1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) một số tư tưởng triết học ngôn ngữ của noam chomsky

101 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Tư Tưởng Triết Học Ngôn Ngữ Của Noam Chomsky
Tác giả Vương Thị Phương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, hệ vấn đề ngôn ngữ của Chomsky liên quan đến ngữ pháp phổ quát, ngôn ngữ hình thức bên trong trí não, tính bẩm sinh và thụ đắc ngôn ngữ, những vấn đề liên quan trực tiếp đến ngữ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VƯƠNG THỊ PHƯƠNG

MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ

CỦA NOAM CHOMSKY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS

Nguyễn Anh Tuấn Vì vậy, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc

tới thầy

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Phòng Sau đại học cùng các thầy, cô trong khoa Triết học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội đã giúp đỡ cho tôi trong học tập và nghiên cứu luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô phản biện đã đọc, góp ý

và sửa chữa cho luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè cùng gia đình luôn đồng hành cùng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vương Thị Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn

Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất kì đề tài luận văn thạc sĩ nào đã được công bố ở Việt Nam

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung đề tài

Người cam đoan

Vương Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ VÀ CUỘC ĐỜI,

SỰ NGHIỆP CỦA NOAM CHOMSKY 11

1.1 Khái quát về triết học ngôn ngữ 11

1.1.1 Triết học ngôn ngữ là gì? 11

1.1.2 Khái lược lịch sử triết học ngôn ngữ 12

1.2 Noam Chomsky: cuộc đời và sự nghiệp 35

1.2.1 Cuộc đời 35

1.2.2 Sự nghiệp 38

Tiểu kết Chương 1 46

Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ CƠ BẢN CỦA NOAM CHOMSKY 47

2.1 Chomsky bàn về ngôn ngữ 47

2.1.1 Quan niệm của Chomsky về bản chất ngôn ngữ 47

2.1.2 Các quy tắc tạo sinh câu 55

2.2 Chomsky bàn về ý thức/ hoạt động trí não 64

2.2.1 Chủ nghĩa duy lí và quan điểm của Chomsky 64

2.2.2 Cơ chế bộ não sinh ra ngôn ngữ 71

2.3 Chomsky bàn về thụ đắc ngôn ngữ 75

2.3.1 Thiết bị thụ đắc ngôn ngữ 75

2.3.2 Cơ chế trẻ em thụ đắc ngôn ngữ 80

Tiểu kết Chương 2 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Noam Chomsky được cả thế giới biết đến là một giáo sư ngôn ngữ học người

Mỹ nổi tiếng có ảnh hưởng lớn trong thời đại chúng ta Vị trí của Chomsky trong

khung cảnh trí tuệ thế giới là độc nhất vô nhị “Theo cứ liệu thống kê của “Arts and

Humanities Citation Index”, trong khoảng thời gian 1980-1992, Chomsky là một

trong những học giả được trích dẫn nhiều nhất” [4, tr 40] Và theo cuộc bầu chọn

những người trí tuệ trên thế giới vào năm 2005 do tạp chí Prospect của Anh thực

hiện thì “Noam Chomsky là người có trí tuệ nhất thế giới” [12, tr.175] Ông là nhân vật hàng đầu trong cuộc cách mạng tri nhận (cognitive) của những năm 1950 và

1960 đồng thời chi phối lĩnh vực ngôn ngữ học kể từ đó Tên tuổi của ông gắn liền với ngữ pháp cải biến – tạo sinh (Generative –Transformational Grammar), là một tấm biển chỉ đường, là nguồn cổ vũ cho nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới và là

điểm so sánh cho hầu hết các học giả Đôi khi, ông còn được coi là “cha đẻ” của

ngôn ngữ học hiện đại Chomsky được biết đến không chỉ trong ngôn ngữ học mà trong cả triết học ngôn ngữ Trong triết học ngôn ngữ, ông bàn đến những vấn đề:

sự đối lập giữa ngữ năng/ năng lực ngôn ngữ (linguistic compentence) và ngữ thi/

sự thực hiện ngôn ngữ (linguistic performance) Chính ở đó ngữ năng của con người

và tri thức ngôn ngữ có quan hệ rất chặt chẽ trong các biểu đạt

Tư tưởng của Chomsky tập trung vào các cơ chế ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung, sự hiểu biết có tính ngầm ẩn và bản năng của chúng ta Cơ chế này gắn liền với hoạt động trí não (mind) của con người, đó là những hoạt động có ý thức Bằng việc đưa ra một sự phân biệt quan trọng ngữ năng và ngữ thi, Chomsky xem ngữ pháp của một ngôn ngữ là cơ chế hợp thành ngữ năng Theo ông, nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu ngữ năng có tính chất chung, phổ quát cho mọi ngôn ngữ, không phải là lí thuyết về ngữ thi Từ đó, Chomsky đặt ra những vấn đề rất đáng chú ý như: ngữ pháp phổ quát (Universal grammar) và ngữ pháp đặc thù (Particular grammar), các quy tắc tạo sinh (genernative rules), sự khác biệt giữa ngôn ngữ nội tại (Internal language- viết tắt là I-language) nằm trong người học và ngôn ngữ

Trang 7

ngoại tại (External language- viết tắt là E-language) nằm ngoài người học và vấn đề thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition) ở trẻ em Chính những nghiên cứu này của Chomsky đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu khác như: vấn đề thụ đắc ngôn ngữ trong tâm lý học, nghiên cứu trong trí tuệ nhân tạo và khoa học máy tính, việc dạy và học ngoại ngữ Chomsky đã làm một “cú hích” cho sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), một lí thuyết đi sâu vào việc khảo sát các quá trình trí não trong việc sử dụng tri thức và nhận thức ngôn ngữ Đối với triết học ngôn ngữ (philosophy of language), ông cũng có những đóng góp có giá trị

Triết học ngôn ngữ là một lĩnh vực của triết học có nhiệm vụ không chỉ nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, chức năng của ngôn ngữ, mối quan hệ giữa tư duy

và ngôn ngữ mà còn làm rõ vấn đề bản chất ý nghĩa, sử dụng ngôn ngữ, nhận thức ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại Triết học ngôn ngữ của Chomsky tập trung vào ngữ năng nhằm làm rõ bản chất sáng tạo (creative), di truyền (genetic), chuyển đổi (transformational) của ngôn ngữ loài người Ông luận chứng cho quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ chính là nghiên cứu cách tổ chức và hoạt động của thực thể vật chất là trí não trong quá trình sinh ra các phát ngôn (utterance) Đó là những hoạt động có ý thức giúp chúng ta chuyển ngôn ngữ bên trong bộ não thành ngôn ngữ bên ngoài thông qua một hệ thống các quy tắc tạo câu Theo ông, không có một khái niệm ngôn ngữ tường minh nào nằm ngoài ý thức của con người Do vậy, nghiên cứu ngôn ngữ phải lấy kiến trúc tinh thần làm trọng tâm, kiến trúc hình thành nên kiến thức ngôn ngữ của chúng ta Vì vậy, hệ vấn đề ngôn ngữ của Chomsky liên quan đến ngữ pháp phổ quát, ngôn ngữ hình thức bên trong trí não, tính bẩm sinh và thụ đắc ngôn ngữ, những vấn đề liên quan trực tiếp đến ngữ năng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý thức (ý thức ở đây là hoạt động của trí não) mà lâu nay các nhà nghiên cứu thiếu hẳn những suy ngẫm dành cho nó

Khi nghiên cứu ngôn ngữ, Chomsky đã sử dụng một loạt phương pháp của toán học và các phương pháp của chủ nghĩa phân bố (distributionism) nhằm xây dựng một lí thuyết ngôn ngữ sao cho nó có thể lường trước được số lượng vô hạn các câu của ngôn ngữ tự nhiên bằng một tập hợp các quy tắc hữu hạn Do đó, ông

Trang 8

đã đem đến cho triết học một diện mạo mới, một khuynh hướng độc đáo trong sự phát triển của tư duy nhân loại ở thế kỷ thứ XXI

Có thể khẳng định rằng, các tư tưởng Chomsky về ngôn ngữ có tầm quan trọng và tác động lớn Trên thế giới, có nhiều học giả đã, đang và vẫn nghiên cứu về những quan điểm lí thuyết ngôn ngữ của ông nhưng ở Việt Nam mới chỉ có một số công trình nghiên cứu rất lẻ tẻ và rời rạc về Chomsky Riêng về tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky thì cho đến nay chưa có tác giả nào đề cập đến Vì vậy, nghiên cứu triết học ngôn ngữ của Chomsky sẽ là một vấn đề quan trọng và cần phải đặt ra Đúng như nhà ngôn ngữ học người Anh, John Lyons nhận xét: “Bất luận lí luận ngữ pháp của Chomsky có chính xác hay không thì rõ ràng đó vẫn là lí luận ngữ pháp có sức sống nhất, có ảnh hưởng nhất hiện nay Bất kì một nhà ngôn ngữ nào nếu không muốn tụt hậu trong xu thế phát triển của ngôn ngữ học đều không thể xem nhẹ cách xây dựng lí luận của Chomsky” [35, tr 341]

Với những lí do như trên, tôi chọn vấn đề “Một số tư tưởng triết học ngôn

ngữ của Noam Chomsky” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

thế giới nghiên cứu từ nhiều góc độ và phương pháp tiếp cận khác nhau Trong các công trình nghiên cứu đặc biệt là trong các sách giáo trình ngôn ngữ học, sách về lịch sử ngôn ngữ học đều nhắc tới lí thuyết cải biến - tạo sinh của ông Do lí luận ngôn ngữ của Chomsky rất phức tạp, đa dạng, lại liên tục phát triển và đổi mới cộng thêm nguồn tài liệu ít ỏi và hiếm, lại chủ yếu bằng tiếng Anh nên vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu về tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky rất khó khăn

Trên thế giới, vào những năm 50-60 của thế kỷ trước, một trong những tác

phẩm quan trọng nhất của Chomsky là Syntactic Structures (Các cấu trúc cú pháp)

đã được xuất bản năm 1957 Công trình này được nhiều tác giả tham chiếu và được

đánh đánh giá là một trong những là một trong những thành tựu trí tuệ của thế kỷ

XX Nó làm thay đổi phương pháp tư duy, đánh dấu bước chuyển sang tư duy mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác Trong tác phẩm

Trang 9

này, ông trình bày mục đích của lí thuyết ngôn ngữ về cơ bản là miêu tả cấu trúc cú pháp Cấu trúc cú pháp bị quy định bởi những thuộc tính bẩm sinh của trí tuệ con người chứ không phải bởi các cấu trúc trong giao tiếp Ông coi cú pháp là hệ thống

tự trị (autonomous) không gắn với xã hội, dân tộc và văn hóa Cấu trúc cú pháp gắn liền với cấu trúc bộ não Về sau, Chomsky phát triển lý thuyết này trong công trình

Aspects of the theory of syntax (Các bình diện của lý thuyết cú pháp) xuất bản năm

1965 với tham vọng rằng lý thuyết ngôn ngữ phải nhằm mục đích giải thích tất cả các mối quan hệ ngôn ngữ giữa hệ thống âm thanh với hệ thống nghĩa của ngôn ngữ

đó Hai cuốn sách đó của Chomsky luôn tạo hứng thú cho các nhà nghiên cứu, một cuốn được coi là công trình báo trước “cuộc cách mạng Chomsky”, khởi xướng những ý tưởng mới đột phá trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải thích

về sự sáng tạo trong ngôn ngữ và giới thiệu ngữ pháp cải biến của riêng mình như là một cách giải thích có sức thuyết phục hơn về việc con người tạo ra các câu nói như thế nào Và cuốn sách còn lại cũng là sự tiếp nối tinh thần ấy nhưng ông đã tiến lên một bình diện khác cao hơn Cả hai cuốn đều giúp chúng ta hiểu biết khái quát về quan điểm ngôn ngữ của Chomsky và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ của ông

Tiếp đó, trong các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, tư tưởng ngôn ngữ của Chomsky đã được giới thiệu tương đối sâu sắc Tiêu biểu là:

The Philosophy of language (Triết học ngôn ngữ) của A.P.Martinich xuất bản 1996; The Chomsky - Foucault Debate on human nature (Tranh luận giữa Chomsky- Foucault về bản chất con người) của The New Express xuất bản năm 2006 và The Cambridge Companion to Chomsky (Sách hướng dẫn về Chomsky) của Mc

Gilvgray xuất bản năm 2007 Trong các tác phẩm này, các tác giả đã cho thấy vị trí của Chomsky trong khung cảnh trí tuệ thế giới hiện đại Ông mở đường cho một tư duy mới bằng sự mô tả toán học chính xác về một số đặc điểm nổi bật nhất của ngôn ngữ loài người Đồng thời, ông cũng thiết lập một cách giải thích độc đáo với luận điểm then chốt cho rằng có một cấu trúc ngôn ngữ bẩm sinh xác định khuôn mẫu bên trong ý thức, hoạt động của trí não Ngôn ngữ được đánh thức trong trí não, theo một tiến trình đã xác định từ trước, giống như các thuộc tính sinh học

Trang 10

khác Cấu trúc này gắn liền với ngữ pháp phổ quát Với kiến thức bẩm sinh về hệ thống ngữ pháp phổ quát, đứa trẻ nhập tâm, tiếp nhận ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ thông qua kinh nghiệm

Ở Việt Nam, sớm nhận thức được tầm quan trọng và ảnh hưởng của Chomsky, một số học giả đã chú ý tới ông nhưng nghiên cứu tương đối rời rạc, tiêu biểu là các

công trình: Ngôn ngữ học, khuynh hướng – lĩnh vực – khái niệm (Tập I) xuất bản năm 1984 và Ngôn ngữ học, khuynh hướng – lĩnh vực – khái niệm (tập II) của Đái

Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang-Vương Toàn, (Nxb Khoa học xã hội), xuất bản năm 1986 Trong hai cuốn sách này, một số khái niệm cơ về ngữ pháp cải biến tạo sinh của Chomsky được trình bày rải rác Sau này, những khái

niệm này được GS TS Đỗ Hữu Châu đề cập đến trong Đại cương Ngôn ngữ học,

Nxb Giáo dục Việt Nam, xuất bản năm 1993 GS TS Đỗ Hữu Châu không nghiên cứu tư tưởng ngôn ngữ của Chomsky Phần lí thuyết về ngữ pháp tạo sinh của Chomsky trong cuốn sách này được GS TS Đỗ Hữu Châu trích dịch từ Bách Khoa thư ngôn ngữ ra Nó giới thiệu một cách đại cương về ngữ pháp tạo sinh của Chomsky, đó là: cơ sở của ngữ pháp tạo sinh, một số giả thuyết có tính chất tiên đề

và ba giai đoạn ngữ pháp cải biến, bước đầu khảo sát một cách có hệ thống những khái niệm và các quy tắc chuyển đổi câu mà tập trung chủ yếu về mặt cú pháp Nghiên cứu một cách tương đối hệ thống lý thuyết ngữ pháp tạo sinh của

Chomsky, phải kể đến công trình: Ngữ pháp tạo sinh của Nguyễn Đức Dân Công

trình này đã được xuất bản thành sách vào năm 2012, Nxb ĐHQG Hồ Chí Minh Trong cuốn sách này, tác giả mới chỉ quan tâm đến tư tưởng của Chomsky ở giai đoạn đầu từ năm 1957-1965, toàn bộ giai đoạn sau trong tư tưởng ngôn ngữ của Chomsky không được tác giả đề cập tới Tuy nhiên, trong cuốn sách này, những nội dung cơ bản về ngữ pháp tạo sinh của Chomsky đã được phân tích một cách rõ ràng Nguyễn Đức Dân cho rằng mô hình lí thuyết ngữ pháp tạo sinh của Chomsky

là lí thuyết về năng lực ngôn ngữ Trên nền tảng đó, ông đưa ra những tư liệu bổ ích

về ba mô hình ngôn ngữ của Noam Chomsky: ngữ pháp hữu hạn trạng thái, ngữ pháp thành tố trực tiếp và ngữ pháp tạo sinh Đồng thời, ông cũng trình bày có hệ

Trang 11

thống về quy tắc tạo sinh câu và quá trình hình thành ngữ pháp chuyển đổi của

Chomsky chủ yếu qua hai tác phẩm: Syntactic Structures (1957) (Các cấu trúc cú

pháp) và “Aspects of the theory of Syntactic” (1965) (Các bình diện của lý thuyết

cú pháp) Tác phẩm thứ nhất nhấn mạnh lý thuyết cú pháp là xây dựng các nguyên

lí tạo câu, tác phẩm sau bổ sung thêm thành phần ngữ nghĩa trong miêu tả ngữ pháp, tác giả đã khái quát được những phát triển gần đây của ngữ pháp tạo sinh liên quan đến vấn đề ngữ nghĩa của câu từ đó chỉ ra hai khuynh hướng đối lập của ngữ pháp tạo sinh giai đoạn hiện nay là: lí thuyết chuẩn mở rộng (Extended Standard Theory)

và ngữ nghĩa học tạo sinh (generative semantics)

một số trường phái lý thuyết chính của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình

(2003-2004), Viện ngôn ngữ học, Viện khoa học xã hội Việt Nam, đã giới thiệu khái quát

về thụ đắc ngôn ngữ theo mô hình bẩm sinh luận của Chomsky Tuy nhiên, đây là một đề tài cá nhân cho nên tác giả chưa đi sâu vào những khía cạnh triết học ngôn ngữ trong tư tưởng của Chomsky

Trong cuốn Ngôn ngữ học (ghi chép và suy nghĩ) của Trần Văn Cơ, ngôn ngữ

học của Chomsky được giành một mục nhỏ khi tác giả bàn đến ba hình hệ khoa học về ngôn ngữ Trần Văn Cơ cũng không nghiên cứu về Chomsky, ông chỉ đề cập đến quan điểm của Chomsky từ góc độ tri nhận có nghĩa là nghiên cứu ngữ pháp cần gắn liền với ngữ nghĩa Nghiên cứu nghĩa là nghiên cứu cơ chế nhận thức, là nghiên cứu tri nhận

pháp tạo sinh của Chomsky Chúng có thể được coi là cơ sở cho nghiên cứu những

tư tưởng ngôn ngữ của Chomsky, tiêu biểu là: Phương pháp luận và phương pháp

nghiên cứu ngôn ngữ của Nguyễn Thiện Giáp, Nxb Giáo dục Việt Nam xuất bản

năm 2012 Đây là một tài liệu hữu ích Tác giả đã khái quát cơ sở triết học và nhận thức luận của lí thuyết cải biến – tạo sinh của Chomsky, nêu những tư tưởng ngôn ngữ cơ bản của Chomsky qua ba giai đoạn: mô hình ngôn ngữ thứ nhất (1957-1965), Lí thuyết chuẩn (1965-11970) và Lí thuyết chuẩn mở rộng (từ 1970 trở đi) Công trình này chỉ rõ phương pháp nghiên cứu của lí thuyết ngữ pháp tạo sinh của

Trang 12

Chomsky nhưng vẫn chưa đi vào vấn đề triết học ngôn ngữ của ông

do Trúc Thanh dịch, Nxb Giáo dục xuất bản năm 1984, dịch từ tiếng Nga sang tiếng

Việt, Các trường phái ngôn ngữ học phương Tây của Lưu Nhuận Thanh do Đào Hà Ninh dịch, Lược sử ngôn ngữ học của R H Robins do Hoàng Văn Vân dịch, và hai cuốn sách: Language and mind (1968)( Ngôn ngữ và ý thức) và New Horizons in

the Studies of Language and Minds-(2000) (Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức) của Noam Chomsky cũng do Hoàng Văn Vân dịch Các tài liệu

này đề cập tới tư tưởng của Chomsky một cách trực tiếp Trong đó, Chomsky đã lý giải ngôn ngữ theo cách nội hiện về khả năng ngôn ngữ của loài người Ý tưởng của Chomsky cho rằng, kiến thức ngôn ngữ có tính cá thể nằm trong bộ não, tư duy con người Ông luận giải sở dĩ con người thụ đắc ngôn ngữ mẹ đẻ một cách nhanh chóng là do trong trí não chúng ta có hệ thống các qui tắc ngữ pháp của ngữ pháp phổ quát bẩm sinh Quan điểm này của Chomsky đã đưa ra một thách thức mới và gây phấn khích trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức Ý thức ở đây, được Chomsky hiểu toàn bộ quá trình tinh thần bên trong bộ não góp phần sinh ra các phát ngôn Năm 2002, Noam Chomsky tiếp tục nghiên cứu về các khía cạnh của ngôn ngữ và

bộ não cũng như mối quan hệ giữa chúng với công trình On nature and language

(Về tự nhiên và ngôn ngữ), tác giả luận văn đã tiếp cận được công trình này

thiệu trực tiếp về tư tưởng triết học ngôn ngữ có liên quan đến Chomsky, đó là

cuốn: Philosophy of language a contemporary introduction (Triết học ngôn ngữ sự

giới thiệu đương đại) của W Lycan xuất bản năm 2000 Với công trình này,

W.Lycan trình bày rõ các chủ đề của triết học ngôn ngữ đương đại là: nghĩa và quy chiếu, vấn đề tên riêng, ngữ nghĩa chân – ngụy và các vấn đề khác về ẩn dụ và phép loại suy mà trong đó định vị được triết học ngôn ngữ nói chung và tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky nói riêng trong bối cảnh hiện đại

Từ sự tổng quan các tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng các tài liệu nghiên cứu về Chomsky chủ yếu được dịch từ Tiếng Anh ra tiếng Việt và mới chỉ trình bày

Trang 13

và phân tích tư tưởng của Chomsky dưới góc độ ngôn ngữ, tâm lý, triết học và logic, chưa đi vào vấn đề triết học ngôn ngữ Trong mảng luận văn, luận án, cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào liên quan triết học ngôn ngữ của Chomsky

Do vậy, tác giả bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu một vài tư tưởng triết học ngôn ngữ chính của Chomsky Đây là một đề tài rất mới mà đến nay khi đề cập đến tư tưởng triết học ngôn ngữ của ông vẫn là một vấn đề không đơn giản

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: tìm hiểu một số tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky, cụ

thể là: Chomsky bàn về bản chất ngôn ngữ; ý thức/ hoạt động trí não và vấn đề thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em Để thực hiện mục đích trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky, cụ thể là: quan điểm của ông về bản chất ngôn ngữ, ý thức gắn liền với hoạt động bộ não và thụ đắc ngôn ngữ ở trẻ em

Phạm vi nghiên cứu: thuộc hai nguồn Nguồn thứ nhất là một số tác phẩm

gốc của Chomsky, cụ thể là: Syntactic Structures (Các cấu trúc cú pháp) xuất bản năm 1957, Aspects of the theory of syntax (Các bình diện của lý thuyết cú pháp xuất bản năm 1965, Language and mind (Ngôn ngữ và ý thức) xuất bản năm 1968 và

New Horizons in the Studies of Language and (Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức) xuất bản năm 2000 Nguồn thứ hai là những tài liệu thứ

cấp trong ngôn ngữ học bao gồm các nghiên cứu đánh giá của những người đi trước

Trang 14

về Chomsky

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những khái niệm, phạm trù, quy luật của

triết học ngôn ngữ

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên các công trình

nghiên cứu về ngôn ngữ học của Chomsky đã có trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Luận văn sử dụng các phương pháp như: đọc tài liệu về Chomsky, tổng thuật lại, phân tích – tổng hợp và đánh giá

6 Cái mới của Luận văn

Luận văn giới thiệu đến bạn đọc một cách khái quát về triết học ngôn ngữ và một số tư tưởng triết học ngôn ngữ chủ yếu của Chomsky, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ý thức Từ đó, tác giả luận văn mong muốn cung cấp những vấn đề mới mẻ và lý thú cho người đọc, người nghiên cứu quan tâm đến tư tưởng triết học ngôn ngữ của Noam Chomsky Vì thế, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên nghiên cứu về triết học ngôn ngữ và các tư tưởng khác của ông

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ

VÀ CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP CỦA NOAM CHOMSKY 1.1 Khái quát về triết học ngôn ngữ

1.1.1 Triết học ngôn ngữ là gì?

Ngôn ngữ là một chủ đề luôn tạo được sự quan tâm và lôi cuốn đối với các nhà nghiên cứu Triết học ngôn ngữ gắn liền với lý thuyết ngôn ngữ học Bàn về bản chất và vai trò của ngôn ngữ đã được các nhà triết học đề cập đến từ thời cổ đại

và việc nghiên cứu ngôn ngữ cho đến nay phản ánh rõ ràng lập trường nghiên cứu của họ đối với các vấn đề cơ bản của triết học

Triết học ngôn ngữ trước hết là một lĩnh vực của triết học nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ Triết học ngôn ngữ xem xét hoạt động ngôn ngữ như một đối tượng

đã biết và tìm hiểu mối quan hệ của nó với những đối tượng khác, được coi là khu biệt với nó Nó đi vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và triết học, giữa ngôn ngữ

và tư duy, giữa ý thức và hiện thực khách quan, đi vào nguồn gốc và sự phát triển lịch sử của ngôn ngữ, bản chất và vai trò và giá trị của ngôn ngữ cũng như sự phụ thuộc về mặt thế giới quan và phương pháp luận của các công trình nghiên cứu triết học về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, v.v tức là nó nghiên cứu mặt bên ngoài của ngôn ngữ

Triết học ngôn ngữ cũng được hiểu là sự nghiên cứu về mặt triết học các quy luật bên trong của sự cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ Lĩnh vực này đặt trọng tâm vào phân tích ngôn ngữ, khảo sát những vấn đề của cú pháp logic, ngữ nghĩa logic, giao tiếp ngôn ngữ hoặc cái gọi là “hàng rào ngôn ngữ” Đặc biệt gần đây sự lạm dụng tên gọi của các công trình triết học phân tích được mệnh danh là triết học ngôn ngữ

đã gây ra những hướng suy nghĩ không đúng về triết học ngôn ngữ

Cũng có ý kiến phân biệt triết học ngôn ngữ, lĩnh vực chủ yếu đi sâu những vấn đề của nhận thức với triết học của ngôn ngữ học, vốn quan tâm đến vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Cách phân chia như thế không cơ bản vì không thể tách rời nhận thức với lý thuyết và phương pháp Triết học ngôn ngữ cần phải được nhận thức lại cho phù hợp với vị trí và vai trò của nó trong triết học, trong

Trang 16

ngôn ngữ học cũng như trong lịch sử các khoa học nói chung

Theo chúng tôi, triết học ngôn ngữ theo nghĩa rộng là tập hợp những luận điểm, những quan niệm triết học về nguồn gốc, bản chất và chức năng hoạt động của ngôn ngữ, bản chất của ý nghĩa (meaning), và nhận thức ngôn ngữ đồng thời luận chứng cho mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý thức, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới Theo nghĩa hẹp, triết học ngôn ngữ còn được xem như một lĩnh vực nghiên cứu của triết học có nhiệm vụ không chỉ nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa tư duy và ngôn ngữ mà còn làm rõ vai trò xây dựng của ngôn từ câu cú trong các hình thức tranh biện khác nhau, trong nhận thức và trong cấu trúc của ý thức và tri thức

Để hiểu được những nét cơ bản của triết học ngôn ngữ với tư cách là một lĩnh vực của triết học trước hết chúng ta hãy điểm qua lịch sử hình thành và phát triển của nó

1.1.2 Khái lược lịch sử triết học ngôn ngữ

Thuật ngữ “triết học ngôn ngữ” do P I Zitexki (1900), A Marty (1910), K Vossler (1925), Q Funker (1928), M M Baxtin và V.N Volosilow (1929) đề xuất

và được phổ biến rộng rãi vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, chủ yếu ở Đức, Anh, Mỹ, và một số nước Đông Âu… với các đại diện tiêu biểu như Carnap, Quine, Tarski, Wittgenstein hậu kỳ Tuy nhiên, những tư tưởng về triết học ngôn ngữ đã

có từ thời Cổ đại Nó gắn liền với lý thuyết ngôn ngữ

1.1.2.1 Thời Cổ đại

Triết học ngôn ngữ có lẽ cũng có một lịch sử lâu dài như chính lịch sử triết học vậy Ngay từ thời cổ đại, một số triết gia đã có những suy ngẫm mang tính triết học về ngôn ngữ

Ở Phương Tây, nghiên cứu về ngôn ngữ trải dài trở lại thế kỷ thứ V TCN với Socrates (470-399 TCN), Plato (429-347 TCN), Aristotles (384-322 TCN), và các nhà khắc kỷ (trường phái triết học Stoics) Trong các nghiên cứu của họ, ngôn ngữ

có một vị trí quan trọng Đến nay, chúng ta không biết nhiều về các nghiên cứu của Socrates Ông không để lại tác phẩm nào Chỉ có thể tìm thấy quan điểm của ông trong một số tác phẩm của Xenophone (430-355 TCN) hay của Plato, song cũng

Trang 17

khó có thể nói được đâu là quan điểm của Socrates Ở Hy Lạp cổ đại, các triết gia tranh luận chủ yếu xoay quanh hai đề tài: nguồn gốc ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Xoay quanh đề tài thứ nhất, có hai quan niệm trái ngược nhau: một số (các nhà ngụy biện và khắc kỷ thuộc trường phái triết học Stoics) cho rằng ngôn ngữ xuất hiện một cách tự nhiên; số khác lại cho rằng ngôn ngữ nảy sinh theo thói quen Một bên là chủ trương từ của ngôn ngữ là do tự nhiên, do bản tính của sự vật mà có, và một bên là chủ trương từ do quy ước mà có Các quan điểm này xuất phát từ tranh luận về mối quan hệ giữa tên gọi (từ) và sự vật Aristotles, nhà triết học vĩ đại thời cổ đại, theo quan điểm thứ hai, cho rằng: “Ngôn ngữ hình thành do thói quen vì tự nhiên không đẻ ra tên gọi… Lời nói là sự thể hiện của tư tưởng kinh nghiệm, còn văn tự là sự thể hiện của lời nói Chủng tộc khác nhau thì lời nói và chữ viết không giống nhau Nhưng sự phản ánh của tư tưởng con người là giống nhau, từ vựng của một ngôn ngữ là dấu hiệu tư tưởng” [trích theo 35, tr 22] Platon (427-347 tr.CN), nhà triết học duy tâm khách quan, là học trò của Socrates Ông đã nhớ lại lời dạy của thầy và viết thành nhiều quyển sách dưới hình thức đối thoại

Trong các đối thoại, Cratylus là tác phẩm bàn kỹ nhất về ngôn ngữ Plato đã có

nhiều đóng góp có giá trị khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tên gọi và vật Trong đối

thoại Cratylus, Plato đặt ra câu hỏi liệu tên các sự vật được xác định theo quy ước

hay theo tự nhiên? Tên biểu hiện một thuộc tính nào đó của đối tượng được gọi tên Ông phê phán quan điểm quy ước vì hậu quả dẫn đến của nó là mọi vật đều có thể được gọi tên theo quy ước Do đó, nó không thể giải thích việc ứng dụng chính xác hoặc không chính xác của một tên gọi Ông tuyên bố rằng có một tính đúng đắn tự nhiên cho các tên Ông chỉ ra rằng từ ghép và cụm từ sẽ có một loạt các tính đúng đắn Ông cũng cho rằng tên nguyên thủy đã có một đúng đắn tự nhiên, bởi vì mỗi

âm vị đại diện các ý tưởng cơ bản hay những cảm xúc Tên gọi là hình mẫu, cho nên nó không biểu hiện toàn bộ đối tượng mà chỉ biểu hiện những thuộc tính có sẵn, gọi là bản tính của vật Gọi tên đúng bản tính của vật, biểu hiện việc sử dụng đúng các vật (ứng với bản tính của chúng) trong hoạt động ngoài ngôn ngữ Ngoài ra, ông cũng bàn đến mối quan hệ giữa tư tưởng và lời nói Platon cho rằng có sự thống

Trang 18

nhất giữa tư tưởng và sự biểu đạt bằng lời nói Cái khác duy nhất là sự biểu đạt bằng lời kèm theo âm thanh Theo ông: “ý kiến là sự biểu đạt bằng lời, nhưng nếu không có sự tham gia của giọng nói và nếu không nói với người khác chỉ yên lặng, hướng về bản thân (Thêêtet)” [trích theo 36, tr 145] “Bởi vậy, tư tưởng và lời nói

là một, ngoại trừ cuộc nói chuyện của tinh thần với chính mình, chỉ nảy ra ở bên trong nó và không thành tiếng, mà ta gọi là tư duy” (Sophist)” [trích theo 36, tr 145] Hạn chế của ông là chỉ phân tích cấu trúc phán đoán logic biểu đạt bằng ngôn ngữ, chưa đi sâu vào phân tích ngữ pháp Aristotles không chỉ bàn về nguồn gốc ngôn ngữ mà còn khẳng định rằng từ tự thân có ý nghĩa nhất định nhưng không thể chia thành những thành tố nhỏ hơn Nghĩa của từ được cho gián tiếp qua ý niệm về

sự vật trong ý thức con người Ông cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa tư tưởng

và lời nói Ông nghiên cứu ngôn ngữ bằng việc gắn logic với sự biểu đạt tư duy bằng ngôn ngữ Theo Aristotle, từ là biểu đạt của những khái niệm trong trí óc và không trực tiếp là hình ảnh âm thanh của sự vật Từ đó, ông quan niệm rằng hình thức ngôn ngữ cũng là hình thức của tư duy, vì các phạm trù ngữ pháp và các phạm trù logic gắn chặt nhau Tư tưởng của Zenon (496-429 TCN) cũng giống tư tưởng của Aristotle, ông cho rằng nghiên cứu hình thức tư duy không thể tách rời việc nghiên cứu các biểu đạt ngôn ngữ, vì nói đúng và tư duy đúng đều là việc của cùng một người

Epicure (341-270 TCN), nhà duy vật nổi tiếng thời kỳ Hy Lạp hóa đã đi sâu vào mặt xã hội của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ Từ không phải được tùy tiện đặt ra mà bản chất của con người trong mỗi dân tộc có cách thể hiện riêng thành tiếng những cảm nghĩ của mình, trong đó sự khác biệt về nơi cư trú cũng có vai trò nhất định Dần dần các dân tộc chấp nhận những quy ước sử dụng chung, hạn chế tính đa nghĩa của phát ngôn, làm cho nó ngắn và sát yêu cầu sử dụng hơn Trường phái Stoics là một trường phái triết học hoạt động từ thế kỷ thứ III TCN đến thế kỷ thứ IV SCN Họ là những người phản đối quan điểm của Aristotles

Họ cho rằng ngôn ngữ có nguồn gốc tự nhiên Quan điểm ngôn ngữ của trường phái này được tổng kết như sau: “Con người ta khi sinh ra, bộ não giống như một trang

Trang 19

giấy trắng, có thể viết được chữ trên đó” [trích theo 35, tr 26] Điều đó rất gần với

“thuyết bảng trắng” sau này Bản thân ngôn ngữ không là trí tuệ nhưng là sự thể hiện của trí tuệ Họ phân biệt một cách rõ ràng ranh giới giữa hai ngành nghiên cứu logic của ngôn ngữ và nghiên cứu ngữ pháp Họ sử dụng các thuật ngữ ngữ pháp chính xác hơn Trường phái này cho rằng, ngôn ngữ gồm ba bình diện: ngữ âm – một loại ký hiệu; ý nghĩa các ký hiệu ngôn ngữ, tức là nội dung và các sự vật trong thế giới tự nhiên được các từ thể hiện Sau này, Saussure tiếp tục phát triển ý tưởng này

Xuất phát từ nhu cầu con người cần xác lập vị trí của mình trước mọi sự vật xung quanh, các triết gia cổ đại đã có thế giới quan duy vật cổ đại với những yếu tố của phép biện chứng, của tư tưởng về sự phát triển không ngừng của sự vật Tư tưởng khoa học và triết học duy vật này ảnh hưởng to lớn đến thời kỳ Trung cổ và Phục hưng cũng như các nhà duy vật Khai sáng Anh và Pháp, đặc biệt đến các nhà triết học ngôn ngữ Hobbes (1588-1679), Locke (1632 - 1704) và Condillac (1715-1780)

Ở phương Đông, Ấn Độ là cái nôi của ngôn ngữ học lớn và tiến bộ Người Ấn

Độ cổ quan tâm đến ngôn ngữ trước hết vì lí do tôn giáo Bộ kinh Veda nổi tiếng của đạo Brahmin cần được bảo lưu, sau đó là vốn văn học dân gian tiếng Sanskrit (tiếng Phạn) cũng cần phải được giữ gìn

Tư tưởng triết học về ngôn ngữ ở Ấn Độ xoay quanh bốn vấn đề: ngữ pháp hình thức (bao gồm nghĩa và ngữ pháp), sử dụng ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực, giữa ngôn ngữ và tư tưởng

Mọi hệ thống triết học ngôn ngữ dù chính thống hay không chính thống đều đề cập đến ngôn ngữ, đến khả năng của ngôn ngữ “nắm bắt” và biểu thị hiện thực Thế

kỷ V-VI, Bhatriari viết tác phẩm Vàkya padìya (Về từ và câu), trong đó theo quan

điểm duy tâm truyền thống, ông cho rằng Brahman – hiện thực cao nhất, không có bắt đầu, không có kết thúc- sản sinh ra mọi sự vật hiện tượng dưới hình thức từ Tư tưởng và mọi sự hiểu biết ngay từ đầu đã phải gắn bó khăng khít với từ Sự gắn bó

ấy cũng tồn tại ngay ở trẻ sơ sinh, song ở thời kỳ này, trẻ mới chỉ có những mầm mống hiểu và biết, đó là vết tích còn lại của kiếp trước; trong quá trình lớn lên, nhờ tác dụng của nghị lực, trẻ hiểu ngôn ngữ và biết làm như người lớn Cũng do đó,

Trang 20

giáo dục không thể truyền cho trẻ khả năng mà chỉ thúc đẩy khả năng Mọi hoạt động của con người đều dựa trên quan hệ khăng khít giữa ý thức và từ Mọi sự giao tiếp tư tưởng phụ thuộc vào sự gắn bó ấy,và nếu không có sự truyền đạt tư tưởng một cách đúng đắn, thành công thì không thể có sự phát triển khoa học, văn hóa, tài hoa Ý kiến đồng nhất giữa từ và tư tưởng của Bhartrihari đã gây nên sự thảo luận sôi nổi trong những người đi sau ông Một phái cho rằng: không có ý thức nào không thể hiện ra ngôn từ, tuy hai hiện tượng đó không thể tồn tại có cái này mà không có cái kia nhưng chúng không đồng nhất Luận cứ của họ là: từ tồn tại một cách logic trước khi có ý thức cá nhân, được thực tại hóa mỗi khi lóe lên một tia trực giác và ban cho ý thức ấy một cấu trúc nhất định Một phái khác cho rằng ý thức là bản chất tiềm ẩn trong từ, do đó từ không những là cấu trúc của ý thức mà còn là của bản thân ý thức nữa Bhartrihari ủng hộ những người theo quan điểm thứ hai Bhartrihari còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc coi câu như là tượng trưng không thể cắt bỏ của ngôn ngữ Việc phân tách câu thành những từ, việc chia cắt chúng thành những loại động từ, danh từ, v.v và việc phân chia căn tố với các phụ tố là biện pháp thuận tiện để nghiên cứu ngôn ngữ

Về mặt ngữ pháp, người Ấn Độ cổ đã biết nhận diện thành phần câu và tìm cách đánh dấu câu trên văn bản Ngữ pháp của ngôn ngữ Ấn Độ cổ gắn liền với việc truyền bá Ấn Độ giáo Cũng như tiếng Phạn hậu kỳ gắn liền với bộ kinh sách Phật Trong khi phương Tây nhắc tới Aristotle như đại diện cho ngữ pháp Hy Lạp cổ đại thì ở Ấn Độ có nhắc đến tên của Panini, nhà ngữ pháp học đại diện tiêu biểu và kiệt xuất cho giới nghiên cứu ngôn ngữ học Ấn Độ cổ đại, với bộ ngữ pháp cổ của ông

có tên là Ashtadhyayi gồm tám phần chính Đây bộ sách tiếng Phạn nổi tiếng tổng

kết các quan niệm ngữ pháp, được viết ra vào khoảng thế kỉ thứ V TCN Bloomfield

đã gọi tác phẩm của Panini là “một trong những cột mốc quan trọng và vĩ đại nhất của trí tuệ nhân loại Tác phẩm của ông đã miêu tả một cách tỉ mỉ từng loại biến hình, từng hiện tượng phái sinh, cấu trúc các tổ hợp và cách dùng của loại cú pháp Cho đến nay, vẫn chưa có nhà ngôn ngữ học nào có thể miêu tả ngữ pháp tỉ mỉ hơn ông” [36, tr 73] Panini có ảnh hưởng rất lớn đến chủ nghĩa cấu trúc trong ngôn

Trang 21

ngữ học hiện đại Panini không trực tiếp đưa ra các tổng kết mang tính lí luận nhưng ông gián tiếp phản ánh các vấn đề mà ngày nay ngôn ngữ học vẫn đang quan tâm về

cú pháp, ngữ âm và ngữ nghĩa Có nhiều tư duy lí luận của họ đi trước châu Âu

Tư tưởng triết học về ngôn ngữ ở Ấn Độ cổ đại còn được thể hiện qua những cuộc tranh luận liên quan đến bản chất ý nghĩa của từ, các hiện tượng đa nghĩa và đồng âm, việc biểu đạt những sự vật và phổ quát trừu tượng, việc dùng từ ngữ để kiến tạo câu, ý nghĩa của từu tham gia vào ý nghĩa tổng thể của câu Nhận thức cơ bản về cấu trúc câu, các nhà ngôn ngữ học Ấn Độ cổ đại cho rằng việc dùng từ để đặt câu, ít nhất, cần ba điều kiện:

Một là, trong một câu không chỉ có danh từ hoặc chỉ có động từ hoặc chỉ có

giới từ mà các từ loại phải có sự kết hợp nhất định với nhau

Hai là, về mặt ý nghĩa, các từ phải phù hợp với nhau về mặt ngữ nghĩa để tạo

ra những câu vừa đúng ngữ pháp vừa đúng nghĩa

Ba là, các từ phải xuất hiện với nhau theo trật tự thời gian liên tục Nếu như,

sáng nói một chữ, chiều nói một chữ, tối mới nói xong một câu thì người ta không hiểu được câu nói đó là gì

Các luận điểm ngữ pháp của Panini đã miêu tả một cách toàn diện các nguyên tắc cấu tạo từ trong tiếng Phạn Tiếng Phạn, có bốn từ loại: danh từ, động từ, giới từ

và tiểu từ Động từ biến đổi hình thái theo ngôi, thì, số là hạt nhân của câu Các từ khác thì có liên hệ cụ thể với động từ, trong số đó quan trọng nhất là danh từ với các dạng thức khác nhau Ý tưởng này trong ngôn ngữ hiện đại vẫn tiếp tục

Các quy tắc cấu trúc cụm từ tiếng Phạn được Panini rất chú ý trong ngữ pháp đại cương của ông Theo đó, ông phân biệt việc xác định căn tố và phụ tố khởi đầu cho việc phân định các hình vị trong ngữ pháp sau này Panini cũng nhận xét về cách thức và trình tự kết hợp căn tố với các phụ tố trong dạng thức cấu tạo từ, ông cũng sớm dùng khái niệm Zero trong các đối lập ngữ pháp

Về phương diện ngữ âm và âm vị học, người Ấn Độ cổ miêu tả cơ quan phát

âm và phương pháp phát âm Họ cho rằng ngữ âm là cấu nối giữa ngữ pháp và lời nói Các mô tả ngữ âm gồm ba bộ phận: quá trình phát âm, các thành phần cấu

Trang 22

thành ngữ âm (phụ âm và nguyên âm), sự kết hợp trong các kết cấu âm vị của các thành phần ngữ âm

Ảnh hưởng nghiên cứu của ngữ pháp Panini đối với các nhà nghiên cứu thế

kỷ XIX là rất lớn Trong các công trình viết về tiếng Phạn, các học giả châu Âu hết sức ngưỡng mộ ông ở việc nghiên cứu hình thức ngôn ngữ mà chú ý đến cú pháp của câu Ở Mỹ, Chomsky cũng đi theo đường lối này Tuy nhiên, sau thời cổ đại phát triển, triết học ngôn ngữ gắn liền với lí luận ngôn ngữ học Ấn Độ đã chững lại

Ở Trung Quốc, những suy tư về ngôn ngữ xoay quanh vấn đề Danh và Thực Các nhà triết học Trung Quốc không coi ngôn ngữ như một đối tượng, một hiện tượng xã hội để xem xét, và khi có bàn đến hiện tượng ấy thì gắn liền với mục đích đạo đức chính trị hoặc triết học, hoặc logic học, nhiều nhất cũng chỉ bàn luận trên quan điểm logic-ngữ nghĩa, ít khi họ nói đến những vấn đề thuần túy ngôn ngữ học

Vì vậy, Khổng Tử (551-479 TCN), khi được học trò hỏi Vua nước Vệ mời thầy ra làm chính trị thì thầy làm gì trước, Khổng Tử đã trả lời “Phải làm cho đúng tên gọi (Chính danh) (Luận ngữ, Tử Lộ)” [trích theo 36, tr.43] Ông giải thích thêm: “tên gọi không đúng thì lời không xuôi Lời không xuôi thì việc không thành Việc không thành thì lễ nhạc không dấy lên được Lễ nhạc không dấy lên được thì hình phạt không trúng Hình phạt không trúng thì dân không biết xoay sở chân tay ra sao” [trích theo 36, tr.43] Ý nghĩa câu này là: người ta làm sao cho hiện thực phù hợp với tên gọi; không làm như thế thì việc không thành mà trật tự xã hội sẽ không

có, việc quản lý nước sẽ mất cái hướng đi đúng đắn, mà dân không biết phải làm ăn

ra sao cho phải lễ Tên gọi ở đây không phải là vấn đề ngôn ngữ thuần túy, nó gắn liền với quan điểm chính trị xã hội Còn Mặc Tử (490-403TCN, tên thật là Mặc Địch) chủ yếu là lấy thực tại để đặt tên gọi Theo ông, biết hay không biết không phải vì tên gọi, cũng tức là khái niệm, mà phải lấy hiện thực làm chuẩn Vì vậy, mối quan hệ giữa danh và thực của ông trái với Khổng Tử: ông lấy hiện thực làm chuẩn đặt tên, bác bỏ ý kiến lấy hiện thực đã qua để gọi cái đang có Mặc Tử có quan điểm tiến bộ hơn Khổng Tử: ông có quan điểm biện chứng đối với sự biến đổi nghĩa của tên gọi: “Lời nói có thể biến đổi là việc thường thấy, không đổi là việc không

Trang 23

thường thấy, coi không đổi chỉ là thường thấy chỉ là nói càn” [trích theo 36, tr.44] Xung quanh mối quan hệ giữa danh và thực, Lão Tử có quan điểm khác xa hai quan điểm trên Ông cho rằng mọi hiện tượng đều bắt nguồn từ đạo song ông nghi ngờ khả năng diễn đạt cái đạo ấy ra lời, ra tên gọi Lời nói theo ông là những hình ảnh giả hoặc hư ảo: “người biết không nói, người nói không biết (Chương 46)” [trích theo 36, tr.46 ] Huệ Thi (370-310 TCN) cho rằng giữa tên gọi khác nhau và hiện thực khác nhau tương đối Còn Công Tôn Long (320- 250 TCN) mở rộng nội dung

và phạm vi của thuyết chính danh Theo ông: “tên gọi mà đúng thì nó chỉ thuộc về cái này, cái kia mà thôi Gọi cái kia mà cái kia không phải là cái kia, thì tên gọi cái kia không ổn; gọi cái này mà cái này không phải chỉ là cái này thì tên gọi cái này không ổn” [trích theo 36, tr 49] Công Tôn Long là người phân biệt sớm nhất tên gọi (danh), sự vật (vật), và chỉ Tên gọi là cái mà ngày nay ta thường gọi là từ còn vật tương đương với biểu vật (denotative) hay quy chiếu (reference) hoặc là ý nghĩa (meaning) Từ đó ông tách rời thuộc tính khỏi sự vật, cho rằng thuộc tính và sự vật không có gì gắn bó với nhau

Như vậy, tư tưởng triết học về ngôn ngữ ở Trung Quốc cổ đại tương đối mờ nhạt Họ không bàn đến vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ và mối quan hệ giữa từ và nghĩa của từ ở khía cạnh bản thể luận như ở phương Tây Ở Trung Quốc, mối quan

hệ giữa tên gọi và sự vật, giữa ngôn ngữ và thế giới cho thấy nguồn gốc của tên gọi

là hiện thực, phản ánh hiện thực nhưng gắn liền với đạo đức con người Tên gọi và hiện thực, lời nói và tư tưởng là những phạm trù khác nhau Tuy nhiên, sau đó, ở Trung Quốc, các vấn đề này không được đề cập đến

1.1.2.2 Thời kì Trung cổ

Triết học thời Trung cổ ở phương Tây kéo dài 1000 năm, từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ XV sau CN với đặc trưng là sự thống trị của tôn giáo và nhà thờ Nghiên cứu ngôn ngữ tập trung trong các tu viện và trường học Do vị trí quan trọng của tiếng

La Tinh, triết học Trung cổ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ này Họ coi trọng ngữ pháp vì đó là một trong 7 ngành học cùng với: Logic học, Tu từ học, Âm nhạc, Số học, Hình học và Thiên văn học Việc giảng dạy ngữ pháp tiếng La Tinh rất được

Trang 24

coi trọng với mục đích chuẩn hóa và thực dụng Tư tưởng triết học ngôn ngữ thời Trung cổ bàn tới nhiều vấn đề, đặc biệt là ngữ dụng và ngữ pháp phổ quát Hệ vấn

đề ngôn ngữ tập trung vào ngữ pháp tiếng La tinh Do vậy, thời kỳ này, các nhà triết học coi ngữ pháp là “tấm gương phản ánh sự thật” [35, tr 39], nghĩa là phản ánh hiện thực Con người có khả năng nhận thức thế giới thông qua ngôn ngữ là do các

từ vừa có mối liên hệ với tâm trí con người, vừa có mối liên hệ với sự vật mà nó biểu hiện Boethius (480-524), triết gia nổi tiếng thời kỳ này quan tâm đến các phổ quát trong ngôn ngữ Chẳng hạn như, các quan niệm về “tốt đẹp”, “con người”,

“đạo đức” mang tính phổ quát, ngôn ngữ nào cũng có Theo ông, ngữ nghĩa có mối quan hệ mật thiết với tính chân thực, nghiên cứu về nghĩa từ phải nghiên cứu nghĩa đó được vận dụng trong thực tế như thế nào Điều này đặt ra một nhiệm vụ mới cho ngành logic học và tâm lí học Khi nghiên cứu ngôn ngữ con người phải coi đối tượng nghiên cứu là con người thành một động vật có tư duy Logic học cần thâm nhập vào tất cả các ngành nghiên cứu khoa học kĩ thuật, bởi muốn mang tính khoa học thì trước hết phải hợp với logic Sau đó, Peter Helias (thế kỷ XII) với phương pháp nghiên cứu logic hóa ngữ pháp Thế kỷ XIII có ngữ pháp của Petrus

Hispanus nổi tiếng với bộ Summalae Logicales (Cương yếu logic) bàn về logic, ngữ

pháp và tâm lí Theo ông, ngôn ngữ có ba mô hình tam diện: ý nghĩa, giả thiết và tên gọi Quan niệm này ảnh hưởng tới trường phái Modestae Phái này cho rằng ngôn ngữ xuất hiện do thói quen và là sản phẩm xã hội và không có mối liên hệ tất yếu nội tại giữa hình thức và ý nghĩa của từ Kết cấu ngôn ngữ có cũng giống như

tự nhiên đều có các qui luật Ngôn ngữ và thế giới tự nhiên đều có hệ thống của riêng chúng, đều do một bộ phận hữu hạn các đơn vị tổ hợp thành vô số các đơn vị khác dựa trên cơ sở một số quy tắc hữu hạn Chính từ những quy tắc trên, chúng ta mới có thể nhận biết thế giới, mới có thể biên soạn ngữ pháp Họ cho rằng nếu có thể chứng minh giữa các quy tắc của thế giới tự nhiên và các quy tắc nội tại của ngôn ngữ có một mối liên hệ nhất định nào đó thì sẽ có thể giải thích được các hiện tượng ngôn ngữ Từ đó, họ phân định các từ loại, xem xét các chức năng cơ bản của

từ loại Về phương diện cú pháp, trường phái này gần với Aristotles, cho rằng câu

Trang 25

được xác lập theo bốn đặc trưng: Vật chất, Hình thức, Động lực, Mục đích Bên cạnh đó phải tính đến các đặc trưng thứ cấp như khả năng của các từ loại, các biến đổi tình thái, các khả năng kết hợp Trong câu, cấu trúc căn bản nhất là đối lập danh- động, còn các cấu trúc khác chỉ có tính chất phụ thuộc

Ở thời đại Trung cổ, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến sự tinh tế của ngôn ngữ và cách sử dụng nó Họ coi logic học cũng là một “khoa học về ngôn ngữ”, và dự đoán nhiều vấn đề thú vị nhất của triết học ngôn ngữ hiện đại, bao gồm

cả các hiện tượng mơ hồ và tính nhập nhằng về nghĩa, giải thích nghĩa của một từ trong một ngữ cảnh cụ thể, cùng với sự nghiên cứu về các từ và thuật ngữ minh bạch và không minh bạch

Thời kỳ này, hệ vấn đề ngôn ngữ dựa trên cơ sở của cuộc tranh luận giữa phái duy danh và phái duy thực Phái duy danh cho rằng từ chỉ tên gọi được đặt ra một cách quy ước Còn phái duy thực thì cho rằng từ được sinh ra từ ý niệm, mà ý niệm

là cái tồn tại trước tất cả mọi vật Ta thấy rằng, phái duy thực phát triển quan điểm duy tâm của Platon, còn phái duy danh phát triển quan điểm duy vật của Aristotles

1.1.2.3 Thời kì Phục hưng và Cận đại từ thế kỷ XVI-nửa đầu thế kỷ XIX

Bước sang thời kỳ Phục hưng từ thế kỷ XV đến XVI, là thời kỳ quá độ từ chế

độ phong kiến sang chế độ tư bản, thời kỳ dấy lên ý thức dân tộc, dấy lên lòng tin tưởng ở khả năng không giới hạn của con người, ở lí trí của con người Triết học thời kỳ Phục hưng chống lại tư tưởng Cơ đốc giáo và chủ nghĩa kinh viện thời trung

cổ Nghiên cứu ngôn ngữ ở những vấn đề chính sau: sự hình thành ngôn ngữ dân tộc và sự bảo vệ nó, các chuẩn mực của ngôn ngữ văn học dân tộc, việc biên soạn ngữ pháp và việc miêu tả các mặt khác của tiếng La tinh, tiếng Hi Lạp

Trải qua thời kỳ Phục hưng, chuyển sang thời Cận đại, đặc biệt là ở thế kỉ XVII, ngôn ngữ học chịu ảnh hưởng quan điểm kinh nghiệm chủ nghĩa của Francis Bacon (1561-1626), nhà triết người Anh, quan điểm duy lí của R Descartes (1596-1650) nhà triết học người Pháp, đề cao lí trí và phương pháp diễn dịch và tư tưởng của Leibniz, nhà triết học và toán học người Đức

F Bacon nhấn mạnh kinh nghiệm cảm giác, cho rằng tất cả mọi ngôn ngữ đều

Trang 26

bắt nguồn từ cảm giác, chỉ có thể tin vào nhận thức cảm tính chứ không thể đặt niềm tin vào nhận thức lí tính Kinh nghiệm cảm giác lại bắt nguồn từ tự nhiên, nội dung của nó rất khách quan Nhưng cách nhận thức của con người không thể lưu lại

ở giai đoạn cảm giác mà có sự kết hợp giữa các vật cảm giác và các vật lí tính, từ các nguồn tư liệu về cảm giác có thể rút ra được những cái mang tính qui luật Bacon cũng cho rằng cần có một hệ thống duy nhất và chung cho mọi ngôn ngữ, đó

sẽ là vật chứa đựng lí tưởng các tư tưởng, tình cảm của con người John Locke (1632-1704), Hium, v.v sau này đã kế thừa tư tưởng của ông

Leibniz xây dựng lí thuyết triết học ngôn ngữ về bản chất ngôn ngữ và chỉ ra nhiệm vụ của ngành ngôn ngữ học Ông chú ý nghiên cứu ngôn ngữ là muốn xác lập một logic học mới mà ông coi là tri thức khoa học lí thuyết của mọi khoa học và

tư duy khoa học nói chung, và mong muốn là công cụ phát minh Mà muốn xây dựng thứ logic học mới đó, phải dựa vào phân tích logic đối với ngôn ngữ Việc này đưa tới xây dựng một logic phổ quát bằng kí hiệu, miêu tả sự kết hợp của chúng, các thao tác kí hiệu, tóm lại là có thể vẽ ra bức tranh đầy đủ về tư duy Ông muốn xây dựng một ngôn ngữ kí hiệu phổ quát Theo ông, ngôn ngữ là công cụ của lí trí,

từ của nó không phải chỉ diễn đạt tư tưởng mà còn phải làm rõ mối quan hệ giữa các

tư tưởng với nhau Tiên đề để xây dựng quan niệm trên là: mọi tư tưởng phức tạp đều là sự tổ hợp của những tư tưởng đơn giản Để phân tích các khái niệm phức tạp thành những khái niệm đơn giản, Leibniz đề nghị xuất phát từ các quy tắc tổ hợp: đơn vị cơ sở là khái niệm đơn giản- đó là “nguyên tử” của tư tưởng Suy lí có thể đổi thành các phép tính và các phép biến đổi biểu thị quá trình tư duy Tư tưởng của Leibniz thúc đẩy sự hình thành của logic ký hiệu rất cần cho logic toán và điều khiển học ngày nay

Với R Descartes, ông đề ra một loạt nguyên lí có tính chất phương pháp luận: tính chất không giới hạn của nhận thức về thế giới, sự thống nhất khoa học, các nguyên tắc diễn dịch, ưu tiên các phương pháp của logic – toán học, coi lí trí, tư duy

lí thuyết cao hơn nhận thức bằng cảm tính và là tiêu chuẩn duy nhất Chủ nghĩa duy

lí của ông nhấn mạnh tư duy lí tính, cho rằng mọi kiến thức đều bắt nguồn từ lí tính,

Trang 27

chỉ có thể dựa vào lí tính, không thể dựa vào cảm tính Triết học R Descartes có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành ngữ pháp học tổng quát và duy lí Port Royal ở Pháp

Lý luận Port Royal xem xét ngữ pháp và logic trong mối tương quan tuyệt đối: phân tích mệnh đề và phân tích phán đoán có cơ sở chung sâu sắc Ngữ pháp Port Royal giải thích ngôn ngữ qua logic Ngữ pháp Port Royal nghiên cứu ngôn ngữ ở những mặt sau: bản chất của từ (cấu tạo và các thuộc tính của chúng, quan hệ giữa chúng với nhau và ý nghĩa của chúng), các nguyên lí chung, phổ biến của ngôn ngữ, giải thích các hiện tượng tồn tại trên cơ sở kết cấu và hoạt động của ngôn ngữ, giải thích quan hệ giữa các phạm trù và hiện tượng ngôn ngữ với các phạm trù tư duy Các tác giả cho rằng, ngữ pháp là nghệ thuật nói, biểu thị tư tưởng của mình bằng các kí hiệu mà con người tạo ra nhằm mục đích ấy Các kí hiệu xem xét gồm hai mặt: mặt âm thanh hay chữ viết là cái thể hiện là mặt bên ngoài và mặt ý nghĩa tức

là phương thức biểu đạt tư tưởng của con người, là mặt bên trong Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy lí, các tác giả thuộc trường phái ngữ pháp Port Royal cho rằng kí hiệu do lí trí sản sinh ra, lí trí là tiền đề của ngôn ngữ, sự phát triển của lí trí

là tiền đề phát triển của ngôn ngữ Điều chứng minh cho lí trí của con người, cho sự

ưu việt của con người so với động vật là phương thức dùng để biểu đạt tư tưởng của mình, là sự khám phá xuất sắc ra rằng chỉ cần 25-30 yếu tố cơ bản- tức những âm

mà có thể sản sinh ra được số lượng không hạn chế về từ và câu để diễn đạt tư tưởng Mọi hình thức của ngôn ngữ đều phù hợp với hình thức và sự thể hiện của lí trí Lí trí thể hiện cơ sở logic của tư duy Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, các học giả ngữ pháp Port Royal cho rằng các từ làm kí hiệu biểu hiện tư tưởng của con người Như vậy, ngữ pháp Port Royal vẫn nỗ lực tìm tòi các phổ quát trong ngôn ngữ, quan niệm ngôn ngữ như là một hệ thống kí hiệu thể hiện tư tưởng của mình Những vấn đề này là những vấn đề xuyên suốt của triết học ngôn ngữ Họ mong muốn có thể tiến hành mô tả các nguyên tắc phổ quát trong ngữ pháp, chỉ ra

sự nhất quán của ngữ pháp các ngôn ngữ trong sự biểu đạt tư tưởng Những nguyên tắc bất biến và phổ quát của ngôn ngữ được thể hiện ở mặt từ pháp và cú pháp

Trang 28

Những loại từ cơ bản đều phải tương hợp với những nhịp chủ yếu của tư duy logic, bởi vì tiến hành một phán đoán là quy định một đặc tính cho sự vật Quan điểm ngôn ngữ của Descartes, Lebniz và lí luận ngữ pháp Port Royal đã được Chomsky

kế thừa và phát triển

Locke (1632-1704) chống lại quan điểm của Descartes về “ý niệm bẩm sinh”

và thuyết nhị nguyên về vật thể và tư duy Cùng với Locke, Conddilac (1715-1780) truyền bá chủ nghĩa duy cảm của Pháp, tiếp tục dòng triết học F.Bacon (1561-1626), mọi kiến thức và tư tưởng đều bắt nguồn từ thế giới cảm giác được Theo Locke, các từ là ký hiệu của những ý niệm trong đầu người đối thoại, không phải không có mối quan hệ với thực tại Trong khi coi từ là kí hiệu, Locke còn nghiên cứu tính đa dạng của chúng và không phải chỉ ngừng lại ở đó Ông coi toàn thể lời nói như là một kết cấu và đề cập đến chức năng của tiểu từ dùng để nối liền các ý với nhau, chỉ quan hệ giữa chúng với nhau và dùng để làm những kí hiệu của một hoạt động tinh thần Dựa trên nền tảng của “kết cấu luận” như vậy về sự hoạt động của ngôn ngữ mà người ta có thể xây dựng một cách tiếp cận cú pháp đối với ngôn ngữ Leibniz phát triển thêm tư tưởng của Locke cho rằng các từ dùng để biểu hiện hoặc thậm chí để giải thích các ý niệm Các ngôn ngữ dù khác nhau về mặt vật chất như thế nào chăng nữa cũng vẫn xây dựng trên một cái nền hình thức chung, tức là

có một ý nghĩa chung cho mọi ngôn ngữ, tuy rằng mỗi ngôn ngữ có tính đặc thù về phương diện biểu đạt, có tổ chức riêng biệt

Conddilac là học trò của Locke và còn triệt để hơn thầy về cảm giác luận Ông trở lại lí thuyết logic theo tinh thần ngữ pháp Port Royal Ông cũng cho rằng các từ

là những kí hiệu của tư tưởng chúng ta Song muốn tìm quy luật ngôn ngữ thì phải xem xét chúng ta tư duy như thế nào, phải tìm ra quy luật ấy trong sự phân tích tư duy Một điều rất mới trong tư tưởng của ông là xem xét tư tưởng từ cấu tạo của nó

và xem xét ý niệm từ cảm giác Conddilac không xem tư tưởng đã có sẵn, đã kết tinh rồi mà từ khía cạnh: tư tưởng nảy sinh như thế nào, phong phú lên như thế nào

và các tư tưởng kết hợp với nhau như thế nào mà tạo thành những kết cấu phức tạp Nói cách khác ông muốn mô hình hóa quá trình tư duy của loài người và sinh ra quá

Trang 29

trình tổng hợp trong phạm vi tư duy Do tư duy và ngôn ngữ gắn bó với nhau, cho nên nảy sinh vấn đề quan hệ giữa hai quá trình mô hình hóa, quá trình tư duy và quá trình ngôn ngữ Ông nghiên cứu tư duy gắn với con người cá nhân Từ đó, ông cho rằng, con người không có một tri thức nào khi sinh ra mà chỉ dần dần mới có tri thức Theo ông, tư tưởng của chúng ta, xét về bản chất nguồn gốc, không phải là cái

gì khác cảm giác Như vậy, Conddilac đặt vấn đề tâm lí học của tư duy – lời nói Đây là một điểm mới, khác với khuynh hướng của thế kỉ XVII Đối với Conddilac, ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với tư duy bởi vì nó không phải chỉ là phương tiện biểu thị một tư tưởng nào đó, mà còn phản ánh quá trình nảy sinh tư tưởng và

sự gia tăng liên tục của những tri thức, theo những qui luật của chúng Ông giải thích không những quan hệ thống nhất các tư tưởng của chúng ta trong một hệ thống khép kín mà cả việc chuyển từ tư tưởng này sang tư tưởng khác Điều lí thú nhất ở ông không phải ở lí thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ (từ điệu bộ chuyển sang

cử chỉ biểu cảm, lên tiếng kêu rồi tiếng hát rồi lời nói) Cũng không phải ở những thiết chế riêng rẽ mà ngày nay con người mới thấy rõ rằng con người chỉ có thể làm

kí hiệu cho nhau khi họ sống chung Điều thú vị ở ông ở đây là sự rõ ràng về tính võ đoán của kí hiệu Chính ông đã tạo ra những mầm mống cho kí hiệu học hiện đại Ngôn ngữ tuyệt đối cần thiết để thể hiện tư tưởng và sự tiến bộ của ngôn ngữ diễn

ra theo sự tiến bộ của tư tưởng con người

Trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt giữa các nhà tư tưởng tư sản và các thế lực quan liêu phong kiến thế kỷ XVIII ở châu Âu, vấn đề ngôn ngữ nổi bật lên hàng đầu Giữa Conddilac, Rousseau (1712-1778) ở Pháp, giữa Leibniz, Herder và Humboldt (1767-1835) ở Đức có mối liên hệ chặt chẽ Họ ít nhiều nhận ra ý nghĩa chính trị thực tiễn của ngôn ngữ trong mối quan hệ với tư duy và tình cảm dân tộc cũng như của sự phát triển ngôn ngữ dân tộc Còn Hegel phát hiện tính hệ thống của ngôn ngữ trong sự thống nhất giữa chức năng nhận thức và chức năng giao tiếp Điều này được Mác đánh giá cao Ferbach nói về ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với hành động của con người trong khi phê phán quan điểm duy tâm về bản chất ngôn ngữ Bản chất đó chỉ được thể hiện đầy đủ qua những luận điểm của Lenine trong

Trang 30

tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” Nói chung ở Đức, các nhà tư tưởng không nhìn ngôn ngữ theo quan điểm duy lý hay quan điểm cơ chế hoạt động mà nhìn ngôn ngữ theo quan điểm lịch sử

Sang nửa đầu thế kỉ XIX, vấn đề bản thể luận của ngôn ngữ, giải thích tính chất của ngôn ngữ, quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy và những nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ được quan tâm nhiều hơn Humboldt (1767-1835)

đã hiểu ngôn ngữ như là công cụ của lý tính như là phương thức tồn tại và vận hành trí tuệ Humboldt đã mang đến một triển vọng mới hẳn trong việc nghiên cứu về bản thể luận ngôn ngữ vốn đã được ông hiểu “như là khởi điểm tự hoạt động”, không phải như sản phẩm chết cứng mà như là quá trình tạo lập, không phải là sản phẩm của hoạt động mà như là chính hoạt động vậy Ông thấy ngôn ngữ tự nhiên như là khí cụ tạo lập tư tưởng và lĩnh hội thế giới trong khi hướng tới hình thức bên trong của ngôn ngữ, xét sự tạo thành các hình thức tinh thần nhờ ngôn ngữ và trong ngôn ngữ Ngôn ngữ không phải chỉ là công cụ bên ngoài để giao tiếp của con người trong xã hội mà còn là sự tồn tại bên trong con người và cần thiết cho sức mạnh tinh thần của họ và cho sự hình thành nên thế giới quan Sau Humboldt, qui chuẩn ngôn ngữ đã thay đổi tận gốc rễ - từ là chất liệu nền để thể hiện tinh thần, nó trở thành công việc thường xuyên để tinh thần đổi mới Ngôn ngữ còn tạo ra cái thế giới nằm giữa các hiện tượng bên ngoài và thế giới nội tâm của con người Và thế giới ngôn ngữ đó không đơn giản là chất liệu mềm yếu để thể hiện tư tưởng nữa mà chính nó là chất xúc tác tích cực đầy nhiệt huyết quy định cho tri giác và tư duy cách bố trí dàn xếp, định hình các tâm thế và viễn cảnh cho những nỗ lực tư tưởng Cho dù tư tưởng của ông rất đặc sắc, nhưng cho đến trước thế kỷ XX, nó vẫn không

có ảnh hưởng nào đáng kể đến triết học và ngôn ngữ học Vẫn như trước, triết học

cố gắng dọn sạch kết cấu của tri thức và tư duy khỏi chung đụng với ngôn ngữ Trong suy tư có sự phê phán của mình, triết học cố đảo ngược từ tư duy vốn đầy rẫy những sự đồng nhất không thể minh biện, những đồng âm lạc điệu không thể tránh khỏi của ngôn ngữ tự nhiên, về tư duy thuần túy bằng khái niệm chỉ có một nghĩa khách quan phi nhân cách Có thể nói, triết học cổ điển quan tâm nhất đến thế giới

Trang 31

các ý nghĩa lí tưởng, còn ngôn ngữ hoặc chỉ là chất liệu thích hợp để thể hiện ý nghĩa đó hoặc là hình thức biểu hiện không phù hợp với ý nghĩa lí tưởng đó, là điều vốn có ở ngôn ngữ tự nhiên và rất đáng để mổ xẻ phân tách

1.1.2.4 Thời kì Hiện đại

Sự quan tâm triết học về ngôn ngữ vốn đã có từ cổ xưa và tồn tại lâu dài, đã nở

rộ một lần nữa trong thế kỷ qua

Tình hình đã thay đổi hẳn vào cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX Nietzche (1844 - 1900) đã gán mọi sai lầm cho ngôn ngữ, cho sự bản thể hóa các từ ghi Ông gọi chủ nghĩa duy tâm Đức là siêu hình học ngôn ngữ F Molier (1813 - 1900) đồng nhất tư duy với lời nói Ông đã kịch liệt phê phán ngôn ngữ như là cội nguồn của sự nhân hình hóa, bái vật giáo hóa và ẩn dụ hóa Trong ngôn ngữ học đã xuất hiện những quan điểm không chỉ đòi quay trở lại những tư tưởng của Humboldt mà còn tiếp tục phát triển chúng Chẳng hạn, S.Santayana (1863 - 1953) đã nhận thấy trong ngôn ngữ có: lời nói, năng lực nói và chất liệu ngôn ngữ K Bataile (1897 - 1962) khi cố hiện thực hóa ý đồ của Humboldt đã đưa ra hàng loạt các tiên đề của ngôn ngữ học mới: Ngôn ngữ như là khí cụ, bản tính dấu của ngôn ngữ, phân tích như là

sự tác động và hành vi bằng lời, ngôn ngữ hệ thống được tạo lập từ các từ và câu

Thuyết Humboldt mới đề xuất cách hiểu mang tính ngôn ngữ như là hiểu thế giới, thấy ngôn ngữ tự nhiên như là khí cụ tạo lập tư tưởng và lĩnh hội thế giới trong khi hướng tới hình thức bên trong của ngôn ngữ, xét sự tạo thành các hình thức tinh thần nhờ ngôn ngữ và trong ngôn ngữ Một trong những điểm đặc biệt của ngôn ngữ học thế kỷ XX là sự hợp nhất chủ nghĩa cấu trúc với ngữ nghĩa học

Nếu những năm 50 - 60 thế kỷ XX, ưu thế thuộc về chủ nghĩa cấu trúc và tiếp cận ngữ nghĩa với ngôn ngữ như là một hệ thống dấu thì vào những năm 70 cả trong chính ngôn ngữ học và triết học đã diễn ra những chuyển dịch căn bản - tâm điểm chú ý đã không chỉ là các ngôn ngữ nhân tạo mà còn cả các ngôn ngữ tự nhiên, các khía cạnh cú pháp của ngôn ngữ được phân tích thống nhất với các khía cạnh ngữ nghĩa Xu hướng trong triết học ngôn ngữ được phát triển mạnh trong lí thuyết các hành vi lời nói, ở đó diễn đạt ngôn ngữ được hiểu không phải như các đối

Trang 32

tượng mà như hành động Ngành ngôn ngữ học những năm 70 đã hướng đến nghiên cứu những đơn vị ngôn ngữ lớn hơn là câu Đối tượng chú ý của nó đã trở nên không phải là khái niệm với tính khách quan và tính đơn nghĩa của chúng mà là đoạn văn được định hình nhờ tư duy bằng miệng, trong các hành vi lời nói, trong các hình thức khái niệm hóa bởi con người

Các nhà triết học ngày nay thường mong muốn có phương pháp và ngay cả các giải thích chính xác như toán học về ngôn ngữ; các triết gia này bằng cách này hay cách khác kế thừa tư tưởng của G.Frege, B.Russell, L.Wittgenstein và các nhà thực chứng logic, những người cố gắng áp dụng các giải thích nghiêm ngặt về logic học và về nghĩa trong nỗ lực nhằm xóa bỏ các vấn đề triết học truyền thống Các nhà triết học đương thời cũng thường chú ý đến vai trò các từ thú vị mang tính triết học như: “tri thức”, “chân lí”, “cái thiện” và “tự do” được biểu hiện trong sử dụng ngôn ngữ thông thường, các triết gia này kế thừa từ “các triết gia ngôn ngữ thông thường” là G.Moore, J.Austin và L.Wittgenstein Chiến lược tìm kiếm các dòng tư tưởng đối với các vấn đề triết học sâu sắc thông qua sự khảo sát kỹ lưỡng việc sử dụng hằng ngày của các từ mà trong đó các vấn đề triết học được dựng lên

Như vậy, hệ vấn đề của triết học ngôn ngữ ở thế kỷ XX được mở rộng đáng

kể Đối tượng nghiên cứu của chúng đã không còn đơn giản là ngôn ngữ như là tính tích cực của tư duy mà là lời nói, giao tiếp bằng lời và tất cả các hình thức sử dụng ngôn ngữ được hiểu như là các phương thức hành động tạo thành tập lớn các ý nghĩa Trong triết học ngôn ngữ cùng với việc phân tích logic đối với ngôn ngữ đã phát triển các quan niệm kiến giải thông diễn học về ngôn ngữ; lý thuyết hành vi giao tiếp, phân tâm học cấu trúc… chúng đều là những mệnh đề lời nói, giao tiếp ngôn ngữ, trở thành đối tượng nghiên cứu của mình

1.1.2.5 Các trào lưu và chủ đề của triết học ngôn ngữ Hiện đại

a) Các trào lưu

Khi nói đến triết học ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học nghĩ ngay đến các trào lưu phân tích ngôn ngữ trong xã hội tư bản “Tuy nhiên, phải thấy rằng trong các suy tư triết học về ngôn ngữ ở phương Tây chưa có trào lưu nào đi sâu được vào

Trang 33

bản chất của ngôn ngữ, vào những động lực lịch sử thực tiễn của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, cũng như giữa ngôn ngữ và quá trình nhận thức” [30, tr 58]

Có nhiều nguyên nhân quy định tính tất yếu phải hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mới Trước hết là sự phân nhánh của chính ngành ngôn ngữ học Và triết học ngôn ngữ có sứ mệnh đảm bảo chức năng tích hợp trong ngôn ngữ học thường xuyên phân nhánh Khó có thể xây dựng được mô hình tích hợp của ngôn ngữ khi mà lời nói trong ngôn ngữ quá đa dạng và đối tượng của nó được xây dựng bởi các phương pháp luận hoàn toàn khác nhau - từ việc sử dụng các phương pháp khoa học tự nhiên đến các phương pháp hiểu do cái gọi là “khoa học về tinh thần” đưa ra Nguyên nhân thứ hai khiến triết học ngôn ngữ nảy sinh là bước ngoặt ngôn ngữ học trong chính triết học đã dẫn đến chỗ ngôn ngữ được hiểu như là cái hiện thực quy định việc phân tách thế giới mang tính thứ hạng, như là cái tồn tại không

chỉ có đặc thù của mình mà còn cấu hình lên tồn tại của tri thức và ý thức Bản thể

luận ngôn ngữ đã triển khai các hướng triết học khác nhau từ triết học đối thoại của

M Buber (1878 - 1923) và M.M Bakhtin, mà ở đó, ngôn ngữ được hiểu như là hiện thực chủ thể định hình trong cuộc đối thoại giữa Tôi và Anh, đến quan điểm tương đối của D Shapere nhấn mạnh đến sự phụ thuộc của tất cả các tri thức của con người vào phương tiện ngôn ngữ đến cả bản thể luận Heidergger vốn hiểu ngôn ngữ như là ngôi nhà của tinh thần và sự tồn tại người; còn triết học ngôn ngữ như là sự làm rõ ý tưởng ban đầu đã chứa đựng trong ngôn từ Sau đây là các trào lưu nổi bật của triết học ngôn ngữ từ đầu thế kỷ XX đến nay:

Một là, chủ nghĩa cấu trúc ngôn ngữ học

Trào lưu triết học ngôn ngữ và lí thuyết ngôn ngữ có ảnh hưởng tiềm tàng và rộng rãi nhất là chủ nghĩa cấu trúc (structuralism) trong ngôn ngữ học mà người đề xướng là F Saussure (1857-1913) Chủ nghĩa cấu trúc là thuật ngữ chung cho cách tiếp cận ngôn ngữ học ở đầu thế kỷ XX, tất cả đều dựa trên lý luận của Saussure Ngoài việc tuyệt đối hóa các quan hệ trong phương pháp luận, các nhà cấu trúc luận mưu toan gạt bỏ tính lịch sử của ngôn ngữ, phủ nhận chức năng phản ánh, tức là chức năng nhận thức của ngôn ngữ Họ chưa nhận ra được sự thống nhất biện chứng giữa

Trang 34

lịch sử, cấu trúc và chức năng ngôn ngữ trong cơ chế xã hội, cũng như động lực của

sự thống nhất đó Xuất phát từ một quan điểm trừu tượng về con người và xã hội, họ nhấn mạnh mặt hình thức của ngôn ngữ, xem nhẹ nội dung, ý nghĩa và qua đó tách rời ngôn ngữ khỏi quy luật tư duy Mọi trào lưu triết học ngôn ngữ tư sản đều bắt nguồn từ đây F De Saussure coi ngôn ngữ là hệ thống dấu hiệu ngôn ngữ dưới hình thức còn tiềm ẩn trong não Từ là dấu hiện ngôn ngữ trong não và từ được sử dụng khi giao tiếp là khác nhau F De Saussure nghiên cứu các phương diện nội tại của ngôn ngữ nhằm phát hiện ra các quan hệ trong lòng ngôn ngữ, từ các quan hệ đó xác lập ra các giá trị của các yếu tố hợp thành ngôn ngữ Các đại biểu tiêu biểu là E Sapir

và Bloomfield chủ trương gạt ý nghĩa ra khỏi ngôn ngữ, miêu tả ngôn ngữ bằng cơ chế kích thích phản xạ giữa người với người bằng lời nói, đi vào những khái niệm công cụ chung cho ngôn ngữ như: hợp tố trực tiếp, thay thế, kết cấu hướng nội và hướng ngoại, hình thái ngôn ngữ mà miêu tả được các ngôn ngữ cụ thể Kế thừa và phát triển tư tưởng này là B Lock, Z Harris, E Nida, Ch, Hocket Về sau là Hjelmslev, N.S Trubetskoy, R Jakoson, A Martinet, đặc biệt là Chomsky

Hai là, trào lưu triết học phân tích và ngữ dụng học đại cương

Cội nguồn của khuynh hướng này là các nhà triết học Anh, J.E Moore 1958) và Russel (1872-1970) cũng như nhà logic học và toán học người Đức, H Frege (1848-1925) Triết học phân tích kế thừa truyền thống nghiên cứu của các căn

(1873-cứ của tri thức dưới hình thức cả cảm tính, kinh nghiệm, lần dưới hình thức lý tính,

lý luận của nó Các bậc tiền bối của nó là Hobbles, Locke, Berkley, Hume, Miller, March cũng như Aristotle và triết học kinh viện cổ, R Descartes, Leibniz, Kant Phát triển một số ý kiến của các nhà thực chứng logic (Câu lạc bộ Viên (Áo) gồm các đại biểu tiêu biểu nhất là Moritz Schlick (1882-1936), Rudolf Carnap (1891-1970), Lucasevich, Tarski ) coi đối tượng của triết học không phải là hiện thực mà là hoạt động phân tích ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nhân tạo Mục tiêu của họ chính là ở chỗ loại bỏ khỏi khoa học tất cả các suy luận và các vấn đề giả tạo, không có ý nghĩa nhận thức và động thời bảo đảm việc xây dựng các mô hình logic lí tưởng cho sự suy luận Để đạt được mục tiêu này, họ đã sử dụng bộ máy

Trang 35

logic toán làm phương tiện lý tưởng cho hoạt động phân tích của triết học Tính khoa học bị đồng nhất với việc mô tả các dữ kiện kinh nghiệm Còn nguyên tắc chứng thực (principle of verification) được coi là tiêu chuẩn của tư duy, vốn được vận dụng để phân tích ngôn ngữ đúng Chủ nghĩa thực chứng logic nghiên cứu triết học về hoạt động ngôn ngữ thừa nhận vai trò phản ánh của ngôn ngữ, nhưng tuyệt đối hóa nó đến mức xem mọi vấn đề triết học suy cho cùng đều thuộc vấn đề ngôn ngữ Còn các nhà triết học Anh và Bắc Âu chủ trương phân tích ngôn ngữ thông thường, không bàn đến hoạt động ngôn ngữ, mà đi sâu phân tích cách thức sử dụng ngôn ngữ cho đúng chỗ Chủ nghĩa logic thực chứng lúc đầu cố hiểu ngôn ngữ như

là phương tiện giao tiếp và hướng đến việc xây dựng cú pháp của ngôn ngữ (Carnap, 1891 - 1970) trong đó nhiệm vụ của logic học và triết học được hình dung

là sự phân tích logic đối với ngôn ngữ như là liệu pháp ngôn ngữ (Russerl, 1872 -

1970) Trong Luận văn logic - triết học, Witgenstein đã thấy nhiệm vụ của triết học

là giải nghĩa các từ Sau này, trong Nghiên cứu triết học ông đã đưa ra khái niệm

“Trò chơi ngôn ngữ”, trong đó nhấn mạnh rằng nghĩa của từ bị quy định bởi cách dùng từ tức là chú ý đến tính chất thực dụng của các nghĩa ngôn từ, còn việc sử dụng ngôn từ được ông hiểu là một dạng tích cực của ngôn ngữ Sự quan tâm đến tính thực dụng của ngôn ngữ là đặc trưng cho cả công cụ luận và chủ nghĩa thực dụng, lẫn cho sự phân tích thông thường nơi mà triết học được hiểu như là sự phân tích cách sử dụng ngôn ngữ và làm sáng tỏ sự phong phú ngữ nghĩa của ngôn ngữ

tự nhiên Do vậy, các triết gia hiểu “nghĩa là cách dùng” (meaning is use), nghĩa là miêu tả nghĩa một từ tức là cho biết cách sử dụng từ đó, chỉ ra rằng từ này cho phép tạo thành những hành vi ngôn ngữ nào Đại biểu nổi tiếng của trào lưu này là

Austin Khuynh hướng này thống trị trong tạp chí Analysis (Phân tích) xuất bản tại

Oxford Các nhà triết học phân tích bỏ qua hoặc cố ý lẩn tránh tính giai cấp trong việc sử dụng những từ ngữ có liên quan đến giai cấp, hoặc cần thiết phải được làm sáng tỏ về mặt xã hội khách quan Cũng thuộc trào lưu triết học ngôn ngữ này là ngữ nghĩa học đại cương được Welby, Ogden, Richards, Brigman phát triển ở

Mỹ Trái với quan điểm truyền thống, ngữ nghĩa học được định nghĩa là khoa học

Trang 36

về sự chung sống với nhau nhờ có ngôn ngữ Về mặt thế giới quan triết học, đó là

sự hỗn hợp giữa thao tác duy nghiệm (operationisme) của Bridgman, thuyết công cụ (instrumentalisme) của Dewey, và thuyết ngữ dụng (pragmatisme) của Pierce Chomsky, Katz và các nhà ngữ pháp tạo sinh chống lại những phổ quát ngôn ngữ theo thuyết duy nghiệm và làm sống lại thuyết duy lý thế kỷ XVII-XVIII về ý niệm bẩm sinh Thông qua khái niệm “tính sáng tạo”, ngữ pháp tạo sinh truyền bá tư tưởng tự do không bờ bến của hành động và chống lại quyết định luận lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Ba là, triết học ngôn ngữ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Triết học Mác – Lênin tuy ít dùng thuật ngữ “triết học ngôn ngữ” nhưng thực chất đã đề cập nhiều đến bản chất và vai trò của ngôn ngữ để soi sáng những vấn đề

cơ bản triết học Chỉ trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử mới có khả năng nhận thức được những quy luật của tồn tại và ý thức xã hội, cũng như vận dụng các lý thuyết để nghiên cứu hiện tượng ngôn ngữ vốn không tách khỏi các hiện tượng xã hội, chính trị kinh tế, lịch sử khác Sự thống nhất không chia cắt được giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở quyết định của thế giới quan mác xít và qua đó của quan điểm Mác – Lênin về ngôn ngữ Mác và

Anghen khi phê phán triết học ngôn ngữ tư sản đã viết trong Hệ tư tưởng Đức rằng

hiện thực trực tiếp của tư tưởng là ngôn ngữ Các nhà triết học đã xem tư duy độc lập như thế nào thì họ cũng làm như thế đối với ngôn ngữ Đó là bí quyết của ngôn ngữ triết học, trong đó ý nghĩ với tư cách là từ, có một nội dung riêng Vấn đề đi từ thế giới tư tưởng vào thế giới hiện thực trở thành vấn đề đi từ ngôn ngữ vào cuộc sống Sự phê phán này có giá trị thời sự với các trào lưu triết học ngôn ngữ của chủ nghĩa cấu trúc và chủ nghĩa thực chứng mới vốn chưa thấy rõ tương quan cái lịch sử

và cái logic, cũng như lịch sử và cấu trúc, trong mối quan hệ biện chứng của chúng Ănghen trong các công trình về lịch sử ngôn ngữ, lý luận ngôn ngữ và triết học ngôn ngữ đã cung cấp cơ sở khoa học để hiểu được vai trò ngôn ngữ trong sự phát triển xã hội, phương pháp biện chứng trong sự phân tích nhận thức từ trừu tượng đến cụ thể, quá trình hình thành và thống nhất của các mâu thuẫn trong ngôn ngữ,

Trang 37

các quy luật hoạt động tri giác, hoạt động trí tuệ và hoạt động ngôn ngữ Lênin đi sâu vào nhận thức luận và phản ánh luận Hầu hết các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm mác xit ít nhiều đề cập đến vấn đề triết học ngôn ngữ khi phê phán quan đểm

tư sản trong ngôn ngữ học, hay khi phát triển có hệ thống luận điểm của mình, đặc biệt là về mặt lý luận và phương pháp luận

Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức gắn liền với lao động Ngôn ngữ ra đời trong quá trình lao động của con người Vì vậy, ngôn ngữ có tính xã hội Bản chất xã hội của ngôn ngữ thể hiện chẳng những ở chỗ nó thể hiện ý thức xã hội, phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp mà sự tồn tại

và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội

Chủ nghĩa Mác coi ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người Ngôn ngữ loài người là cái truyền đạt vật chất của ý thức con người Ý nghĩ, tư tưởng tồn tại dưới dạng ngôn ngữ và ngôn ngữ lại biểu đạt

tư tưởng con người Đó chính là tính không thể chia cắt của ngôn ngữ và tư duy

Chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng sự hiểu biết về cấu trúc ngôn ngữ, các thuộc tính chung của nó và những quy luật bên trong sự phát triển của nó, mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và tư duy và mối quan hệ của chúng với hiện thực khách quan, tính quy định xã hội của ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ trong xã hội, cho ta sự hiểu biết đúng đắn về đặc tính bản chất của ngôn ngữ Chủ nghĩa Mác – Lênin nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với dân tộc, chính sách dân tộc và sự bình đẳng ngôn ngữ

Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện đại, triết học ngôn ngữ trở thành vấn đề thời sự, có tiếng nói quyết định trước hết đối với tiền đồ phát triển của triết học và ngôn ngữ học của thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay Vậy các chủ đề của triết học ngôn ngữ hiện đại là gì?

b) Các chủ đề của triết học ngôn ngữ

Nếu như triết học ngôn ngữ cổ đại quan tâm đến nguồn gốc ngôn ngữ, mối quan hệ giữa từ và vật, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, thì triết học ngôn ngữ hiện đại lại quan tâm đến các vấn đề sau:

+ Nghĩa (meaning) và quy chiếu (reference)

Trang 38

+ Sự quy chiếu (reference) và hành vi quy chiếu (referring)

+ Tên riêng (proper name)

+ Ngữ nghĩa học chân - ngụy (đúng-sai)

+ Ngữ dụng (pragmatics) và hành động ngôn từ (speech acts)

+ Các vấn đề khác thuần túy thuộc ngôn ngữ học như phép ẩn dụ (metarphor), phép loại suy

Quy chiếu được hiểu là thao tác quy một phát ngôn hay một bộ phận của phát ngôn về những khách thể của hiện thực, về những sự kiện, tình huống trong thế giới hiện thực Nói cách khác, quy chúng về những vật sở chỉ Quy chiếu là tiền đề

để đánh giá một phát ngôn ngữ đúng hay sai Quy chiếu nói lên mối quan hệ giữa khách thể trong thế giới

Triết học ngôn ngữ hiện đại không chỉ bàn tới quy chiếu mà còn nghiên cứu vấn đề nghĩa của câu, nó giải thích rằng chuỗi những biểu hiện và tiếng là có nghĩa đồng thời giải thích phương pháp có thể cho con người tạo ra và hiểu những phát ngôn có ý nghĩa và thực hiện điều đó một cách dễ dàng như thế nào Chính những vấn đề này đã định vị được triết học ngôn ngữ hiện đại đồng thời định vị được Chomsky trong triết học ngôn ngữ Chomsky không trình bày rõ ràng những chủ đề này nhưng tư tưởng của ông rất quan trọng đối với sự phát triển của nó Ông là người theo chủ nghĩa cấu trúc cho nên quan điểm ngôn ngữ của ông đi theo con đường hình thức hóa ngôn ngữ đẩy tới mức cực đoan Ông nhấn mạnh ngôn ngữ học nghiên cứu năng lực ngôn ngữ, chứ không nghiên cứu hiện tượng ngôn ngữ Chomsky đề xuất cơ chế tạo sinh ngôn ngữ gắn liền với cấu trúc sâu và cấu trúc bề mặt Ngữ năng nằm trong cấu trúc sâu, nơi có các quy tắc khái quát trừu tượng và tiềm ẩn, là những thiết chế khiến người nói phải tuân thủ Từ cấu trúc sâu đến cấu trúc bề mặt thông qua các quy tắc tạo sinh, mà ngôn ngữ hình thức bên trong sản sinh ra các phát ngôn, tức hoạt động ngôn ngữ

Sang nửa sau thế kỷ XX, quan điểm mang tính cách mạng của Noam Chomsky về ngôn ngữ làm thách thức triết học Chomsky đã đề xuất một hướng đi khác với phương pháp của các nhà triết học trước đó trong việc tìm hiểu bản chất

Trang 39

ngôn ngữ của con người Ông không chú ý đến mặt sử dụng ngôn ngữ Ông quan tâm tới mặt sinh học của nó để lí giải các hiện tượng ngôn ngữ Với ông, ngôn ngữ

là đặc biệt lí thú vì ngôn ngữ có vai trò cơ bản trong tư duy và tương tác con người Ông cũng chú ý đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ý thức thông

qua những giải thích có hệ thống về cú pháp của ngôn ngữ, về cơ chế ngữ năng,

và một phần rộng lớn về ngữ nghĩa với nỗ lực để tìm ra các cấu trúc nhận thức của

tư duy và ý thức

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, quan tâm triết học về ngôn ngữ được duy trì bởi những vấn đề khái niệm cơ bản trong ngôn ngữ học, các vấn đề tinh túy triết học về mối liên hệ giữa tư duy, ngôn ngữ và thế giới, và các vấn đề về phương pháp luận triết học Những nguồn này duy trì một lĩnh vực phong phú và hấp dẫn của triết học liên quan tới biểu tượng, giao tiếp, nghĩa và chân lý Nghiên cứu một số tư tưởng triết học ngôn ngữ của Chomsky là một sự nối tiếp rất sâu sắc trong dòng chảy triết học phương Tây hiện đại

1.2 Noam Chomsky: cuộc đời và sự nghiệp

1.2.1 Cuộc đời

Noam Chomsky tên đầy đủ là Avram Noam Chomsky sinh ngày 7 tháng 12 năm 1928 tại East Oak Lane, vùng ngoại ô giàu có Philadelphia, bang Pennsylvania (Hoa Kỳ) Ông sinh ra trong một gia đình Do Thái trung lưu trí thức người Nga Ông là một nhà triết học, nhà khoa học nhận thức, nhà logic học, nhà bình luận chính trị và nhà hoạt động cho phong trào công đoàn vô chính phủ Cha ông là William Chomsky, một học giả tiếng Hebrew, chuyên về cú pháp thời trung cổ ở trường sư phạm Gratx và trường Cao đẳng Dropxki ở Philadenphia William Chomsky vốn xuất thân từ một thành phố nhỏ ở Ukraina, trốn quân dịch Sa hoàng

và di cư khỏi Nga sang Hoa Kỳ năm 1913 Mẹ ông là Elsie Chomsky (tên thời con gái là Simonofsky), cũng gốc Nga nhưng bà sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ và nói tiếng Anh theo giọng New York Ngôn ngữ mẹ đẻ của bố mẹ ông là tiếng Yiddissh, nhưng trong gia đình lại không dùng tiếng này “Noam” trong tiếng Hebrew có nghĩa là hài lòng

Trang 40

Năm mười tuổi, Chomsky đã được đọc bản in thử về ngữ pháp tiếng Hebrew thể kỷ XIII của cha mình, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới lòng ham thích ngôn ngữ của Chomsky sau này

Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1945, ông học hành khá lang bang tại đại học Philadelphia Đầu tiên ông quan tâm tới tình hình chính trị ở Trung Đông hơn

cả việc học đại học Ông từng có ý định thôi học để đi Palestine Tìm cách khuyên can con, cha ông giới thiệu với Zellig Harris, một trong những thầy giáo của ông, lúc đó Zellig Harris cũng rất quan tâm tới chính trị, và có vẻ như đồng quan điểm với Chomsky Vì vậy Chomsky quyết định ở lại Philadelphia học ngôn ngữ học với

Z Harris Đầu tiên chỉ là sửa bản in cho công trình sau này nổi tiếng toàn thế giới

Các phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc và Chomsky thật sự học ngôn ngữ qua lần

sửa bản in đó Z Harris yêu cầu Chomsky tìm hiểu một cuốn ngữ pháp Hebrew Sau khi đọc ông phát hiện ra những quy tắc tạo ra toàn bộ các câu của tài liệu này theo mô hình cải biến Nghiên cứu này của ông biệt lập với các giáo trình và bài giảng ở trường Về sau, Chomsky cho rằng đi theo con đường không chính thống, như thế thực là may vì như vậy sinh viên mới bước vào ngành này không bị đứng trước hàng loạt quan điểm đầy quyền uy và cực kỳ khó khăn cho người mới vào ngành đưa ra những kiến giải thách thức lại những kiến giải ấy

Trong quá trình nghiên cứu, lúc đầu ông cố gắng cải tiến kĩ thuật phân bố (distribution) và cải biến (transformation) của Harris đồng thời ông đã hình thức hóa chúng một cách triệt để Chomsky biết ơn Harris về những bước đi ban đầu này Sau khi tốt nghiệp đại học Pennsylvania, ông bỏ ra hai năm để nghiên cứu phương pháp cải biến và ông nhận thấy rằng đi theo con đường này sẽ có kết quả, chứ không đi vào ngõ cụt như những phương pháp khác

Năm 1949, Chomsky kết hôn với nhà ngôn ngữ học Carol Schattz, người mà ông quen biết từ thời thơ ấu Họ có 3 con trong đó gồm hai gái là Aviva (1957) và Dania (1960) và một trai, Harry (1967) Carol Schattz đã chết vì bệnh ung thư vào năm 2008

Năm 1953, ông gấp rút hoàn thành công trình Cấu trúc logic của ngôn ngữ

Ngày đăng: 02/07/2022, 08:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Tạo sinh cấu trúc sâu của câu bằng các quy tắc viết lại - (LUẬN văn THẠC sĩ) một số tư tưởng triết học ngôn ngữ của noam chomsky
Hình 2.1 Tạo sinh cấu trúc sâu của câu bằng các quy tắc viết lại (Trang 61)
Hình 2.2: Mô tả cấu trúc sâu và cấu trúc bề mặt của câu - (LUẬN văn THẠC sĩ) một số tư tưởng triết học ngôn ngữ của noam chomsky
Hình 2.2 Mô tả cấu trúc sâu và cấu trúc bề mặt của câu (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w