233] Đại Trí Độ Luận không chỉ ẩn chứa những tư tưởng triết lý vi diệu của Phật giáo mà còn ảnh hưởng rất lớn đến các nhà tu hành trong quan niệm về thế giới Nhân sinh.. Mặc dù nội dung
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ LAN ANH
(Thích Giác Ân)
MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
TRONG ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hùng Hậu
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em muốn gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội đã tổ chức khóa học để em có cơ hội tham gia học tập
và nghiên cứu khoa học
Em xin cảm ơn các thầy cô trong trường và thầy cô khoa tài chính ngân hàng đã truyền đạt lại cho em những kiến thức bổ ích để em có thể thực hiện được nghiên cứu này
Đặc biệt, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo: Đinh Xuân Cường người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Cuối cùng, em xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè và toàn thể cán bộ Ngân hàng Standard Chartered những người đã ủng hộ và nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Học viên nghiên cứu
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO VỀ ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN 13
1.1 Thân thế và sự nghiệp của Long Thọ 13
1.1.1 Thân thế của Long Thọ 13
1.1.2 Những trước tác của Long Thọ 17
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Đại Trí Độ Luận 19
1.3 Những đặc điểm chính trong Đại Trí Độ Luận 24
1.3.1 Triết lý về tinh thần nhập thế của Bồ tát 24
1.3.2 Tư tưởng giải thoát trong Đại Trí Độ Luận 30
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2: BẢN THỂ LUẬN TRONG ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN 38
2.1 Nguyên lý về Duyên Sinh trong Đại Trí Độ Luận 40
2.1.1 Nội dung 41
2.1.2 Ý nghĩa 43
2.2 Triết học tính Không trong Đại Trí Độ Luận 49
2.2.1 Quan niệm về tính Không trong Đại Trí Độ Luận 50
2.2.2 Tư tưởng tính Không trong Đại Trí Độ Luận 55
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: NHẬN THỨC LUẬN TRONG ĐẠI TRÌ ĐỘ LUẬN 62
3.1 Nguồn gốc và bản chất của nhận thức trong Đại Trí Độ Luận 62
3.1.1 Nguồn gốc của nhận thức trong Đại Trí Độ Luận 62
3.1.2 Bản chất của nhận thức luận trong Đại Trí Độ Luận 66
3.2 Phương pháp nhận thức trong Đại Trí Độ Luận 74
3.2.2 Nhận Thức chân lý Tứ Diệu Đế 74
3.2.2 Các biện pháp nhận thức qua triết lý Bát Chính Đạo 82
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 94
CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 6Trước Công Nguyên : TCN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại Trí Độ Luận – Mahàpra-jnàpàramitásastra do Cưu Ma La Thập
(Kumarajva) dịch vào đời Diêu Tần (384-417) và đã có ảnh hưởng lớn trong sự
phát triển Phật học Trung Quốc Chẳng hạn như Tông Tam Luận, ngoài 3 bộ
Luận này đều do Cưu Ma La Thập dịch, trong đó đã bao gồm Đại Trí
Độ Luận vào phần lập giáo của Tông mình, nên còn gọi là Tông Tứ Luận
Trong 13 tông của LSPGTQ không có Tứ Luận tông Chỉ vào thời Nam - Bắc triều (420-581), ở phía Bắc có hiện tượng nhập Đại Trí Độ luận vào hệ thống 3
bộ luận trên để giải thích rộng và rõ hơn “tính Không”, cho nên có người gọi là
Tứ Luận tông, tồn tại trong một thời gian ngắn
Với tính cách đồ sộ của bộ Luận - 100 quyển được Cưu Ma La Thập dịch
từ Phạn sang Hán Luận tạng Phật giáo Đại thừa thời kỳ đầu có thêm một Luận
thư đáng kể Sự uyên bác của Đại Trí Độ Luận, sự tinh tế của Thập Nhị Môn
Luận, sự khúc chiết của Trung Quán Luận và Bách Luận, cuối cùng đều quy
về Trung Đạo thực tướng Đây chính là tư tưởng chính thống Phật giáo Đại thừa mà Long Thọ là một trong tứ Luận sư (Luận sư Asvaghosa, Devabodhisattva, Nàgàrjuna, Kumàralabdha) đã xiển dương sau khi Đức Phật nhập Niết bàn Ông thực xứng danh Mãnh Long trên bầu trời Phật giáo mà sau này không mấy ai vượt qua được
Đại Trí Độ Luận là bộ luận căn bản, giảng giải nhiều vấn đề liên quan đến
tư tưởng, lịch sử, v.v cho đến các quy định Giới Luật Tăng già đều được
trình bày đầy đủ, bao gồm cả tư tưởng Tiểu thừa, lẫn Đại thừa Do đó, Đại Trí
Độ Luận được ví như một bộ Bách khoa toàn thư về Phật giáo Vì thế, việc
nghiên cứu tư tưởng về bộ luận này là một nhu cầu cần thiết, không chỉ tạo cơ
sở cho việc quy tập, tiếp cận những giá trị tinh túy của hệ thống Kinh tạng Bát
1
Hai bộ luận đầu do Bồ tát Long Thọ viết, bộ luận sau do Bồ tát Đề Bà trước tác
Trang 8nhã mà còn là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào các kinh điển thuộc Phật giáo Đại thừa và các bộ luận khác
Tư tưởng chủ đạo của Đại Trí Độ Luận là tính “Không”, cốt gạt bỏ mọi
quan niệm do vọng tưởng đem lại, luôn nhìn thế giới theo hai chiều sinh diệt,
có không… khiến thế giới bị bóp méo, bị che lấp Thực ra, thực tướng của thế giới là không, không sinh không diệt, không đi không lại… trong đó không thể thêm vào một thuộc tính nào nữa
Để thấu triệt tính “Không” ấy người ta thường theo hai lối quán là Tích không quán và Thể không quán Quán pháp phân tích thấy các pháp không tự
có mà phải do nhân duyên hòa hợp mới có, có một cách giả tạo, trống rỗng, không có thật tính, như vậy gọi là Tích không quán Nếu không thông qua sự quán sát phân tích nhân duyên, mà chỉ thể nhận trực tiếp tính “Không” thì thấy sự vật như thấy trăng dưới nước, bóng trong gương… gọi là Thể không quán
Các pháp tính không mà chấp cho là thật có, ấy là vọng tưởng Nhưng nếu lại chấp tướng không mà phá hủy tất cả, không thừa nhận vọng tưởng là có
thật, thì lại rơi vào tà kiến Vì vậy mà trong Đại Trí Độ Luận đã cảnh tỉnh như
sau: "Nếu người không tu tập hai Không ấy, tức rơi vào hai bên hoặc thường hoặc đoạn diệt, vì sao? Vì nếu các pháp thật có thời không có nghĩa diệt, bị rơi vào chấp thường; như người ra khỏi nhà này đi vào nhà khác, mắt tuy không thấy mà không gọi là không có Các pháp cũng như vậy, từ đời vị lai đi vào đời hiện tại, từ đời hiện tại đi vào đời quá khứ, như vậy thời không diệt
Hành giả vì lo sợ “Có”, mà dùng “Không” để phá tâm chấp “Có”, song lại chấp “Không” mà đắm vào “Không”, thời bị rơi vào đoạn diệt Vì vậy nên tu hành “Không” ấy để phá “Có”, cũng không đắm “Không” Xa lìa hai cực đoan
ấy, lấy Trung Đạo để hành mười tám Không, dùng tâm đại bi mà độ chúng sinh, thế cho nên sau mười tám Không, đều nói chẳng phải thường chẳng phải
2
Hý luận là những lời nói không có ý nghĩa, không có sự thực, là những lời nói làm rối loạn nội tâm
Trang 9pháp vốn không được gì, như người ở giữa đống trân bảo lượm lấy ngọc thủy tinh, mắt tuy thấy đẹp mà chẳng có giá trị gì".[57, tr 233]
Đại Trí Độ Luận không chỉ ẩn chứa những tư tưởng triết lý vi diệu của
Phật giáo mà còn ảnh hưởng rất lớn đến các nhà tu hành trong quan niệm về thế giới Nhân sinh Vì vậy, để tìm hiểu và làm rõ hơn tư tưởng triết học trong
bộ Luận này, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số tư tưởng triết học trong Đại Trí Độ Luận” làm luận văn Thạc sỹ triết học, chuyên ngành Tôn giáo học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong kho tàng tư tưởng nhân loại từ xưa cho đến nay, Phật giáo như một cây cổ thụ lặng lẽ, đầy cuốn hút giữa một rừng tư tưởng Mặc dù nội dung chủ yếu của Phật giáo là bàn về vấn đề giải thoát - đưa chúng sinh thoát khỏi nỗi khổ đau của cuộc đời hiện thực, nhưng với tư cách là một học thuyết mang đậm tính triết lý, nên những tư tưởng của Phật giáo cũng luận bàn nhiều những vấn đề của triết học như quan niệm về sự tồn tại của thế giới (bản thể luận), về
sự tồn tại của con người và ý nghĩa của cuộc sống (Nhân sinh quan) Những quan niệm về “Pháp”, “Bản thể”, “Tâm”, “Vô thường”, “Vô ngã”, “Sắc không”, “Nhân quả”, “Luân hồi”, “Nghiệp báo”, “Thập nhị nhân duyên”, “Tứ diệu đế”, “Giải thoát”, “Niết bàn” là những tư tưởng thể hiện điều đó
Tư tưởng triết học và triết học Phật giáo trong lịch sử và hiện tại ở Việt Nam đã có khá nhiều các công trình khoa học nghiên cứu rất thâm sâu Mỗi công trình khoa học đó lại có những điểm quy chiếu dưới nhiều góc độ khác
nhau và ta có thể kể đến một số công trình điển hình như sau: Cuốn Triết học
phương đông và phương Tây vấn đề và cách tiếp cận của Nguyễn Quang Hưng
- Lương Gia Tĩnh và Nguyễn Thanh Bình đồng chủ biên (2012), (Nxb chính trị quốc gia - sự thật Hà Nội) đã bàn về Triết học phương Tây, một số vấn đề
Triết học phương Đông và lịch sử tư tưởng Triết học VN; Cuốn Những vẫn đề
cơ bản của Triết Học của S.E.Frost,Tr Ph D trước tác và Đông Hương – Kiến
Văn biên dịch (Nxb từ điển Bách Khoa- 2008) mang tới cho bạn đọc những
Trang 10quan điểm, cách nhìn nhận và giải quyết những vấn đề cốt lỗi của Triết học như bản chất của vũ trụ, vị trí của con người trong vũ trụ, con người và nhà
nước, con người và giáo dục, ý thức và vật chất, ý tưởng và tư duy; Cuốn Triết
học tôn giáo của Mel Thomson, (Nxb chính trị quốc gia – 2004) trình bày về
kinh nghiệm tôn giáo, ngôn ngữ tôn giáo, mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa
học, tôn giáo và đạo đức, nhân cách, tôn giáo với cái thiện cái ác; Cuốn Đại
cương Triết học Trung Quán luận, Jaidevsingh, Thích Viên Lý dịch (Viện triết
lý VN và Triết học thế giới 1998) Công trình biên soạn này trình bày một cách
rõ ràng từ lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống triết học Trung Quán cho đến khởi nguyên, cấu trúc, sự phát triển và mục đích của Trung Quán phái biện chứng pháp Chẳng những thế, nó còn thuyết minh một cách tường tận những nhận xét khác nhau về những khái niệm Phật Pháp luận v.v kể cả những lý tưởng về Giới Luật, tôn giáo, Niết bàn, quan hệ duyên khởi, giữa Đại thừa và Nguyên Thủy Đối với ý nghĩa “Không” và “Không Tính” kể cả những
ý nghĩa được bao hàm trong phương diện giá trị luận và cứu thế học cũng đã
được văn bản này mổ xẻ, trình bày một cách rốt ráo, tỉ mỉ; Cuốn Đại thừa Phật
giáo tư tưởng luận, ; KimMuRa taiken Thích Quảng Độ dịch, (Viện đại học
Vạn Hạnh 1969); cuốn sách này tác giả nghiêm cứu về lịch sử tư tưởng của Phật giáo Đại thừa, những triết lý trong giáo lý Phật giáo như: bản chất của tôn giáo với Phật giáo, giải thoát luận Phật giáo, chân như quann của Phật giáo từ
đó tác giả đưa ra nhưng ý nghĩa thực tiễn trong Phật giáo Đại thừa Bên cạnh
đó còn có các cuốc sách Tư tưởng Phật giáo - Tâp II , Thích Trí Quảng (2004) Nxb Tôn Giáo; Walpola Rahula, Thích Nữ Trí Hải dịch, Tư Tưởng Phật Học,
Nxb Văn Hóa Sài Gòn.v.v… cũng bàn luận về các vấn đề triết học trong giáo
lý của đức Phật
Ngoài ra còn có các Luận án tiến sĩ triết học của: Đoàn Văn An (2001),
Tư tương triết học trong kinh Kim Cương (Học viện khoa học xã hội)Luận án
đã đưa ra được một cái nhìn hệ thống khi tiếp cận kinh Kim Cương từ phương diện triết học, qua việc phân tích, làm rõ những nội dung triết học cơ bản trong
Trang 11bản kinh này, như vấn đề Bản thể luận, Nhận thức luận, Mẫu người lý tưởng
và triết lý nhập thế Từ những phân tích về nội dung triết học trong kinh Kim
Cương, đặc biệt là về mẫu người lý tưởng và triết lý nhập thế, luận án đã bước đầu chỉ ra những ảnh hưởng của kinh Kim Cương đến việc hình thành một đặc điểm nổi bật trong Thiền học Việt Nam thời Lý – Trần, đó là tinh thần nhập
thế; Cuốn Tư tưởng Triết học của Trần Nhân Tông của Bùi Huy Du (Đại Học
Quốc gia Tp HCM, 2011) Luận án này tác giả trình bày về cơ sở xã hội và những tiền đề tư tưởng hình thành Triết học của Trần Nhân Tông, phân tích nội dung tư tưởng Triết học cơ bản của Trần Nhân Tông qua các vấn đề Triết học về bản thể luận, đạo đức nhân sinh, từ đó rút ra những đặc điểm và giá trị trong lich sử tư tưởng Triết học VN; Luận văn thạc sĩ triết học của: Nguyễn
Thị Hảo (2000) Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín
đồ Đạo Phật hiện nay (qua quan sát một số Chùa ở HN), Viện Triết học Ở
luận văn này tác giả đã hệ thống hóa và phân tích những vấn đề thuộc nhân sinh quan của Phật giáo như: Quan niệm về con người và cuộc đời con người, quan niệm về giải thoát và con đường giải thoát, Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh Phật giáo ở tín đồ đạo Phật Hà Nội hiện nay qua niềm tin tôn giáo, việc thực hiện lễ nghi và sự thực hành giới luật của họ Từ đó rút ra những kết luận về ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội nước ta hiện nay
Riêng với bộ Đại Trí Độ Luận, vào những năm đầu thập niên 40 của thế
kỷ XX, nó mới được học giả người Pháp là Étienne Lamotte dịch mang tựa đề
Le Traité de la Grande vertu de Sagesse Nhưng mới chỉ được xuất bản tập
đầu vào năm 1944; tập 3 năm 1970 và tập 5 năm 1980 Ở Việt Nam, trước đây Đại Trí Độ Luận mới chỉ biết đến qua hai bản dịch do Ni sư Diệu Không và Hòa thượng Trung Quán dịch Và gần đây nhất, là bản dịch của Hòa thượng Thiện Siêu, viện nghiên cứu Phật học Việt Nan xuất bản, gồm 5 tập Đó là những bản Hán được dịch sang tiếng Việt Bên cạnh đó là các nhà tu hành có kiến thức uyên thâm Phật học đã giảng dạy và giải thích một số tư tưởng triết học thể hiện qua bộ luận, nhưng chưa có công trình nào luận giải hay nghiên
Trang 1210
cứu một cách căn bản về tư tưởng triết học của Đại Trí Độ Luận Do vậy, việc
nghiên cứu “Một số tư tưởng triết học trong Đại Trí Độ Luận” là cần thiết và
có ý nghĩa, từ lý luận đến thực tiễn trong việc phát huy vị trí và vai trò của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử và hiện tại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn nhằm phân tích và làm rõ một số nội dung tư
tưởng triết học cơ bản trong bộ Đại Trí Độ Luận và thông qua việc khảo sát
nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu được những tư tưởng triết học sâu sắc trong kho tàng giáo lý đạo Phật và đạo Phật Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Lược khảo về Đại Trí Độ Luận
- Nhiệm vụ thứ 2: Bản thể luận trong Đại Trí Độ Luận
- Nhiệm vụ thứ 3: Nhận thức luận trong Đại Trí Độ Luận
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Từ quan điểm Phật học và trên cơ sở phương pháp luận biện chứng khoa
học, tôn giáo học để làm rõ những vấn đề triết học cơ bản trong Đại Trí Độ
Luận Ngoài việc khảo sát, phân tích, đúc kết nội dung những vấn đề trong bộ
Luận, luận văn còn đối chiếu những bộ Kinh điển và những công trình khảo cứu có liên quan trực tiếp đến bộ Luận này, đặc biệt là những chuyên khảo về
triết học, nhằm chỉ rõ đâu là tư tưởng triết học trong bộ Đại Trí Độ Luận
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong hướng nghiên cứu đó, luận văn sử dụng những phương pháp cơ bản sau: Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp
nghiên cứu lịch sử triết học và phương pháp chú giải học (còn gọi là Thông diễn)
Trang 1311
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bản luận văn này là tư tưởng triết học được thể
hiện trong bộ Đại Trí Độ Luận, trên cơ sở bản dịch của Hòa thượng Thích
Thiện Siêu, có đối chiếu với bản chữ Hán được khắc in và sử dụng phổ biến ở Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là một số tư tưởng triết học trong Đại Trí Độ
Luận được thể hiện qua các mặt bản thể luận và nhận thức luận
6 Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn khảo sát, nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển
và những đặc điểm cơ bản trong bộ Đại Trí Độ Luận
Thứ hai, bước đầu phân tích và làm rõ những tư tưởng triết học được thể
hiện trong Đại Trí Độ Luận
Thứ ba, từ những kết quả đạt được, luận văn có thể đặt cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tư tưởng triết học Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn giúp ta hiểu sâu sắc hơn về một số tư tưởng triết học trong bộ
Đại Trí Độ Luận và từ đó góp phần đặt cơ sở cho việc tu tâp để tiến tới quả vị
giải thoát, giác ngộ
Đây là chuyên đề khảo cứu đầu tiên ở Việt Nam, nghiên cứu một cách
khái quát có hệ thống về “Một số tư tưởng triết học trong Đại Trí Độ Luận”,
nó có giá trị đặt cơ sở ban đầu cho khảo cứu chuyên biệt về triết học trong Đại Trí Độ Luận nói riêng và trong các bộ Kinh, Luận nói chung
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, nội dung chính gồm 3 chương 7 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 1412
Trang 1513
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO VỀ ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN
1.1 Thân thế và sự nghiệp của tác giả Long Thọ
1.1.1 Thân thế của Long Thọ
Long Thọ là tên gọi theo cách dịch trong tiếng Trung Hoa Tên của ông trong tiếng Sanskrit là Nāgārjuna “Nāga” là loài rắn Trong tín ngưỡng Ấn
Độ, rắn là một loài hung dữ và tượng trưng cho sự phá hủy Rắn được tôn thờ như một vị thần và đúng như tên gọi, Nāgārjuna như một rắn thần hung dữ Bằng tính Không luận, Ngài phá hủy tất cả giáo thuyết về Tiểu ngã và Đại ngã của Bà la môn giáo, phá hủy tất cả quan niệm về “linh hồn” đang thịnh hành trong giới bình dân của Độc tử bộ, phá hủy tất cả luận thuyết “Nhất thiết hữu” đang ảnh hưởng trong giới trí thức của Nhất thiết hữu bộ
Long Thọ thường được xem là tông chủ của nhiều tông phái thuộc truyền thống Đại thừa Do vậy, thời gian ra đời và công cuộc hoằng pháp của Ngài có một số khác biệt khi được ghi lại trong các sử liệu của các tông phái Sử liệu
sớm nhất về Long Thọ là tác phẩm Long Thọ Bồ tát truyện [31, tr 406] Tác
phẩm này được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Trung Quốc vào năm
405 SCN Bản dịch Long Thọ Bồ tát truyện của Cưu Ma La Thập không đề cập
năm sinh, nhưng những học trò của Cưu Ma La Thập như Huệ Viễn cho rằng Long Thọ ra đời vào thế kỷ thứ IX sau Phật diệt độ Căn cứ vào những nguồn
sử liệu này và so sánh với sử liệu Tây Tạng, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng Long Thọ có thể sinh vào năm 113 và mất vào năm 173 [41, tr 50 - 53] T.R.V Murti cũng cho rằng Long Thọ thành lập Trung Quán tông vào năm
150 SCN [82, tr 87] Và nhìn chung, các sử gia Phật giáo và các nhà cứu nghiên lịch sử Ấn Độ đồng ý rằng Long Thọ là bạn thân cũng là thầy của vua Gautamīputra, triều đại Śātavāhana ở Nam Ấn Vua Gautamīputra trị vì, theo giáo sư Raychaudhuri [63, tr 491], trong khoảng 103 đến 130 SCN và theo
Trang 16Thọ sinh ra ở nước Vidarbha (phía Nam Kosala), nay là thành phố Nagpur,
thuộc tiểu bang Maharastra của miền Nam Ấn Độ Theo Long Thọ Bồ tát
truyện, ngay từ nhỏ, Long Thọ tỏ rõ là một cậu bé thông minh, đến tuổi trưởng
thành, ông xuất gia học Phật Thời gian đầu, ông theo học giáo điển của các bộ phái thuộc Thanh Văn thừa, chỉ trong 90 ngày, ông đã lĩnh hội toàn bộ giáo nghĩa của các bộ phái này Nhưng không hài lòng với lời dạy trong những kinh điển này, Long Thọ vân du cầu học Một hôm, ngài gặp một Trưởng lão cao Tăng đang sống ẩn dật trong núi Tuyết Sơn Tại đây, vị Tăng trưởng lão này trao cho ông một số kinh điển của Đại thừa, ông rất hài lòng và say mê nghiên cứu Sau đó, Long Thọ được mời đến long cung của Long Vương ở đây, ông
nhận được thêm nhiều kinh điển khác của Đại thừa, nổi bật nhất là kinh Bát
nhã [42, tr 185c19 - 186a]
Sự kiện Long Thọ vào Long Cung để nhận kinh điển Đại thừa có hơi hướng huyền thoại hóa lịch sử Có thể thời gian đầu, Long Thọ xuất gia học Phật theo Đại chúng bộ hoặc chi phái của Đại chúng bộ, những bộ phái đang thịnh hành tại Nam Ấn Trong thời gian này, ngài thân cận một số trưởng lão
có tư tưởng Đại thừa sống trong các chi phái của Đại chúng bộ, cụ thể là phái Pūrvaśailas và Aparaśailas Truyền thống Tây Tạng ghi lại rằng vào thế kỷ đầu Công Nguyên, hai chi phái này đã tụng đọc và nghiên cứu giáo nghĩa của
kinh Bát nhã [66, tr 387] Nên Long Thọ đã nghiên cứu kinh điển Đại thừa, đặc biệt là Tiểu Phẩm Bát nhã với các trưởng lão có tư tưởng Đại thừa trong
hai chi phái của Đại chúng bộ Gặp được kinh điển Đại thừa, Long Thọ say mê nghiên cứu, hành trì theo giáo thuyết của kinh điển Đại thừa Với trí tuệ siêu việt và năng lực phi phàm, ông đã trước tác nhiều tác phẩm để xiển dương giáo
điển Đại thừa, kiệt tác nhất là Trung Luận, và truyền bá giáo điển ấy
Trang 1715
Nhận thấy cần truyền bá giáo điển Đại thừa lên Bắc Ấn, Long Thọ đã du hóa về phương Bắc Đầu tiên ông đến các khu vực phía Tây thuộc quyền cai trị của hoàng tộc Śaka Rồi đi dần lên Tây Bắc của hoàng tộc Kuṣāṇa [74, tr 34]
Và sau đó, theo các sử gia Tây Tạng, Ngài xuôi về Đông Bắc Tại Đông Ấn, ông đã lưu lại và giảng dạy một thời gian dài tại Nalanda Cuối đời, Long Thọ trở về Nam Ấn và sống tại tu viện Śrīparvata [84, tr 106] Tại tu viện này, Ngài đã tiếp nhận Thánh Thiên làm đệ tử Thánh Thiên là học trò kiệt xuất nhất của Long Thọ, đã có người có thể tiếp nối công việc trước tác và hoằng pháp, Long Thọ bắt đầu nghĩ đến việc viên tịch
Theo Huyền Trang, với sở chứng của mình, Long Thọ có thể sống vài trăm năm Nhưng với phong thái của một Đại sỹ Long Thọ tự tại giữa sống và chết, Ngài đã tự cắt đứt đầu của mình theo lời đề nghị của một hoàng tử, con
Thọ viên tịch tại Tu viện Śrīparvata Sau này, tu viện Śrīparvata thường được gọi là tu viện Nāgārjunakoṇḍa, gọi theo tên của Long Thọ Nāgārjunakoṇḍa nay thuộc Andra Pradesh, một tiểu bang ở miền Đông Nam Ấn Độ
Long Thọ là một Tu sĩ thuộc truyền thống Đại thừa nên ông dấn thân không mệt mỏi để xiển dương giáo lý Đại thừa nói chung và luận thuyết tính Không của ông Long Thọ đưa ra luận lý “Bát bất Trung đạo” Và với luận lý này, ông đả phá triệt để những luận thuyết về Thực tại luận và Đa nguyên luận của các bộ phái Phật giáo và các chi phái của Bà la môn giáo [64, tr 99] Long Thọ tuyên bố tính của tất cả các pháp là Không tính
Long Thọ cũng là một Tăng sĩ Phật giáo nói chung nên Ông luôn tận tâm bảo vệ Tăng sĩ của tất cả bộ phái Phật giáo và thừa nhận những giáo lý chung của Phật giáo Trong một lá thư dài gửi vua Gautamīputra, Long Thọ chỉ dành
3
Theo ký sự của ngài Huyền Trang được T Watters dẫn lại, Bồ-tát Long Thọ sống đến mấy trăm tuổi Và tuổi thọ của vua Dẫn Chính tùy thuộc vào tuổi thọ của ngài Long Thọ Hoàng tử út của vua
và mẹ của hoàng tử này tin rằng chỉ khi nào ngài Long Thọ xả thọ mạng và thị tịch thì vua mới băng
hà Hoàng tử này không muốn qua đời trước vua cha và muốn sớm lên ngôi vua Nên đã đến thỉnh cầu Bồ-tát Long Thọ xả bỏ thọ mạng Chấp nhận lời thỉnh của hoàng tử, Bồ-tát Long Thọ xả bỏ thọ mạng và tự chấm dứt mạng sống của ngài.
Trang 18Tóm lại, Long Thọ (Bodhisattva Naga rjuna) còn có tên là Long Thắng, hay Long Mãnh, thuộc dòng Phạm Chí, chủng tộc Naga (Rồng Long) người miền Nam Ấn Độ, ra đời sau khi Đức Phật diệt độ khoảng 700 năm vào thế kỷ thứ II SCN Ông sinh dưới cội cây A Chu Đà Nâu, nên có tên là Nagarjuna, lãnh đạo một nhóm gồm 500 người tài giỏi, cùng nhau tu luyện dưới cội cây đại thụ, nên còn có tên là Long Thọ Ngay từ thủa nhỏ với bẩm tính thông minh, khi nghe Phạm Chí tụng bốn kinh Vệ Đà, mỗi khi có bốn vạn bài kệ có
ba mươi hai chữ, ông đều thuộc lòng tất cả văn nghĩa Năm 20 tuổi ông chu du khắp nơi giao tiếp với nhiều đạo sĩ, các nhà học thuật, nghiên cứu môn thiên văn, địa lý, bói toán, sấm ký.v.v môn nào cũng thấu đáo Ông thường cùng bàn luận nghĩa lý với các bạn hữu, làm sáng tỏ các vấn đề Ông lưu tâm suy nghĩ, tìm hiểu cuộc sống thực tại ở thế gian
Vì sớm nhận thức cuộc đời là vô thường, các pháp là giả hợp, con người
vì lòng tham dục bất chấp lòng thủ đoạn để thỏa mãn những ham muốn đời thường, nên ông đã từ bỏ cuộc sống thế tục vào hang núi, dưới tán cổ thụ rợp bóng mát ẩn tu luyện Nhờ vào tài năng và đức độ nên chẳng bao lâu danh tiếng đồn vang, người đến tham học với ông rất đông
Trang 1917
Đến khi gặp Tổ Ca Tỳ Ma La cảm hóa, ông xin xuất gia thụ trì giới pháp
Từ đó ông dốc lòng nghiên cứu của cả hai tư tưởng Nguyên thủy và Đại thừa, sau đó biên soạn củng cố thành một hệ thống giáo học của Phật giáo Đại thừa Ông là người đầu tiên có công lập đại thành các kinh điển Đại thừa thành hệ Tam Luận Tông hay Tứ Luận Tông (Trung luận, Thập nhị môn, Bách luận và Đại Trí Độ Luận…) gọi chung là Không Tông Ông có một tầm hiểu biết uyên bác về Phật học, thế học và Tôn giáo học Số lượng trước tác của ông rất lớn, Trung Luận là một tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu trong số ấy Bên cạnh đó thì
bộ Đại Trí Độ Luận cũng là bộ Luận rất quan trong và có ảnh hưởng rất lớn trong thời kỳ đó
Sau khi Tổ Ca Tỳ Ma La truyền thừa tâm ấn ông đi giáo hóa khắp nơi, thính chúng đến nghe pháp và thọ giới nơi ông rất đông, trong số đó có Ca Na
Đề Bà đến thụ pháp nhãn tạng rồi vào Nguyện Luận Tam Muội hiện thần biến tướng từ trên bổn tòa an nhiên, thị tịch
1.1.2 Những trước tác của Long Thọ
Những trước tác của Long Thọ được viết bằng chữ Phạn cổ điển hoàn toàn, không phải chữ Phạn tạp chủng (Buddhist Hybrid Sanskrit) thường thấy trong các bộ kinh Đại thừa Nguyên nhân có lẽ là do Long Thọ xuất thân từ dòng dõi Bà la môn nên thông thạo chữ Phạn cổ điển hơn hết Theo văn phong
mà suy đoán thì các tác phẩm của ông chịu ảnh hưởng của các bộ kinh Bát nhã, nhưng đồng thời lại rất trung thành với những bài thuyết pháp của Đức
Phật trong các bộ Kinh Luận quan trọng nhất của ông là bộ Trung Quán luận
với 27 chương (sa mūlamadkyamakakārikā) Ngoài ra, một số tác phẩm có tính chất triết học, luân lí được xem thực sự là thủ bút của Ông như:
1 Căn bản Trung Quán Luận tụng (Sa.mūla- madhyamaka-kārikā), cũng
gọi là Trung Quán Luận Tụng, hoặc Trung Quán Luận (Sa śāstra), Cưu Ma La Thập dịch ra Hán văn Hiện vẫn còn Phạn bản
madhyamaka-2 Căn bản trung quán luận thích vô uý chú (Sa mūlamādhyamikavṛtti -
akutobhayā), được gọi tắt là Vô uý chú, chỉ còn bản Tạng ngữ;
Trang 2018
4 Thập Nhị Môn Luận (Sa Dvādaśanikāya - śāstra, dvādaśadvāra -
śāstra), Cưu Ma La Thập dịch
5 Nhân Duyên Tâm Luận Tụng (Sa Pratītyasamutpāda - hṛdaya - kārikā),
không biết người dịch; hiện vẫn còn Phạn bản
6 Đại Thừa Nhị Thập Tụng (Sa Mahāyāna - viṃśikā), Thí Hộ dịch
7 Bảo Hành Vương Chính Luận (Sa Rājaparikathā - ratnāvalī, cũng được
gọi là ratnāvalī, hay Vòng bảo châu), 1 quyển, Chân Đế (Sa paramārtha) dịch; hiện vẫn còn Phạn bản
8 Thất Thập Không Tính Luận (Sa Śūnyatā - saptati), bản Tạng ngữ vẫn
còn; và Phạn bản cũng còn
9 Thất Thập Không Tính Luận Thích (Sa Śūnyatā - saptativṛtti), chú giải Thất Thập Không Tính Luận, Nguyệt Xứng (Sa candrakīrti) và Parahita
cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này
10 Phương Tiện Tâm Luận (Sa upāya-hṛdaya), một tác phẩm về luân lí
học (nhân minh) được xem là của Long Thọ, bản dịch Hán vẫn còn do Cát Ca
Dạ dịch
11 Tập Kinh Luận (Sa sūtrasamuccaya); có hai tập dưới tên này: một tác
phẩm có lẽ đã thất truyền của Tịch Thiên (sa śāntideva) và một tác phẩm được xem là của Ngài
12 Hồi Tránh Luận (Sa.Vigraha - vyāvartanī, vigrahavyāvartanīkārikā),
Tì Mục Trí Tiên và Cù Đàm Lưu Chi dịch chung; còn Phạn bản
13 Hồi Tránh Luận Thích (Sa vigraha-vyāvartanī-vṛtti)
14 Long Thọ Bồ Tát Khuyến Giới Vương Tụng (Sa
Ārya-nāgārjunabodhisattva- suhṛllekha), Nghĩa Tịnh dịch; còn Phạn bản
15 Quảng Phá Kinh (vaidalya - sūtra?), Quảng Phá Luận
(vaidalyaprakaraṇa?), bản dịch Hán và Tạng ngữ vẫn còn
Trang 2119 Đại Thừa Phá Hữu luận (Sa mahāyāna-bhavabheda-śāstra), 1 quyển,
Đạt Ma Cấp Đa (sa dharmagupta) dịch
20 Tán Pháp Giới Tụng (Sa Dharmadhātu - stotra), 1 quyển, Thí Hộ dịch
21 Bồ Đề Tư Lương Luận (Sa bodhisaṃbhāraka), 6 quyển, Đạt Ma Cấp
Đa (Sa dharmagupta) dịch
Trong các bộ Luận trên nổi tiếng nhất là Đại Trí Độ Luận, Thập Nhị Môn
Luận, đặc biệt là Trung Quán Luận là bộ Luận được các giới học giả rất quan
tâm
Có thể nói với đạo hạnh và sự nghiệp của mình, Long Thọ xứng đáng là một vị Đại Bồ tát, với đầy đủ đạo đức, trí tuệ siêu phàm Ông có cả một kiến thức toàn khoa trong các bộ môn Phật học, thế học và tôn giáo học Ông đã có công kế thừa nhịp cầu tư tưởng cách mạng Đại thừa của Mã Minh, tạo thế đứng vững chắc, xiển dương giáo nghĩa Đại thừa, đả phá tà kiến ngoại đạo Triết thuyết “Không” của Long Thọ phủ nhận tất cả những cái gì cho là thật có
và nó phát triển cực mạnh, tổng nhiếp các nguồn tư tưởng Hữu luận, Không luận và Hiển giáo, Mật giáo một cách độc đáo Qua biện chứng pháp siêu việt, ông đã sáng lập ra trường phái Trung Đạo, một nhánh lớn của Phật giáo Đại Thừa, trên vũ đài tôn giáo Đại Thừa Đồng thời đưa Phật giáo Đại thừa lên vũ đài tôn giáo giáo để có thể đua tài với các bộ phái khác hay Bà la môn giáo Danh tiếng của ông ảnh hưởng đến cả khu vực Tây Bắc Ấn Độ bấy giờ
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Đại Trí Độ Luận
Khoảng vào đầu kỷ nguyên Tây lịch, trào lưu Đại thừa ở Ấn Độ đã thực
sự lớn mạnh cả về tổ chức Tăng già cũng như nền tảng giáo lý, với hệ thống Kinh
Trang 2220
tạng, Luật tạng, Luận tạng được lập thành ngày càng nhiều cùng với sự xuất hiện của các vị Luận sư tên tuổi đã gia sức cổ vũ cho sự phát triển của nó
Mọi sự chú ý của các nhà nghiên cứu từ trước đến nay đều tập trung vào
kỳ kết tập Kinh điển lần thứ 2, xảy ra vào khoảng 100 năm sau khi Đức Phật nhập diệt (tức vào khoảng năm 380 TCN), bởi theo họ đây chính là đầu mối dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Tuy nhiên, như chúng ta
đã biết, đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 2 được tổ chức tại Vaisali (Tỳ xá ly), thủ đô của vương quốc magdha (Ma kiệt đà), chỉ nhằm tập chung giải quyết những bất đồng xung quanh vấn đề Giới Luật, cụ thể là 10 điều Luật bổ xung (Thập phi pháp sự) do nhóm Tỳ Khiêu Bạt Kỳ (Vajji) đưa ra Từ sau đại hội này mặc dù Tăng đoàn bị phân ra làm hai, gồm Thượng Tọa bộ (Sthavirava dins) và Đại Chúng bộ (Mahasanghika), do sự bất đồng giữa các vị trưởng lão bảo thủ và các vị Tăng sĩ trẻ có tư tưởng cấp tiến, nhưng đây không phải là ngọn nguồn dẫn đến sự ra đời của hai phái Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Theravada)
Có thể nói nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phân phái Tiểu thừa và Đại thừa vốn xuất phát từ những bất đồng trong nội bộ Tăng đoàn về việc giải thích giáo lý của Đức Phật, như về quả vị tu chứng, về phương pháp tu tập chứ không phải bắt nguồn từ những bất đồng về vấn đề Giới Luật Theo đó có thể xem Mahadeva (Đại Thiên) chính là người đầu tiên đã châm ngòi nổ cho sự xuất hiện tư tưởng Đại thừa khi đưa ra thuyết “La hán ngũ sự”, với nội dung phê phán khả năng về quả vị A la hán của truyền thống Thượng Tọa bộ Theo
họ, một người tuy đã chứng A la hán quả vị cao nhất trong Phật giáo Tiểu thừa nhưng các vị này chưa phải là bậc toàn giác, vẫn còn mắc phải 5 khuyếm khuyết và do vậy họ vẫn cần phải nỗ lực rất nhiều mới có thể đạt đến quả vị giác ngộ giải thoát tối thượng
Do vậy, trong một chuyên khảo về mối quan hệ giữa Đại thừa và Tiểu thừa, Malinaksha Dutt cho rằng: Các vị Đại Chúng bộ có thể là các nhà tiên phong của Đại thừa, nhưng rõ ràng các vị Nhất Thiết Hữa bộ đã cống hiến rất
Trang 2321
nhiều cho sự lớn mạnh của Đại thừa, bằng cách này hay cách khác Như một dấu hiệu của sự tiếp xúc mật thiết, Subhùti (Tu Bồ Đề), một nhân vật quan trọng của truyền thống Nhất Thiết Hữu bộ trong các tập Prajnàparamita (Bát nhã Ba la mật) [72, tr 42] và đó là một bộ Kinh điển nền tảng của Phật giáo Đại thừa
Bộ Kinh Bát nhã (Prajna) này được lưu hành rất sớm tại Ấn Độ dưới thời
đại vua A Dục (thế kỉ thứ III TCN), chủ yếu của giáo lí Bát nhã là tư tưởng Không, vốn là một trong những tư tưởng chính yếu về thế giới quan của Đại
Chúng bộ Chính trong Kinh Tiểu Phẩm Bát nhã đã xác nhận: Kinh Bát nhã Ba la
mật đa này bắt đầu ở phương Nam; từ phương Nam truyền qua phương Tây; từ
phương Tây truyền tới phương Bắc; rồi từ đó mà lan rộng ra khắp bốn phương
Bộ Đại Bát Nhã Ba la mật do Huyền Trang dịch vào đời Đường đã có đến
600 quyển, và trong Hán tạng, hiện có hơn 700 quyển kinh thuộc hệ Bát nhã này, tuy rằng trong đó cũng có bản Kinh được trùng dịch lại nhiều lần Một số bản Kinh tiêu biểu thuộc hệ Kinh Bát nhã, hiện nguyên bản tiếng Phạn vẫn còn
mà chúng ta thường biết đến như:“Bát thiên tụng Bát nhã” (Astasahasrika- prajnaparamita) hay còn gọi là Tiểu phẩm Bát nhã, Đạo hành Bát nhã;“Nhị
Vạn Ngũ Thiên tụng Bát nhã” (Pancavimsatasahasrika- prajnaparamita) còn
gọi là Đại phẩm Bát nhã hoặc Phóng quang Bát nhã; “Văn Thù Sư Lợi thuyết
Bát nhã Ba la mật Kinh” (manjusriparivarta- prajnaparamita) còn gọi là Bát
nhã Thất Bách tụng; “Bát Nhã lý thú phần” (Adyardhasatika- prajnaparamita);
“Thánh Thiên Vương Bát nhã Ba la mật Kinh” (Suvikrantavikramipariprccha-
prajnaparamita); “Đại Bát nhã sơ phần” (Satasahasrika- prajnaparamita) còn gọi là prajnaparamita); “Bát nhã Ba la mật đa tâm Kinh” (Prajnaparamita-
hrdaya); “Kim Cương Bát nhã Ba la mật kinh” (Vajracchedika-
prajnaparamita)
Hiện có nhiều quan điểm trái ngược nhau trong việc xác định niên đại
xuất hiện của các tập Bát nhã này Có ý kiến cho rằng, bản Kinh nào có dung
lượng ngắn nhất chính là bản Kinh văn xưa nhất, vì chúng có lối hành văn
Trang 2422
ngắn gọn, hàm xúc và chuyển tải được toàn bộ tinh yếu của hệ tư tưởng Bát
nhã; còn những bản Kinh nào có dung lượng lớn hơn, văn cú rườm rà, chỉ là sự
quảng diễn về sau trên cơ sở những Kinh văn trước đó Qua việc khảo sát ngôn ngữ văn bản tiếng Phạn của những tập Kinh Bát nhã, các nhà ngữ học Phật
giáo cho rằng, bản Kinh Bát nhã xuất hiện sớm nhất chính là “Bát thiên tụng
Bát nhã” (Astasahasrika- prajnaparamita) hay còn gọi là Tiểu phẩm Bát nhã, Đạo hành Bát nhã Đây là bản Kinh được tập thành trong khoảng thế kỷ thứ I
TCN và từ sau nó các Kinh văn khác thuộc hệ Bát nhã lần lượt được thành lập, kéo dài trong suốt nhiều thế kỷ, và kết thúc vào khoảng thế kỷ thứ III SCN Trong Tiểu Phẩm Bát nhã có ghi lại rằng: “Kinh Bát nhã Ba la mật đa này bắt đầu từ phương Nam, rồi từ phương Nam tràn qua phương Tây, lại từ phương Tây tràn qua phương Bắc” [2, tr 57] Tuy niên, theo quan điểm của KimMuRa taiken cũng như hầu hết các nhà Phật học, mặc dù quê hương của Đại chúng bộ được khởi phát từ khu vực Án đạt la (Andhaka) thuộc Nam Ấn, nhưng chính vùng Bắc Ấn mới là trung tâm hưng thịnh của phong trào Đại Thừa và là nơi ra đời của tư tưởng Bát nhã
Cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III SCN, lúc Long Thọ (Nagarjuna) ra đời đã có
hai bộ kinh Bát nhã hoàn thiện là Tiểu Phẩm Bát nhã, còn gọi là Bát nhã 8.000 bài tụng (Astasàhasrikà - Prajnãpàramità) gồm 10 cuốn 29 phẩm và bộ Đại
phẩm Bát nhã 25.000 bài tụng (Pancavimsati-Sàhasrikà-Prajnãpàramita) gồm
27 hay 30, 40 cuốn 9 phẩm Long Thọ viết Luận giải thích kinh Đại Phẩm Bát
nhã đề tên là Mahàprajnàparamitàsatra, gồm có 100 cuốn 90 phẩm
Mahàprajnàparamitàsatra là tiếng Phạn, Mahà nghĩa là Đại, là to, là rộng Prajnà là trí, tức là trí tuệ Paramita là Độ và được gọi là Ba la mật Satra nghĩa
là Luận Do vậy ta gọi đây là Đại Trí Độ Luận Ngoài ra, cũng có rất nhiều các dịch giả gọi khác nhau, cũng gọi là “Đại Luận”, “Trí Luận”, “Luận Đại Trí”
Vì đây là bộ Luận vô cùng quan trọng và dài nhất trong tất cả các bộ Luận nên gọi là “Đại Luận”; được gọi là “Trí Luận” vì nó không có thể nhầm lẫn được với tất cả các bộ Luận khác
Trang 2523
Năm 402 SCN, Cưu Ma La Thập (Kumarajva) đến Trung Hoa dịch Kinh
Đại Phẩm Bát Nhã ra Hán văn đề là Ma ha Bát nhã Ba la mật đa Kinh (tương
đương Hội thứ hai trong kinh Đại Bát nhã của ngài Huyền Trang dịch) và dịch Luận Maha Prajnãpàramità ra Hán văn tên là Đại Trí Độ Luận hay Đại Trí Độ Kinh Luận, Trí Luận, Đại Luận, gồm 100 cuốn 90 Phẩm, từ phẩm tựa đầu cho đến phẩm cuối
Có hai thể luận là Tôn Luận và Thích Luận Lấy một ý nào trong Kinh nêu làm tôn chỉ rồi diễn dịch, hệ thống thành Luận gọi là Tôn Luận, như luận Thập Nhị Môn, Trung luận, Du Già Sư Địa luận v.v… Còn viết Luận giải thích
Kinh như Đại Trí Độ Luận gọi là Thích Luận
Căn cứ theo Đại Trí Độ Luận thì trong 90 phẩm, 66 phẩm đầu của Kinh là
nói về Bát nhã đạo, còn 24 phẩm sau của Kinh là nói về phương tiện đạo Nếu
căn cứ theo sách Đại phẩm Kinh nghĩa lược tự của ngài Cát Tạng thì trong 90
phẩm của Kinh, 6 phẩm đầu Phật nói cho hạng thượng căn như Xá lợi phất v.v… phẩm thứ 7 đến phẩm thứ 14 Phật sai ngài Tu bồ đề nói cho hàng trung căn; từ phẩm 45 đến phẩm 90 là Phật nói cho hàng hạ căn như chư thiên, loài
người
Đại Trí Độ Luận (Mahàprajnàparamitàsatra) là một bộ Luận lớn, bộ Luận
căn bản của Phật pháp, giảng giải bao quát nhiều vấn đề liên quan đến học thuyết, tư tưởng, truyền thuyết, lịch sử, địa lý, các quy định thực tiễn, Giới Luật Tăng già; dẫn dụng nhiều Kinh sách bao hàm cả Kinh A hàm, Luận A tỳ đàm của các Bộ phái, các Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy ma cật, A di đà, luôn cả tư tưởng của phái Thắng luận… Cho nên ví bộ Luận như là một bộ Phật Giáo Bách khoa toàn thư
Đại Trí Độ Luận đã được ông Étienne Lamotte dịch ra tiếng Pháp nhan đề
là Le Traité de la Grande vertu de Sagesse và trường Đại học Louvain xuất bản tập đầu năm 1944, tập 3 năm 1970, tập 5 năm 1980 Các tập khác không rõ xuất bản năm nào
Trang 2624
Ở Việt Nam, Đại Trí Độ Luận đã được giới Phật học quan tâm khá
sớm Chúng ta đã có hai bản Việt dịch Đại Trí Độ Luận của Sư bà Diệu Không
và của Hòa thượng Trung Quán, gần đây là bản Việt dịch công phu, và có giá trị hơn hết của Hòa thượng Thiện Siêu, Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nan xuất bản, gồm 5 tập
1.3 Những đặc điểm chính trong Đại Trí Độ Luận
1.3.1 Triết lý về tinh thần nhập thế của Bồ tát
Cho đến nay, theo chúng tôi, chưa có một định nghĩa nào cụ thể về “nhập thế” Ở đây, chúng tôi tìm hiểu những cụm từ có liên quan đến vấn đề này để cắt nghĩa cụ thể như sau: “Nhập”có nghĩa là: “vào, hợp với; ngoài ra “nhập” còn có nghĩa: được, thâu nạp, hiểu rõ” [8, tr 799] Còn “thế” có nghĩa là: “đời, theo văn minh Tàu ngày xưa, một thế (đời) là ba mươi năm Theo văn minh Âu Châu, một thế là một khoảng trăm năm, tức thế kỷ Đời của một ông vua từ khi lấy hiệu lên ngôi cho đến khi thác kêu là một thế Ông cha, con cháu kế nghiệp nhau, mỗi đời sống kêu là một thế… Riêng về Phật pháp, “thế” tức là thế tục, thói đời Thói đời ấy thường có những thứ chẳng tốt mà nhà tu hành cần hủy
bỏ Thói đời thì sa vào vòng luân hồi, hay chuyển biến Thế ấy có quá khứ, hiện tại, vị lai, gọi chung là tam thế (ba đời) Thế lại là tiếng nói chung để chỉ thế gian” [8, tr 1331 - 1332] Như vậy, “nhập thế” có nghĩa ngắn gọn là đi vào trần gian cứu khổ cứu nạn Nhập thế là vào đời, gánh vác, đem niềm vui, đem lợi lạc tới tha nhân, không phải để thành đạt mục tiêu vị kỷ
Hiện nay, bên cạnh việc “đem đạo vào đời” còn có quan điểm là đem đời vào đạo Vế thứ hai này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau Theo chúng tôi, không nên đối kháng hai vế của một vấn đề mà cần nhìn nhận nó bằng quan điểm thống nhất và duyên khởi Cái này có do cái kia có, cái kia lại tác động ngược lại cái này, cái kia và cái này không thể tách rời, chúng cùng nhau tồn tại, cùng nhau vận động hỗ tương Từ cái nhìn tương quan, biện chứng như vậy, có thể chấp nhận quá trình đạo Phật nhập thế một cách trọn vẹn, tức là “đem đạo vào đời” song song với việc “đem đời vào đạo”
Trang 27Nói đến Bồ tát tức là nói đến người biết ứng dụng lời Phật dạy để giáo hoá chúng sinh có kết quả, và để trở thành một vị Bồ tát thì trong lúc tu hành Thanh Văn, hành giả phải gạn lọc cho thân tâm trong sạch, loại bỏ thói hư tật xấu, trở thành người phạm hạnh, không tác hại người khác Tu hạnh Thanh Văn, hành giả chưa giám nghĩ đến giáo hoá người, chỉ lo tu dưỡng, phát triển khả năng, đạo đức thuần thiện của một Thanh Văn La Hán và từ đó bước qua
Bồ tát đạo Nếu không trải qua giai đoạn Thanh Văn mà thực hiện hạnh Bồ tát hành thì chỉ là Bồ tát giả danh
Các vị Bồ tát biết rằng vạn hữu là như huyễn, chư Phật như bào ảnh, các loại thụ sinh trong mộng mị, tất cả nghiệp báo như bóng trong gương Các pháp hiện hữu khởi lên như bóng nắng, tất cả thế gian như huyễn hoá Lại nữa, các vị Bồ tát này thành tựu 10 năng lực, thành tựu trí tuệ, thành tựu tối thắng,
và thành tựu quyết tính của Như Lai khiến họ có thể rống tiếng rống của con
sư tử Sức mạnh dũng mãnh và tinh tiến của Bồ tát có thể triệt phá được bọn
ma vô minh và phiền não Trí lực Bồ tát có thể soi thấu quá khứ, hiện tại, vị lai… bằng trí tuệ tối thắng Các Ngài vào cõi vô biên thế giới, và hoá hiện muôn ngàn hình tướng khác nhau Họ gặp Đức Phật và được Đức Phật hộ niệm Bồ tát thành tựu chân tâm hộ niệm chân tâm, nhập pháp giới làm lợi lạc chúng sinh, đó là công hạnh của Bồ tát
Ngoài ra, trong hàng Bồ tát thì có Bồ tát thoái chuyển và Bồ tát bất thoái chuyển Bồ tát thoái chuyển là Bồ tát bị thoái thất tâm Bồ đề, các phiền não
Trang 2826
phát sinh, làm các việc ác khinh khi mọi người Như trong kinh Đức Phật dạy:
“Lại nữa, này A nan! Nếu Bồ tát khinh khi Bồ tát khác rằng: Tôi hành Bát
nhã Ba la mật, hành viễn ly không, Ngài không có công đức đó Bấy giờ ác ma
rất vui mừng hớn hở: Nếu có Bồ tát tự thị danh tính bè đảng đông mà khinh
khi chư Bồ tát tốt khác, Bồ tát này không thật có công đức bất thoái chuyển Vì
không thật có nên sinh các phiền não, chỉ ham hư danh mà khinh tiệm người
khác không trong pháp của mình được Ác ma nghĩ rằng; Nay cảnh giới cung
điện của ta sẽ không trống, sẽ đông thêm ba ác đạo” [68, tr 23]
Nói đến Bồ tát bất thoái chuyển tức là Bồ tát tu thiện pháp, thường chính
trực tinh tiến Như Phật hỏi ngài A nan: “A nan! Thầy tinh tiến chăng?
- Anan trả lời: Đúng vậy, bạch Thế Tôn!
- Phật lại hỏi : A nan! Thầy tán thán tinh tiến chăng?
- Anan trả lời: Đúng vậy, đấng Thiện tuệ!
- Phật dạy: A nan! thường hành, thường tu, thường niệm tinh tiến cho đến
khiến cho người đắc Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác” [55, tr 155]
Do đó muốn có tướng bất thoái chuyển thì phải thành tựu được hai pháp
Hai pháp là gì? Thật biết hết thảy pháp là không và cũng niệm nghĩ, không bỏ
tất cả chúng sinh Ngoài ra, cũng phải thành tựu được ba pháp: Một là nhất tâm
nguyện muốn thành Phật đạo, như Kim Cương không thể lay động, không thể
phá hoại Hai là đối với hết thảy chúng sinh, có tâm từ bi, khắc vào xương tủy
Ba là được Bát nhã Tam Muội thấy được chư Phật hiện tại Lúc ấy gọi là Bồ
tát bất thoái chuyển
Trong A tỳ đàm, chúng đệ tử của Ca chiên Diên ni tử (Katya-niputra) nói:
“Sao gọi là Bồ tát? Tự giác lại có thể giác tha, ấy gọi là Bồ tát Chắc chắn sẽ
làm Phật, ấy gọi là Bồ tát Bồ đề là trí tuệ của người lậu tận; người ấy từ trí tuệ
mà sinh ra, được người trí tuệ hộ niệm, được người trí tuệ cúng dàng, ấy gọi là
Bồ tát
Lại nói: “Phát tâm bất thoái chuyển, xa lìa năm pháp, được năm pháp, ấy
gọi là Bồ tát Năm pháp là gì? Lìa ba đường ác, thường sinh vào loài trời và
Trang 2927
loài người; lìa nghèo cùng hạ tiện, thường được tôn quý; lìa khỏi tướng phi nam, thường được thân nam tử; lìa khỏi thân hình tàn khuyết thô lậu, các căn đầy đủ; lìa bỏ tính hay quên, thường nhớ túc mạng, được trí tuệ túc mạng ấy, thường lìa hết thảy các pháp ác, xả bỏ người ác, thường cầu đạo pháp, nhiếp
thủ đệ tử, như vậy gọi là Bồ tát” [55, tr 155 - 156]
Trong kinh điển Phật Giáo Đại thừa, đề cập đến hành trạng của Bồ tát đều nêu rõ: Chư Bồ tát trên đường hành đạo đều thề nguyện mong cầu viên mãn hai đức Bi và Trí Hành nguyện Bồ tát có nhiều phương tiện, như Bồ tát Phổ Hiền dùng hạnh làm chỗ y cứ, Bồ tát Địa Tạng thì lấy nguyện: “Địa ngục vị không thề bất thành Phật”, làm phương châm soi sáng, Bồ tát Đại Thế Chí lấy dũng làm động cơ thúc đẩy trong quá trình độ sinh, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi lấy trí tuệ làm yếu chỉ thực hiện hạnh nguyện của mình Tuy vào đời với nhiều hạnh nguyện khác nhau, phương thức hành đạo khác nhau nhưng mục đích duy nhất của các ngài thị hiện trên thế gian là cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau Nói cách khác, dù lấy đại hạnh, đại trí, đại nguyện hay đại dũng làm phương tiện, chư Bồ tát đều có điểm chung là dùng tâm Đại Bi làm nền tảng Thể Đại Bi tròn sáng là điều kiện cần thiết khi Bồ tát nhập thế độ sinh Nếu không có tâm bi rộng lớn thì không có hạnh nguyện nào đạt kết quả hoàn mãn
Bồ tát do nguyện lực xuất hiện trong trần thế khổ đau, hoà mình với chúng sinh, tuy căn cơ của mỗi chúng sinh mà có cách giáo hoá phù hợp Chúng sinh
có kẻ cao người thấp, kẻ cương cường người nhu hoà, người kính tin đạo pháp
kẻ hồ nghi báng đạo.v.v…Vì thế để chuyển hoá họ, Bồ tát phải có tâm từ bi rộng lớn và đức nhu hoà nhẫn nhục Nhờ có lòng nhẫn nhục nhu hoà, Bồ tát mới khéo tuỳ thuận chúng sinh, chuyển hoá họ xa rời bể khổ đến nơi giải thoát
an lạc Đây chính là tinh thần của một vị Bồ tát Ma ha tát ‘hướng thượng cầu nhất thiết trí, hướng hạ phát đại bi tâm’
Các Bồ tát Ma ha tát ấy nguyện rằng: “Giáo hóa hết thảy mười phương chúng sinh, cúng dàng cung cấp hết thảy mười phương chư Phật Nguyện làm cho hết thảy mười phương Phật độ được thanh tịnh, tâm kiên cố thụ trì hết thảy
Trang 3028
pháp của mười phương chư Phật, phân biệt biết hết thảy các Phật độ, biết
chúng đệ tử của hết thảy chư Phật, phân biệt các tâm của hết thảy chúng sinh,
biết đoạn các phiền não cho hết thảy chúng sinh, biết hết các căn của hết thảy
chúng sinh Vì các nguyện ấy, các Bồ tát phát tâm cầu trú trong Vô thượng
Chính đẳng Chính giác” [55, tr 199]
Đức Phật dạy: “Đúng như vậy này Tu Bồ Đề! Chỗ làm của chư Đại Bồ tát
rất khó: vì chúng sinh mà cầu vô thượng Bồ đề, cứu độ những chúng sinh điên
đảo chấp ta và người
Này Tu Bồ Đề! Như người trồng cây chẳng biết gốc, thân, cành, lá, bông,
trái mà yêu quý vun bón, xới, tưới, cây lớn dần dần, hoa, lá, trái, hạt đều thành
tựu mà được hưởng thụ
Cũng vậy, chư Đại Bồ tát vì chúng sinh cầu vô thượng Bồ đề, lần lần thực
hành sáu Ba la mật, được nhất thiết chủng trí, thành tựu Phật thừa, đem hoa, lá,
trái, hạt làm lợi ích cho chúng sinh” [68, tr 175-176] Như vậy, Bồ tát Ma ha tát chính là biểu trưng của những đức tính cao cả
như: Từ, Bi, Hỷ và Xả Chỉ có những đức tính này mới có thể cái hoàn được
cuộc đời đầy nước mắt và đầy khổ đau nay trở lên một thế giới an vui tươi đẹp
Trong hành động của trí tuệ hay sức lực đều chứa đựng tinh thần “ Hỷ, Xả lợi
tha” Việc gì mang tính lợi lạc kịp thời thì Bồ tát Ma ha tát không ngần ngại gì
Đức Phật thành Phật cũng từ nơi sinh tử luân hồi, không đức Phật nào
thành Phật ngoài chúng sinh, ngoài thế gian, ngoài luân hồi sinh tử Cũng vậy,
Bồ tát theo chân Phật không đi tìm sự giải thoát cho riêng mình, mà đi vào
trong cuộc đời, xuất hiện trong mọi thân, trong mọi thành phần xã hội, thâm
nhập được tâm chúng sinh và làm cho họ được thanh tịnh Tâm chúng sinh
thanh tịnh là Tịnh độ của Bồ tát hay Bồ tát nghiêm tịnh Phật độ bằng việc làm
của mình
“Bồ tát giáo hóa chúng sinh khiến được phúc lạc cõi trời người, dần dần
dụ dỗ tiến tới, khiến được ba thừa Không bỏ hết thảy chúng sinh là khéo tu tập
tâm đại bi, thệ độ chúng sinh, phát tâm kiên cố, không bị chư Phật Thánh hiền
Trang 3129
khinh cười và sợ phụ lòng chúng sinh nên không bỏ; ví như trước hứa cho người vật gì, sau nếu không cho, tức là người có tội dối trá Vì nhân duyên ấy nên không bỏ chúng sinh
Vào tâm đại bi là như trước nói Trong đây Phật tự nói: Bản nguyện đại tâm vì chúng sinh, nghĩa là vì mỗi mỗi người nên ở trong vô lượng kiếp chịu thay sự khổ địa ngục, cho đến khiến người ta tu tập công đức để làm Phật, vào
vô dư Niết bàn
Lại nữa, Bồ tát thấy nhân gian có miếu thờ trời, dùng máu thịt ngũ tạng của người để tế quỉ thần La sát, có người chịu thay thế thời được Bồ tát nghĩ rằng trong địa ngục, nếu có lẽ thay thế như vậy, thì ta sẽ thay thế Chúng sinh nghe Bồ tát có tâm lớn như vậy, thời quí kính tôn trọng, vì sao? Vì Bồ tát nghĩ đến chúng sinh hơn mẹ lành” [73, tr 336]
Với đại nguyện và tinh thần “đi vào đời” của chư vị Bồ tát, chúng ta có những hành xử đúng, có Chính nghiệp, Chính mệnh, có những suy nghĩ, lời nói và hành vi không gây tổn hại cho người khác, cho môi trường sinh thái; đồng thời còn xây dựng vì sự tiến bộ, ổn định, an lạc chung của cộng đồng, xứ
sở, rộng hơn nữa là khu vực và thế giới
Tóm lại, bản chất cốt tủy của Bồ tát là lòng đại từ bi, và tất cả chúng sinh
là đối tượng của lòng từ bi đó Và bản chất của lòng đại từ bi mà nó hình thành nên một trong những đặc điểm quan trọng của chư Bồ tát là không bao giờ rời
bỏ những chúng sinh đang khổ đau phía sau cuộc hành trình của họ Tuệ quán của chư Bồ tát là nhận thức rõ tính không của tất cả các pháp, nhưng công việc cứu độ của họ thì không bao giờ nằm ngoài thế giới khổ đau Điều kiện sống của Bồ tát là ở nơi đời sống của những con người bình thường, và lòng từ bi sẽ trở thành nền tảng của tất cả hành động Con đường Bồ tát do đó không phải là con đường êm đềm phẳng lặng, bởi vì cõi đời vốn gập gành và luôn đầy những chướng ngại trên lối đi
Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư Việt Nam đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu
Trang 32Phát thệ đại nguyện, với tâm thương tưởng đời, vì an lạc, hạnh phúc cho
số đông, Bồ tát đi vào đời một cách dũng mãnh, tích cực không hề gây não hại cho đời lúc đến và sau khi rời khỏi, như hình ảnh con ong hút lấy mật không làm hoại sắc và hương của hoa
1.3.2 Tư tưởng giải thoát trong Đại Trí Độ Luận
Tất cả các tôn giáo, bất luận thuộc hình thái nào, đều lấy yêu cầu giải thoát làm bối cảnh Dĩ nhiên không phải tôn giáo nào cũng chủ trương hết thảy
là ý thức Nếu chủ trương yêu cầu giải thoát xuất phát từ ý thức thì sinh hoạt quan của nhân loại sẽ trở thành một vấn đề hết sức phức tạp và nan giải
Trang 3331
Bên Tây phương cũng có những tôn giáo hay triết học chủ trương giải thoát Điển hình nhất là các nhà triết học Hy Lạp như Pythagoras và Platon Cơ Đốc Giáo dĩ nhiên là xây dựng trên nền tảng giải thoát chủ nghĩa Nói tóm lại, chủ nghĩa giải thoát và yêu cầu giải thoát được biểu hiện dưới nhiều hình thái
và khắp nơi trên thế giới, nhưng nếu muốn tìm đến chỗ xuất phát của tư tưởng giải thoát thì ta không thể không tìm đến Ấn Độ từ thời đại Áo Nghĩa Thư (triết học Upanishads) trở về sau, tất cả tư tưởng Ấn Độ, không những chỉ đứng trên lập trường giải thoát chủ nghĩa mà còn tận tâm tận lực để phấn đấu giải thoát, ta có thể nói điều đó ngoài Ấn Độ ra ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác Do đó, nếu muốn hiểu rõ chủ nghĩa giải thoát toàn thế giới, ta tìm hiểu giải thoát quan của Ấn Độ
Tư tưởng giải thoát phát xuất ở Ấn Độ, nó đã ngấm ngầm manh nha từ rất sớm, nhưng thật ra trở thành một tư trào rõ rệt thì vào thời kỳ mà các tư trào
Ấn Độ đang dần dần tiến đến chỗ giác ngộ Tự Ngã trở về trước Nếu chiếu theo văn hiến, thì vào thời đại Lê Câu Về Đà (Rg-Veda), đại biểu tư tưởng tối
cổ của Ấn Độ, nghĩa là vào khoảng 1500 - 1000 năm TCN, tư tưởng giải thoát hầu như vẫn chưa biểu hiện một cách rõ ràng Vào thời đại đó, người Ấn Độ cổ đại định cư tại khu vực Ngũ Hà, tính tình còn thuần phác và thanh thản, về mặt
ý thức, vẫn chưa cảm thấy sự mâu thuẫn khổ đau của cuộc sống Nhưng từ khi dân tộc Aryan Đại thừa chuyển về phía Đông Nam thượng lưu sông Hằng Hà, khai thác nền văn minh tại đây, dần dần chúng tiến đến bản chất sinh hoạt trầm mặc, do đó tư tưởng giải thoát cũng đã dần dần nảy nở Tư tưởng nay đã thấy tản mát trong Phạm Thư (Bràhmanas), tức là khoảng 1000-800 TCN, vậy ta có thể coi là tư tưởng giải thoát đã manh nha bắt đầu từ thời kỳ đó, và đặc biệt đến cuối thời kỳ này nó đã trở nên rất rõ rệt Bắt đầu từ đó, các nhà tư tưởng
Ấn Độ dần dần đi tìm bản chất của Tự Ngã và cho bản chất đó là một linh thể bất sinh bất diệt, và lấy việc phát hiện cái linh thể đó làm lý tưởng cứu kính của con người Theo ông Ô Da Bái Lỗ: “Nguồn gốc của tư tưởng giải thoát và
tư tưởng luân hồi đều phát xuất song song với nhau” [69, tr 180]
Trang 34Ấn Độ thời đại mà tự đối chiếu giữa chân tướng và giả tướng được bộc lộ một cách rõ ràng, đồng thời, vấn đề giải thoát được luận cứu rộng rãi, dĩ nhiên là thuộc thời đại Upanishads Do đó, vấn đề giải thoát được thiên hạ đặc biệt chú
ý và đưa ra thảo luận vẫn là thuộc thời đại Upanishads (800-500 TCN) Đến thời kỳ này giải thoát quan mới thật sự được quy định, thành hình Tuy nhiên nền giáo lý của Upanishads rất mông mênh, nhưng cái quy kết tối hậu thì không ngoài tư tưởng giải thoát này, mà một khi đã tin như thế rồi thì một mặt miêu tả cái cảnh giới lý tưởng đó càng tốt đẹp và sung sướng bao nhiêu, thì nhìn lại hiện thực giới người ta càng cảm thấy mất sinh thú bấy nhiêu Do đó
mà tư tưởng yếm thế cũng dần dần nảy mầm và yêu cầu giải thoát cũng mỗi ngày một tăng Như vậy là tư tưởng triết học của Upanishads dù có không thừa nhận học phái A Đốc Ma đi nữa, cũng đã lấy lý tưởng giải thoát làm tối cao Lập trường chủ yếu của giải thoát quan Phật Giáo theo tư tưởng của bộ Đại Trí Độ Luận là vượt ra ngoài cõi Dục (Dục - Giới) “Hỏi: Nếu xa lìa hết thảy phiền não trong tam giới, tâm được giải thoát, sao Phật nói xa lìa nhiễm ái thì tâm được giải thoát?
Đáp: Ái có sức mạnh to lớn, trói buộc, đóng kín tâm, cho nên nói đến ái
mà không nói đến các phiền não khác Ái dứt thì các phiền não khác dứt Lại nữa, nếu khi nghe người ta nói “vua đến” thì biết chắc chắn có các kẻ tùy tùng Nhiễm ái cũng như vậy, như nắm lấy đầu khăn thì cả cái khăn đều đi theo Ái nhiễm cũng như vậy, hễ ái dứt thì biết các phiền não khác đều dứt Lại nữa, các kiết sử đều thuộc ái và kiến Phiền não thuộc ái thì che đậy tâm; phiền não
Trang 3533
thuộc kiến thì che đậy tuệ Như vậy, hễ ái xa lìa thì kiết sử thuộc ái cũng xa lìa, được tâm giải thoát; hễ vô minh xa lìa thì kiết sử thuộc kiến cũng xa lìa, được tuệ giải thoát” [55, tr 128]
Do đó, Phật giáo không thừa nhận thế giới quan thần quyền lại cũng không thừa nhận cái “Ngã” cá nhân bất biến, mà chủ trương hết thảy đều do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở cứ của nhân duyên là ý chí của chúng
ta Nếu muốn được giải thoát, con người phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của ý chí Theo các học phái khác, giải thoát tức là đưa cái Tiểu Ngã của cá nhân trở về với Đại Ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ Nhưng Phật giáo vì không thừa nhận thần quyền, nên gọi giải thoát là Niết bàn
Mà Niết bàn theo nghĩa đen là “dập tắt”, nghĩa là dập tắt hết dục vọng tồn tại
và lấy đó làm lý tưởng cứu cánh Các kinh điển Đại thừa, nhất là kinh Bát nhã, đặc biệt thuyết minh về điểm này và mệnh danh là “Không”, “không Không” rốt ráo là “Không” Đó là chân tướng của vũ trụ, và khi đã đạt được chân tướng ấy tức là đạt đến giải thoát, đến Niết bàn
“Bồ tát quán hết thảy pháp nhất tướng, đó là vô tướng; như tướng trâu không có tướng dê, nơi dê không có tướng trâu Như vậy trong các pháp, mỗi mỗi không có tướng của pháp khác; như trước đã nói, nhân có nên có tâm sinh, pháp ấy khác với có, vì khác cho nên không Nếu pháp “có” là trâu thì dê cũng nên là trâu, vì sao? Vì pháp “có” không khác nhau vậy Nếu khác với có thời là không, như vậy hết thảy là không
Lại nữa, Bồ tát quán hết thảy pháp đều không tướng, các tướng ấy do nhân duyên hòa hợp sinh, không có tự tính cho nên không Như đất; do hương,
vị, xúc bốn pháp hòa hợp lại gọi là đất Không phải chỉ có sắc mà gọi là đất; cũng không phải chỉ vị, xúc mà gọi là đất; vì cớ sao, nếu chỉ có sắc là đất, còn
ba thứ kia không phải là đất, vậy là đất không có hương, vị, xúc? Hương, vị, xúc cũng như vậy” [55, tr 712 - 713]
Trong các giải thoát quan Ấn Độ, giải thoát quan của Áo Nghĩa Thư cao siêu hơn cả, xây dựng trên lòng tin: Tiểu Ngã và Đại Ngã là đồng nhất, Tiểu
Trang 3634
Ngã là sự thể hiện của Đại Ngã, muốn giải thoát người ta phải hủy bỏ Tiểu Ngã để về Đại Ngã Bởi vậy người ta thường có khuynh hướng “tuẫn thế”, nghĩa là xa lánh hẳn cuộc sống hoạt động ồn ào, ở những nơi thâm sơn cùng cốc, cố giữ cho tâm hồn vắng lặng Giải thoát quan của phái Số Luận cũng vô cùng tinh diệu Họ lấy cái Chân Ngã bất biến bất động làm giải thoát, lấy sự thoát ly hết thảy mọi sự ràng buộc vật chất, chỉ sống với tinh thần luôn luôn thanh thản làm giải thoát Nếu đứng trên lập trường hoạt động mà nhận xét thì quan niệm giải thoát này mang nặng tính chất tiêu cực, hành giả chỉ là một vị tiên xa là hẳn với đời sống thực tế
Trong thời kỳ đức Phật tại thế cũng vậy, tuy có nhiều quan niệm giải thoát khác nhau Nhưng tựu trung, người ta cũng đều lấy sự xa lánh xã hội, sống trong cảnh tịch mịch của núi rừng làm phương châm để tự thể nghiệm cảnh giải thoát cho chính mình Do đó mà tất cả các bậc hiền triết đương thời đều được kêu là Mâu Ni, nghĩa là những bậc ưa sự vắng lặng Và chính đức Phật cũng được gọi là Thích Ca Mâu Ni sống cuộc đời tịch mịch trong rừng sâu núi thẳm
Cái gọi là “giải thoát”, là “Niết bàn”, nếu không có ích gì đối với cuộc sống thực tế, thì tự nó cũng không có một ý nghĩa nào cả Giải thoát hay Niết bàn, theo Phật, không phải chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà trái lại, nó có thể được chứng nghiệm ngay ở hiện tại, ngay trong giây phút Nghĩa là bất cứ trong mọi giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc của tham lam, của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản, lâng lâng, tự tại, tự do, thì ngay giờ phút ấy ta đã đến cảnh giải thoát chân thực rồi Trong kinh Na Tiên Tỳ Khiêu vấn đáp (Milinda Panha), Đại đức Nàgasena giải đáp câu hỏi ấy như sau:
“Không có nơi nào, nhìn về hướng Tây, hướng Nam, hướng Đông, hướng Bắc, phía trên, phía dưới, hay phía ngoài, mà có thể nói đó là Niết bàn Tuy nhiên Niết bàn thực sự có, và người nào sinh sống chân chính, giới hạnh trang nghiêm, và chú tâm minh sát, dầu ở Hy Lạp, Trung Hoa đều có thể thành tựu đạo quả Niết bàn
Trang 3735
Như lửa, không phải tích trữ ở một nơi đặc biệt nào, nhưng khi hợp đủ điều kiện thì lửa phát sinh Cùng thế ấy, ta không thể nói Niết bàn ở đâu nhưng khi đạo đủ duyên đầy thì quả Niết bàn được thành tựu” [49, tr 103]
Các học phái khác chủ trương chỉ khi nào con người hòa đồng được Tiểu Ngã của mình với Đại Ngã của vũ trụ thì lúc ấy mới có giải thoát, chứ không thể có giải thoát trong thế giới hiện thực Đó là điểm sai khác giữa giải thoát quan của các phái và giải thoát quan của Phật Giáo
Do đó, nếu nói đến giải thoát mà phủ nhận đến giá trị của thế giới hiện thực thì không những trái với đạo lý mà còn làm hại cho chính pháp rất nhiều Nhưng đây cũng lại là điểm vô cùng khó khăn, bởi lẽ vẫn sống trong thế giới hiện thực mà làm cách nào để đừng bị mê hoặc, lôi cuốn theo, để tìm cầu giải thoát khỏi hiện thực là một việc mà có lẽ không ai dám tự phụ làm một cách dễ dàng Trong hàng ngũ đệ tử Phật, có những người chỉ muốn xa lìa cuộc đời để được giải thoát, những người này đại biểu cho khuynh hướng Nam tông hay Tiểu thừa Phật giáo Nhưng vì khuynh hướng đó đúng với chân lý của Phật nên lại có một số đứng lên vận động phản kháng, và số này đại biểu cho khuynh hướng Bắc tông hay Đại thừa Phật giáo Và trong số này, Bát nhã giáo thuộc thời kỳ đầu và cũng có thuần túy nhất Mà lập trường của Bát nhã là chủ trương trên phương diện nào đó mà nhận xét thì có vẻ như thanh thản, lâng lâng, phủ định hết thảy, Phật cũng không, chúng sinh cũng không, thế giới không, mê không, mà ngộ cũng không: tất cả đều là không, nhưng khi đã đến cái tuyệt đỉnh của cái “không Không”, rồi trở lại khẳng định tất cả để thích ứng với hoàn cảnh thiên sai vạn biệt mà hoạt động một cách tự do, tự tại, không chấp trước, không đam mê, thản nhiên tự tại
Như vậy, chủ nghĩa giải thoát theo tư tưởng của bộ Đại Trí Độ Luận, nếu chỉ nhìn bề ngoài, có vẻ như một chủ nghĩa “không tịch”, nhưng nếu căn cứ vào nhân cách hoạt động của đức Phật, do nhân cách đó mà tìm hiểu ý nghĩa chân thực của giáo lý Ngài, ta thấy Phật giáo quyết không phải lấy hư vô làm
lý tưởng, đó là điều không một nhà học Phật chân chính nào phủ nhận
Trang 38có thêm thắt điều gì chăng nữa thì chẳng qua cũng không ngoài cái tinh thần của đức Phật
Tóm lại, đứng về phương diện nào đó mà nhận xét thì Phật giáo là chủ nghĩa phủ định Thế giới hiện thực chỉ là cái thực ngã là thần, hoặc là thực thể của lý niệm Phủ định tất cả để đi đến “Không” Nhưng đặc chất của Phật giáo
là một khi đã đạt đến cái không tuyệt đối hay Niết bàn vắng lặng rồi, thì lại trở
về mà khẳng định tất cả để tạo thành Phiếm thần quan của Đại thừa Phật giáo Song điểm thích ứng với thực tại này chưa được đức Phật thuyết minh rõ ràng trong lúc Ngài còn tại thế Căn cứ trên lịch sử, điểm đức Phật đã chỉ rõ là: vượt thế giới hiện thực để đến cái không rồi từ không trở lại hiện thực giới hoạt động, chỉ bày phương châm đó để lập nên các thuyết về giải thoát, tuy cũng xây dựng trên căn bản không, song tiến thêm một bước nữa mà khẳng định hết thảy đó là Phật giáo Đại thừa
Trang 3937
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, Long Thọ có vai trò vô cùng to lớn trong sự phát triển của Phật giáo Đại thừa và vì thế Long Thọ được xem là tông chủ của nhiều tông phái thuộc Phật giáo Đại thừa với luận thuyết tính Không nổi tiếng và luận lý “Bát bất trung đạo” trong việc đả phá luận thuyết về Thực tại luận và Đa nguyên luận đang tồn tại trong các bộ phái Phật giáo lúc bấy giờ, đặc biệt là các chi phái thuộc Bà la môn giáo Qua những trước tác của Long Thọ cho thấy ngài chịu ảnh hưởng từ văn hệ Bát nhã, trong đó điển hình là Đại Trí Độ Luận Tác phẩm này có thể coi là một tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của Long Thọ, được người đương thời và các Luận sư đặc biệt coi trọng, xem như là một bộ luận căn bản của Phật pháp Bộ luận này không chỉ giảng giải bao quát nhiều vấn đề liên quan đến Phật học mà còn dẫn nhiều nguồn kinh sách khác nhau… đến mức nó được ví như một bộ toàn thư Phật giáo, trong đó nổi bật về tinh thần nhập thế của Bồ tát, đó là Bi, một Phật tính Phật tính này vô cùng quan trọng
và không thể thiếu đối với chư vị bồ tát Vì thế, chúng sinh đau khổ trong cõi
Ta bà luôn hướng tới ngài và mong ngài cứu độ, giải thoát khỏi những khổ đau Giải thoát, theo Đại Trí Độ Luận còn là cái vượt ra ngoài những phiền nào, xa lìa ái nhiễm, và đây chính là Niết bàn Tuy nhiên, Đại Trí Độ Luận lại quan niệm, giải thoát không phải là sau khi chết, mà ngay trong cuộc sống đời thường, chứng nghiệm ngay trong cõi Ta bà này Mặc dù còn nhiều tranh luận xung quanh vấn đề giải thoát Nhưng suy cho cùng, Đại Trí Độ Luận không phải là một chủ nghĩa “không tịch” và không phải lấy “hư vô” làm lý tưởng cứu cánh mà là một chủ nghĩa hoạt động rất cụ thể, phủ định để đi đến
“Không”, từ “Không” để trở về hiện thực mà hoạt động, đó là tinh thần cơ bản của Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận
Trang 4038
CHƯƠNG 2: BẢN THỂ LUẬN TRONG ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN
Người đầu tiên đề cập đến khái niệm “tồn tại” là Pácmênít - nhà triết học
Hy lạp cổ đại Ông đã đồng nhất tư duy với tồn tại khi quan niệm rằng mọi sự vật trong thế giới đều tồn tại thì chúng ta mới có thể nhận thức được sự hiện tồn của chúng Tuy nhiên, sự tồn tại đó chỉ có thể được nhận thức bằng tư duy
Vì thế, mọi quá trình tư duy đều là tư duy về tồn tại
Vượt qua Pácmênít, các nhà triết học sau ông đã đề cao và nhấn mạnh ý nghĩa của quan niệm về bản thể luận khi nó cung cấp cho con người những hiểu biết căn bản về cấu trúc của thực tồn
Đối lập với các quan niệm trên, Xôcrát lại cho rằng tồn tại không phải là giới tự nhiên Điểm xuất phát của tồn tại chỉ có trong ý thức, tư duy Với Platôn, từ học thuyết trọng tâm về ý niệm, ông cũng quy tồn tại là tổng thể những ý niệm về thế giới Sự tồn tại của các sự vật cảm tính chẳng qua chỉ là bản sao của ý niệm Chỉ có ý niệm mới là cái tồn tại đích thực Theo Arixtốt, cái thực sự tồn tại một cách độc lập là bản chất chứ không phải mô thức (cái biểu hiện ra của bản chất)
Thuật ngữ “Bản thể luận” do nhà triết học Đức Hôclêniút (1613) đưa ra
và được tiếp tục trong triết học của Vônphơ Lúc này học thuyết bản thể luận được tách rời hoàn toàn khỏi các nội dung của khoa học cụ thể và được xây dựng bằng cách phân tích trừu tượng các khái niệm như: tồn tại, khả năng và hiện thực, lượng và chất , nguyên nhân và tác động coi nó như là bộ môn triết học cao nhất
Chính những quan niệm còn nhiều hạn chế đó đã làm xuất hiện một khuynh hướng đối lập lại với quan điểm trên về bản thể luận Các nhà duy vật thời kỳ này như: Hôbơ, Xpinôda, Lốccơ (thế kỷ XVIII) đã dựa trên các dữ kiện của khoa học thực nghiệm, với những nội dung tích cực của các quan điểm này đã chứng minh về mặt khách quan rằng bản thể luận không thể là bộ