Dùng vai trò và chức năng của ngữ cảnh để phân tích các diễn ngôn thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn nhau. 1. NGỮ CẢNH 1.1. Khái niệm ngữ cảnh Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, ngữ cảnh những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị ngôn ngữ đó trong chuỗi lời nói. Ta có thể hiểu, ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó một yếu tố ngôn ngữ được sử dụng hoặc được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, đồng thời người nghe (người đọc) dựa nào bối cảnh đó mà lĩnh hội được lời nói, câu văn.
Trang 1NHÓM 2: Dùng vai trò và chức năng của ngữ cảnh để phân tích các diễn ngôn thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn nhau.
1 NGỮ CẢNH
1.1 Khái niệm ngữ cảnh
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, ngữ cảnh những đơn vị đứng trước
và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụthể của đơn vị ngôn ngữ đó trong chuỗi lời nói
Ta có thể hiểu, ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó một yếu tố ngôn ngữđược sử dụng hoặc được tạo ra trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, đồngthời người nghe (người đọc) dựa nào bối cảnh đó mà lĩnh hội được lời nói,câu văn
Ví dụ: trong đoạn hội thoại sau:
Trong lớp học, cô giáo hỏi các em học sinh:
Trang 2- Ngữ cảnh phi ngôn ngữ là trường hợp ngữ cảnh thuộc về kinh nghiệm màtrong đó diễn ngôn xảy ra Trong ngữ cảnh phi ngôn ngữ gồm có: kiểuloại của sự giao tiếp (truyện cười, thuyết trình, chào hỏi,…); đề tài của sựgiao tiếp (câu chuyện về bác ba Phi, bản sắc văn hóa Việt, cuộc sống củabản thân, giới thiệu hoàn cảnh gia đình,…); bối cảnh của cuộc giao tiếp(trong lễ khai giảng, trong cuộc họp, trong lớp học,…), mục đích của sựkiện (mời bạn dự tiệc sinh nhật, hỏi thăm sức khỏe của bố, thuyết phụckhách hàng mua sản phẩm,…); người tham dự giao tiếp (thầy giáo nóivới học sinh, bố nói với con; bà kể cho cháu, người thuyết trình nói với
cử tọa, nhà văn viết cho độc giả,…) và những tiền giả định làm cơ sở cho
sự kiện giao tiếp (khi hỏi “chú ấy bỏ thuốc chưa?” thì tiền giả định là chú
ấy đã nghiện thuốc)
Theo Gillian Brown và George Yule, ngữ cảnh trong diễn ngôn bao gồmngữ cảnh ngữ dụng và ngữ cảnh tình huống
- Ngữ cảnh ngữ dụng là ngữ cảnh biệu thị mối quan hệ giữa người nói vớiphát ngôn, tức là miêu tả điều người nói và người nghe đang làm, chứkhông phải mối quan hệ tồn tại giữa câu hay mệnh đề khác nhau Khi nóiđến ngữ cảnh ngữ dụng ta sẽ xét đến quy chiếu, tiền giả định, hàm ý vàluận suy
+ Quy chiếu: trong trường hợp này thì quy chiếu được xem là hành độngcủa người nói hoặc người viết Ví dụ, trong cuộc nói chuyện sau đây:A: “Chú tôi sẽ trở về nhà từ Canada vào ngày mai.”
B: “Ông ấy đi xa được bao lâu rồi hay chỉ vừa mới đi xa thôi?”
A “Không, họ sống ở Canada, à, ông ấy cưới em gái mẹ tôi Vâng, bà ấyqua đời đã nhiều năm nay rồi.”
Trang 3Có thể nói rằng người A dùng cụm từ chú tôi, ông ấy để quy chiếu đến một người; dùng cụm từ em gái mẹ tôi và bà ấy để quy chiếu đến một người khác; chứ không phải ông ấy quy chiếu đến chú tôi.
+ Tiền giả định: trong phân tích diễn ngôn, ta dùng khái niệm tiền giảđịnh ngữ dụng, nghĩa là tiền giả định được định nghĩa trên cơ sở các giảđịnh về những điều được người nghe chấp nhận Quay lại ví vụ tiền giả
định chú ấy đã nghiện thuốc trong câu hỏi “chú ấy đã bỏ thuốc chưa?”
đã được nhắc ở trên, việc chú ấy nghiện thuốc người nghe có thể chấp nhận được, tức là tiền giả định này có căn cứ Khi nói câu “chú ấy đã bỏ thuốc chưa?”, người nghe không chấp nhận được tiền giả định không hợp lí như chú ấy đã có vợ chẳng hạn.
+ Hàm ý: là những điều người nói ngụ ý, đề nghị hay muốn nói nhưngđược giấu đi trong lời nói hoặc khác hẳn với những điều được nói ra Vídụ:
Anh thanh niên: “Cô ơi, bán cho con hai lon Milo.”
Cô bán hàng: “Chờ chị một chút, có ngay.”
Hàm ý ở đây là cô bán hàng ngầm báo hiệu với anh thanh niên rằng côvẫn còn nhỏ tuổi
+ Luận suy: khi phân tích diễn ngôn, cần phải dựa vào quá trình luận suy
để đi đến cách hiểu đối với phát ngôn hay đối với quan hệ giữa các phátngôn
- Ngữ cảnh tình huống: là những phạm trù chủ đề, bối cảnh không gian –thời gian, các quan hệ thực thể của các đối tượng tương tác như điệu bộ,nét mặt,… Ngoài ra ngữ cảnh này còn bao gồm cách thức của diễn ngônnhư nói, viết, ra dấu,…; phong cách ngôn ngữ; hình thức của diễn ngônnhư bài thuyết giáo, truyện cổ tích, thể loại thơ Đường luật, thư tình,…
Trang 4và sự kiện xảy ra diễn ngôn (bài thuyết trình diễn ra trong một buổi tọađàm chẳng hạn), giọng điệu, mục đích của diễn ngôn.
Như vậy, từ hai quan niệm trên, để cho dễ hiểu, ta có thể phân chia ngữcảnh thành hai loại: ngữ cảnh ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ trực tiếpbiểu thị tình huống trong diễn ngôn và ngữ đặc điểm ngữ âm, phươngngữ, phong cách ngôn ngữ) và ngữ cảnh tình huống (gồm toàn bộ nhữngbối cảnh, cách thức, hình thức, mục đích, đề tài, đối tượng tham gia diễnngôn)
1.3 Vai trò của ngữ cảnh
1.3.1 Đối với quá trình tạo lập văn bản
Đối với quá trình tạo lập văn bản, ngữ cảnh chính là môi trường sảnsinh ra các phát ngôn giao tiếp, nó chi phối cả nội dung và hình thứccủa phát ngôn
Việc dùng từ đặt câu phải phù hợp về ngữ nghĩa và ngữ pháp, phảiphù hợp với quan hệ giữa người viết – người nói và người đọc –người nghe (về vị thế, về quan hệ thân sơ, trạng thái tâm lí…), phảiphù hợp với cách thức giao tiếp (viết hay nói) và tình huống giao tiếp
cụ thể (giao tiếp có tính chất nghi lễ hay không có tính chất nghi lễ)
Ví dụ: Cùng một nội dung là hỏi xem người giao tiếp với mình đã ăncơm chưa nhưng nếu người giao tiếp với mình là bạn bè, có vị thếbình đẳng, ngang hàng, quan hệ thân mật thì ta có thể hỏi: "Mày ăncơm chưa?" hoặc thậm chí có thể hỏi trống không: " Ăn cơm chưa?" Nhưng nếu người giao tiếp với mình là người bề trên (trên về tuổi táchoặc địa vị ) thì ta lại phải thể hiện sự lễ phép, tôn trọng của mìnhbằng cách sử dụng kính ngữ: "Anh (chị, cô, bác…) ăn cơm chưa ạ?".Hay nếu giao tiếp ở những nơi mang tính chất nghi lễ (trong giờ học,trong buổi họp, hội thảo…) thì từ ngữ phải được chọn lọc, thái độ cần
Trang 5nghiêm túc hơn những cuộc giao tiếp không có tính chất nghi lễ (ởngoài đường, ngoài chợ…).
Một ví dụ khác có thể kể đến đó chính là ở Việt Nam, khi mới gặpnhau lần đầu, người ta hay hỏi nhau về tuổi tác thường là để xưng hôcho đúng Nhưng tại một số nước trên thế giới, việc hỏi tuổi lại bị coi
là khiếm nhã Vì thế việc tìm hiểu phong tục tập quán, nét văn hóa nơimình giao tiếp cũng là việc rất quan trọng Nó sẽ ảnh hưởng đến hiệuquả giao tiếp của mình
Tóm lại ngữ cảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo lập vănbản (nói, viết) Muốn đạt hiệu quả giao tiếp cao người nói (viết) cầnchú ý đến ngữ cảnh, đến từng nhân tố trong đó
1.3.2 Đối với việc lĩnh hội văn bản
Muốn lĩnh hội chính xác, thấu đáo một phát ngôn nào đó người nghe(người đọc) cần căn cứ vào ngữ cảnh Phải đặt phát ngôn đó vào ngữcảnh mà nó ra đời, gắn với từng tình huống và diễn biến cụ thể để cóthể phân tích, lí giải thấu đáo, hiểu căn kẽ từng chi tiết về nội dung vàhình thức
Chẳng hạn cùng một câu nói: "Anh ăn cơm chưa?" có thể mang nhiềuhàm ý khác nhau phụ thuộc vào ngữ cảnh, đó có thể là lời mời cùng đi
ăn cho vui hoặc cũng có thể là một lời nhắc trước khi uống thuốc…Tương tự cùng một câu nói như: "Mai tôi đến", tùy theo ngữ cảnh mà
có thể hiểu là một lời hứa, một lời thông báo, hay một lời đe dọa…Như vậy chính ngữ cảnh đã giúp ta hiểu được hàm ý của câu nói, tứccái ý nghĩa đích thực mà người nói hay người viết muốn truyền tải Trong văn học cũng vậy Để có thể hiểu đầy đủ, sâu sắc về một tácphẩm thì việc tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác và tiểu sử của tác giả đóngmột vai trò quan trọng Bởi vì hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và tiểu
Trang 6sử của tác giả là những yếu tố thuộc ngữ cảnh của cuộc giao tiếp giữatác giả và người đọc.
Ví dụ: Muốn hiểu thấu đáo, đầy đủ về bài "Văn tế nghĩa sĩ CầnGiuộc" chúng ta cần đặt bài văn tế trong hoàn cảnh nó ra đời, tức làphải chú ý đến hoàn cảnh sáng tác và tác giả (nhân vật mà ta đanggiao tiếp) Bài văn tế ra đời khi thực dân Pháp xâm lược miền Namnước ta, gây ra bao đau thương tang tóc cho những người dân hiềnlành, lam lũ buộc họ phải đứng lên chống trả trong đó có nghĩa quânCần Giuộc Tác giả Nguyễn Đình Chiểu là người đã đứng về phíanhân dân, dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu, vạch trần tội
ác của thực dân Pháp và ca ngợi gương đấu tranh hy sinh của nhữngngười nông dân Nam Bộ
Từ sự phân tích trên đây, có thể thấy, ngữ cảnh có một vai trò rất quantrọng trong việc tạo lập và lĩnh hội lời nói Mỗi một nhân tố trong ngữcảnh đều đóng một vai trò nhất định, vì thế khi tạo lập văn bản (nói,viết) cũng như khi lĩnh hội chúng ta cần chú ý đến các nhân tố củangữ cảnh để làm sao cuộc giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất
1.3 Mối liên hệ giữa ngữ cảnh và phân tích diễn ngôn
1.3.1 Ngữ cảnh ngôn ngữ:
Cách sắp xếp về mặt ngữ âm và từ ngữ khác nhau sẽ tạo nên ngữ cảnh khác nhau.
Những ngữ cảnh khác nhau này sẽ tạo nên những nghĩa khác nhau của từ ngữ nên
để diễn đạt nội dung nói/ viết, người nói/ người viết phải chọn lựa cách sắp xếp
ngữ âm, từ ngữ cho phù hợp để thể hiện ý nghĩa của từ ngữ đúng như dụng ý của
mà họ mong muốn
VD ngữ cảnh ngôn ngữ
Cách sắp xếp [a], [o] để tạo thành một tổ hợp, các thứ tự sắp xếp khác nhau sẽ tạothành những tổ hợp khác nhau [a] trước [o] sau sẽ tạo thành: [ao], [o] trước [a] sau
Trang 7sẽ tạo thành [ao] Đó là cách sắp xếp về ngữ âm và ngữ âm khác nhau sẽ cho ranhững ý nghĩa khác nhau: trong khi “ao” là một sự vật, thì “oa” giống như một sự
mô phỏng âm thanh Cách sắp xếp các từ ngữ “tôi”, “đánh”, “nó” theo thứ tự khácnhau cũng sẽ cho các ý nghĩa khác nhau: “tôi đánh nó” sẽ khác với “nó đánh tôi” ởchỗ chủ thể thực hiện hành động và đối tượng chịu tác động Trong “tôi đánh nó”,chủ ngữ là “tôi” – chủ thể thực hiện hành động, “nó” là bổ ngữ cho “đánh”, là đốitượng chịu tác động còn trong “nó đánh tôi” thì vai trò trên của hai từ “nó” và “tôi”
sẽ hoán cho nhau
1.3.2 Ngữ cảnh phi ngôn ngữ:
Đề tài, chủ đề của diễn ngôn
Những yếu tố về thời gian, địa điểm, tình huống giao tiếp của ngữ cảnh sẽ có tác
động quan trọng đến và đề tài, chủ đề (nói hay viết) của người tạo diễn ngôn Môi
trường, hoàn cảnh chính là yếu tố kích thích hay tạo cảm hứng để người nói/ viếtnảy sinh mong muốn tạo lập diễn ngôn để thực hiện một mục đích giao tiếp nào đó
và muốn thể hiện mục đích đó thì người nói/ viết sẽ chọn cho mình những nội dung
sẽ nói/ viết – những nội dung này cũng sẽ được tạo cảm hứng từ chính môi trường,hoàn cảnh của họ
Phương tiện và cách thức của diễn ngôn
Những yếu tố thuộc về môi trường, hoàn cảnh giao tiếp nói trên kết khi hợp với nộidung (đề tài, chủ đề) mà người tạo diễn ngôn dự định tạo lập thì sẽ chi phối việc
lựa chọn phương tiện (ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết) và cách thức (ứng khẩu
hay có sự chuẩn bị) để chuyển tải Khi ở trong hoàn cảnh giao tiếp là đối thoại trựctiếp giữa người nói và người nghe, họ cần trao đổi thông tin về một vấn đề nào đóyêu cầu sự phản ứng linh hoạt và hồi đáp tức thời của đối phương, đương nhiênngười nói và nghe phải lựa chọn ngôn ngữ nói và cách thức là ứng khẩu Vì vậy,kéo theo hệ quả là người nói/ nghe khó có cơ hội chỉnh sửa và sử dụng thêm cácyếu tố phi ngôn ngữ để hỗ trợ Còn khi ở trong hoàn cảnh có tính chất đơn thoại(cách dùng của Diệp Quang Ban), tức không bắt buộc người viết phải mặt đối mặtvới người đọc, thì ngôn ngữ viết được lựa chọn và người viết/ đọc có thời giandừng lại để suy nghĩ trong quá trình tạo lập và sửa chữa
Thể loại của diễn ngôn
Trang 8Hoàn cảnh giao tiếp sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn thể loại thể hiện diễn ngôn.
Do tính chất đối thoại, kịp thời trong diễn ngôn nói, những thể loại được chọnthường có đặc điểm là ngắn gọn nhưng vẫn có thể chứa đựng đầy đủ thông tin màngười nói và nghe trao đổi với nhau (như dẫn lại ca dao, tục ngữ; kể lại truyệncười, truyện ngụ ngôn…) Còn người viết khi tạo diễn ngôn viết thì vì có nhiềuthời gian chuẩn bị hơn nên có nhiều sự lựa chọn về thể loại và có thể chọn thể loại
có dung lượng lớn hơn so với những thể loại thường dùng trong diễn ngôn nóiCách thức tạo lập diễn ngôn
Cả diễn ngôn nói và viết đều có hai cách thức tạo lập chung là không có chuẩn bịhoặc có chuẩn bị
Cách thức không có chuẩn bị còn được gọi là ứng khẩu hay ngẫu hứng Cách nàythường tạo ra những diễn ngôn ngắn (khoảng một hay một vài câu) và bố cục dễxác định Nếu là diễn ngôn nói thì còn kèm theo đặc điểm không trau chuốt về mặt
từ vựng, ngữ pháp Chẳng hạn như những cuộc trò chuyện phiếm về những đề tàiquen thuộc trong cuộc sống hằng ngày Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ,như thí sinh tham gia cuộc thi hùng biện hay cuộc thi dẫn chương trình cần phảidùng cách ứng khẩu để tạo ra một diễn ngôn tương đối dài, bố cục tuân theo quyđịnh của các loại phong cách chức năng và phải đảm bảo trau chuốt về mặt từvựng, ngữ pháp
Những diễn ngôn được tạo lập bằng cách có chuẩn bị trước thì thường mang nhữnghình thức và nội dung trọn vẹn Đó là những diễn ngôn thường đảm bảo đầy đủnhững đặc điểm về hình thức và nội dung
Trang 9Nếu là truyền đạt gián tiếp thì người viết có nhiều thời gian hơn để giúp trau chuốt
về hình thức cũng như nội dung của diễn ngôn
Vị thế xã hội
Vị thế xã hội được tạo nên từ mối quan hệ xã hội giữa người gửi và người nhậndiễn ngôn, như quan hệ cha mẹ - con cái, giáo viên – học sinh, anh trai – em trai,anh trai – em gái, chị gái – em gái, chị gái – em trai… Từ đó, vị thế xã hội cũngảnh hưởng đến diễn ngôn
Chẳng hạn nếu vị thế xã hội của người gửi và người nhận diễn ngôn là thầy – tròhay cha/ mẹ - con thì người học trò/ người con bắt buộc phải tạo ra những diễnngôn có cấu trúc hình thức và nội dung trọn vẹn, đồng thời phải đảm bảo trauchuốt về mặt từ vựng và ngữ pháp; vai người thầy vì để đảm bảo tính lịch sự cũngnên tạo ra những diên ngôn như vậy; còn vai cha mẹ thì tùy vào tâm – sinh lý lúc
đó và sự thân thiết với con cái mà có thể tạo ra những diễn ngôn trau chuốt về mặt
từ vựng và ngữ pháp, có cấu trúc hình thức và nội dung trọn vẹn hay không
Vị thế giao tiếp
Vị thế giao tiếp và vị thế xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Vị thế giao tiếpcho biết mối quan hệ giữa người gửi và người nhận diễn ngôn thân mật hay xa lạ,lớn nhỏ hay ngang hang nhau,…
Chẳng hạn nếu người gửi và người nhận diễn ngôn là hai học sinh chỉ mới gặpnhau lần đầu, tức là quan hệ xa lạ nhưng tương lai có thể gắn bó thân mật và quan
hệ giữa hai người ngang hàng nhau, thì những diễn ngôn do hai người tạo ra phảiđảm bảo được tính lịch sự và trau chuốt về hình thức và nội dung, từ vựng và ngữpháp Đến khi hai học sinh này đã có mối quan hệ thân mật, gàn gũi, thì họ có thểkhông cần phải đảm bảo sự trau chuốt và lịch sự trong các diễn ngôn
Tâm sinh lý của người gửi và người nhận diễn ngôn
Ngữ cảnh còn được tạo nên bởi tâm – sinh lý của người gửi và người nhận diễnngôn Chẳng hạn như đã nói ở trên, nếu người gửi diễn ngôn là cha mẹ và ngườinhận diễn ngôn là con cái, thì cha mẹ không bắt buộc phải đảm bảo diễn ngôn trauchuốt về hình thức và nội dung, từ vựng và ngữ pháp Nếu lúc đó cha mẹ đangtrong trạng thái giận dữ đối với con cái thì diễn ngôn họ tạo ra thường sẽ mang
Trang 10những từ ngữ mang sắc thái tiêu cực, đôi khi là kèm theo những từ ngữ dung đểchửi mắng Còn người nhận diễn ngôn là con cái, đối với cha mẹ thì không cóquyền tạo ra những diễn ngôn như vậy Nếu lúc đó cha mẹ đang trong trạng thái lo
âu hoặc căng thẳng thì họ có thể không tiếp tục đề tài, chủ đề đang trò chuyện vớicon và đưa ra thông báo kết thúc cuộc trò chuyện Như vậy, người con phải nghetheo sự kết thúc đó
Tiền giả định
Tiền giả định là điều được giả định trước là đúng và ai cũng biết, nếu không có tiềngiả định thì câu sẽ trở nên vô nghĩa Chẳng hạn nếu ta nhờ ai đó “Làm ơn tắt hộ tôicây quạt” thì tiền giả định ở đây là cây quạt đang mở, nếu tiền giả định sai thì câunày trở nên vô nghĩa Trong giao tiếp thì người nói/ viết và người nhận phải cùngthống nhất về tiền giả định, nếu một trong hai vai giao tiếp không biết về tiền giảđịnh thì cuộc giao tiếp cũng khó có thể diễn ra
VD về ngữ cảnh phi ngôn ngữ
Trong một cuộc mua bán ở chợ thì ngữ cảnh bao gồm những yếu tố sẽ được phảnánh trong diễn ngôn giữa người mua và người bán, như sau:
- Môi trường: môi trường mua bán ở chợ
- Mục đích của người nói/ viết: hỏi về nguồn gốc, giá cả, chất lượng của các mónhàng cần phải mua
- Đề tài, chủ đề: về các thứ hàng hóa được bày bán và cần mua
- Cách sử dụng ngôn ngữ: ngôn ngữ nói
- Cách tạo lập: ứng khẩu, không có chuẩn bị trước
- Cách thức giao tiếp: giao tiếp trực tiếp, mặt đối mặt
- Thể loại văn bản: văn bản nhật dụng
- Vị thế xã hội: người bán – người mua
- Vị thế giao tiếp: quan hệ xa lạ, tạm thời
- Tâm sinh lý của người bán và người mua: muốn được lợi
Trang 11- Tiền giả định: người bán có những món hàng mà người mua cần mua
2 PHÂN TÍCH CÁC CẶP DIỄN NGÔN
(1) Anh em là ruột là ra
Vợ chồng như áo thay rồi lại xong (2) Vợ chồng là ruột là rà Anh em thì có cửa nhà anh em
(a) Một giọt máu đào hơn ao nước lã (b) Bán bà con xa mua láng giềng gần
(i) Chẳng thà ăn nửa trái hồng Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè (ii) Chẳng thà ăn cả chùm sung Còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang
Những cặp diễn trên thuộc thể loại tục ngữ Tục ngữ ra đời nhằm đúc kết kinhnghiệm của nhân dân về mọi mặt đời sống Do đặc tính truyền miệng nên tục ngữ
có nội dung ngắn gọn, dễ thuộc dễ nhớ Tục ngữ được lưu truyền bằng con đườngtruyền miệng nên qua thời gian hoặc do đối tượng tiếp nhận, tục ngữ có thể bị thayđổi để phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
(1) Anh em là ruột là rà
Vợ chồng như áo thay rồi lại xong (2) Vợ chồng là ruột là rà Anh em thì có cửa nhà anh em
Trang 12Ở diễn ngôn (1), tác giả dân gian đề cao mối quan hệ gia đình giữa những ngườicùng chung dòng máu Quan hệ gia đình được xét theo huyết thống Tình cảm vợchồng phải đặt sau tình cảm anh em Bởi mối quan hệ anh em là quan hệ đã đượcsắp đặt không thể thay đổi hay lựa chọn Mối quan hệ vợ chồng được tác giả dângian so sánh với hình ảnh chiếc áo Áo là vật ngoài thân có thể được lựa chọn tuỳtheo nhu cầu sử dụng của người mặc Khi không còn giá trị hoặc không phù hợp,người mặc có thể bỏ đi không có ràng buộc Từ đó, ta thấy mối quan hệ vợ chồng
có thể lựa chọn và thay đổi khi cả hai không hợp Vợ chồng thực tế có ràng buộc
về mặt tình cảm nhưng về huyết thống thì họ vẫn là hai người không cùng dòngmáu Diễn ngôn này hướng tới đối tượng tiếp nhận là anh em trong gia đình Đây
có thể là lời người mẹ hoặc anh em trong gia đình nói với nhau Diễn ngôn (1)nhằm mục đích khuyên răn sau khi lấy dựng vợ gả chồng thì đừng quên tình nghĩaanh em, anh em phải biết quan tâm lẫn nhau
Ở diễn ngôn (2), tác giả dân gian đề cao quan hệ vợ chồng Quan hệ gia đình đượcxét theo mối quan hệ chung sống gần gũi, trực tiếp gắn bó và phạm vi gia đìnhriêng của mỗi người Lúc này tình cảm vợ chồng được ưu tiên Vì người vợ hayngười chồng bấy giờ sẽ là người trực tiếp gắn bó cùng nhau xây dựng cuộc sốnggia đình riêng của mình và vợ chồng sẽ cùng chia sẻ, giải quyết mọi khó khăn vàgắn bó lâu dài với nhau Còn về anh em thì sau khi dựng vợ gả chồng thì anh emmỗi người đều có gia đình riêng cần phải lo toan nên không thể ở bên cạnh nhaugiúp đỡ lẫn nhau Diễn ngôn này hướng tới đối tượng tiếp nhận là vợ hoặc chồng.Đây có thể là lời người vợ khuyên chồng hoặc ngược lại Diễn ngôn (2) nhằm mụcđích khuyên răn sau khi dựng vợ gả chồng thì vợ chồng hãy xem nhau như ngườithân, đừng chỉ nghĩ đến anh em mà hãy quan tâm đến người hiện đang cùng chungsống
Như vậy, ta thấy hai diễn ngôn trên tuy bên ngoài có vẻ mâu thuẫn nhưng khi đặtvào ngữ cảnh ta thấy hai diễn ngôn chỉ là cách nhìn về cùng một một vấn đề tìnhcảm gia đình nhưng khác nhau về phạm vi, đối tượng giao tiếp Hai câu này khôngmâu thuẫn nhau vì đặt trong ngữ cảnh khác nhau Trong cuộc sống sinh hoạt, tuỳtheo đối tượng giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp mà có thể sử dụng diễn ngôn phùhợp
(a) Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Trang 13(b) Bán bà con xa mua láng giềng gần
Ở diễn ngôn (a) xét đến mối quan hệ huyết thống Ở đây, hình ảnh "máu đào" ẩn
dụ chỉ người trong gia đình có quan hệ huyết thống, còn hình ảnh "nước lã" chỉchung những người không có quan hệ ràng buộc về huyết thống Những người hệhuyết thống dù ít nhưng vẫn đáng trân trọng hơn tất cả mọi người quen biết nhưngkhông cùng huyết thống Số lượng không quan trọng mà quan trọng là tính chấthuyết thống của đối tượng Bởi tình cảm gia đình luôn được đề cao., trân trọng.Đây có thể là lời khuyên của cha mẹ dành cho con cái, khuyên con cái phải biếtyêu quý thương yêu và giúp đỡ những người trong gia đình như cha mẹ, anh em,
Ở diễn ngôn (b) xét đến mối quan hệ láng giềng Lúc này những người cùng chunghuyết thống - anh em lại có thêm đặc điểm về khoảng cách địa lý là xa, nhữngngười không có huyết thống những lại có đặc tính là gần gũi về khoảng cách địa lý.Cách nói này xuất phát từ yếu tố văn hoá Nhân dân ta vốn sống theo làng xã nênmối quan hệ với những người chung sống xung quanh được đề cao là điều tất yếu
Và câu nói này còn xuất phát từ thực tế cuộc sống mà người dân quan sát được.Khi có tình huống bất ngờ xảy ra, người có thể giúp đỡ ngay tức thời chính lànhững người sống gần gũi xung quanh Vì anh em dù thương yêu nhau thế nàonhưng khi ở xa cũng không thể giúp đỡ kịp thời cho nhau Đây có thể là lời khuyêncủa cha mẹ dành cho con cái phải biết yêu thương sống chan hoà với mọi ngườixung quanh phòng khi tắt lửa tối đèn có nhau
Như vậy ở hai diễn ngôn (a) và (b) không mâu thuẫn với nhau vì chúng khác nhauphạm vi đối tượng được nói đến Ở diễn ngôn (a) đối tượng được xét theo huyếtthống hay không huyết thống còn ở diễn ngôn (b) đối tượng lại được xét theokhoảng cách địa lí gần hay xa Phạm vi đối tượng phản ánh khác nhau dẫn đến mụcđích tiếp khác nhau vì vậy cần phải gắn diễn ngôn trong ngữ cảnh để phân tích.Hai diễn ngôn có quan hệ mâu thuẫn khi cả hai có thể thay thế cho nhau trong cùngmột ngữ cảnh Diễn ngôn này phù hợp thì diễn ngôn kia sẽ không phù hợp Nhưvậy, để chứng minh các diễn ngôn không mâu thuẫn, phải chứng minh được sựthay thế không thể xảy ra và mọi sự thay thế đều dẫn đến sự thay đổi ngữ cảnh
(i) Chẳng thà ăn nửa trái hồng Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè
Trang 14Tiền giả định: hồng bao giờ cũng ngon hơn sung.
Nghĩa tường minh: Ăn nửa trái hồng còn hơn tốt là ăn cả chùm sung chát
Nghĩa hàm ẩn trên văn bản: chịu cái tốt nửa vời còn hơi chịu cái không tốt nhưngtrọn vẹn
Các yếu tố ngữ cảnh có thể ảnh hướng đến việc tạo nghĩa
-Bối cảnh văn hóa: xu hướng trọng tình nghĩa, tinh thần, tôn vinh ý nghĩa của hônnhân trên cơ sở tình yêu hoặc vai trò của người vợ chính thức, trọng chất lượng sựvật màu sắc nhân đạo
-Lĩnh vực giao tiếp: chuyện tình cảm, chuyện mua bán,…
-Nhân vật giao tiếp: người con gái đang kén chồng, người không chấp nhận làm vợ
lẽ, người đưa ra lời khuyên,…
-Quan niệm của nhân vật giao tiếp (người tạo lập diễn ngôn trên): ưa chuộng cáitrọn vẹn về chất (tình cảm, niềm hạnh phúc,…) hơn là về lượng (tiền bạc, địa vị,
…)
(ii) Chẳng thà ăn cả chùm sung Còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang
Tiền giả định: hồng bao giờ cũng ngon hơn sung
Nghĩa tường minh: Ăn cả chùm sung chát còn hơn tốt là ăn chỉ được nửa trái hồng.Nghĩa hàm ẩn trên văn bản: chịu cái không tốt nhưng trọn vẹn hơn là cái tốt nửavời
Các yếu tố ngữ cảnh có thể ảnh hướng đến việc tạo nghĩa
-Bối cảnh văn hóa: xu hướng đề cao chế độ gia đình và cuộc sống lứa đôi tiêu biểucủa thời phong kiến, trai lớn dựng vợ gái lớn giả chồng, chế độ đa thê, lập thiếp,lấy lẽ,… sự ràng buộc về lễ giáo
-Lĩnh vực giao tiếp: chuyện tình cảm, chuyện mua bán,…