1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học của lê quý đôn trong vân đài loại ngữ

72 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 528,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu thuộc lĩnh vực t- t-ởng triết học tự nhiên và xã hội, v.v., Lê Quý Đôn đã đ-a ra một số quan điểm triết học mà nhiều học giả quan tâm, tuy nhiên việc làm sáng tỏ nh

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lê Quý Đôn (1726 – 1784), một học giả xuất sắc trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ông được coi là “Bộ bách khoa toàn thư” của dân tộc không chỉ ở thế kỷ XVIII, mà còn cả trong toàn bộ chiều dài lịch sử dân tộc Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng về các lĩnh vực văn hoá khác nhau, trong đó có triết học Trên cơ sở nghiên cứu thuộc lĩnh vực t- t-ởng triết học tự nhiên và xã hội, v.v., Lê Quý Đôn đã đ-a ra một số quan điểm triết học mà nhiều học giả quan tâm, tuy nhiên việc làm sáng tỏ những quan điểm đó cho đến nay vẫn ch-a đ-ợc thực hiện cho xứng với tầm vóc t- t-ởng của ông

Nh- chúng ta đã biết, từ tr-ớc đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu ở những mức độ khác nhau về các tác phẩm của Lê Quý Đôn, song họ mới chỉ tập trung xung quanh các vấn đề nh- văn học, lịch sử, địa lý, v.v., của ông, mà rất ít ng-ời tập trung khảo cứu t- t-ởng triết học trong các tác phẩm đó Khi

tìm hiểu t- t-ởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi thấy Vân đài loại ngữ là một tác

phẩm bao hàm nhiều vấn đề triết học nhất, đồng thời cũng gây cho chúng tôi nói riêng, và bất kỳ độc giả nào nói chung sự tò mò, rằng trong các mệnh đề mà Lê Quý Đôn đ-a ra có điểm gì khác biệt so với t- t-ởng các nhà triết học ph-ơng

Đông tr-ớc đó phát biểu về bản thể của vũ trụ? Vai trò và ý nghĩa của các mệnh

đề đó nh- thế nào đối với sự phát triển của t- duy triết học Việt Nam thời bấy giờ cũng nh- hiện nay?

Mặt khác, việc nghiên cứu cơ bản về t- t-ởng triết học của dân tộc ta trong lịch sử là việc làm cần thiết không chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mà còn góp phần vào việc giao l-u văn hoá với các n-ớc trong khu vực và thế giới Vì vậy, thứ nhất, để góp phần nhỏ bé của mình vào lĩnh vực nghiên cứu t- t-ởng dân tộc, và thứ hai, để phục vụ tót hơn công tác chuyên môn, tôi

Trang 2

quyết định chọn “T- t-ởng triết học của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại

ngữ” làm đề tài cho luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay đã có một số công trình viết về Lê Quý Đôn theo nhiều ph-ơng diện khác nhau Có thể phân định sơ bộ các nhóm nghiên cứu theo chủ đề và mục đích riêng Nhóm thứ nhất là những công trình tập trung giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Lê Quý Đôn Nhóm thứ hai đề cập đến một số khuynh h-ớng t- t-ởng của Lê Quý Đôn cũng nh- mối quan hệ của khuynh h-ớng đó với xu h-ớng t- t-ởng dân tộc thế kỷ XVIII Số khác chuyên bàn

đến ph-ơng pháp làm t- liệu của Lê Quý Đôn Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi chú trọng nhiều nhất đến những công trình liên quan đến thân thế sự nghiệp và những nội dung t- t-ởng quan trọng đ-ợc nhà t- t-ởng

trình bày trong Vân đài loại ngữ

Trong các công trình nghiên cứu, các bài viết mà chúng tôi tìm hiểu, có một số công trình tiêu biểu bàn đến những quan điểm triết học của Lê Quý

Đôn, cụ thể:

1 “Lịch sử t- t-ởng Việt Nam”, tập 1 của Viện Triết học, do GS, TS

Nguyễn Tài Th- chủ biên, do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm

1993 Trong công trình này, các tác giả đã chọn Lê Quý Đôn là nhà t- t-ởng tiêu biểu đại diện cho khuynh h-ớng t- t-ởng của thời đại ông Công trình đã nêu lên đ-ợc những nét cơ bản nhất trong quan niệm của Lê Quý Đôn về chính trị - xã hội, về một số vấn đề cơ bản của triết học, về ý thức dân tộc tự lực, tự c-ờng Điều làm tôi quan tâm nhất là các tác giả của công trình này trình bày vấn đề về thế giới quan của Lê Quý Đôn Tuy nhiên, các tác giả ch-a thực sự đi sâu để giải quyết những nội dung đã nêu, mà chỉ khẳng định rằng,

Lê Quý Đôn có khuynh h-ớng kết hợp đ-ờng lối nhân trị với pháp trị, sử dụng

cặp phạm trù lý, khí để giải quyết vấn đề bản thể của thế giới Tuy nhiên các

tác giả ch-a đi sâu phân tích và chỉ rõ nguồn gốc của những quan điểm đó Khi trình bày tư tưởng của Lê Quý Đôn trong khuynh hướng “Tam giáo đồng

Trang 3

nguyên” thời bấy giờ ở Việt Nam, các tác giả cũng chưa lý giải đ-ợc một điều

là, tại sao Lê Quý Đôn là nhà nho, nh-ng lại có khuynh h-ớng phủ nhận sự

độc tôn Nho giáo?

Tuy nhiên, với số trang viết rất ngắn gọn, các tác giả đã làm nổi bật

đ-ợc Lê Quý Đôn với t- cách một nhà t- t-ởng tiêu biểu của dân tộc trên mọi lĩnh vực, chứ không chỉ có riêng triết học Điều khẳng định của các tác giả mà chúng tôi muốn chia sẻ là cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa về Lê Quý Đôn thì mới thấy hết đ-ợc những quan niệm triết học của ông Nói tóm lại, phần trình bày về Lê Quý Đôn trong công trình này đã giúp ng-ời đọc có định h-ớng chính xác khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực khác nhau

mà chính nhà t- t-ởng này quan tâm

Công trình thứ hai là Lê Quý Đôn và học thuyết “lý“, “khí“ của GS Cao Xuân Huy trong “T- t-ởng ph-ơng đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995 cũng là một công trình rất

sâu sắc về những quan điểm triết học tự nhiên của Lê Quý Đôn Bài viết đã trình bầy rất cụ thể quan điểm của Lê Quý Đôn về vấn đề bản thể của thế giới,

vũ trụ Hơn nữa tác giả còn chỉ rõ nguồn gốc xuất phát t- t-ởng của Lê Quý

Đôn, chỉ rõ những điểm hạn chế và tiến bộ của ông so với các nhà nho cùng thời Tác giả đã đánh giá khuynh h-ớng t- t-ởng của Lê Quý Đôn rất xác

đáng, đó là sự thể hiện của chủ nghĩa hỗn hợp nguyên thuỷ Tuy nhiên, bài viết chủ yếu mang tính giới thiệu nhiều hơn là đánh giá, phân tích Trong đó, người đọc cũng không nhận rõ được khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên” trong t- t-ởng của Lê Quý Đôn Các vấn đề khác cần đ-ợc xem xét d-ới lăng kính triết học nh-: vấn đề con ng-ời, vấn đề chính trị, xã hội, v.v., ch-a đ-ợc tác giả đề cập tới

Công trình thứ ba là Lê Quý Đôn, nhà t- t-ởng Việt Nam thế kỷ XVIII

của GS Hà Thúc Minh do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998, tái bản lần thứ nhất năm 1999 Đây là công trình nghiên cứu khái quát về Lê Quý

Đôn trên mọi ph-ơng diện, từ thân thế, sự nghiệp, những tác phẩm tiêu biểu

Trang 4

cho đến t- t-ởng của Lê Quý Đôn Tác giả đã trình bày những t- t-ởng chính trị xã hội, triết học của Lê Quý Đôn và đã giúp cho độc giả có cái nhìn khái quát nhất về quan điểm, lập tr-ờng, khuynh h-ớng t- t-ởng của ông Tác giả

đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau ở các tác phẩm “Quần thư khảo biện”, “Thư kinh diễn nghĩa”, “Kiến văn tiểu lục”, “Vân đài loại ngữ”, v.v., để chứng minh cho những nhận định mà tác giả nêu ra Hơn nữa, GS Hà Thúc Minh còn dày công s-u tầm, tuyển lựa, trích dẫn những đoạn trích tiểu biểu trong tám tác phẩm lớn của Lê Quý Đôn để giới thiệu với độc giả

Tuy nhiên, nếu đây là một công trình chuyên nghiên cứu về t- t-ởng Lê Quý Đôn thì theo tôi, còn quá sơ sài Nội dung t- t-ởng của Lê Quý Đôn đ-ợc tác giả trình bày trong khoảng 30 trang trong tổng số 151 trang của công trình

là quá ít Do vậy, tác giả mới chỉ phần nào khái quát đ-ợc t- t-ởng của Lê Quý Đôn, mặc dù đã sử dụng nhiều tác phẩm của Lê Quý Đôn Gs Hà Thúc Minh có nhận định “Lê Quý Đôn cũng kêu gọi sử dụng luật pháp nhưng thực

ra ông vẫn một mực chủ tr-ơng đức trị chứ không phải pháp trị nh- có ng-ời từng nói”, theo tôi, với tư liệu mà tác giả đ-a ra thì ch-a đủ để khẳng định nhận định này

Theo tác giả, khi bàn về nguồn gốc thế giới, Lê Quý Đôn đã dựa vào

thuyết “lý bản thể”, từ đó khẳng định lý có tr-ớc khí Tác giả nhận định “Tuy quan niệm rằng lý ở trong khí nh-ng theo ông (Lê Quý Đôn), thì lý vẫn là cái

có trước” và tác giả dùng dẫn chứng “Từ xưa đến nay, lý ch-a hề không tồn tại (chữ in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh – HVT) Xem thế đủ biết trong chỗ

h- không im lặng vẫn tồn tại cái lý ấy” (Vân đài loại ngữ) Nếu dùng đoạn

trích này để chứng minh cho nhận định đó thì rõ ràng không đủ sức thuyết phục, bởi vì Lê Quý Đôn muốn nhấn mạnh sự tồn tại của lý trong khí chứ

không khẳng định lý có tr-ớc khí Đồng thời, tác giả chỉ khẳng định t- t-ởng

của Lê Quý Đôn chịu ảnh h-ởng sâu sắc của triết học Tống Nho mà cụ thể là Chu Hy, mà không thấy rằng, khuynh h-ớng t- t-ởng của Lê Quý Đôn là hỗn dung đa nguyên trên cơ sở Nho giáo chủ đạo

Trang 5

Những bài viết của Gs Văn Tân: “Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến“ và “Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp“ đ-ợc đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử cũng là nguồn t- liệu tham

khảo tốt bởi tác giả cũng có những bàn luận về quan niệm triết học của Lê Quý Đôn

Trong bài viết của mình, tác giả luôn khẳng định Lê Quý Đôn là một học giả lớn trên mọi lĩnh vực từ văn, sử, địa đến triết học Trong hai bài viết của mình, tác giả chỉ chủ yếu đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn

đúng nh- tên bài viết, đồng thời trình bày khái quát những quan điểm triết học

của Lê Quý Đôn thông qua việc giải quyết mối quan hệ giữa Lý và Khí cũng

như về cuộc đời hoạt động chính trị của ông Theo Gs Văn Tân, “Quan niệm triết học của Lê Quý Đôn không thể v-ợt ra ngoài quan niệm triết học của Tống Nho” Điều đó hoàn toàn chính xác, song, theo chúng tôi ngoài sự kế thừa các t- t-ởng đó, Lê Quý Đôn cũng có những quan điểm riêng của mình

về những vấn đề mà ông thu thập đ-ợc từ triết học Tống Nho Nói cách khác,

Lê Quý Đôn tuy xuất phát từ triết học Tống Nho, cụ thể là triết học Trình, Chu nh-ng ông lại có cách giải quyết rất riêng của mình, điều đó đ-ợc thể hiện khá

rõ nét trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn đã sử dụng rất nhiều quan điểm

của các nhà t- t-ởng ph-ơng Tây để chứng minh quan điểm của mình chứ ông không hoàn toàn phụ thuộc vào Tống Nho Chúng ta đều biết, các nhà nho

thời Tống khi giải quyết mối quan hệ giữa Lý và Khí dù theo h-ớng duy vật

nh- Tr-ơng Tải hay duy tâm khách quan nh- Nhị Trình, Chu Hy, thì mục đích cuối cùng của họ đề cao những giá trị đạo đức truyền thống của Nho giáo nh-

Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí lên ngang với Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh của trời đất, coi

đó là quy luật phổ biến chung, khách quan của xã hội loài ng-ời

Đọc Vân đài loại ngữ chúng ta thấy Lê Quý Đôn luôn chủ tr-ơng

chứng minh tính thống nhất của thế giới ở Khí chứ không phải ở những giá trị

đạo đức của Nho giáo Đó là quan điểm duy vật về bản thể của thế giới và cũng chính là điểm khác biệt của Lê Quý Đôn so với phái Tống Nho Trình Chu

Trang 6

Hơn nữa, các nhà Nho luôn quán triệt nguyên tắc Nhân trị, Đức trị, nh-ng Lê Quý Đôn lại cho rằng, phải kết hợp Nhân trị với Pháp trị, thậm chí

có chỗ ông nghiêng về Pháp trị hơn Quan điểm này của Lê Quý Đôn cũng đã

đ-ợc tác giả nhắc đến trong bài viết Nh- chúng ta đã biết, ở thế kỷ XVIII, Nho giáo ở Việt Nam đã và đang tr-ợt dài trên con đ-ờng suy thoái, các học thuyết khác nh- Phật giáo và Đạo giáo tuy không tham gia vào chính tr-ờng, nh-ng cũng tác động tới Nho giáo không ít Trong bối cảnh đó, khuynh h-ớng

“Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở Nho giáo giữ vai trò chủ đạo được các nhà t- t-ởng chú trọng hơn cả mà Lê Quý Đôn là đại biểu rất tiêu biểu Do vậy, không vì thế mà khẳng định rằng, quan điểm triết học của Lê Quý Đôn không thể v-ợt ra ngoài quan điểm triết học của Tống Nho đ-ợc Khẳng định nh- vậy, theo chúng tôi là ch-a hoàn toàn thoả đáng

Tuy nhiên, hai bài viết của tác giả cung cấp cho ng-ời đọc rất nhiều t- liệu về Lê Quý Đôn, đặc biệt là về cuộc đời hoạt động chính trị của ông Tác

giả rất kỳ công sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau nh-: Việt sử thông giám c-ơng mục, Lịch triều hiến ch-ơng loại chí, Lê Quế Đ-ờng tiên sinh tiểu

sử, Duyên Hà phả ký, v.v., để viết về cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn Vì

vậy, những t- liệu mà tác giả đ-a ra có độ tin cậy khá cao

2 Công trình Văn tuyển t- t-ởng Việt Nam thế kỷ XVIII gồm 2 tập của

Viện Triết học hoàn thành năm 1972 Đây là nguồn t- liệu rất quan trọng cho những ng-ời nghiên cứu về lịch sử t- t-ởng Việt Nam Trong văn tuyển, các tác giả đã dành một số l-ợng trang viết khá lớn để giới thiệu và Lê Quý Đôn với 8 tác phẩm tiêu biểu của ông Sở dĩ chúng tôi đề cập đến công trình này ở

đây là vì các tác giả đã trích tuyển và phân loại theo chủ đề t- t-ởng cơ bản

của Lê Quý Đôn, đặc biệt là những vấn đề triết học trong Vân đài loại ngữ,

đông thời sơ bộ đặt cho mỗi đoạn một tên gọi riêng mang tính khái quát nội dung của nó Điều này giúp cho ng-ời đọc rất thuận lợi trong việc tra cứu bởi ph-ơng pháp tuyển những đoạn trích rất ngắn gọn, sâu sắc, súc tích mà không phải t- liệu nào cũng có đ-ợc Công trình tuy tồn tại nhiều năm d-ới bản in rô

Trang 7

nê ô, ch-a đ-ợc chỉnh lý và biên soạn lại để nâng cao chất l-ợng văn tuyển và

đánh giá đúng nội dung t- t-ởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi vẫn cho đó là công trình có ý nghĩa khoa học đáng trân trọng, nó thể hiện thái độ nghiêm túc và đúng đ-ờng lối của những ng-ời nghiên cứu khoa học nói chung và lịch

sử triết học nói riêng

Ngoài ra còn có những bài viết của GS, TS Nguyễn Tài Thư “T- t-ởng

Lê Quý Đôn và khuynh h-ớng t- t-ởng của thời đại ông”, “Lê Quý Đôn trong lĩnh vực t- t-ởng của dân tộc ở thế kỷ XVIII”, “Lê Quý Đôn, nhà t- t-ởng Việt Nam thế kỷ XVIII“ đ-ợc đăng tải trên tạp chí Triết học, cũng là những nguồn

t- liệu quan trọng khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn

Những tài liệu trên đây là nguồn t- liệu rất quý giá Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã tham khảo, sử dụng những t- liệu đó để cho luận văn của mình hoàn thiện hơn Tuy vậy, số l-ợng sách, công trình, bài viết về tác

phẩm Vân đài loại ngữ còn ít, ch-a thực sự xứng với tầm của tác giả và tác

phẩm Mặt khác những bài viết đó cũng ch-a trình bày một cách có hệ thống và ch-a nêu bật đ-ợc những t- t-ởng triết học cơ bản của Lê Quý Đôn nh- vấn đề bản thể vũ trụ, về con ng-ời, về vấn đề chính trị xã hội, v.v Do vậy, chúng tôi thấy ngoài việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những ng-ời đi tr-ớc, bản thân cần cố gắng khắc phục khó khăn về ngôn ngữ Hán Việt, để ở khả năng

có thể của mình đ-a ra những nhận xét và đánh giá thoả đáng về một số t-

t-ởng triết học cơ bản của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ

3 Mục đớch và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn

Luận văn làm rõ những quan điểm triết học của Lê Quý Đôn đ-ợc thể

hiện trong tác phẩm Vân đài loại ngữ, qua đó chỉ ra vị trí, vai trò của ông

trong tiến trình lịch sử t- t-ởng của dân tộc

- Nhiệm vụ

Trang 8

+ Luận văn tr-ớc hết phải làm rõ những tiền đề cho sự hình thành các quan điểm triết học của Lê Quý Đôn

+ Trình bày một vấn đề về văn bản học của Vân đài loại ngữ, chỉ ra

đ-ợc những nội dung t- t-ởng cơ bản của tác phẩm này

+ Làm rõ những t- t-ởng triết học cơ bản của Lê Quý Đôn trong Vân

đài loại ngữ thông qua việc nghiên cứu so sánh quan điểm của ông với các

nhà triết học Tống Nho

+ B-ớc đầu đ-a ra đánh giá sơ bộ về những điểm tiến bộ cũng nh- làm

rõ những hạn chế trong quan điểm triết học của ông ở trong Vân đài loại ngữ

và chỉ ra vị trí của Lê Quý Đôn trong tiến trình lịch sử t- t-ởng dân tộc

4 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu

đánh giá một cách khách quan những t- t-ởng triết học mà Lê Quý Đôn trình

bày trong Vân đài loại ngữ

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Do giới hạn của đề tài nên luận văn chỉ tập trung làm rõ một số quan điểm

triết học cơ bản của Lê Quý Đôn trong một tác phẩm là Vân đài loại ngữ

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn chỉ ra đ-ợc một số quan điểm triết học của Lê Quý Đôn trong

Vân đài loại ngữ Luận văn đã chỉ ra nguồn gốc t- t-ởng của Lê Quý Đôn, sự

kế thừa và phát triển của Lê Quý Đôn những t- t-ởng triết học cơ bản của

Trang 9

Tống Nho Ngoài ra, luận văn còn dựa vào ph-ơng pháp của triết học và lịch

sử để đánh giá những tích cực cũng nh- những hạn chế trong t- t-ởng của Lê Quý Đôn và chỉ ra vị trí của ông trong tiến trình lịch sử t- t-ởng của dân tộc

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn hoàn thành sẽ góp một phần nhỏ cho việc đáp ứng những đòi hỏi khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn nói riêng, cũng nh- cho việc nghiên cứu hiện nay về lịch sử t- t-ởng Việt Nam nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 2 ch-ơng, 4 tiết

Trang 10

Ch-ơng 1

Sự hình thành t- t-ởng Lê Quý Đôn 1.1 Vài nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đ-ờng, sinh năm 1726, quê ở làng Duyên Hà, tỉnh Thái Bình Thân phụ Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thứ, đỗ tiến sĩ năm giáp thìn 1724, làm quan Hình bộ th-ợng th- và đ-ợc phong t-ớc hầu Mẫu thân ông là ng-ời họ Tr-ơng quê ở Hà Nam Ngay từ nhỏ Lê Quý

Đôn đã nổi tiếng thông minh Các sách chép về ông có nhiều truyền thuyết: hai tuổi đọc đ-ợc chữ Hữu và chữ Vô, năm tuổi đọc đ-ợc Kinh Thi, m-ời tuổi học sử và Kinh Dịch, m-ời bốn tuổi học hết Ngũ kinh, Tứ th-, sử truyện và cả Ch- tử

Năm 1739, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở Thăng Long, đến năm 1743

ông đỗ giải nguyên Năm 1752, ông đỗ Bảng nhãn, đ-ợc cử giữ chức Thụ th-

ở viện Hàn lâm Năm 1754 đ-ợc cử vào ban Toản tu quốc sử, năm 1756 đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam và ông đã phát hiện đ-ợc nhiều vụ hối lộ Cùng năm này, ông đ-ợc đổi sang phủ chúa Trịnh trông coi việc phiên binh Tháng tám năm đó ông đ-ợc cử đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, H-ng Hoá…, đem quân đi dẹp khởi nghĩa của Hoàng Công Chất, lập đ-ợc nhiều chiến công Năm 1757, đ-ợc thăng lên chức Thị giảng Hàn lâm viện

Năm 1760, nhân vua Lê ý Tôn mất, ông cùng Trần Huy Mật đ-ợc cử dẫn đầu một phái đoàn sang báo tang với nhà Thanh và dâng lễ cống Năm

1761 phái đoàn sang đến Bắc Kinh, tại đây ông đã gặp các nho thần nhà Thanh nh- L-ơng Thi Chính, Qui Hữu Quang và các sứ thần Triều Tiên nh-

Hồng Khải Hi, Triệu Vinh Kiến Lê Quý Đôn đã cho họ xem bộ Thánh mô hiền phạm lục, Quần th- khảo biện, tập Tiêu t-ơng bách vịnh và chính Hồng

Khải Hi đã viết lời tựa cho ba sách này Trong hành trình đi sứ qua các tỉnh Trung Quốc, Lê Quý Đôn thấy bọn quan lại thường dùng những chữ “di quan,

di mục” trong văn thư để chỉ sứ thần Đại Việt, ông đã viết thư cho bọn quan

Trang 11

lại ở Quảng Tây phản đối việc dùng những chữ đó để chỉ sứ thần Đại Việt Quan lại nhà Thanh ở Quảng Tây đã chấp nhận, cho ý kiến của ông là hợp lý

và đề nghị cấp trên thay đổi cách x-ng hô với sứ thần Đại Việt Từ đó, sứ thần nước ta được gọi là “An nam cống sứ” Ông cũng đề nghị nhà Thanh không dùng chữ “di” trong văn thư ngoại giao nữa và nhà Thanh cũng chấp nhận

Trên đ-ờng sứ đoàn về n-ớc, Lê Quý Đôn đã gặp nho sĩ Tần Triều Hãn

là ng-ời học vấn uyên bác, th-ờng hay tranh luận cùng ông về học thuật, mặc

dù có nhiều bất đồng nh-ng Tần Triều Hãn cũng phải than rằng, nhân tài nh-

Lê Quý Đôn ở Trung Quốc cũng ít có Lúc qua Quảng Tây, Lê Quý Đôn có gặp quan Đề học của tỉnh là Châu Bội Liên, và ông này có viết lời tựa cho một tuyển tập của Lê Quý Đôn

Năm 1762, khi đi sứ về n-ớc, ông đ-ợc thăng chức Hàn lâm viện thừa chỉ, đ-ợc giữ chức Học sĩ Bí th- các Năm 1764 đ-ợc cử giữ chức Đốc đồng

xứ Kinh Bắc Cùng năm này, ông dâng sớ xin thiết định pháp chế Năm 1765,

ông đ-ợc bổ nhiệm làm Tham chính xứ Hải D-ơng, nh-ng ông đã không nhận

và xin cáo quan về nhà viết sách

Năm 1767, Trịnh Sâm lên thay cha đã gọi Lê Quý Đôn ra và trao cho

ông chức thị th-, tham gia biên soạn quốc sử, kiêm T- nghiệp Quốc tử giám

Năm 1768 ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục dâng lên cho chúa Trịnh và

đ-ợc th-ởng hai m-ơi lạng bạc Tháng 9 năm 1768, ông đ-ợc cử làm Tán lý quân vụ cùng với Phan Phái Hầu đem quân đi đánh Lê Duy Mật, Lê Đình Bản

ở Thanh Hoá Lê Quý Đôn đã đại phá quân Lê Đình Bản ở Đồng Cổ Năm

1769, Lê Quý Đôn thống lĩnh hơn 9000 quân Kinh và Thổ hợp sức với quân Nghệ An buộc Lê Đình Bản phải đầu hàng, Lê Duy Mật phải tự tử Nhờ có công đánh dẹp Lê Duy Mật nên ông đ-ợc thăng chức Thị phó đô ngự sử Năm

1770 ông lại đ-ợc thăng chức Công bộ hữu thị lang

Năm 1772, đ-ợc cử đi điều tra tình hình thống khổ của nhân dân và những việc tham nhũng của quan lại ở Lạng Sơn Ông đã báo cho chúa Trịnh biết những việc tham nhũng của viên đốc trấn Lê Doãn Thân, chúa Trịnh đã

Trang 12

bãi chức viên quan này Cũng năm đó, d-ới sự sắp đặt của Trịnh Sâm, Lê Quý

Đôn cùng với Nguyễn Đình Huấn đã hại Huy Mật bị bãi chức

Năm 1773, hoạn quan Trần Huy Đỉnh đ-ợc cử giữ chức Th- phủ sự phủ chúa Trịnh (tể t-ớng), còn Lê Quý Đôn đ-ợc thăng lên chức Bồi tụng trong

phủ chúa Theo “Việt sử thông giám c-ơng mục”, thời gian này Lê Quý Đôn

cấu kết chặt chẽ với Huy Đỉnh, đ-ợc Huy Đỉnh dìu dắt cùng làm việc, vơ vét của cải, không việc gì không làm, quyền lực bao trùm triều đình, lấn át quyền vua Lê, gây oán hận trong nhân dân Tháng 5 năm ấy, hoạn quan Nguyễn Ph-ơng Đình, Xuân quận công Nguyễn Nghiễm và Lê Quý Đôn đ-ợc lệnh

đốc suất việc làm hộ tịch Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Ph-ơng Đình chỉ làm lấy

lệ, còn Lê Quý Đôn kê cứu, tra xét quá khắt khe, nghiêm khắc nên nhân dân rất oán hận ông Họ làm th- nặc danh dán ở phủ chúa, xin bãi bỏ Lê Quý Đôn

và dùng Hoàng Ngũ Phúc Chúa Trịnh đã phải để cho Ngũ Phúc cùng làm với

Năm 1775, sau khi thu phục đ-ợc Thuận Hoá, Trịnh Sâm đem quân về, Lê Quý Đôn đ-ợc thăng lên chức Lại bộ tả thị lang kiêm Quốc sử quán tổng tài

Tháng 10/1775 xảy ra việc con trai Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt gian lận trong thi cử cùng Đinh Thì Trung Lê Quý Đôn bị tố cáo chủ m-u nh-ng

là bậc đại thần nên đ-ợc miễn tội, còn Lê Quý Kiệt bị tống ngục, Đinh Thì Trung bị l-u đày Năm 1776, chúa Trịnh đặt ty trấn phủ ở Thuận Hoá, Bùi Thế

Đạt đ-ợc cử giữ chức đốc suất kiêm trấn phủ, Lê Quý Đôn đ-ợc cử giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ Trong thời gian ở đây, ông ra sức chấn chỉnh lại

Trang 13

bộ máy chính quyền, chăm lo đời sống kinh tế, giáo dục cho nhân dân Mặc

dù chỉ ở đây có 6 tháng, nh-ng Lê Quý Đôn ngoài công việc chính còn viết

xong bộ sách Phủ biên tạp lục Cuối năm 1776, ông đ-ợc cử giữ chức Hành

bộ phiên cơ mật sự vụ kiêm Ch-ởng tài phú

Năm 1778 đ-ợc thăng lên chức Hành tham tụng, ông cố từ chối và xin

đổi sang ban võ và đ-ợc phong t-ớc Hữu hiệu điểm, quyền phủ sự, t-ớc Nghĩa phái hầu Tháng t- năm 1778, ông bị tham nghị cũ xứ Thanh Hoá là Lê Thế Toại làm bài khải công kích rất gay gắt Năm 1779 bị Hoàng Văn Đồng tố giác ỷ thế ức hiếp lấy 3.000 lạng bạc của y và Lê Quý Đôn bị giáng chức Năm 1781, ông lại đ-ợc cử giữ chức Quốc sử quán tổng tài, Hiệp trấn Nghệ

An Năm 1782, ông đ-ợc triệu về triều thăng lên chức Công bộ th-ợng th-

Đến 1784, ông mất tại Hà Nam, đ-ợc Trịnh Khải đề nghị bãi triều ba ngày để tang ông và đặt tên thụy là Văn Trung, truy tặng t-ớc Thiếu bảo

Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn của dân tộc ở thế kỷ XVIII, di sản ông

để lại rất đồ sộ Theo các tài liệu còn ghi chép đ-ợc, Lê Quý Đôn là tác giả của rất nhiều tác phẩm nổi tiếng trên các lĩnh vực nh- triết học, văn học, sử học, địa lý, chú giải kinh điển…

Về Sử học, ông có tác phẩm: Đại việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục

Đại Việt thông sử là bộ lịch sử n-ớc Đại Việt do Lê Quý Đôn biên soạn

mở đầu từ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi ở Lam Sơn từ năm 1418 đến năm 1433

Theo “Lịch triều hiến ch-ơng loại chí” quyển 42, của Phan Huy Chú, thì Đại Việt thông sử có 30 quyển nh-ng hiện nay chỉ còn lại 3 tập với một bài tựa của tác giả viết năm 1749 Đại Việt thông sử gồm bốn phần: Đế kỷ, Nghệ văn chí,

Liệt truyện (hậu phi, hoàng tử, công thần, gian nghịch), và họ Mạc

Phủ biên tạp lục là tập bút ký của tác giả viết về Đàng Trong, nhất là xứ

Thuận Hoá và xứ Quảng Nam từ thế kỷ XVIII về tr-ớc Tác phẩm gồm 6 quyển, đ-ợc viết trong thời gian 6 tháng khi ông giữ chức Hiệp trấn tham tán

Trang 14

quân cơ phủ Thuận Hoá Tác phẩm còn có bài tựa của tác giả đề ngày rằm tháng tám năm 1776, một bài bạt của Ngô Thì Sĩ đề ngày 1 tháng 10 năm

1777 Tác phẩm gồm các ch-ơng: Lịch sử khai thác hai xứ Thuận, Quảng; Núi sông, thành luỹ, đ-ờng sá…; Ruộng công, ruộng t-, số l-ợng sản phẩm, thuế má…; Th-ợng du, biên phòng, thuế chợ, thuế mỏ…; Nhân tài, thơ văn; Phẩm vật, phong tục Tr-ớc Lê Quý Đôn, chỉ có D-ơng Văn An đời Mạc với tác

phẩm Ô châu cận lục viết về núi sông, phẩm vật, thành quách xứ Thuận Hoá

Nh-ng đến tác phẩm này thì tình hình núi sông, phong thổ, tập quán của xứ Thuận mới đ-ợc giới thiệu kỹ càng hơn Sau này, các sử thần đời Nguyễn khi

biên soạn “Đại Nam thực lục tiền biên” đã sử dụng những tư liệu của Phủ biên tạp lục

Bắc sứ thông lục là tác phẩm tập hợp các tài liệu trong thời gian ông đi

sứ Trung Quốc từ năm 1760 đến năm 1762 nh- những bài tấu, khải, truyền báo, ghi chép về núi sông, đ-ờng sá, phong tục… ở những nơi mà phái đoàn đi qua Tác phẩm gồm 4 quyển, có bài tựa của tác giả đề năm 1780 Phần cuối có

ghi những bài tựa của Tần Triều Hãn, Chu Bội Liên…viết cho Thánh mô hiền phạm và Quần th- khảo biện

Kiến văn tiểu lục đ-ợc viết bằng chữ Hán gồm 12 phần, tác phẩm đã

đ-ợc Viện Sử học dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 1962 Đây là bút ký của

Lê Quý Đôn viết khi đọc những tài liệu có liên quan đến lịch sử Đại Việt từ

Lý, Trần đến Lê Tác phẩm gồm: “Châm cảnh”, ghi chép những câu cách ngôn về việc tu thân xử thế, hành vi của một số nhân vật lịch sử Việt Nam, Trung Quốc nhằm khuyên răn giáo dục mọi người; “Thể lệ thượng” ghi chép các lễ về tế tự, âm nhạc, các phép thi cử, luật lệ, v.v., của các triều Lý, Trần, Lê; “Thiên chương” chép về những nhân vật đã làm các bài bia, minh, về sách

vở, thơ văn đời Lý, Trần, về những sứ thần Trung Quốc v.v.; “Tài phẩm” ghi chép về tài năng, phẩm hạnh, tiết tháo, v.v., của một số danh nhân n-ớc ta;

“Phong vực” chép về danh lam, thắng cảnh, núi sông, thành quách, sản vật…nh- Sài Sơn, Tam Đảo, Đà Giang thuộc trấn Sơn Tây, H-ng Hoá, Tuyên

Trang 15

Quang “Thiền dật” chép về các sự tích, thơ văn của các thiền sư Việt Nam từ Bắc thuộc đến Hậu Lê; “Linh tích” ghi chép về sự tích của các vị thần linh;

“Tùng đàm” giai thoại về các danh nhân Việt Nam triều Trần, Lê Tác phẩm này còn đến hiện nay bị thiếu phần “Thể lệ hạ”, “Phong vực trung”, “Phong vực hạ” và “Phương thuật”

Về thơ văn thì Lê Quý Đôn có các sáng tác nh- Quế Đ-ờng thi tập, Quế

Đ-ờng văn tập, Quế Đ-ờng di tập và biên tập, Toàn việt thi lục, Hoàng việt văn hải

Về triết học gồm có Quần th- khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Âm chất văn chú, Vân đài loại ngữ

Thánh mô hiền phạm lục gồm 12 quyển, ghi chép và bình chú những

danh ngôn của các bậc thánh hiền, có bài tựa của sứ thần Triều Tiên, của Chu Bội Liên, Tần Triều Vu

Âm chất văn chú gồm 2 quyển trong đó có bài tựa của tác giả, của Bùi

Huy Bích và sự tham gia hiệu đính của các học trò Lê Quý Đôn

Quần th- khảo biện gồm 2 quyển, có bài tựa của tác giả đề ngày 1

tháng tám năm 1757, một bài của Chu Bội Liên, một của Tần Triều Vu, một bài của Hồng Khải Hi, một lá th- ngắn của Hồng Khải Hi, một lá th- ngắn

khác của Lý Huy Trung Quần th- khảo biện gồm 223 sự kiện khác nhau

trong lịch sử Trung Quốc từ đời Hạ Th-ơng Chu cho đến nhà Minh, đ-ợc tác giả nêu ra và bình luận, đánh giá, sau mỗi sự kiện là lời bình của Chu Bội Liên

và Tần Triều Vu Tác phẩm thể hiện đ-ợc quan điểm của Lê Quý Đôn về các vấn đề chính trị xã hội, hay nói cách khác, đó là tập hợp t- t-ởng triết học xã hội của ông

Trong số các sáng tác đó, đặc biệt hơn cả là tác phẩm Vân đài loại ngữ,

tác phẩm tập hợp đ-ợc rất nhiều kiến thức khác nhau nh- triết học, sử học, văn học, địa lý, v.v., cho đến cả những phong tục tập quán, sản vật tự nhiên, v.v Trong tác phẩm này Lê Quý Đôn đã trình bầy những quan điểm triết học tự

Trang 16

nhiên, triết học xã hội, một cách t-ơng đối đầy đủ, điều mà cho đến thời bấy giờ ch-a có một nhà t- t-ởng Việt Nam nào làm đ-ợc

Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm khác của Lê Quý Đôn đ-ợc nói tới

trong Lịch triều hiến ch-ơng loại chí của Phan Huy Chú, Duyên Hà phả ký,

v.v Tuy nhiên, những sách đó hoặc là bị thất lạc, hoặc là của ng-ời khác

đ-ợc gán cho Lê Quý Đôn

Về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam Thế kỷ XVIII có nhiều

biến động Đây là thời kỳ Đại Việt vẫn bị chia cắt làm hai miền Đàng Trong thuộc các chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc vua Lê-chúa Trịnh Hậu quả của

sự khủng hoảng chế độ phong kiến và sự chia cắt hai miền từ thế kỷ XVI, XVII đã ảnh h-ởng rất nhiều đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thế kỷ XVIII Nạn t- hữu ruộng đất ở Đàng ngoài ngày càng gia tăng, ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, xuất hiện hàng loạt địa chủ có hàng trăm, hàng nghìn mẫu ruộng, trong khi đó nông dân lại không có ruộng đất để cày cấy Kinh tế hàng hoá gặp nhiều khó khăn, các đô thị nh- Phố Hiến sau một thời gian h-ng thịnh, đến lúc đó đã bị suy tàn Sự phân hoá giai cấp, giầu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc Bên cạnh đó là những năm thiên tai, hạn hán, mất mùa liên tiếp làm cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, họ phải bỏ làng ra đi, trở thành dân phiêu bạt khắp nơi

Trong lúc đó, bộ máy quyền lực ở làng xã ngày càng biến chất, trở thành công cụ trong tay bọn c-ờng hào để bóc lột ng-ời nông dân Đặc biệt

đến thời Trịnh Giang (1729-1740), tình trạng này còn trầm trọng hơn nữa Để

có tiền chi phí cho sự ăn chơi, h-ởng thụ, Trịnh Giang đã mở rộng việc bán t-ớc quan Chức tri phủ giá từ 1500 đến 2500 quan, tri huyện từ 500 quan đến

1200 quan, với quan lục phẩm trở xuống cứ 500 quan đ-ợc thăng một bậc Quan tr-ờng trở thành nơi trục lợi, nạn tham nhũng tràn lan Đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực

Hậu quả tất yếu của tình hình trên là những cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra liên tiếp trong khoảng giữa thế kỷ XVIII Bắt đầu là cuộc khởi nghĩa

Trang 17

của nhà s- Nguyễn D-ơng H-ng vào năm 1737 và tiếp sau đó là hàng chục cuộc khởi nghĩa khác của Lê Duy Mật, của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, của Hoàng Công Chất, của Vũ Đình Dung, của Nguyễn Danh Ph-ơng, của Nguyễn Hữu Cầu…,trong đó nổi bật là bốn cuộc khởi nghĩa lớn của Lê Duy Mật (1738-1770), Hoàng Công Chất (1739-1769), của Nguyễn Danh Ph-ơng (1740-1751), của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751) đã làm cho chính quyền

Đàng ngoài phải đối phó hết sức vất vả

Đến năm 1770, các phong trào nông dân đều thất bại tuy nhiên chúng

đã làm cho chính quyền Đàng ngoài bị lung lay tận gốc rễ Các phong trào đó

đã lôi cuốn một khối l-ợng lớn nông dân nghèo khổ tham gia, đã lan rộng từ

đồng bằng cho đến miền núi, từ miền xuôi cho đến miền ng-ợc Lực l-ợng lãnh đạo cách mạng cũng rất đa dạng từ nông dân, nho sĩ cho đến tôn thất nhà

Lê nh- Lê Duy Mật Đây là minh chứng cho sự suy tàn, khủng hoảng sâu sắc của xã hội Đàng ngoài Tuy thất bại nh-ng các phong trào này đã buộc chính quyền Lê-Trịnh phải có chính sách điều chỉnh cho phù hợp nhằm xoa dịu tình hình lúc đó Chẳng hạn, Trịnh Sâm ban bố 7 điều cấm vào năm 1773, phát chẩn cứu đói cho Nghệ An năm 1777, v.v Tuy nhiên, những chính sách đó chỉ mang tính nhất thời, cho nên nó không cứu vãn nổi tình hình Tình trạng dân nghèo không có đất sản xuất phải bỏ làng ra đi phiêu tán ngày một tăng lên

Trong khi đó bộ máy cai trị lại mục nát đến cực độ, sự tranh giành quyền lực, kèn cựa, tham ô, tham nhũng trong bộ máy quan lại ngày một nhiều, nhất là từ khi Trịnh Sâm lên cầm quyền năm 1767 Khi mới lên cầm quyền, Trịnh Sâm đã hạ ngục em mình là Trịnh Đệ, giết hại Thái tử Lê Duy

Vĩ, sủng ái Đặng Thị Huệ, dung túng Đặng Mậu Lân tung hoành ngang ng-ợc…Do ăn chơi hoang dâm vô độ, truỵ lạc nên ch-a đầy 40 tuổi Trịnh Sâm

đã bị bệnh, mọi việc chính quyền đều do Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo

định đoạt Sau khi Trịnh Sâm chết, lại xảy ra cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa Trịnh Cán và Trịnh Khải Khi Trịnh Khải giành đ-ợc chính quyền, phế Trịnh Cán, giết Hoàng Đình Bảo thì ở Đàng ngoài lại xảy ra nạn kiêu binh

Trang 18

Cục diện chính trị Đàng ngoài đến thời điểm này hết sức rối loạn, chính quyền Lê-Trịnh không còn đủ khả năng để ổn định tình hình

Trong lúc đó ở Đàng trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội vẫn t-ơng

đối ổn định cho đến giữa thế kỷ XVIII Khi phong trào nông dân ở Đàng ngoài chấm dứt, thì ở Đàng trong nông dân mới bắt đầu nổi dậy mạnh mẽ, còn tr-ớc đó chỉ là những phong trào nhỏ, lẻ tẻ Đến năm 1770, khi phong trào đấu tranh do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nổ ra thì phong trào nông dân Đàng trong mới thật sự phát triển mạnh Điểm đáng chú

ý là trong khi các phong trào đấu tranh ở Đàng ngoài đều thất bại thì phong trào nông dân do anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn lãnh đạo đã thắng lợi, lật đổ chính quyền chúa Nguyễn

Trên đà thắng lợi, Nguyễn Huệ đem quân tiến ra Bắc Hà với danh nghĩa

“Phù Lê, diệt Trịnh”, đã đập tan chính quyền Lê-Trịnh, thống nhất đất n-ớc, xoá bỏ giới tuyến sông Gianh, mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc

Đến thế kỷ này, việc học tập, thi cử ngày càng đ-ợc mở rộng và phát triển hơn ở thế kỷ XVI, XVII mặc dù chiến tranh loạn lạc, xã hội bị phân chia thành Nam, Bắc triều, rồi tiếp đến những cuộc chiến tranh giữa Đàng trong và Đàng ngoài diễn ra liên tục, nh-ng việc học hành, thi cử theo lề lối Nho giáo vẫn đ-ợc duy trì t-ơng đối liên tục Nhà Mạc trong 60 năm tồn tại của mình đã tổ chức đ-ợc 22 khoa thi lấy đỗ 385 tiến sĩ Triều Lê Trung H-ng

đã tổ chức đ-ợc 68 kỳ thi, chọn đ-ợc 717 tiến sĩ Trong đó có những nhân tài nh- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, L-ơng Bắc Đằng, v.v Tuy nhiên, do sự suy yếu của nhà n-ớc phong kiến, của hệ t- t-ởng Nho giáo nên ngay từ thế kỷ XVI, việc học hành, thi cử theo các nguyên tắc của Nho giáo đã bộc lộ nhiều hạn chế và tiêu cực Đặc biệt, khi t- t-ởng thực dụng

đã len lỏi vào đời sống xã hội, nó đã phá vỡ những quan hệ truyền thống, hiện t-ợng gian lận, hối lộ trong thi cử, mua quan bán t-ớc ngày một phổ biến

Những tiền lệ xấu trong giáo dục thi cử của các thế kỷ tr-ớc lại tiếp tục

đ-ợc thi hành trong thế kỷ XVIII Các học vị ở tr-ờng thi h-ơng (cống sinh,

Trang 19

sinh đồ) đã trở thành hàng hoá Nội dung thi cử ngày một giáo điều, máy móc

Đề thi đ-ợc tập hợp sẵn, có giải đáp, học trò đi thi chỉ cần mua để học thuộc, hoặc đem vào tr-ờng thi chép Thậm chí nhà n-ớc còn chủ tr-ơng bán văn bằng Ai nộp 3 quan tiền thông kinh thì có quyền đi thi không phải sát hạch, cho nên rất nhiều ng-ời nộp tiền đi thi, từ học trò cho đến nông dân, kẻ buôn bán, v.v., đều có thể đi thi

Nh- vậy, đến thế kỷ này việc học hành thi cử Nho giáo đã trở nên giáo

điều, sáo rỗng Tuy nhiên, trong xã hội vẫn có những ng-ời tài cao học rộng nh- Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Nghiễm, Trần Danh Lâm, v.v

Xét lĩnh vực t- t-ởng, thì đây là thời kỳ mạnh nhất của xu hướng “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở đề cao Nho giáo, nó trở thành xu hướng giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội Đây là thời kỳ có sự chuyển biến mạnh trong lĩnh vực t- t-ởng, Phật giáo từ thời Lê Sơ đã bị mất vai trò chính trị, Nho giáo trở thành hệ t- t-ởng độc tôn Tuy nhiên, từ cuối đời Lê, Nho giáo đã thể hiện sự bất lực của nó tr-ớc các vấn đề của xã hội Tr-ớc cảnh đất n-ớc loạn lạc, các nhà nho chỉ mong muốn làm cho đất n-ớc thống nhất, xã hội yên vui nên họ để tâm đi tìm nguồn gốc của loạn lạc, đ-a ra chủ tr-ơng, đ-ờng lối trị n-ớc của mình nh-ng không có kết quả Đất n-ớc vẫn bị chia cắt Cho nên, lúc này lý luận về đ-ờng lối trị n-ớc của giai cấp phong kiến dựa trên uy tín học thuật và đ-ờng lối Đức trị của Nho giáo bị rơi vào khủng hoảng trầm trọng nhất Từ đó ng-ời ta phải lục tìm trong kho tàng t- t-ởng quá khứ xem phải vận dụng các học thuyết chính trị nh- thế nào cho thích hợp, vì thế khuynh h-ớng kết hợp Nho, Phật với Lão Trang vốn có ở những mức độ khác nhau tr-ớc đây, vào thế kỷ XVIII đã trở nên mạnh mẽ mà các học giả gọi đó là khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở Nho giáo giữ vị trí chủ đạo

Phật giáo tuy bị đẩy ra khỏi chính tr-ờng nh-ng nó vẫn đ-ợc tiếp tục phục hồi và phát triển Đặc biệt, ở nông thôn, chùa mọc lên ở nhiều nơi, nhà

Trang 20

chùa có kinh tế riêng Bên cạnh đó, Đạo giáo cũng đã đ-ợc truyền bá rộng rãi, nhiều đạo quán đ-ợc xây dựng, rất nhiều nho sĩ tin theo Đạo giáo

Cũng trong thời kỳ này, ngoài các tôn giáo đ-ợc du nhập từ lâu vào n-ớc ta, trở thành những tôn giáo truyền thống, còn có một tôn giáo từ ph-ơng Tây đang nỗ lực truyền vào n-ớc ta là Đạo Thiên chúa Bối cảnh xã hội phức tạp, đầy biến động nh- đã nói ở trên vô hình chung trở thành điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tôn giáo này ở cả hai Đàng

Cùng với các tôn giáo trên, tín ng-ỡng bản địa của dân tộc có dịp đ-ợc h-ng khởi Trong bối cảnh loạn lạc nh- vậy, thêm vào đó là sự suy giảm vị trí của Nho giáo trên tr-ờng chính trị, đã làm cho ng-ời dân mất lòng tin vào triều đình và học thuyết từng là trụ cột hệ t- t-ởng của nó là Nho giáo Họ quay về với các vị thần truyền thống của mình nh- thần núi, thần sông, thần cây, v.v., quay về với các vị anh hùng của dân tộc nh- Thánh Gióng, thánh Tản Viên, v.v

Trong tình hình t- t-ởng nh- vậy, tuy Nho giáo đ-ợc đề cao, song nó lại không tách biệt hoàn toàn với Phật, Đạo Các nhà nho không tìm cách đối lập Nho với các tôn giáo khác mà ng-ợc lại, tìm cách thu hút các tôn giáo khác vào Nho Như vậy, khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên” của thế kỷ này trên cơ sở đề cao Nho nh- là khuynh h-ớng chủ đạo Các nhà t- t-ởng thời kỳ này không chỉ tiếp thu Nho mà còn tiếp thu các kiến thức khác, thậm chí cả kiến thức ph-ơng Tây nh- Lê Quý Đôn đã từng làm để bổ sung những khiếm khuyết mà hệ t- t-ởng truyền thống không có

Chính tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, t- t-ởng của thế Kỷ XVIII đã tạo nên những suy t- rất độc đáo trong đời sống tinh thần của trí thức đ-ơng thời Những suy t- đó đ-ợc biểu hiện ra ở những tác phẩm văn học rất đặc sắc

như “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” của

Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, v.v., hay những tác phẩm thể hiện t- t-ởng

triết học như “Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh“ của Ngô Thì Nhậm, “Quần thư khảo biện“, “Vân đài loại ngữ“ của Lê Quý Đôn…

Trang 21

Đặc biệt phát triển hơn cả là trên các lĩnh vực sử học và chú giải kinh

điển, xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị nh-: Đại việt thông sử, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, “Việt sử tiêu án“ của Ngô Thì Sĩ…

Nh- vậy, thời đại Lê Quý Đôn sống có rất nhiều biến động Trong bối cảnh lịch sử nh- vậy, Lê Quý Đôn đã tự v-ơn lên khẳng định tài năng và vị thế của mình Ông cũng ôm ấp một hoài bão chính trị nh- những nhà t- t-ởng

đ-ơng thời là đi tìm một đ-ờng lối trị n-ớc nhằm ổn định xã hội, thời cuộc Mang trong mình tham vọng đó cùng hoàn cảnh lịch sử của thời đại, Lê Quý

Đôn đã trở thành một nhà bác học kiệt xuất của dân tộc Trong di sản đồ sộ

của ông để lại thì Vân đài loại ngữ chứa đựng những suy t- triết học sâu sắc

hơn cả Những suy t- triết học của Lê Quý Đôn cũng không thể v-ợt ra khỏi khuynh h-ớng hỗn dung đa nguyên trên cơ sở Nho giáo giữ vai trò chủ đạo của thế kỷ này đ-ợc Do vậy, trong t- t-ởng và hành động của ông, chúng ta thấy có chỗ ông thể hiện mình nh- một nhà nho, nh-ng chỗ khác ông lại tỏ ra một ng-ời có biệt tài trong lĩnh vực phong thuỷ, bói toán, đoán mệnh, v.v Có nhà nghiên cứu đã đánh giá t- t-ởng của ông thuộc chủ nghĩa hỗn hợp nguyên thuỷ Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu khi ta biết đ-ợc hoàn cảnh thời đại mà

ông sống Bộ Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng đ-ợc hình thành trong

hoàn cảnh đó, do vậy, những t- t-ởng triết học trong tác phẩm này cũng thể hiện tâm thế đó của ông, làm cho ông có những t- t-ởng rất riêng và đặc sắc

1.2 Về tác phẩm “Vân đài loại ngữ”

Vân đài loại ngữ là tác phẩm đ-ợc viết trong thời gian dài, trong đó tập

hợp một khối l-ợng kiến thức phong phú mà Lê Quý Đôn đọc đ-ợc ở nhiều

sách vở khác nhau Tác phẩm đ-ợc hoàn thành năm 1773 Vân đài loại ngữ

nghĩa là những lời nói thu thập đ-ợc tại nơi chứa sách và đ-ợc sắp xếp theo từng loại Trong lời tựa do tác giả viết ở đầu sách đã chỉ rõ: “Tôi nhân đọc sách mà trộm dòm thấy ng-ời thời x-a học hỏi đều nh- thế cả; th-ờng tôi

trích lấy các sự tích chép trong các Truyện, Ký, rồi xếp đặt lại, có chỗ theo ý

Trang 22

mình mà bình luận, có chỗ cứ chép lại nguyên văn, tích lâu thành bộ sách,

chia làm chín quyển đặt tên là Loại ngữ” [5, tr 46](*)

1.2.1 Một số vấn đề về văn bản học của Vân đài loại ngữ

Tác phẩm gốc Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn đ-ợc viết bằng chữ

Hán đến nay mới có hai bản dịch đã đ-ợc in Một là bản của Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích do NXB Văn Hoá xuất bản năm 1962, và hai là bản của Tạ Quang Phát do NXB Thông tin xuất bản năm 1995

Theo lời nói đầu trong bản dịch của Trần Văn Giáp cho biết, tác phẩm

Vân đài loại ngữ có rất nhiều dị bản khác nhau, chẳng hạn Viện Văn học có

một bản, Viện sử học có một bản, Th- viện khoa học trung -ơng có năm bản

đánh số (A.141; A.1258; A.1338…) Hầu hết các bản này đều không còn đ-ợc nguyên vẹn, do vậy, dịch giả gặp rất nhiều khó khăn trong việc biên tập và hiệu đính Các dịch giả đã phải đọc nhiều bản khác nhau, cuối cùng họ chọn bản A 141 của Th- viện khoa học trung -ơng để dịch và giới thiệu với độc giả

Bản dịch của Tạ Quang Phát đ-ợc dịch theo bản chép tay l-u trữ d-ới mã số MC 3721 – KC tại chi nhánh Văn khố - Đà Lạt, nguyên thuộc th- viện Phạm Quỳnh số P.Q 220-2

Trong hai bản dịch nói trên, bản dịch của Trần Văn Giáp đ-ợc các dịch giả thực hiện rất công phu Bản dịch này đ-ợc thực hiện từ năm 1957 và hoàn thành năm 1960 Đây là một công trình của tập thể tác giả với sự tham gia của những học giả nổi tiếng nh- Trần Văn Giáp, Trần Văn Khang, Trần Lê Nhân, Ngô Lập Chi, Trần Huy Hân, Phan Võ, Cao Xuân Huy Trong nguyên bản của tác phẩm chỉ ghi số mục của 9 loại mà không đánh số rõ ràng các điều mục trong từng loại Tuy nhiên, trong quá trình dịch thuật, các dịch giả đã đánh số cho từng điều mục trong cả 9 loại nhằm mục đích giúp ng-ời đọc tra cứu thuận lợi hơn Thậm chí các dịch giả còn dày công làm nhiều sách dẫn, l-ợc

(*) Từ đây: - Số đầu là số thứ tự của tài liệu tham khảo

- Số sau là số trang của tài liệu tham khảo

Trang 23

trích các danh mục trong sách th-ờng gọi là chủ đề, tên ng-ời, địa danh, tập hợp lại và đ-ợc xếp theo chữ cái, sau mỗi chủ đề đều chú thích rõ các số h-ớng dẫn về từng loại, từng điều mục Nhờ có sự h-ớng dẫn này mà ng-ời

đọc dễ dàng tra cứu những điều cần thiết

Đồng thời trong bản dịch này, học giả Cao Xuân Huy đã viết bài giới thiệu rất kỹ về tác phẩm, do vậy ng-ời đọc ở mức độ nhất định có thể hình dung ra kết cấu, nội dung t- t-ởng mà Lê Quý Đôn trình bày trong đó

Bản dịch của Tạ Quang Phát thì tuân theo nguyên bản, không chú thích từng điều mục trong 9 môn loại, do vậy khi đọc rất khó phân biệt giữa các

điều với nhau Hơn nữa, trong bản dịch có những ký hiệu có thể là mang tính

nguyên bản mà ng-ời dịch không giới thiệu (ví dụ nh-: trong mục Lý khí có

ký hiệu [8b], [9b], [11a]…) làm cho ng-ời đọc không biết đ-ợc ý nghĩa của những ký hiệu đó

Bản dịch này mặc dù đ-ợc dịch sau, nh-ng lại chỉ dịch theo bản chép tay của chi nhánh Văn khố Đà Lạt mà không có sự đối chiếu, so sánh với các bản dịch tr-ớc Trong khi đó bản dịch thứ nhất đ-ợc các dịch giả đối chiếu, biên tập từ nhiều bản khác nhau, thậm chí những chỗ nghi ngờ còn đ-ợc họ dùng các tài liệu của Trung Quốc để tra cứu nguyên văn cho chính xác

Với những đặc điểm của từng bản dịch nói trên, mặc dù bỏ nhiều công sức cho việc đi tìm t- liệu để thực hiện đề tài của luận văn, hiện tại chúng tôi không tìm thêm đ-ợc bản dịch nào khác và vì vậy, trong luận văn của mình, chúng tôi quyết định sử dụng bản dịch của Trần Văn Giáp

1.2.2 Khái quát nội dung của Vân đài loại ngữ

Vân đài loại ngữ có thể đ-ợc coi là bộ bách khoa toàn th- trong đó tập

hợp một khối l-ợng kiến thức đồ sộ về nhiều lĩnh vực từ triết học, văn học, sử học, địa lý, đến phong tục, tập quán, sản vật, v.v., đ-ợc sắp xếp d-ới chín đề

mục khác nhau là: Lý khí, Hình t-ợng, Khu vũ, Vựng điển, Văn nghệ, Âm tự, Th- tịch, Sĩ quy, Phẩm vật

Trang 24

1 Trong phần Lý khí, Lê Quý Đôn giải quyết vấn đề về nguồn gốc của

vũ trụ, vạn vật và con ng-ời Đây chính là phần trình bày những t- t-ởng của

ông về triết học tự nhiên, hay nói một cách cụ thể là vấn đề bản thể luận Khi giải quyết vấn đề này, Lê Quý Đôn đã xuất phát từ lập tr-ờng của một nhà nho, nh-ng ông lại không hoàn toàn nhất quán với quan điểm của Nho giáo về vấn đề đó Tuy ở mức độ khác nhau, Nho giáo cũng đã từng đề cập đến vấn đề bản thể của vũ trụ ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định trong lịch sử của mình Các nhà nho vì thế đều có h-ớng giải quyết vấn đề đó theo cách riêng Nho giáo nguyên thuỷ đã không thể hiện rõ ràng tính duy vật hay duy tâm khi giải quyết vấn đề nguồn gốc vũ trụ, vạn vật Đến Hán Nho thì tính duy tâm khách quan của nó được đẩy lên cao với học thuyết “Thiên mệnh”, “Thiên nhân tương cảm”, vì thế vấn đề bản thể của thế giới cũng ít đươc Hán Nho quan tâm bởi khi đó nó không chỉ là một học thuyết chính trị đạo đức, mà còn đ-ợc bổ sung thêm các yếu tố tôn giáo

Chỉ đến Tống Nho, vấn đề bản thể của thế giới mới đ-ợc các nhà nho chú ý đến do đòi hỏi khách quan từ bên ngoài, cũng nh- đòi hỏi chủ quan bên trong về sự cần thiết phải nâng Nho giáo lên ngang tầm với các học thuyết triết học khác Hay nói cách khác, các nhà nho muốn tôn Nho giáo lên thành một học thuyết triết học thực thụ Với mục đích đó, các nhà nho thời Tống

điển hình nh- Chu Liêm Khê, Tr-ơng Tải, Trình Di, Trình Hạo, Chu Hy đã

xuất phát từ cặp phạm trù lý, khí trong truyền thống t- t-ởng của Trung Quốc

để đ-a ra quan điểm triết học của mình, tạo nên một giai đoạn phát triển khác biệt trong lịch sử Nho giáo

Lê Quý Đôn xuất phát từ chính cặp phạm trù lý, khí của Tống Nho để

giải quyết vấn đề bản thể thế giới Chính việc giải quyết mối quan hệ giữa cặp phạm trù này mà toàn bộ quan niệm triết học tự nhiên của ông đ-ợc thể hiện

ra Lê Quý Đôn rất đề cao các nhà triết học Tống Nho, ông gọi Chu Hy là Chu

Tử thể hiện sự kính trọng, đề cao bậc tiền bối này Mặc dù vậy, ông không hoàn toàn đứng trên lập tr-ờng của Tống nho để giải quyết vấn đề triết học đó

Trang 25

mà ông và thời đại quan tâm Nếu hầu hết các nhà triết học Tống Nho đều giải

quyết mối quan hệ giữa lý và khí trên lập tr-ờng duy tâm, thì ng-ợc lại, Lê Quý Đôn mặc dù cũng xem xét phạm trù lý, khí vốn khá trừu t-ợng của triết học ph-ơng Đông, nh-ng lại đi đến quyết định coi khí là một dạng vật chất cụ

thể, là bản thể của vũ trụ nh- các nhà triết học thuộc phái Milet của Hy Lạp cổ

đại Thậm chí Lê Quý Đôn còn dùng cả sách Khôn d- đồ thuyết của ng-ời

ph-ơng Tây để chứng minh sự tồn tại của khí nh- một cái gì đó rất cụ thể xung quanh chúng ta Còn lý thì đ-ợc Lê Quý Đôn quan niệm nh- là quy luật

vận động của khí, của thế giới vật chất Nh- vậy, ông đã không rơi vào chủ nghĩa duy tâm nh- các nhà nho thời Tống mà ng-ợc lại, ông lại đứng trên lập tr-ờng duy vật, tuy đó chỉ là duy vật chất phác, cụ thể, thiên về cảm tính Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở ch-ơng sau

2 Phần Hình t-ợng đ-ợc Lê Quý Đôn trình bày trong 38 điều, trong đó

ông tập trung bàn về vũ trụ học Trong phần này, Lê Quý Đôn đã thể hiện quan điểm tiến bộ của mình về vũ trụ học Ông đã đọc và biết đến các học thuyết ph-ơng Tây về vũ trụ Ông còn đem so sánh với học thuyết của Trung Quốc và thông qua đó bác bỏ những quan điểm mà ông cho là sai lầm Mặc

dù vẫn còn t- t-ởng sùng bái Trung Quốc, ông cũng đã chỉ ra những sai lầm trong các học thuyết Trung Hoa về vũ trụ Chẳng hạn, từ điều 2 đến điều 6 nói

về “phân dã”, Lê Quý Đôn đã bác bỏ quan niệm của người đời xưa cho rằng, mỗi vì sao trên trời sẽ t-ơng ứng với một n-ớc, một quận, thậm chí một ấp ở dưới đất Lê Quý Đôn đã dẫn sách Nhan Chi Thôi “Lúc mới thành lập trời đất

đã có tinh tú; lúc đó ch-a vạch ra chín châu, <…> Còn sự ứng hiện của điềm lành dữ, hoạ hay phúc, nếu nh- không sai thì bầu trời to thế, tinh tú nhiều thế, phân dã từng tinh tú thế nào, tại sao lại chỉ liên hệ với Trung Quốc mà thôi” [5, tr 80] T-ơng tự, ông còn dẫn lời nói của Trần Trác, quan thái sử n-ớc Ngụy rằng, “quận nào nước nào thuộc vào độ số các vì sao nào Hoàn vũ to như thế, có chắc hẳn các quận, các nước ở trung châu đương hết được không”

Khôn d- đồ thuyết, 2 tập (Ferdnandus Verbiest hay còn gọi là Nam Hoài Nhân, ng-ời Bỉ)

Trang 26

[5, tr 80], v.v Từ đó, Lê Quý Đôn khẳng định rằng: “Sao Giốc, sao Trương, sao Cang chiếm ít độ thì phân dã hẹp Sao Đẩu, sao Ng-u, sao Cơ, sao Tỉnh chiếm nhiều độ thì phân dã rộng Đó là lẽ tất nhiên Đến nh- Tây Vực, Bắc Minh không biết đến đâu cùng tận Ngoài phía đông nam Minh Hải, Bột Hải còn có nhiều đất n-ớc cách Trung châu đến mấy vạn dặm, sao không ứng vào một vì sao nào trên trời” [5, tr 80]

Trong điều 7 và điều 8, Lê Quý Đôn chỉ ra phép làm lịch của ng-ời thời x-a Ông tán thành cách làm lịch dựa vào quy luật vận động của vũ trụ, của thời tiết mà cụ thể là dựa vào bóng mặt trời để tính thời gian Lê Quý Đôn còn

đem so sánh với phép làm lịch của ng-ời ph-ơng Tây và khẳng định họ cũng dựa vào quy luật vũ trụ để làm lịch, tuy nhiên cách làm của họ “rất là giản tắt” Từ đó, Lê Quý Đôn chỉ ra các cách đo, phân thời gian ra làm các giờ khắc, phương pháp đo thời gian mà người xưa đã dùng như phép “lậu khắc” (xem giờ bằng nước), phép “Thuỷ hải phù tiễn” (tên nổi trong biển)

Vấn đề tiếp theo mà Lê Quý Đôn trình bày là quan niệm về sự hình thành các vì sao, tinh tú Ông khẳng định mặt trăng, mặt trời, các vì sao đều

do khí tụ lại mà thành Điều này đã đ-ợc sách Liệt tử và Châu Đôn Di chỉ ra

bằng nguyên lý ng-ng tụ (Diệu hợp nhi ng-ng) Giải thích tại sao khi mảnh các vì sao rơi xuống nh- chúng ta thấy, lại là đá chứ không phải khí Một lần nữa, điều đó buộc Lê Quý Đôn phải dẫn quan niệm của Nhan Chi Thôi trong

sách Nhan thị gia huấn để chứng minh rằng, mặt trời, mặt trăng, các vì sao

đều là tinh khí của D-ơng, của Âm, của vạn vật chứ không phải là đá nh- ta thấy Sở dĩ khí biến thành đá là do rơi xuống l-ng chừng trời thì bị gió lạnh táp vào đọng lại thành đá Ông viết: “Ta thì cho rằng: sao ở trên có sáng, cái sáng đó là khí; khi vừa sa xuống bị gió lạnh buốt ở l-ng chừng trời táp vào mới đọng lại thành đá, chứ không phải sẵn là đá ở trên trời rồi Mặt trời, mặt trăng cũng là tinh khí tích lại mà có sáng và to lớn đó thôi Sao là tinh khí của vạn vật cho nên sa xuống hoá ra đá Mặt trời là hoả tinh thái d-ơng, mặt trăng

là thuỷ tinh thái âm; không thể viện lệ ấy mà cho cũng là đá được” [5, tr 85]

Trang 27

Nh- vậy, Lê Quý Đôn đã dùng quan niệm duy vật thô sơ để giải thích sự hình thành vũ trụ

Vấn đề tiếp theo trong vũ trụ học mà Lê Quý Đôn bàn đến là hình t-ợng trời ở đây ông đã biết đến và thừa nhận học thuyết quả đất tròn Ông dùng các sách khác nhau để chứng minh cho học thuyết này Thậm chí Lê

Quý Đôn còn dẫn cả sách Khôn d- đồ thuyết của ph-ơng Tây để chứng minh

điều đó Tuy nhiên, do tâm lý đề cao học thuyết Trung Quốc nên ở đây Lê Quý Đôn đã không dùng khoa học tự nhiên của ph-ơng Tây để chứng minh cho học thuyết đó mà mục đích của ông chỉ nhằm chứng minh học thuyết đó của ng-ời ph-ơng Tây không phải là mới lạ mà cổ nhân Trung Quốc đã bàn

đến từ lâu

Ngoài những vấn đề đề trên, trong phần này, Lê Quý Đôn còn trình bày

về lục thập hoa giáp, m-ời hai con vật thuộc địa chi, về ngũ hành t-ơng sinh, t-ơng khắc, v.v ở những vấn đề đó ông đều căn cứ vào những tài liệu của tiền nhân để lại để khảo cứu, trình bày, tuy nhiên, ông không bình luận gì thêm

Đặc biệt hơn cả là ông đã trình bày đến vấn đề thuỷ triều Do đ-ợc tiếp xúc với các tài liệu của ph-ơng Tây nên ông đã thấy đ-ợc mối liên hệ giữa thuỷ triều và mặt trăng Ông khẳng định rằng, “nước thuỷ triều lên xuống tuỳ theo

sự đi mau hay chậm của mặt trăng chứ không phải do đất chìm hay nổi” [5, tr.111] Tuy nhiên, do hạn chế về thời đại nên ông ch-a đ-a ra đ-ợc số liệu khoa học cụ thể để chứng minh, vì vậy, về cơ bản ông dựa vào khí thần diệu

để giải thích Ông viết: “Thuỷ triều là do khí phát ra Khí thở của trời đất, khi hút, khi thổi, n-ớc thuỷ triều theo đó mà lên xuống <…> Vì khí, khi phồng ra, khi bóp vào không lúc nào nghỉ, cho nên n-ớc thuỷ triều lên xuống đúng kỳ không bao giờ sai” [5, tr.113] Thậm chí, nước thuỷ triều lớn hay nhỏ là do khí

có lúc thịnh, có lúc suy Khi khí thịnh, thuỷ triều lớn, khi khí suy thì thuỷ triều nhỏ

Nh- vậy, ở trong phần Hình t-ợng chúng ta thấy Lê Quý Đôn đã có

điều kiện đọc, tiếp xúc và hiểu biết về khoa học tự nhiên của ph-ơng Tây thời

Trang 28

kỳ này Ông thể hiện sự tiến bộ của mình ở chỗ đã tiếp nhận cả sách vở, t- t-ởng mới của ph-ơng Tây, đang đi trên con đ-ờng đổi mới học thuật, chứ không chỉ xem học thuyết, kinh sách của Nho giáo là hơn cả, điều mà các nhà nho khác vẫn th-ờng quan niệm Tuy nhiên, do sự lớn mạnh của nền văn minh Trung Quốc nên ông vẫn có t- t-ởng đề cao sự học của cổ nhân Trung Quốc

mà ch-a tiến tới hoài nghi và phê phán cái cũ Điều thú vị là Lê Quý Đôn đã

đem học thuyết ph-ơng Tây so sánh với học thuyết của các nhà t- t-ởng ph-ơng Đông tr-ớc đây nhằm mục đích chứng minh các học thuyết ph-ơng Tây đó không có gì là mới mẻ cả

3 Trong mục Khu vũ, Lê Quý Đôn trình bày những kiến thức về địa lý

gồm 93 điều ở đây, ta thấy Lê Quý Đôn lại hiện ra nh- một nhà địa lý học,

có chỗ ông bàn về phép làm bản đồ, chỗ khác ông bàn về kinh đô, về kiến thức địa lý thế giới, nh-ng nổi bật hơn cả là Lê Quý Đôn đã thể hiện mình nh- một thầy địa lý, chuyên xem phong thuỷ, bắt long mạch, xem điềm ứng giữa thiên văn, chính trị với địa lý Và nh- thế, về ph-ơng diện này Lê Quý Đôn không phải là một nhà nho nữa, mà lại giống một Đạo sĩ Đây chính là sự ảnh h-ởng rất rõ nét của Đạo giáo đến t- t-ởng Lê Quý Đôn

Với quan điểm về “Tam tài” (Thiên - Địa – Nhân) truyền thống, Lê Quý Đôn cho rằng, trời, ng-ời và đất có sự liên quan với nhau Ông quan niệm rằng, ng-ời làm chính sự phải biết đ-ợc điều kiện địa lý, sản vật, sự hiểm trở, thuận lợi, dân số, phong tục, tập quán của từng vùng khác nhau mà có chính

sách phù hợp thì mới thành công Lê Quý Đôn đã dẫn sách Chu lễ để chứng

minh quan điểm của mình Quan điểm này của Lê Quý Đôn hết sức đúng đắn,

nó thể hiện đ-ợc tầm nhìn cũng nh- tài năng của ông Ông đã thấy đ-ợc rằng, việc chính trị phải phụ thuộc vào điều kiện địa lý hay nói cách khác, nó phụ thuộc vào điều kiện sống hiện thực của con ng-ời ở vùng cụ thể nào đó Ngày nay chúng ta gọi đó là một bộ phận của tồn tại xã hội mà ý thức xã hội (trong

đó có ý thức chính trị) phải phụ thuộc vào Ông viết “Từ khi họ Ban làm xong

sách Hán th-, trong có địa lý chí, thì mới thấy chép đủ: quận quốc, núi sông,

Trang 29

dân vật, phong tục, đ-ờng sá, hộ số <…> Các bậc đế v-ơng xem đến các sách

ấy, có thể phấn khởi đ-ợc chí h-ớng đi tuần thú ph-ơng xa; các vị công khanh xem đến sách ấy, có thể có đủ kiến thức giúp việc chính trị, xây dựng thành công, v.v.” [5, tr.115]

Nội dung tiếp theo đ-ợc Lê Quý Đôn trình bầy trong phần này là các thuật ngữ đ-ợc dùng trong môn địa lý học nh-: C-ơng (bờ cõi), thiên (đ-ờng dọc từ Nam sang Bắc), mạch (đ-ờng ngang từ Đông sang Tây), châu, chử, chỉ, v.v

Phần tiếp theo Lê Quý Đôn trình bày về các vùng đất đã từng là kinh đô của Trung Quốc, nguyên tắc để chọn lựa, núi sông, ao hồ, ph-ơng h-ớng đất

đai của các vùng đất đó, có thể nói, nguyên tắc đó thuộc thuật phong thuỷ Lê Quý Đôn đã rất tin vào thuật phong thuỷ, ông đã vận dụng những kiến thức về

Đạo giáo của mình để chứng minh sự lựa chọn kinh đô của các bậc đế v-ơng thời tr-ớc là đúng đắn hay sai lầm Sự h-ng thịnh hay suy vong của một triều

đại, sự nghiệp lớn của bậc đế v-ơng còn phụ thuộc vào long mạch, khí tích tụ

ở vùng đất mà các bậc đế v-ơng đóng đô, hay khởi nghiệp Lê Quý Đôn dẫn nhiều sự kiện khác nhau liên quan đến phong thuỷ nh-: Hán Nguyên đế không nghe lời tâu dời đô của Dực Phụng Kỷ nên bị V-ơng Mãng c-ớp ngôi, hay Cảnh công n-ớc Tấn nghe theo lời Hàn Hiến Tử dời đô sang Tân Điền mà kéo dài triều đại đ-ợc thêm mười đời nữa Từ đó ông đi đến kết luận: “Ta hồi t-ởng những nơi x-ớng loạn, khởi binh chính là những nền h-ng v-ợng sinh thánh; ng-ời th-ờng không thể l-ờng đoán đ-ợc Trời đất cùng một khí, cổ kim cùng một then máy, lúc đầy, lúc vơi, khi tiêu khi tr-ởng, đều có từng lúc, trị loạn h-ng suy đều có vận hội; nh-ng tr-ớc phải thu lại rồi sau mới d-ơng

ra, tr-ớc phải khép lại rồi sau mới mở ra Xem đó mới thấy sự khôn khéo tự nhiên của tạo hoá” [5, tr 127] Như vậy Lê Quý Đôn tin tưởng rằng nghiệp đế v-ơng, sự thịnh suy của triều đại đ-ợc quyết định ở trong chỗ u minh, thần bí,

đ-ợc quy định bởi long mạch trời đất ở đây ông đã biện hộ cho các ph-ơng thuật của Đạo giáo chứ hoàn toàn không sử dụng những căn cứ khoa học để chứng minh

Trang 30

Đặc biệt ở phần này Lê Quý Đôn còn trình bày về địa lý, lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau ở điều 92, Lê Quý Đôn đã trình bầy những hiểu biết của mình về địa lý thế giới thông qua việc đọc các sách của ng-ời ph-ơng Tây Ông đã biết đ-ợc vị trí địa lý của bốn châu lục là Châu á, châu

Âu, châu Phi, châu Mỹ Ông rất tin t-ởng vào kiến thức địa lý của giáo sĩ ph-ơng Tây nh- Matteo Ricci (Lị Mã Đậu), Ferdnandus Verbiest (Nam Hoài Nhân), Giuleo Aleni (Ngải Nho L-ợc), v.v Ông đã đánh giá cao tài năng của

họ trong lĩnh vực địa lý, thiên văn Lê Quý Đôn viết: “Họ bàn luận về lý khí,

lịch số rất là tinh tường”, “Ta thường được xem sách Khôn d- đồ thuyết của

họ, thấy bàn về địa lý, địa cầu, núi non, sông biển, thuỷ triều lên xuống, gió mưa phần nhiều phải lẽ” [5, tr.180]

Nh- vậy, khi bàn về địa lý, núi sông, thiên văn mặc dù Lê Quý Đôn tin t-ởng và sử dụng ph-ơng thuật phong thuỷ truyền thống của Đạo giáo, nh-ng

ông cũng đã tiếp thu, thừa nhận những thành tựu của khoa học tự nhiên ph-ơng Tây trong lĩnh vực này Ông dùng cái nhìn rất công tâm để đánh giá cái mới trong học thuyết của ng-ời ph-ơng Tây, chứ không nh- những nhà Nho khác mỗi khi thấy sự kiện mới khác truyền thống Nho giáo thì đều chụp cho cái mũ dị đoan, trái lẽ Đây không phải là điều ngẫu nhiên mà Lê Quý

Đôn có đ-ợc, mà là do quá trình rèn luyện, học hỏi với tinh thần cầu tiến không mệt mỏi của ông đem lại

4 Trong phần Vựng điển, Lê Quý Đôn trình bày về phong tục, tập quán,

tín ng-ỡng truyền thống do thế hệ tr-ớc để lại Trong mục lục dẫn ông đã viết rằng, lập pháp quý ở việc phỏng theo đời tr-ớc Do vậy ông đã trình bày phần này để những nhà lập pháp sau này nhân theo điển cũ mà lập pháp cho phù hợp Trong đó ông trình bày đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những việc th-ờng ngày trong dân gian nh- việc thờ cúng, tế tự, nghi lễ đốt h-ơng, tục đốt vàng mã, những kiêng kị trong đời sống hàng ngày, v.v., cho đến những quy định về triều phục, nghênh giá, chế độ khoa cử, tuyển dụng quan lại, cống vật, tô thuế, quân đội, vũ khí…

Trang 31

Trong phần này, chúng ta sẽ tìm thấy nguồn gốc, ý nghĩa của nhiều phong tục cho đến nay vẫn tồn tại rất phổ biến nh- tục đốt h-ơng, đốt vàng mã, thờ cúng, v.v Bên cạnh đó là những nghi lễ, quy định trong triều đình giúp các nhà nghiên cứu lịch sử có thêm t- liệu để khảo cứu thuận lợi hơn

5 Mục Văn nghệ đ-ợc Lê Quý Đôn trình bầy gồm 48 điều, trong đó có

các vấn đề về: nguồn gốc của văn học; nội dung, hình thức, chức năng của văn học; về văn pháp, thi pháp; và sự tu d-ỡng của các nhà văn

6 Âm tự gồm 111 điều, trong đó Lê Quý Đôn trình bày về nguồn gốc âm

thanh, của tiếng nói, chữ viết Ông đã s-u tầm đ-ợc rất nhiều tự căn ở các thời

đại, địa ph-ơng khác nhau ở Trung Quốc, Việt Nam

7 Th- tịch gồm 107 điều, trong đó Lê Quý Đôn khảo cứu sách vở của

cổ nhân từ Tứ th-, Ngũ kinh của Nho giáo, cho đến sách của Quản Tử, Lão

Tử, Hàn Phi Tử…Đồng thời ông cũng chỉ ra những sự đồng dị ở các sách đó

8 Mục Sĩ quy Lê Quý Đôn trình bày quan điểm của mình về các vấn đề

chính trị xã hội thông qua việc nêu dẫn chứng để khảo cứu các sự kiện lịch sử của Trung Quốc có liên quan đến vấn đề trị n-ớc Lê Quý Đôn đã xuất phát từ lập tr-ờng Nho giáo, nêu ra mục đích của sự học là ra làm quan, l-u lại danh tích muôn đời Vì vậy, ông đã chỉ ra cách thức làm quan, đạo đức, phẩm chất của ng-ời làm quan Tuy nhiên, nh- ở trên chúng tôi đã đề cập tới, đây là thời

kỳ mua quan bán t-ớc khá phổ biến, vì vậy để có thể tồn tại trong chốn quan tr-ờng thì con ng-ời cần có nhiều mánh khoé, thủ đoạn khác nhau Lê Quý

Đôn ngoài việc chỉ ra đạo đức ng-ời làm quan, còn chỉ ra các cách thức đó

Ông đã dùng nhiều điển tích, sự kiện, sách vở của những nhà chính trị đi tr-ớc

để làm dẫn chứng cho quan điểm của mình

Tr-ớc hết về lập tr-ờng chính trị, Lê Quý Đôn là đại biểu điển hình của chế độ phong kiến Ông ra sức bảo vệ chúa Trịnh, bảo vệ trật tự xã hội phong kiến đ-ơng thời mà các chúa Trịnh đã xác lập, trực tiếp tham gia vào việc lấn

át quyền hành của vua Lê, thậm chí trực tiếp cầm quân đi đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của nông dân Xuất phát từ lập tr-ờng đó, ông tìm cách bảo vệ giai

Trang 32

cấp quý tộc trong xã hội Theo ông để làm đ-ợc chính sự, ổn định đ-ợc xã hội thì tr-ớc hết cần phải châm tr-ớc cho quý tộc, không làm ảnh h-ởng đến lợi ích của những nhà giàu Ông không trực tiếp đ-a ra chính kiến về điều này mà

ông tán thành nó bằng cách dẫn lời của Mạnh Tử, Tử Sản, Chu Hy: Làm chính

sự không khó, không làm mất lòng các thế gia là đ-ợc, hay những nhà đại gia cũng nên châm ch-ớc cho họ ít nhiều…

Điểm tiến bộ hơn cả của Lê Quý Đôn trong quan niệm về chính trị xã hội là đ-ờng lối trị n-ớc của ông, đó là đ-ờng lối dựa trên sự kết hợp Nhân trị với Pháp trị Lê Quý Đôn mặc dù là một nhà nho, nh-ng ông không hoàn toàn

đánh giá cao đường lối trị nước theo “Vương đạo nhân trị” như các nhà nho khác vẫn th-ờng làm, mà theo ông, để có một đ-ờng lối trị n-ớc hiệu quả cần phải biết kết hợp con đ-ờng Pháp trị với Đức trị

Trong truyền thống của mình, Nho giáo luôn tin t-ởng, đề cao ph-ơng pháp “Nhân trị”, “Đức trị” Khổng Tử cho rằng chỉ có “Đức trị” mới làm cho xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc ổn định, thái bình thịnh trị nh- thời Nghiêu, Thuấn Quan điểm đó của Khổng Tử đã đ-ợc học trò của ông là Mạnh Tử kế tục và phát triển thành đường lối “Nhân chính” Các nhà nho tiền bối này coi đ-ờng lối đó nh- sao Bắc Đẩu làm cho các sao khác phải chầu về xung quanh “Làm chính trị bằng đạo đức ví như ngôi sao Bắc thần ở một nơi

mà các ngôi sao khác hướng về đó”

Lê Quý Đôn cũng là một nhà nho nh-ng ông không hoàn toàn tán thành

đ-ờng lối của các nhà nho đi tr-ớc Trong hoàn cảnh chiến tranh tranh giành quyền lực, xã hội bất ổn định nh- thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn đã thấy đ-ợc vai trò của pháp luật trong việc bình ổn xã hội Trong đời làm quan của mình ông

đã từng xin Trịnh Doanh cho thiết định pháp chế vào năm 1764, mặc dù không đ-ợc chấp nhận nh-ng nó đã thể hiện sự độc lập sáng tạo của ông Mặc

dù ông quan niệm học là học sách vở của cổ nhân, làm chính sự là áp dụng những điều đã học trong sách vở thánh hiền nh-ng không vì thế mà ông lệ thuộc hoàn toàn vào đó Lê Quý Đôn không hoàn toàn tán thành “Nhân trị” nhưng cũng không đề cao “Pháp trị” của Thương Ưởng, Hàn Phi Ông xuất

Trang 33

phát từ thực tế đất nước để xây dựng đường lối riêng trên cơ sở kết hợp “Đức trị” của Nho gia với “Pháp trị” của Pháp gia

Trên lập tr-ờng đó, Lê Quý Đôn rất đề cao học thuyết chính trị của Quản Tử Ông coi học thuyết của Quản Tử đầy đủ, chặt chẽ nh- thời Hạ, Th-ơng, Chu Ông đã đem so sánh Quản Tử với Th-ơng Ưởng, Hàn Phi và khẳng định: Trị nước dựa trên sự kết hợp “Đức trị” với “Pháp trị” là hơn hẳn

Ông viết “Thực ra, Quản Tử trên bàn kỷ c-ơng trời đất; d-ới nói tình hình nhân vật; sáng đạo đức; chuộng nhân nghĩa Đủ cả danh lẫn thực mà không phiền toái Hình pháp tuy nghiêm mà trung hậu Xét rõ, ý nghĩa không khác gì

ý nghĩa của đạo tam v-ơng Còn nh- học thuyết Hàn, Th-ơng, thiên trọng về hình danh, không được đầy đủ, kém Quản Tử xa lắm” [6, tr 46], “Quản Tử học vấn thuần chính, bàn việc giản yếu, tài cao, biết rộng Lời nói từ trong bụng nói ra; điều gì cũng là chí lý cả Còn Hàn Phi Tử văn khí không phải là không lỗi lạc, kỳ kiệt, nh-ng nói đến đạo đức chung quy là hà khắc; nói xong câu nào là xong, không còn có hương vị gì cả” [6, tr 46]

Trên cơ sở so sánh, đánh giá, luận giải về đ-ờng lối trị n-ớc của các bậc tiền bối nh- vậy, Lê Quý Đôn đã rút ra cho mình một ph-ơng pháp riêng: Không thiên quá về đạo đức đồng thời không quá trọng pháp luật Quá đề cao

đạo đức thì dân không thuần phục, ng-ợc lại thì làm cho dân cực khổ Ông đã dẫn lời của Lão Tử “Mềm dẻo là bọn sống, cứng rắn là bọn chết”, sau đó lại dẫn chứng một loạt sự kiện lịch sử nh- tr-ờng hợp của Việt v-ơng Câu Tiễn, Thát Bạt, Ngô v-ơng Phù Sai, Thục Tề, Tần…để chứng minh cho quan điểm

đó Ông kết luận “Xem thế đủ nghiệm” Từ đó, ông chỉ ra “Cứng quá thì gãy, mềm quá thì hỏng; phải vừa mềm vừa cứng mới là hay Khoan thì dân lờn, dữ thì dân khổ, phải vừa khoan vừa dữ mới là hay” [6, tr 90]

Bắt đầu từ giữa thế kỷ XVI trở đi, khi nhà Lê mất, xã hội bị phân chia Nam, Bắc triều thì cũng là lúc Nho giáo đánh mất vị thế độc tôn của mình trong chính trị Đến thế kỷ XVIII Nho giáo đã không còn khả năng để có thể

ổn định đ-ợc trật tự xã hội nữa mặc dù nó vẫn là hệ t- t-ởng chủ đạo trong khuynh hướng “tam giáo đồng nguyên” của dân tộc Trong bối cảnh đó,

Trang 34

những nhà t- t-ởng của dân tộc cố đi tìm một con đ-ờng mới, một hệ t- t-ởng mới nhằm đem lại sự ổn định cho xã hội Trong trào l-u đó, Lê Quý Đôn đã giải quyết bằng cách kết hợp “Nhân trị” với “Pháp trị” trên cơ sở đề cao Pháp trị hơn Đây là điểm rất tiến bộ của Lê Quý Đôn mặc dù chủ tr-ơng thiết định pháp chế của ông không đ-ợc Trịnh Doanh l-u tâm tới

Mặc dù có quan điểm tiến bộ nh- vậy, nh-ng Lê Quý Đôn vẫn là đại biểu điển hình của chế độ phong kiến, vì vậy đ-ờng lối trị n-ớc của ông vẫn chỉ nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội phong kiến đ-ơng thời, chứ không phải là xoá bỏ nó đi

Nh- vậy, về lập tr-ờng chính trị thì Lê Quý Đôn là đại biểu của giai cấp thống trị, ông đứng trên lập tr-ờng giai cấp của mình để đ-a ra quan điểm về duy trì trật tự xã hội phong kiến, bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị mà cụ thể là bảo vệ quyền lợi của chúa Trịnh Tuy nhiên, ông đã không nhất quán theo

quan điểm của Nho giáo dựa vào “Nhân trị”, dùng Nhân, Lễ, Chính danh để

bình ổn xã hội, mà đề xuất việc kết hợp “Pháp trị” với “Thế” và “Thuật” Đây chính là điểm sáng trong quan điểm chính trị xã hội của Lê Quý Đôn

9 Phẩm vật gồm 320 điều đ-ợc Lê Quý Đôn trình bày trên lập tr-ờng

duy vật và mục đích luận

Lê Quý Đôn khẳng định mọi vật do con ng-ời làm ra nh- nhà cửa, đồ dùng, thuyền xe, v.v., đều có quan hệ với trời cả, ng-ợc lại cây cỏ, muông thú, sâu bọ, v.v., do trời sinh ra đều dùng để nuôi con ng-ời cả ở đây Lê Quý Đôn

đã sử dụng “mục đích luận” để lý giải cho nguồn gốc, vai trò của vạn vật trong thế giới Trong mối quan hệ đó, muôn vật do trời tạo ra cũng đ-ợc trời phú cho tính riêng, thánh nhân hiểu rõ đạo trời, có trí lực, có chính sự nên thuận

đ-ợc theo tính của muôn vật, làm cho vạn vật thoả mãn đ-ợc bản tính của mình Ông viết: “Cửa nhà, đồ dùng, thuyền xe, áo mặc, ăn uống, mỗi vật có một lý; trời sinh ra nó, thánh nhân thì biết tr-ớc lòng dân mà chế vật dụng ấy Bảo rằng cái gì ng-ời làm là không có quan hệ với trời thì không đ-ợc Cây

cỏ, cầm thú, sâu bọ, cua cá, vật gì cũng có một tính riêng Tính ấy, tự trời phú

Trang 35

cho nó; thánh nhân xét rõ đạo trời, mà thuận theo tính vật Bảo rằng: cái gì trời sinh, là không phải để nuôi người, thì không được” [6, tr.128]

Trong mục này Lê Quý Đôn còn trình bày nguồn gốc của lâu đài, nhà cửa, xe cộ, v.v., cho đến những thứ nhỏ nhất nh- cái tăm, cái ghế, cái l-ợc, v.v., đều đ-ợc ghi chép trong các sách vở đời x-a

Ngoài ra, Lê Quý Đôn còn khảo cứu về các giống thực vật, sinh vật khác nhau của n-ớc ta nh- lúa nếp và lúa tẻ thì có gần hai trăm giống khác nhau: lúa sài đ-ờng, lúa Bồ lộ, lúa thạch, lúa chiêm dự, lúa nếp rồng, lúa nếp lùn, lúa mậm dẻ, lúa mỡ bò, v.v Chuối thì có các loại nh- chuối lùn, chuối tiêu, chuối hột, chuối tai mèo, v.v Ngoài ra còn các sản vật khác nh- hồng, b-ởi, vải, d-a, v.v., đều đ-ợc Lê Quý Đôn khảo cứu và trình bày trong mục này

Về nguồn gốc sinh vật thì Lê Quý Đôn đã theo thuyết tiến hoá luận nguyên thuỷ khi ông quan niệm cho rằng, cá chép biển đến tháng 6 hàng năm thì hoá thành chim c-u, đến tháng 9 thì cá vàng hoá thành chim ngói, v.v Ngoài ra, Lê Quý Đôn còn khảo cứu nhiều loại sinh vật khác nh-: ngựa, ong, cua, trai, hến, v.v

Tóm lại, tác phẩm Vân đài loại ngữ với 967 điều đã bao chứa một

l-ợng kiến thức lớn từ những vấn đề nhỏ nhất của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đến những vấn đề mang tính trừu t-ợng khái quát cao thuộc đời sống tinh thần xã hội mà ở đây chúng tôi không có điều kiện trình bày toàn bộ nội dung trong tác phẩm Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ trình

bày những t- t-ởng triết học của Lê Quý Đôn đ-ợc ông viết trong các mục: Lý khí, Hình t-ợng và Sĩ quy

Trang 36

Ch-ơng 2 Những t- t-ởng triết học cơ bản

trong “vân đài loại ngữ”

2.1 Quan niệm về bản thể của thế giới

Vân đài loại ngữ là tác phẩm lớn nhất trong di sản t- t-ởng của Lê Quý

Đôn Có thể nói, đây là tác phẩm phản ánh khá rõ nét những suy t- triết học của ông Trong đó những vấn đề của triết học tự nhiên, triết học xã hội, đặc biệt là vấn đề về bản thể của vạn vật nói riêng và vũ trụ nói chung đ-ợc ông đề cập đến nhiều nhất

Những tri thức triết học về thế giới, vũ trụ trong tác phẩm này đ-ợc ông

tập trung bàn đến nhiều nhất trong phần Lý khí và Hình t-ợng

Lê Quý Đôn đã xuất phát từ cặp phạm trù lý - khí để giải quyết vấn đề

bản thể của thế giới Ông coi bản thể của thế giới là do hai khí (âm, d-ơng)

chuyển vần, cọ xát theo lý của trời, đất, Tiên, Phật, Quỷ Thần mà thành Do

vậy, khi giải quyết vấn đề bản thể của thế giới, vạn vật, ông đã tập trung nhiều

đến việc xem xét mối quan hệ giữa cặp phạm trù này Xét lịch sử vấn đề thì Lê

Quý Đôn không phải là nhà t- t-ởng đầu tiên đề cập đến các phạm trù lý - khí,

mà thực ra, đây là phạm trù cơ bản của triết học Tống Nho, hay còn gọi là Tân Nho giáo Tống Nho là danh từ đ-ợc dùng để chỉ một giai đoạn phát triển của

Nho giáo Trung Quốc thời Tống Trong học thuyết triết học này, phạm trù lý - khí giữ một vị trí quan trọng, tạo nên nội dung bản thể luận về vũ trụ do ảnh

h-ởng về mặt học thuật của Phật giáo và Đạo giáo Nói cách khác, triết học Tống Nho là một hệ thống quan niệm khá đầy đủ về thế giới tự nhiên, con ng-ời và vạn vật, bản thân Nho học đời Tống ở nhiều ph-ơng diện đã đ-ợc Phật giáo hoá, Đạo giáo hoá, làm cho nó đứng ngang tầm với các học thuyết triết học khác hiện diện ở Trung Quốc thời bấy giờ Vì vậy, có thể nói, toàn bộ

Ngày đăng: 15/03/2021, 18:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w