy chiếu (reference; tạo nối kết giữa các yếu tố)
(3) Phép tỉnh lược và phép thế (ellipsis & substitution; chỉ ra tính
liên tục)
(4) Phép liên kết từ vựng (lexical cohesion; lựa chọn các từ ngữ),
gồm ba phép nhỏ:
- Lặp từ ngữ (repetition)
- Dùng từ ngữ đồng nghĩa (synonymy), gần nghĩa (như từ ngữ
thượng danh – superordinates, từ ngữ trong quan hệ cấp loại –
hyponymy), và từ ngữ trái nghĩa (antonymy)
- Phối hợp từ ngữ (collocation)
Từ vựng
1.2.2.2 Quy chiếu và các phương thức quy chiếu
Bách khoa thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, tập 7 đã định nghĩa quy chiếu
như sau: "Quy chiếu là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa các phát ngôn và
các đối tượng của chúng trong giao tiếp trong thế giới Giống với cách mà các kí hiệu trên bản đồ quy chiếu đến các thị trấn và các tuyến đường khác nhau mà chúng thay thế, theo đó, các phát ngôn quy chiếu đến các cá thể, các sự kiện, các thời điểm và thời điểm khác nhau về cái mà chúng đang được sử dụng để giao tiếp
Do đó, quan hệ quy chiếu neo các phát ngôn vào các đối tượng của chúng trong giao tiếp Các thành phần khác nhau của phát ngôn có thể được sử dụng để chỉ ra các loại khác nhau của sự vật được chiếu trong thế giới "[dẫn theo 63] Georgia M
Green nêu ra khái niệm quy chiếu như sau: "Thuật ngữ quy chiếu được dùng để chỉ cái cách nhờ chúng mà người ta phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hi vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực tế nào, thuộc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến" [7, tr.193] Theo đó, quy chiếu gắn với sự kiện lời nói, cũng tức là gắn với ngữ cảnh (cụ thể là với hiện thực ngoài ngôn ngữ) mà trong đó cái thực thể nào được quy chiếu đến tồn tại như một thành tố bắt buộc dù hiện hữu hay không hiện hữu Theo
Trang 35quan điểm ngữ dụng học, quy chiếu là quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ được sử dụng với đối tượng/ thực thể (entity) (vật chất hoặc tinh thần, có thật hoặc tưởng tượng hay hư cấu, số ít hay một tập hợp, ) trong một thế giới khả hữu (possible world) mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại Do vậy, quy chiếu thể hiện mối quan hệ giữa 4 yếu tố trong hoạt động giao tiếp: người nói / viết
- biểu thức ngôn ngữ - "vật" trong thế giới khách quan - người nghe / đọc
Biểu thức ngôn ngữ chính là dạng tồn tại của của sự diễn đạt bằng ngôn ngữ (linguistic expression) của con người Khi biểu thức ngôn ngữ này được phát ngôn
sử dụng để chỉ ra một thực thể cụ thể trong một ngữ cảnh cụ thể nào đó của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tức là nó thực hiện chức năng chiếu vật) thì biểu thức đó là biểu thức ngôn ngữ quy chiếu, hay gọi một cách ngắn gọn là biểu thức quy chiếu
Trong hệ thống ngôn ngữ, từ là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa biểu vật Đó là ý nghĩa biểu thị sự vật, người, hành động, tính chất nhưng ở mức khái quát, rất chung chưa được cụ thể hóa Khi từ đi vào hoạt động lời nói, ý nghĩa đó phải ứng với một
sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất cụ thể, đó là chiếu vật hay còn gọi là vật quy chiếu “Sự quy chiếu như là 1 hành động trong đó một người nói hay viết sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho người nghe hay người đọc có thể nhận diện được cái gì đó” [23, tr.25] Tuy nhiên, quy chiếu không phải là việc làm tự thân của ngôn ngữ mà là của con người G Yule khẳng định rằng: "Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ - ở đây là biểu thức quy chiếu - tự chúng không quy chiếu được bất cứ một cái gì cả Chỉ con người mới tạo ra quy chiếu" [30, tr.192]
Nunan [98] cũng cho rằng cách thức trong một văn cảnh gắn kết với nhau từ quan điểm phép quy chiếu đó là hành động sử dụng biểu ngữ quy chiếu để tham chiếu đối tượng quy chiếu trong ngữ cảnh Chúng ta thấy rằng khi không có sự đề cập trước đó đến đối tượng quy chiếu trong một văn cảnh, đó gọi là ngoại chiếu, tức
là phụ thuộc vào ngữ cảnh ngoài văn cảnh về ngữ nghĩa Khi một biểu ngữ tham chiếu liên kết với một biểu ngữ tham chiếu khác trong cùng một văn cảnh, chúng ta gọi đó là hình thức liên kết với việc đề cập trước đó của đối tượng quy chiếu trong
Trang 36một văn cảnh Đó chính là một phần nội dung của liên kết ngữ pháp; đây là cách
thức kết nối văn cảnh với nhau Ví dụ:
(20) We have been established by an Act of Parliament as an independent
body to eliminate discrimination against disabled people and to secure equal
opportunities for them To achieve this, we have set ourselves the goal of: „A
society where all disabled people can participate fully as equal citizens‟ [98,
tr.22]
[Chúng tôi đã được thành lập theo Đạo luật của quốc hội thành một tổ chức độc
lập để loại bỏ phân biệt đối xử với người khuyết tật và để đảm bảo cơ hội bình đẳng
cho họ Để đạt được điều này, chúng tôi phải tự đặt mục tiêu “Một xã hội mà ở đó
người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ như các công dân bình đẳng”]
Trong ví dụ trên đại từ nhân xưng “them” (họ) tham chiếu đến cùng một đối
tượng LKHC là “disabled people” (người khuyết tật) Hình thức liên kết ngữ pháp
cũng được thể hiện qua cụm từ “To achieve this” (Để đạt được điều này), trong đó
đại từ chỉ thị “this” (điều này) liên kết với mục đích của việc loại bỏ “discrimination
against disabled people‟ (phân biệt đối xử với người tàn tật) và „securing equal
opportunities for them‟ (đảm bảo cơ hội bình đẳng cho họ) Sử dụng phép nội chiếu
tránh được việc nhắc lại không cần thiết Dưới đây là ví dụ thể hiện khi không sử
dụng phép nội chiếu Ví dụ:
(21) We have been established by an Act of Parliament as an independent
body to eliminate discrimination against disabled people and to secure equal
opportunities for disabled people To achieve the aim of eliminating
discrimination against disabled people and securing equal opportunities for
disabled people, we have set ourselves the goal of: „A society where all
disabled people can participate fully as equal citizens [98, tr.22]
[Chúng tôi đã được thành lập theo Đạo luật của quốc hội thành một tổ chức
độc lập để loại bỏ phân biệt đối xử với người khuyết tật và để đảm bảo cơ
hội bình đẳng cho người khuyết tật Để đạt được mục đích loại bỏ phân biệt
đối xử với người khuyết tật và để đảm bảo cơ hội bình đẳng cho người
Trang 37khuyết tật, chúng tôi phải tự đặt mục tiêu “Một xã hội mà ở đó người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ như các công dân bình đẳng”]
Chú ý rằng việc lặp lại như trên sẽ làm cho ngữ cảnh trở nên quá rõ ràng, khi đọc lên như thể là tác giả đang giả định rằng người đọc sẽ không hiểu nếu tất cả câu
từ được viết ra đầy đủ Việc lặp lại đưa lại nhiều thông tin hơn cần thiết bởi vì tất cả người đọc có thể kết nối giữa đại từ và cụm từ liên kết với nhau nếu trí nhớ ngắn hạn của họ hoàn toàn bình thường
Có hai loại nội chiếu Trong ví dụ (20) đại từ “them” (họ) và “this” (điều này)
kết nối sau đó với nội dung đã xuất hiện trước đó trong một văn cảnh trước Đây được gọi là hồi chỉ và là hình thức phổ biến nhất trong hai loại nội chiếu Một loại nội chiếu khác là khứ chỉ lại là hình thức ngược lại, đại từ xuất hiện trước đối tượng quy chiếu trong văn cảnh xảy ra sau đó Điều này được thể hiện trong ví dụ tiếp theo, một loại câu
mở đầu điển hình của các cuốn sách Ví dụ :
(22) Students (not unlike yourselves) compelled to buy paperback copies of
his novels –notably the first, Travel Light, though there has lately been some academic interest in his more surreal and „existential‟ and perhaps even
„anarchistic‟ second novel, Brother Pig – or encountering some essay from When the Saints is a shiny heavy anthology of mid-century literature costing
$12.50, imagine that Henry Bech, like thousands less famous than he, is rich
He is not [98, tr.23]
[Sinh viên (cũng không khác với chính bạn) đã bị lôi cuốn khi mua bản bìa mềm các tiểu thuyết của ông, phần lớn là quyển đầu tiên, Travel Light mặc
dù sau đó có thêm nhiều mối quan tâm về học thuật mang tính kỳ quái hơn,
“hiện sinh” hơn và thậm chí là theo chủ nghĩa “vô chính phủ” trong cuốn tiểu thuyết thứ hai, Brother Pig - hoặc gặp một số bài viết từ tác phẩm When the Saints là một tuyển tập nổi bật của văn học giữa thế kỉ này với giá 12,50$, tưởng tượng rằng Henry Bech, như hàng nghìn người ít nổi tiếng hơn ống ấy lại giàu có Ông ấy không giàu có]
Trong ví dụ trên, ta thấy „copies of his novels‟ (các bản tiểu thuyết của ông) trước khi chúng ta biết “he” (ông ấy) là ai Chỉ một vài dòng văn sau đó là ta có thể
Trang 38biết rằng tính từ sở hữu “his” (của ông ấy) kết nối tiếp theo với danh từ riêng
“Henry Bech” trong văn cảnh xuất hiện sau đó Có thể thấy hồi chỉ là tham chiếu
ngược lại còn khứ chỉ là tham chiếu kế tiếp Đây chính là văn phong để tạo hồi hộp
cho người đọc về đối tượng đang được nói đến Thông thường, danh từ mà đại từ kết
nối kế tiếp sẽ xuất hiện ngay sau đó Ví dụ:
(23) An actor with whom she was rehearing caught Coral Browne‟s fancy
Informed by a colleague that she was most unlikely to get anywhere with that
particular man, she bet the colleague a pound that she would Next morning,
the colleague who had accepted her bet asked her, loudly and meaningfully,
in the presence of the actor, „Well, dear, do you own me anything?‟ Browne
replied, disappointedly: „Seven and six‟ [98, tr.23]
[Một diễn viên mà cô ấy đang diễn tập cùng đã làm cho Coral Browne cảm
thấy thích thú Được thông tin từ người đồng nghiệp rằng cô ấy sẽ gần như
không thể đi đến đâu với người đàn ông đặc biệt đó, cô đã đánh cược với
người đồng nghiệp 1 bảng là cô ấy sẽ làm được Buổi sáng ngày kế tiếp,
người đồng nghiệp đã chấp nhận vụ đánh cược của cô đã hỏi cô rất lớn tiếng
và đầy ẩn ý khi có mặt của nam diễn viên đó: “Ồ bạn thân yêu, bạn có nợ tôi
gì không?” Browne đáp trả đầy thất vọng “Bảy và sáu]
Trong ví dụ trên “she” (cô ấy) liên kết với “Coral Browne” Bởi vì bảy
shilling và sáu xu ít hơn nhiều so với một bảng, chúng ta phải giả thiết rằng cô ấy đã
không thành công Có thể tóm gọn phép quy chiếu theo sơ đồ sau để dễ nắm bắt
hơn như sau:
Quy chiếu
Ngoại chiếu Nội chiếu
Hồi chỉ Khứ chỉ
Trang 39Có trường hợp khi cụm danh từ (có thể là danh từ hoặc đại từ) không được liên kết cụ thể với một cụm danh từ khác mà một cụm dành từ được liên kết với một thực thể được liên hợp với một cụm danh từ khác Đây được gọi là hình thức nội
chiếu liên hợp Dưới đây là một ví dụ từ bài viết có tiêu đề “Pay attention, please‟
(Xin hãy chú ý) từ Tờ báo quốc gia Anh, the Guardian:
(24) Students are almost twice as likely to get top degree grades if they are
taught by good university teachers, new research shows The study suggests that the wide differences in numbers of firsts and upper second class degree awarded at universities comes down in large part to the work of inspirational lecturers, not just extra spending on students for books, libraries or computers [98, tr.23]
[Một nghiên cứu mới cho thấy có vẻ như sinh viên nhận bằng giỏi sẽ tăng gấp
đôi khi họ được dạy dỗ bởi những giáo viên tốt của trường đại học Nghiên cứu này cũng cho rằng sự khác biệt lớn về số lượng bằng loại cấp độ danh dự đầu tiên và thứ hai loại cấp cao được trao tại các đại học đã giảm xuống phần lớn
là nhờ vào hoạt động của các giảng viên có nhiệt huyết chứ không chỉ nhờ vào phần chi tiêu cho sinh viên về sách sở, thư viện hay máy tính.]
Trong ví dụ trên, người đọc có thể nội suy „lecturers‟ (các giảng viên),
„students‟ (các sinh viên) và „books, libraries and computers‟ (sách vở, thư viện và
máy tính) đang được nói về điều gì bằng cách lấy thông tin từ tiên đề „universities‟
(các trường đại học) Nội chiếu liên hợp là kết hợp của cả nội chiếu và ngoại chiếu bởi vì nó phụ thuộc một phần vào nội dung xuất hiện trước hoặc sau trong cùng một văn cảnh và một phần vào nền tảng kiến thức về văn hóa và cá nhân trong trường
hợp này liên kết với „universities‟ (các trường đại học)
LKHC bằng ngôn ngữ là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn Trong ngôn ngữ, mỗi thực từ đều có nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái, những từ bản thân mình, từ ngữ không có nghĩa chiếu vật chỉ có con người mới sử dụng từ để thực hiện hành vi hồi chỉ Vì thế, chỉ trong câu nói cụ thể thì từ mới có hồi chỉ Bằng hành vi hồi chỉ, người nói đưa sự vật hiện tượng mình định đề cập tới vào diễn ngôn để biểu đạt chúng Không có các biểu thức quy chiếu
Trang 40hồi chỉ thì diễn ngôn sẽ trở nên mông lung, không biết bấu víu vào đâu để vị ngữ hóa nó, để miêu tả nó hay bằng thái độ về nó
Căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ dùng ở vị trí yếu tố có nghĩa chưa cụ thể, các nhà nghiên cứu đã phân biệt các phương thức quy chiếu (phép quy chiếu) sau đây:
- Quy chiếu chỉ ngôi: sử dụng các yếu tố chỉ ngôi với tư cách là những yếu tố có
nghĩa chưa cụ thể ở câu này xét trong mối quan hệ với yếu tố có nghĩa cụ thể tương ứng ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết với nhau
- Quy chiếu chỉ định: sử dụng các tổ hợp gồm danh từ có nghĩa cụ thể cũng như danh từ chỉ loại cùng với các từ chỉ định này, kia, nọ, ấy, để tạo ra những tổ hợp
có tính chất xác định, nhưng nghĩa chưa cụ thể (như bà ấy, anh kia, cái bàn ấy, em
học sinh này; cái đó, con ấy, việc này, ) và đặt chúng trong mối quan hệ nghĩa với
những yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu khác Trên cơ sở đó tạo thành tính liên kết giữa hai câu chứa chúng
- Quy chiếu so sánh: là cách sử dụng trong câu những tổ hợp có nghĩa không cụ thể
và có chứa các từ mang ý nghĩa so sánh, như cái tương tự, cái bàn lớn hơn, cái đồng
hồ khác, (làm) cách khác, tốt hơn, đẹp bằng, và đặt chúng trong mối quan hệ
nghĩa với những yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu khác Những yếu tố có nghĩa chưa
cụ thể phải được quy chiếu đến các yếu tố có nghĩa cụ thể mới có thể biết được nghĩa thực của chúng [6, tr 365 - 376]
1.2.2.3 Liên kết quy chiếu trong diễn ngôn
Liên kết (cohesion) luôn có một vị trí nhất định trong việc kiến tạo diễn ngôn
Một trong những phương thức liên kết diễn ngôn phổ biến là liên kết quy chiếu
(referential cohesion) Có thể nói, nếu liên kết quy chiếu không được sử dụng khi cần thiết hoặc bị sử dụng không chính xác, không phù hợp,… thì nhiều khía cạnh văn bản
sẽ bị ảnh hưởng như ý nghĩa bị mơ hồ, thông tin diễn ngôn có khả năng bị diễn dịch không đúng với ý đồ giao tiếp của người viết/nói; về mặt văn phong, có thể sẽ mất đi tính nghệ thuật của văn bản Liên kết quy chiếu, vì vậy, hầu như là một phương thức liên kết được đề cập đến đầu tiên trong phân tích diễn ngôn (discourse analysis)
Khi nói đến liên kết quy chiếu, không thể không nhắc đến hiện tượng liên kết