Vai trß THU HOẠCH Những Giá trị và hạn chế của triết học duy vật thời kỳ hy lạp la mã cổ đại ý nghĩa đối với sự phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử Triết học ra đời vào khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến khoảng thế kỷ thứ VI tr CN, thuật ngữ “triết học” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (Phislosôphia) có nghĩa là “yêu thích sự thông thái”; những tư tưởng triết học xuất hiện đồng thời ở cả Hy Lạp, Trung Quốc và ấn Độ cổ đại vào thời kỳ này đánh dấu một bước phát triển mới trong xã hội phân chia gia.
Trang 1THU HOẠCH-Những Giá trị và hạn chế của triết học duy vật thời kỳ hy lạp- la mã cổ đại ý nghĩa đối với sự phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử
Triết học ra đời vào khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến khoảng thế
kỷ thứ VI tr.CN, thuật ngữ “triết học” có nguồn gốc từ tiếng HyLạp (Phislosôphia) có nghĩa là “yêu thích sự thông thái”; những tưtưởng triết học xuất hiện đồng thời ở cả Hy Lạp, Trung Quốc và ấn
Độ cổ đại vào thời kỳ này đánh dấu một bước phát triển mới trong
xã hội phân chia giai cấp và nó có ảnh hưởng lớn tới triết học Mácsau này Sự xuất hiện triết học đánh dấu một bước phát triển lớn của
tư tưởng nhân loại, từ cảm nhận vũ trụ một cách trực quan đến thếgiới quan đều dựa trên các tri thức mang tính khái quát hoá, trừutượng hoá của tư duy
Hy Lạp là một nước nằm ở bán đảo Ban Căng gồm nhiều đảonhỏ Miền nam bán đảo Ban Căng thuộc Châu Âu, nhiều hòn đảo ởbiển Êgiê và cả miền ven biển của bán đảo Tiểu á Diện tích khoảng132.000 km2 giáp An Ba Ni, Bun Ga Ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư Thủ
đô Aten, có thành phố cảng là trung tâm giao lưu quốc tế, điều kiệnrất thuận lợi cho nên từ rất sớm ngành nông nghiệp, thủ côngnghiệp, thương nghiệp Hy Lạp cổ đại đã phát triển Xã hội Hy Lạp
cổ đại phát triển đã đạt tới mức hoàn thiện của nó; sự phát triển đó
đã làm xuất hiện hai trung tâm kinh tế- chính trị điển hình là thànhbang Aten và thành bang Spác Xã hội Hy Lạp lúc này có hai tầng
Trang 2lớp cơ bản đó là: tầng lớp chủ nô dân chủ ở thành bang Aten và tầnglớp chủ nô quý tộc ở thành bang Spác Tương ứng với hai trung tâmkinh tế- chính trị này là hai thể chế nhà nước khác nhau về hìnhthức đó là nhà nước chủ nô dân chủ Aten và nhà nước chủ nô quânchủ Spác Sự khác nhau đó đã gây ra cuộc nội chiến tương tàn vàcuối cùng chiến thắng đã thuộc về thành bang Spác.
Người Hy Lạp cổ đại đã kế thừa rất nhiều kiến thức của ngườiphương Đông mà trước hết là kiến thức về khoa học tự nhiên củangười Ai Cập, Babilon và của người ấn Độ cổ đại
Từ những nét đặc thù về kinh tế- chính trị, xã hội và những tiền
đề về khoa học ấy, triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sauđây:
Thứ nhất, sự phân chia và đối lập giữa các trường phái triết học,duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần lànét nổi bật của quá trình phát sinh, phát triển triết học; trong đó điểnhình là cuộc đấu tranh giữa hai “đường lối” triết học: đường lối duyvật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn
Thứ hai, các hệ thống triết học Hy lạp cổ đại nói chung đều có
xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thể luận và nhận thứcluận, là những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Thứ ba, nền triết học Hy Lạp cổ đại nói chung còn ở trình độ trựcquan, chất phác Tuy vậy nó đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết họccăn bản, nó chứa đựng mầm mống của tất cả thế giới quan duy vật.Thứ tư, triết học Hy Lạp cổ đại luôn gắn với khoa học tự nhiên
Trang 3Những nét đặc trưng này không chỉ là cái phân biệt giữa hai nềntriết học Đông- Tây cổ đại mà còn nói lên vị trí và vai trò của triếthọc Hy Lạp cổ đại đối với lịch sử triết học thế giới, nó đặt nền tảngcho sự phát triển triết học Tây Âu trên hai ngàn năm về sau Đánhgiá về vị trí vai trò và sự ảnh hưởng của triết học Hy Lạp cổ đạiĂngghen viết: “từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học
Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào khoảng thế kỷ thứ VItr.CN Cơ sở kinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nôđối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Nếu như trong xã hội Cộngsản nguyên thuỷ cuộc sống của mỗi người “ hoà tan” vào cuộc sốngcộng đồng, thì giờ đây khi xuất hiện chế độ tư hữu về của cải, buộcmỗi người cần ý thức về bản thân mình, cần có một quan điểm sốngphù hợp với hoàn cảnh mới Nhu cầu đó đòi hỏi sự ra đời của triếthọc Trong xã hội có sự phân chia thành giai cấp, có sự phân cônglao động giữa lao động trí óc và lao động chân tay, dẫn tới sự hìnhthành một bộ phận các nhà trí thức chuyên nghiên cứu triết học vàkhoa học, làm phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ
Do nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất xã hội nên lực lượng sảnxuất từng bước phát triển đó cũng là sự quan tâm của nhiều ngànhkhoa học Chính sự phát triển các ngành khoa học ấy nó lại tạo rađiều kiện để phát triển lực lượng sản xuất Vì lực lượng sản xuấtthời kỳ này ở Hy Lạp cổ đại yêu cầu ngày càng cao đối với khoahọc và tư tưởng tiên tiến ở đảo Crét thế kỷ thứ III tr.CN người dân
Trang 4ở đây đã biết sử dụng đồ đồng làm công cụ lao động sản xuất, nghềtrồng trọt, ngư nghiệp, thương nghiệp và hằng hải phát triển Đóchính là nhu cầu của đòi hỏi của sản xuất vật chất nên các ngành:thiên văn, khí tượng, toán học, vật lý cũng phát triển Tư tưởng HyLạp cổ đại cũng đan xen hình thành phát triển với các khoa họckhác do yêu cầu sản xuất vật chất phát triển Những tri thức này tuy
ở hình thái sơ khai nhưng đều được trình bày trong hệ thống triếthọc tự nhiên của các nhà triết học cổ đại Khoa học lúc đó chưaphân ngành, các nhà triết học đồng thời là nhà khoa học như: toánhọc, vật lý học, thiên văn học Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đạingay từ khi mới ra đời đã gắn với nhu cầu thực tiễn và gắn liền vớikhoa học Sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Hy Lạp cổđại liên tục gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các lực lượng xã hộiđối lập, đó là lực lượng đại diện cho chủ nô dân chủ và chủ nô quýtộc bảo thủ muốn duy trì xã hội chiếm hữu nô lệ Chính đó là cuộcđấu tranh gay gắt giữa nô lệ và chủ nô Đấu tranh gay gắt giữa khoahọc và tôn giáo, giữa tư tưởng duy vật với tư tưởng thần thánh.Chính cuộc đấu tranh gay gắt này ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đấutranh giữa hai đường lối trong triết học đó là đường lối triết học củaĐêmôcrít và đường lối triết học Platôn
Xứ Iôni là trung tâm chủ yếu đẻ ra chủ nghĩa duy vật thời cổ HyLạp và là trung tâm của các trường phái triết học như Milê, Êphedo
và Êlê Những nhà triết học tiêu biểu ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại là:TaLét (626- 547 tr.CN), Anaximanđrơ (610- 546 tr.CN), Anaximen(585- 525 tr.CN), Hêraclít (520- 460 tr.CN), Pitago (571- 479
Trang 5tr.CN), Lơxíp (500- 440 tr.CN), Đêmôcrít (460- 370 tr.CN), Platôn(472- 347 tr.CN), Arixtốt (384- 322 tr.CN) những quan điểm triếthọc gắn liền với tư tưởng chính trị của họ là cơ sở lý luận cho sựhoạt động tiến bộ của tầng lớp tiên tiến trong giai cấp chủ nô Sựnảy nở rực rỡ của các trào lưu tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại cóliên hệ mật thiết và chịu ảnh hưởng của triết học phương Đông cổđại Vào thời kỳ khoa học phát sinh ở Hy Lạp, thì ở phương Đông
đã tích luỹ được những tri thức đáng kể về thiên văn học, hình học,đại số, y học các nhà bác học lớn của Hy Lạp cổ đại phần nhiều đãtới Ai Cập, Babilon nghiên cứu và học tập Những mầm móng vềquan niệm duy vật và vô thần của các nhà triết học Ai Cập vàBibalon có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của triết học ở HyLạp cổ đại Vì vậy, có thể nói triết học phương Đông, trước hết làtriết học Ai Cập, Babilon là một trong những tiền đề của triết học
Hy Lạp cổ đại
Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tựphát và biện chứng sơ khai Nhưng đời sống chính trị ở Hy Lạp bấygiờ sôi động, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhautrên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những trithức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng
tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mongmuốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần qui định vàlàm phát triển thế giới quan duy vật tự phát và biện chứng sơ khaicủa Hy Lạp cổ đại Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các tri thứckhoa học sơ khai, triết học Hy Lạp cổ đại đã đề cập tới những vấn
Trang 6đề cơ bản của thế giới quan theo nghĩa hiện đại tuy còn ở trạng tháimầm móng Triết học Hy Lạp cổ đại tuy thô sơ, mộc mạc tự phátnhưng về cơ bản nó đã phản ánh đúng thế giới trong sự vận động vàphát triển thế giới Nên những giá trị và những tư tưởng triết họctích cực của nó cũng có ý nghĩa rất to lớn trong đấu tranh chống lạichủ nghĩa duy tâm, tư tưởng thần thánh (thần thoại) tạo cơ sở chokhoa học và triết học phát triển.
Tại sao các nhà triết học phương Tây hoà mình trong tự nhiên,quan tâm đến tự nhiên, đối tượng nghiên cứu là giới tự nhiên, nhàkhoa học tự nhiên là nhà triết học, hoặc nhà triết học cũng đồng thời
là nhà khoa học tự nhiên Trong khi đó triết học phương Đông thiên
về nghiên cứu các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội về tinh thần,
về tâm linh Bởi vì ở phương Tây chính nhu cầu của sản xuất xã hội,chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cực kỳ phát triển Đó là thời kỳ nhân loạichuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Với việc xuất hiệncác quan hệ tiền- hàng đã làm cho thương mại và trao đổi hàng hoáđược tăng cường Thời kỳ này người Hy Lạp đã có thể đóng đượcnhững chiến thuyền lớn cho phép họ vượt biển Địa Trung Hải tìmđến những miền đất mới Nhờ đó mà lãnh thổ Hy Lạp và thuộc địacủa nó được mở rộng tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá giữa cácdân tộc Nên xuất hiện nhiều tư tưởng tìm tòi sáng tạo, nhu cầu đođạc, buôn bán, thời tiết nhu cầu thực tiễn đó đòi hỏi nền khoa họctoán học (hình học, đại số), vật lý, thiên văn ra đời đáp ứng nhucầu cho sản xuất Vì vậy các nhà triết học Hy Lạp đều là nhà khoahọc tự nhiên bách khoa lỗi lạc Ngay từ khi mới ra đời triết học duy
Trang 7vật Hy Lạp cổ đại cũng thể hiện rõ tính biện chứng sơ khai của nó.Mặc dù ngay thời kỳ này sự phân chia khuynh hướng triết học đãkhá rõ rệt nhưng nhìn chung nó mang tính duy vật tự phát Ngay từkhi mới ra đời, nó đã tìm cách giải thích thế giới như một chỉnh thểthống nhất trong đó các sự vật vận động và biến đổi không ngừng.Ngoài ra triết học Hy Lạp cổ đại còn thể hiện ở chỗ nó là thế giớiquan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội Hy Lạp
và La Mã lúc bấy giờ Như vậy, ngay từ đầu nó mang tính giai cấpsâu sắc Tính giai cấp của một học thuyết triết học, theo các nhànghiên cứu, không chỉ thể hiện ở chỗ học thuyết đó biểu hiện lậptrường của một giai cấp hay một đảng phái nào đó, mà còn thể hiện
tư tưởng của một khuynh hướng, trào lưu triết học nhất định Nhữngmâu thuẫn trong xã hội cổ đại được thể hiện trong cuộc đấu tranh về
tư tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp, tiêu biểu nhất là cuộc đấutranh giữa hai đường lối triết học Đêmôcrít và đường lối triết họcPlatôn Đây cũng là cuộc xung đột của hai thế giới quan xuất hiệnđầu tiên trong triết học Nó liên quan đến thế giới quan, phươngpháp luận trong triết học trong giải quyết tính đảng, tính chính trị,tính xu hướng Vì vậy, triết học phương Đông ít bút chiến, ít phêphán, thường thế hệ sau kế thừa thế hệ trước Lấy gốc của thầy làmđiểm tựa để phát triển lên Từ những điều kiện kinh tế, xã hội vànhững đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại có thể khái quát nhữnggiá trị và hạn chế của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại được thể hiệntrên các phương diện bản thể luận, vũ trụ quan, nhận thức luận vàchính trị xã hội
Trang 8Dưới đây là những phân tích tập trung chủ yếu những nét cơbản của một số đại biểu ở các trường phái khác nhau trên cácphương diện vừa nêu.
sự vật Chẳng hạn, như Talét thành tựu nổi bật của ông là giải thích
tự nhiên không phải bằng tín điều tôn giáo, mà bằng nghiên cứuhiện thực, xuất phát từ việc quan sát trực tiếp sự vật, ông cho rằngnước giữ vai trò trực tiếp quan trọng trong tự nhiên cũng như trongđời sống con người, cũng như mọi thức ăn, mọi sự vật đều ẩm ướt,hạt giống của mọi sự vật đều ẩm ướt nguồn gốc ẩm ướt của vật thểchính là nước, không có nước là không có gì cả Vì thế, Talét chorằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật, tất cả bắtđầu từ nước, rồi trở lại về với yếu tố cuối cùng là nước Như vậytheo Talét, vật chất (nước) vận động vĩnh viễn- thế giới tồn tại tuần
Trang 9hoàn khép kín của nước, thế giới tồn tại thống nhất ở nước Nhữngquan niệm triết học duy vật nói trên tuy còn mộc mạc, thô sơ, nhưng
có chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát, ngây thơ
Còn Anaximăngđrơ cho rằng chất Apâyrôn, Anaximan cho rằngkhông khí cũng đều là vật chất đầu tiên tạo lên thế giới và giải thíchthế giới vật chất Nhưng so với quan niệm của Talét thì quan niệm
về vật chất của Anaximăngđrơ có bước phát triển mới Bởi vì, ôngcoi vật chất khởi nguyên không phải là một dạng vật chất cụ thể nhưnước, cũng không phải là một vật thể có kích thước có khối lượng.Apâyrôn là một yếu tố vật chất khởi nguyên, khó nhận thức bằnggiác quan, phản ánh ở mức độ trừu tượng hơn Talét Với quan niệmnhư vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học duy vật Hy Lạp cổ đạivật chất không bị đồng nhất với một vật thể cụ thể Mặc dù cònmang nặng tính chất ngây thơ, chất phác, nhưng quan niệm như vậy
đã là một bước tiến mới rất tích cực trong quá trình nhận thức vậtchất, bước nhảy vọt mới về trình độ tư duy trừu tượng của người HyLạp cổ đại Về phép biện chứng Anaximăngđrơ đã nêu ra nhữngphỏng đoán thiên tài Theo ông chất Apâyrôn có ẩn chứa những mặtđối lập giữa cái đơn và cái đa (nhiều), giữa cái nóng và cái lạnh,giữa cái khô và cái ướt Chính những mặt đối lập ấy đã làm cho sựvật thành những dạng vật chất khác nhau Ông bác bỏ quan niệm vềtính đồng nhất tuyệt đối, thuần tuý, không có khác biệt của sự vật Còn Anaximan cũng như các nhà duy vật tiền bối thuộc phái Milê,
cố công tìm kiếm khởi nguyên vật chất dạng “vật chất mẹ” để giảithích vật chất, khởi nguyên vật chất đó, theo ông là không khí bởi vì
Trang 10nó giữ vai trò quan trọng trong đời sống của thiên nhiên và của conngười Như vậy điểm tiến bộ tích cực của ông cống hiến cho triếthọc duy vật là dành nhiều công sức để nghiên cứu nguồn gốc vũ trụtrên quan điểm vô thần Ông bác bỏ những chuyện hoang đường vềthần thánh và khẳng định rằng mọi nguyên nhân của sự vật đều quy
về không khí vô hạn
Người có công lao đóng góp những giá trị to lớn về phép biệnchứng phải kể đến trường phái triết học Êphetsơ đại diện là Hêraclít.Ông là đại biểu điển hình nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biệnchứng trong giai đoạn đầu của triết học Hy Lạp cổ đại Cống hiếnlớn nhất và nổi tiếng của ông là triết học duy vật với rất nhiều yếu tốbiện chứng có giá trị, tuy ông chưa trình bày dưới dạng một hệthống các luận điểm khoa học như sau này, mặc dù là biện chứng sơkhai nhưng nó có giá trị to lớn được các nhà triết học cổ điển Đứcsau này kế thừa và các nhà sáng lập triết học Mác xít đánh giá cao.Như vậy, cũng như trường phái triết học Milê, các trường phái triếthọc khác ở Hy Lạp cổ đại đều coi vật chất là tính thứ nhất Thếgiới vật chất được hình thành từ một nguyên thể vật chất NhưngHêraclít còn đi xa hơn các vị tiền bối ở phép biện chứng, chính ông
là người sáng lập ra phương pháp biện chứng Lênin đánh giá phépbiện chứng của Hêraclít là “phép biện chứng hoàn toàn khách quan
Giá trị nổi bật trong phép biện chứng của Hêraclít cống hiếncho triết học duy vật Hy Lạp cổ đại là quan niệm về vận động vĩnhviễn của vật chất Ông cho rằng lửa chẳng những là nguyên nhân
Trang 11sinh ra mọi vật mà còn là nguồn gốc của mọi vận động, ông nói “cáichết của lửa là sự ra đời của không khí, cái chết của không khí là sự
ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí, từ cái chết
nghiệm cảm tính khái quát một kết luận nổi tiếng về vật chất vậnđộng “mọi vật đều trôi đi, chảy đi, không có cái gì đứng nguyên tạichỗ”; “tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cốđịnh” Hêraclít khẳng định luận điểm bất hủ: “Chúng ta không thểtắm hai lần trên cùng một dòng sông, vì nước sông không ngừng
mới Với quan niệm như vậy nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại coiông là nhà triết học vận động và gọi ông là “học thuyết về dòngchảy” So với các nhà triết học tiền bối cùng thời thì Hêracrít đã đưatriết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểmduy vật và những yếu tố biện chứng Cái quý giá nhất trong triết họccủa ông là phép biện chứng mặc dù chỉ là phép biện chứng tự phát,ngây thơ, ông cũng xuất phát từ tự nhiên chứ không phải từ thầnthánh để giải thích tự nhiên Ông chống lại những quan niệm siêuhình và chỉ ra mối liên hệ của vũ trụ và sự vận động, phát triển củathế giới
Về phép biện chứng, khi Hêracrít quan niệm về linh hồn conngười được thể hiện rất rõ Ông cho rằng trong con người ngoài lửa
ra còn có cả những chỗ ẩm ướt cho nên mới sinh ra người tốt, ngườixấu Linh hồn con người là sự thống nhất của hai mặt đối lập- cái
ẩm ướt và lửa Lênin đánh giá cao quan niệm này của ông: “ cho
Trang 12rằng chúng đã thể hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện
Nói đến giá trị đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại làphải liên hệ chứng minh các đại biểu của trường phái nguyên tửluận, đại biểu sáng giá nhất là Đêmôcrít, đồng quan điểm với thầymình là Lơxíp để phát triển thuyết nguyên tử luận lên một trình độmới Ông cho rằng, nguyên tử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật, nguyên
tử là hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không phân chiađược, không mùi vị, không âm thanh, không màu sắc, không khácnhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế Dướicon mắt của Đêmôcrít, mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều đượctái tạo từ các nguyên tử và khoảng không; nguyên tử vô hạn về sốlượng và hình thức nhưng mỗi nguyên tử lại có hình thức xác định.Theo ông các sự vật hiện tượng đều do nguyên tử cấu tạo nên, cácnguyên tử kết hợp với nhau theo một trật tự xác định, sự liên kếtkhác nhau đã quy định bản chất khác nhau của sự vật Sự xuất hiệnhay mất đi của sự vật này hay sự vật khác là kết quả việc kết hợphay phân tán của các nguyên tử trong quá trình vận động trongkhoảng không và tuân theo những quy luật tự nhiên Mọi biến đổicủa sự vật thực chất là sự thay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên
tử tạo nên chúng Còn bản thân mỗi nguyên tử thì không thay đổi gì
cả Như vậy, một mặt Đêmôcrít duy trì các nguyên lý bảo tồn “tồntại”, coi các nguyên tử là bất biến, vĩnh viễn, mặt khác lại ủng hộquan niệm của Hêraclít cho rằng mọi sự vật đều biến đổi khôngngừng