1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

MẠCH LẠC TRONG DIỄN NGÔN

23 276 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 116,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm và đặc điểm của diễn ngôn: 1.1.1 Khái niệm: Khái niệm “diễn ngôn” được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nhắc đến khá nhiều, tuy nhiên vẫn chưa có sự nhất quán. Chúng tôi xin trích ra một số khái niệm mà chúng tôi đã sưu tầm được từ các nhà Ngôn ngữ học nước ngoài: “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể”. (Crystal) “Diễn ngôn là những chuẩn ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa thống nhất và có mục đích”. (Guy Cook) “Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”.(Vladimir Karasik) “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn, trong đó việc lí giải nghĩa của mỗi phát ngôn lệ thuộc vào sự lí giải của những phát ngôn trong chuỗi. Nói cách khác, sự giải thuyết tương đương một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước”.(Bellert) “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó. Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”. (Teun Adrianus Van Dijk) “Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ”.(Barthes) “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể hiện: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là Văn bản”.(Widdowson) Từ các khái niệm trên, có thể hiểu một cách tổng quát: Diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội. Nhấn mạnh thực tiến giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân. Mọi lời nói cá nhâ n đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội. Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào. 1.1.2 Đặc điểm Cụ thể diễn ngôn có các đặc điểm sau đây: 1.Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về con người, thế giới,về các sự việc trong đời sống. Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khía niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biến trong xã hội. Do đó nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ. 2.Diễn ngôn không phải là cách nói thế nào trong tương quan với nói cái gì, không phải là hình thức. Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng. Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt, mà là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn. Ngoài diễn ngôn, tư tưởng không tồn tại. Do đó nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tư tưởng. 3.Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng. Chức năng diễn ngôn là kiến tạo sự thật, chân lí. 4.Diễn ngôn kiến tạo bức tranh thế giới, sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó, ví như thẩm quyền của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp, của chiến lược, trật tự nhất định. Vì thế nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các cơ chế kiến tạo đó. 5. Diễn ngôn là hiện tượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội. Như thế nghiên cứu diễn ngôn là đi tìm xem các chủ thể xã hội đứng đằng sau diễn ngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào. 6.Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản. Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TP HỒ CHÍ MINH, 13-11-2017

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM:

1.Nguyễn Thị Hương K40.601.050

2.Nguyễn Ngọc Minh Thư K40.601.127 3.Nguyễn Thị Huyền Diệu K40.601.016 4.Đặng Thị Huỳnh Như K40.601.105 5.Trượng Nữ Gia Quý K40.601.117

6.Ân Thị Nhung K40.601.101

7.Trần Thị Nhật Cương K40.601.015 8.Trương Thị Mai K40.601.073

9.Phạm Thị Ngọc Châu K40.601.013 10.Nguyễn Thị Thúy Ngọc K40.601.092 11.Lương Phát Đạt K40.601.023

Trang 4

MỤC LỤC

1 Cơ sở lý luận 1

1.1 Khái niệm và đặc điểm của diễn ngôn: 1

1.1.1 Khái niệm: 1

1.1.2 Đặc điểm 2

1.2 Khái niệm mạch lạc 2

2 Mạch lạc trong diễn ngôn 4

2.1 Khái niệm 4

2.2 Các kiểu mạch lạc 5

2.2.1 Mạch lạc trong triển khai mệnh đề 5

2.2.2 Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ 7

2.2.3 Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác 8

3 So sánh mạch lạc trong diễn ngôn nói và diễn ngôn viết 9

3.1 Mạch lạc trong diễn ngôn nói 9

3.2 Mạch lạc trong diễn ngôn viết 12

4 Phân biệt mạch lạc và liên kết 14

Tài liệu tham khảo: 17

Trang 5

- “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn

ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” (Crystal)

- “Diễn ngôn là những chuẩn ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa

thống nhất và có mục đích” (Guy Cook)

- “Diễn ngôn là hiện tượng đứng ở hàng trung gian giữa lời nói, giao

tiếp, hành vi ngôn ngữ, ở phía này, và văn bản được định hình còn lưu lại trong “mẩu khô khốc” của giao tiếp, ở phía kia”.(Vladimir

Karasik)

- “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn, trong đó việc lí giải

nghĩa của mỗi phát ngôn lệ thuộc vào sự lí giải của những phát ngôn trong chuỗi Nói cách khác, sự giải thuyết tương đương một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước”.

(Bellert)

- “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người

nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời” (Teun Adrianus

Van Dijk)

- “Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể

thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp

Trang 6

với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân

tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ”.(Barthes)

- “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống

của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể hiện: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này

là Văn bản”.(Widdowson)

Từ các khái niệm trên, có thể hiểu một cách tổng quát: Diễn ngôn

là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội Nhấn mạnh thựctiến giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân Mọi lời nói cánhâ n đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội Hoạt động diễn ngôn xãhội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hộicủa diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào

1.1.2 Đặc điểm

Cụ thể diễn ngôn có các đặc điểm sau đây:

1 Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu đạt về conngười, thế giới,về các sự việc trong đời sống Diễn ngôn biểuhiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranhtụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khía niệm, cụm từ,

hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ thenchốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lí phổ biếntrong xã hội Do đó nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu ngônngữ

2 Diễn ngôn không phải là cách nói thế nào trong tương quan vớinói cái gì, không phải là hình thức Diễn ngôn là hiện tượng tưtưởng Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt, mà là bảnthể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiệnthành diễn ngôn Ngoài diễn ngôn, tư tưởng không tồn tại Do

đó nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu tư tưởng

3 Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằngngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng Chức năng diễnngôn là kiến tạo sự thật, chân lí

4 Diễn ngôn kiến tạo bức tranh thế giới, sự thật, chân lí theo cácquy tắc, cơ chế của nó, ví như thẩm quyền của chủ thể, củangữ cảnh, của quan hệ giao tiếp, của chiến lược, trật tự nhấtđịnh Vì thế nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các cơ chếkiến tạo đó

5 Diễn ngôn là hiện tượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói củamột chủ thể quyền lực trong xã hội Như thế nghiên cứu diễn

Trang 7

ngôn là đi tìm xem các chủ thể xã hội đứng đằng sau diễnngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào.

6 Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiệntrong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, khônggiới hạn trong các văn bản Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, songkhông có tác giả cụ thể

1.2 Khái niệm mạch lạc

K.Wales cho rằng: “Mạch lạc được coi là một trong những điều kiện hoặc những đặc trưng hàng đầu của một văn bản: ngoài mạch lạc, một văn bản không đích thực là một văn bản” Đối với một văn bản, mạch lạc vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện đủ Nếu không có mạch lạc thì một chuỗi câu không thể trở thành một văn bản được

Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mạch lạc, có thể kể đến công trình của các tác giả Widdowson, Green, Edmoson, Gullian Brown, David Nunan… Tuy nhiên các cách hiểu về mạch lạc cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn trên cơ sở khoa học Sau đây là một số định nghĩa về mạch lạc do các nhà ngôn ngữ học đưa ra:

“Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan với nhau” (D.Nunan)

“Mạch lạc (coherence), hiểu một cách chung nhất, là đặc tính của sự tích hợp văn bản, tức là cái đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” (D.Togeby)

“Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (registers) (M.A.K Halliday & R.Hasan)

Khái niệm mạch lạc cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu Việt ngữ học

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Mạch lạc là dây mạch chạy trong người, nghĩa rộng

là cái gì liên tiếp nhau không dứt” [Việt Nam Từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, dẫn theo Diệp Quang Ban, tr.165]; Theo Hoàng Phê, mạch lạc được xem

là “Sự nối tiếp theo một trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt”

Trang 8

Cao Xuân Hạo cho rằng: “Khi ngôn bản gồm từ hai câu trở lên, giữa các câu có một quan hệ nhất định khiến chúng không phải là bất kì đối với nhau: giữa chúng có một mạch lạc”

Diệp Quang Ban quan niệm: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu phát ngôn làm thành các tiểu

hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc”

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Văn bản mạch lạc là văn bản ở đó người giải mã

có thể cấu trúc lại sơ đồ của người nói một cách hợp lý bằng cách suy luận những mối liên hệ giữa các câu và những mối liên hệ riêng biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ giải thích, khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu”

Khái niệm mạch lạc như nêu trên phần nào đã được các nhà ngôn ngữ xác định một cách tương đối cụ thể Để giúp người nói/ người viết cũng như người đọc/ người nghe có cơ sở nắm bắt được vấn đề một cách dễ dàng và chính xác thì nội dung của văn bản phải xoay quanh một chủ đề lớn Việc sắp xếp các câu văn phải theo một trình tự hợp lý để đạt được mục đích cuối cùng là tập trung làm sáng tỏ nội dung chủ đề chung Đấy chính là mạch lạc văn bản

Mạch lạc chính là mạng lưới quan hệ đã gắn các nội dung ý tưởng với nhau một cách logic và chặt chẽ Điều quan trọng là qua cách diễn đạt, người đọc/ người nghe có thể tái hiện được toàn bộ dàn ý và dễ dàng hiểu được nội dung của văn bản Và một văn bản dễ hiểu hay khó hiểu chính là do mức độ diễn đạt mạch lạc nhiều hay ít Nội dung trình bày càng mạch lạc thì văn bản càng dễ hiểu và hiệu quả giao tiếp càng cao

Tóm lại, có thể hiểu về tính mạch lạc của một văn bản như sau: Một văn bản có cấu trúc ngữ nghĩa càng tường minh thì tính mạch lạc càng cao; trong đó, nội dung chủ đề được duy trì, triển khai đầy đủ, chính xác và các tầng nghĩa được sắp xếp theo một trình tự hợp lý tạo nên sự gắn kết rõ ràng, chặt chẽ trong một chỉnh thể.

2 Mạch lạc trong diễn ngôn

2.1 Khái niệm

Mạch lạc theo Giáo sư Diệp Quang Ban thì “ là một khái niệm có

ngoại diên bao quát rất rộng, nó bao gồm tất cả các kiểu cấu trúc có

Trang 9

bản chất khác nhau, liên quan đến mặt nghĩa và mặt sử dụng văn bản” Mạch lạc có mặt trong mạng mạch và rộng ra ngoài mạng

mạch Điều này tương ứng với hai loại trong diễn ngôn là diễn ngônnói và diễn ngôn viết

Đối với diễn ngôn viết thì về đặc điểm cơ bản của một văn bản với

hệ thống chữ viết được trau chuốt kỹ lưỡng Nên mạch lạc ở đây

được hiểu “ là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt

chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản ( như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau”

Đối với diễn ngôn nói thì bởi mang những đặc điểm rất khác biệt,với hệ thống hư từ được sử dụng nhiều, các khẩu ngữ, được tĩnh lượctối đa về nộ dung lại mang theo một số yếu tố dư thừa Hơn nữadiễn ngôn nói thiên về những trải nghiệm trong cuộc sống thôngnhững yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, cho nên diễn ngôn nóichính là phần thuộc về cách sử dụng văn bản Thế nên mạch lạc ởđây được hiểu là dạng mạch lạc mà biểu hiện của nó là những hành

động có khả năng dung hợp với nhau Những hành động này là “

những hành động được thực hiện trong việc nói như hành động hỏi,

ra lệnh, chào, cảm ơn,…Khi những hành động nói đi đôi được với nhau thì bản thân chúng tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc cho chuỗi của những câu nối tiếp.”

Thiết lập tính mạch lạc là việc mà người đọc (người nghe) cần sửdụng kiến thức ngôn ngữ của họ để liên kết thế giới diễn ngôn vớinhững con người, vật thể, sự kiện và sự thể bên ngoài bản thân vănbản

Sự mạch lạc trong diễn ngôn phụ thuộc vào khả năng người sửdụng ngôn ngữ nhân ra vai trò chắc năng của các phát ngôn khácnhau trong diễn ngôn

Trang 10

Tính mạch lạc đạt được qua sự nhận thức những chức năng đượcmỗi phát ngôn thực hiện Điều này làm cho người nghe có thể bổsung được mệnh đề hoàn chỉnh của mỗi phát ngôn và hiểu toàn diệndiễn ngôn.

2.2 Các kiểu mạch lạc

2.2.1 Mạch lạc trong triển khai mệnh đề

- Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài – chủ đề: để

hình dung được tính thống nhất đề tài – chủ đề, thôngthường người ta dẫn ra những phản chứng loại như chuỗicâu nối tiếp

Ví dụ 1: (1) Cấm bơi một mình trong đêm (2) Đêm tối bưng khôngnhìn rõ mặt đường (3) Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm (4) Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng

=> Trong ví dụ 1 mệnh đề (1) và mệnh đề (2) có chung đề tài “đêm”, mệnh đề (2) và mệnh đề (3) có chung đề tài “ đường”, mệnh

đề (3) và mệnh đề (4) có chung mệnh đề “xe” Nhưng từ mệnh đề(1) đến mệnh đề

(4) thì ta không biết đề tài – chủ đề của chuỗi câu này là gì.Cho nênkết luận là chuỗi câu này không làm thành một văn bản Có thể nóichuỗi câu này minh họa cho sự lạc đề liên tục, một đề tài vừa đượchình thành đã bị lãng quên và nhảy sang đề tài khác Mà mạch lạc làyếu tố có tác dụng làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có tư cách làmột văn bản.Từ đó cho thấy các mệnh đề này không mạch lạc vì nókhông thống nhất được đề tài – chủ đề mặc dù giữa các câu có sựliên kết bằng phương thức lặp từ vựng

- Mạch lạc thể hiện trong tính hợp logic của sự triển khai mệnh đề:

Ví dụ 2: Anh ấy đã từng đi đánh trận nhiều nơi Anh đã bị hai phátđạn Một phát ở đùi Một phát ở Đèo Khế

 Ví dụ trên đã vi phạm tính logic trong triển khai mệnh đề( trước đây được gọi là liên kết logic giữa phần nêu đặctrưng của câu này với phần nêu đặc trưng của câu kia ( TrầnNgọc Thêm, 1985) “ Một phát ở đùi” chỉ vị trí trên cơ thể bịtrúng đạn,người nghe đang chờ đợi phát đạn thứ hai sẽ đượcđịnh vị ở nơi nào trên cơ thể, nhưng mệnh đề tiếp theo “một phát ở Đèo Khế” lại chỉ ra địa điểm mà anh ta bịthương

Trang 11

 Sự vi phạm này làm cho câu ( mệnh đề) cuối cùng khôngmạch lạc được với phần văn bản đi trước Mặc dù ở đây có

(1) Mai đã lấy chồng và cô đã có thai

(2) Mai đã có thai và cô đã lấy chồng

 Từng đôi sự kiện ( mỗi sự kiện được diễn đạt bằng một mệnhđề) trong mỗi câu trên là giống nhau nhưng trình tự củachúng được chuyển đổi vị trí, do đó mối quan hệ nguyênnhân của hai câu là khác nhau, sự kiện nào đứng trước lànguyên nhân của sự kiện đứng sau

Ví dụ 4: Tôi đang phiên gác Tôi đã thấy quân địch tiến đến Tôi đã nổsúng Tôi đã đánh bật được cuộc tấn công

 Trong ví dụ 4 các mệnh đề mạch lạc với nhau nhờ vào mốiquan hệ nguyên nhân, “ tôi đã đánh bật được cuộc tấncông” là vì “ tôi đã nổ súng”; “ tôi đã nổ súng” là vì “ tôi đãthấy quân địch tiến đến”, và “ tôi đã thấy quân địch tiếnđến” là vì “ tôi đang phiên gác”

 Quan hệ nguyên nhân nói ở đây chỉ là một kiểu trongtrình tự hợp lí giữa các câu mạch lạc với nhau

+ Mạch lạc còn thể hiện trong các mối quan hệ giữa các mệnh đề (các ý có hình thức câu đơn) trong lập luận Lập luận là cách suy lí từluận cứ suy ra kết luận Luận cứ là căn cứ của suy lí, kết luận là cáirút ra từ luận cứ bằng các cách suy lí khác nhau Và những cách suy

lí khác nhau này được thực hiện bằng các kiểu quan hệ khác nhaugiữa luận cứ và kết luận, hoặc giữa các luận cứ với nhau và giữachúng với kết luận

Ví dụ 5:

“ Những người đàn bà nhà quê lam lũ ngày trước, suốt đời đầu tắtmặt tối sống tối tăm, vậy mà biến đổi khác hẳn, khi họ ru con hayhát ghẹo nhau bằng một câu ca dao, khi họ chen nhau say mê một

buổi chèo [ ] Văn nghệ đã làm cho tâm hồn họ thực sự sống.”

Trang 12

Ví dụ 1:

Với nội dung này thì có một nhà nghiên cứu đã nêu ra một ví dụ,trong ví dụ này thì nhà nghiên cứu có nêu luôn cả tình huống giaotiếp ( ngữ cảnh)

“ Tôi tiến đến gần một người lạ mặt trên phố

*xin lỗi Tôi tên Mike Stubbs Ông có thể chỉ cho tôi đường lại nhà gakhông?.”

( dấu * cho biết phát ngôn này không có thật)

Với ví dụ này tác giả đã bình luận rằng chuỗi hành động nói này làkhông hợp thức Cụ thể là:

Xin lỗi

Tôi tên là Mike Stubbs

Ông có thể chỉ cho tôi đường lại

Như vậy, chuỗi hành động nói ở đây là:

Chào + (tự) nhận diện + hỏi đường

 Những hành động nói trong chuỗi này tự chúng là không hợpthức, nói cách dễ hiểu hơn là thông thường không đi được vớinhau, không dung hợp được nhau Vì thông thường khi điđường, nếu cần hỏi đường thì người ta chỉ hỏi cách để đi đếnđường đó chứ không có lí do gì phải tự giới thiệu mình Và việc

tự giới thiệu mình như vậy đòi hỏi sự viejc xảy ra trong tìnhhuống đặc biệt( tình huống có những khống chế riêng)

Ngày đăng: 17/09/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w