Tác giả viết: “Từ việc xác định các kiểu phán đoán khác nhau trên đây trong tục ngữ, ít nhất chúng ta có thể rút ra hai nhận xét đáng chú ý về lối nghĩ của nhân dân: Một là, trong lối n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Trần Thị Trâm
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, CA DAO VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHỦ YẾU TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM 12
1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 12 1.2 Khái quát về nội dung và nội dung triết học của tục ngữ, ca dao 16
Chương 2: KHẢO SÁT MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM 37
2.1 Quan niệm về tự nhiên và xã hội trong tục ngữ, cao dao Việt Nam 37 2.2 Quan niệm về con người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam 61
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG TỤC NGỮ, CA DAO ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI 85
3.1 Giá trị của những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao Việt Nam 85 3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực của những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao đối với xã hội hiện nay 99
KẾT LUẬN 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mỗi quốc gia, dân tộc, dù ở một trình độ văn minh nào, để tồn tại cũng đều có những suy tư, trăn trở về thế giới, về vạn vật xung quanh mình và thường biểu đạt chúng qua hình thức ngôn ngữ Vì thế, có thể nói: ngôn ngữ chính là tấm gương phản chiếu tư tưởng, tinh thần của một dân tộc, là tấm gương phản ánh những ý niệm của con người về thế giới
1.2 Có nhiều con đường để giải mã những những ý niệm, những suy nghĩ và những tư duy triết học của một dân tộc, trong đó việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu giá trị của kho tàng văn học dân gian là một hướng có nhiều hứa hẹn Bởi theo Hê ghen “Nghệ thuật thường là chiếc chìa khóa và ở một vài dân tộc thì đó là chiếc chìa khóa duy nhất và cao nhất để biểu hiện toàn bộ sự khôn ngoan sáng suốt và tôn giáo của họ”
1.3 Là “cuốn bách khoa toàn thư của mỗi dân tộc”, văn học dân gian, đặc biệt là tục ngữ ca dao, không chỉ là thơ ca mà còn là lịch sử, là tôn giáo, là pháp lý, là đạo đức…và cũng chính là mảnh đất lưu giữ nhiều ý tưởng triết học mộc mạc, sâu sắc mà các thế hệ đi trước đã hết lòng gìn giữ, trân trọng truyền lại cho muôn đời sau
1.4 Như vậy, muốn tìm hiểu cội nguồn của nền triết học Việt Nam, trên cơ sở đó cắt nghĩa thái độ của nhân dân đối với vấn đề căn bản của sự sống, những quan hệ giữa con người với vũ trụ, giữa con người với con
người; từ đó góp phần làm sáng tỏ câu hỏi lớn nhất của nhân loại: ta là ai? thì
không gì bằng nghiên cứu kho tàng văn học dân gian Việt Nam, đặc biệt là kho tàng tục ngữ, ca dao
Nguồn tư liệu này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống xã hội ở thời điểm nó ra đời mà còn có giá trị không nhỏ đối với cuộc sống
Trang 5đương đại Mặt khác, nhìn vào lịch sử một dân tộc sẽ thấy được tương lai của dân tộc đó Muốn đi xa tất yếu phải trở về, bởi những giá trị truyền thống mãi mãi sẽ là nền tảng vững bền để các thế hệ hôm nay có thể xây dựng thành công nền văn hoá mới tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
1.5 Biển lớn văn học dân gian là vô tận, giá trị của nó hết sức to lớn, phong phú và sâu sắc Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học,
chúng tôi chỉ xin được chọn: "Một số tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu của mình, dù biết rằng đây là một thử thách
không nhỏ
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao ở nước ta không phải là vấn đề mới Từ trước đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ, quy mô khác nhau nhưng chủ yếu các công trình này đều tiếp cận tục ngữ, ca dao ở góc độ văn chương nghệ thuật mà rất ít nghiên cứu chúng dưới góc độ triết học
Đáng chú ý nhất là một số công trình sưu tầm về tục ngữ, ca dao kèm theo là những tiểu luận có giá trị Tiêu biểu là những tác phẩm của các học giả:
- Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1958 (lần 1) Cho đến nay công trình đã được tái bản tới hàng chục lần
- Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, Tục ngữ Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993
- Nguyễn Xuân Kính, Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2000
Riêng tác phẩm “Tục ngữ Việt Nam” do Chu Xuân Diên, Lương Văn
Đang, Phương Tri biên soạn, nhóm tác giả đã nghiên cứu đối tượng không chỉ dưới góc độ văn học mà còn nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác như: ngôn ngữ học, lôgíc học, triết học… Cuốn sách đã thể hiện sự am hiểu của người
Trang 6viết về các lĩnh vực khoa học, đồng thời cũng cho thấy vốn tục ngữ giàu có trong nhân dân Ở phần tiểu luận, giáo sư Chu Xuân Diên (người chắp bút) đã khái quát được gần như toàn bộ những đặc trưng tiêu biểu của kho tàng tục ngữ Việt Nam qua các chương “Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội”,
“Tục ngữ và lối sống của thời đại”, “Tục ngữ và lối nói của dân tộc”, “Tục ngữ và lối nghĩ của nhân dân” và giá trị thực tiễn của nó qua chương “Di sản tục ngữ và thời đại mới” Đồng thời, tác giả cũng đưa ra nhiều kết luận có giá trị Và không ít kết luận đã được chúng tôi sử dụng làm cơ sở lí luận và tư liệu cho đề tài nghiên cứu của mình Trong đó, kết luận có giá trị nhất, có liên quan trực tiếp nhất tới đề tài là chương “Tục ngữ và lối nghĩ của nhân dân” Những kết luận ở chương này cho thấy việc tìm hiểu tư tưởng biện chứng trong tư duy của người Việt thể hiện qua tục ngữ là một hướng nghiên cứu đúng đắn, khoa học Tác giả viết: “Từ việc xác định các kiểu phán đoán khác nhau trên đây trong tục ngữ, ít nhất chúng ta có thể rút ra hai nhận xét đáng chú ý về lối nghĩ của nhân dân:
Một là, trong lối nghĩ của nhân dân thể hiện rõ khuynh hướng muốn đi
sâu vào bản chất của sự vật, muốn phát hiện và khẳng định tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người…
Hai là, trong lối nghĩ của nhân dân cũng lại thể hiện cả tính chất linh
hoạt, uyển chuyển của sự nhận thức của con người, phản ánh tính chất phức tạp, nhiều vẻ và mối quan hệ của sự nhận thức của con người, và mối quan hệ lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng”
Kết quả nghiên cứu đã giúp chúng tôi đi đến khẳng định: đã có một số
tư tưởng triết học được thể hiện sâu sắc trong lối nghĩ của nhân dân, trong tư duy khoa học dân gian
Tiếp đến là những bộ giáo trình Văn học dân gian của các trường
đại học như:
Trang 7- Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu, Giáo trình Văn học dân gian - 2 tập,
gian ở chiều sâu triết học Không ít lần tác giả đã trực tiếp đề cập đến giá trị
triết học của văn học dân gian (còn được gọi là triết lý dân gian) với nhiều nội
dung quan trọng như: vấn đề cơ bản của triết học, mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức, phép biện chứng, các cặp phạm trù, quan niệm về độ, vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử Đó là những gợi ý ban đầu để chúng tôi mạnh dạn tiếp tục triển khai đề tài của mình theo hướng này
Ngoài những giáo trình, còn phải kể đến một số tác phẩm nghiên cứu
về lĩnh vực triết học và lịch sử tư tưởng Việt Nam trong những năm gần đây
Dù trực tiếp hay gián tiếp thì tất cả các tác giả đều thống nhất khẳng định vị trí “khơi nguồn mĩ học”, khơi nguồn triết học, khơi nguồn lịch sử tư tưởng dân tộc của những tư tưởng triết học trong văn học dân gian nói chung và tục ngữ, ca dao nói riêng Chẳng hạn:
Trang 8- Mịch Quang, Khơi nguồn mĩ học dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
- Huỳnh Công Bá, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, 2007
Nhóm thứ tư, bao gồm một số luận văn, luận án, mà nội dung của chúng ít nhiều có liên quan đến đề tài Ví dụ:
- Luận án tiến sĩ của Ngô Thanh Quý (2004) về “Giá trị triết lý của tục ngữ người Việt”, Thư viện Trường Đại học Xã Hội và Nhân văn Hà Nội
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Việt Long (2009): “Tục ngữ về quan hệ gia đình”, Thư viện trường Đại học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chúng tôi cũng xin được kể thêm một số bài viết trên mạng trong vài
năm gần đây như: Cảm nhận về triết lý tục ngữ, ca dao của tác giả Song Phan (Nguồn: Người Hà Nội, 10/3/2008), Tìm hiểu những yếu tố triết học (hay triết
lý dân gian) trong tục ngữ Việt Nam (Nguồn: Tạp chí Triết học, đăng trên
Website Đại học Khoa học và Nhân văn – Đại Quốc gia Hà Nội, ngày
26/7/2010), Triết học bình dân trong tục ngữ, phong giao của GS Nguyễn
Đăng Thục (Nguồn: Website: e-cadao.com, ngày 27/10/2009),
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu nào coi
những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao Việt Nam là đối tượng khảo sát
trực tiếp và nghiên cứu chúng một cách hệ thống
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát: toàn bộ kho tàng tục ngữ, ca dao trong hai cuốn: “Tục ngữ,
ca dao dân ca” của tác giả Vũ Ngọc Phan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
Trang 91958 và “Kho tàng tục ngữ người Việt”, 2 tập, do tác giả Nguyễn Xuân Kính
sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000
- Ngoài ra, để hoàn thành tốt yêu cầu của luận văn, chúng tôi cũng tham khảo thêm những cuốn sách về tục ngữ, ca dao các dân tộc ít người và một số tác phẩm tục ngữ, ca dao đương đại
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân lao động được thể hiện trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Qua việc nghiên cứu, khảo sát giá trị của tục ngữ, ca dao Việt Nam,
đề tài tập trung phát hiện và hệ thống hoá những tư tưởng triết học mà ông cha ta đã gửi gắm trong đó
- Từ việc thấy được chiều sâu, sự độc đáo của trí tuệ dân gian, bước đầu làm sáng tỏ thêm sự phong phú của tư tưởng triết học dân tộc
- Trên cơ sở những hiểu biết về những giá trị triết học của tục ngữ, ca dao sẽ góp phần đánh thức niềm tự hào, củng cố niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước trong mỗi người con đất Việt, đồng thời có được cơ sở vững chắc để đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng thành công nền văn hoá mới, một nhiệm vụ cấp bách của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Trình bày khái quát về tục ngữ, ca dao và nội dung của tục ngữ ca dao, đặc biệt là phương diện triết học; điều kiện nảy sinh, tồn tại và vai trò của nó trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam
- Khảo sát những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
Trang 10- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực của những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao ở giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Luận văn cũng dựa trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu liên ngành: triết học và lịch sử văn học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm
rõ các vấn đề
- Phương pháp cụ thể: Kết hợp linh hoạt các phương pháp: khảo sát, thống kê, so sánh đối chiếu; lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp
và diễn dịch nhằm đạt tới mục đích mà luận văn đã đề ra
6 Đóng góp của luận văn
- Từ việc hệ thống ý kiến của các tác giả đi trước, luận văn tổng hợp và đưa ra được các khái niệm công cụ: tục ngữ, ca dao, tư tưởng triết học, làm điểm tựa cho quá trình nghiên cứu của mình
- Làm rõ cơ sở ra đời, môi trường phát triển và những nội dung chủ yếu của tục ngữ, ca dao
- Chỉ ra những giá trị tư tưởng triết học hàm chứa trong tục ngữ, ca dao
- Đưa ra một vài giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực của tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao đối với công cuộc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Với tổng số 112 trang, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Khái quát về tục ngữ, ca dao và những tư tưởng triết học
chủ yếu trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Chương 2: Khảo sát một số tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao
Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực của những tư
tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao đối với công cuộc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, CA DAO VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHỦ YẾU TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài
1.1.1 Tục ngữ
1.1.1.1 Một số khái niệm về tục ngữ
Theo GS Nguyễn Lân: “Tục là sự tiếp nối; ngữ là lời Tục ngữ là câu nói của dân gian từ xưa truyền lại, thường nêu lên những kinh nghiệm trong cuộc sống” [32, tr.T787]
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan lại cho rằng: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán” [43, tr.31]
Còn PGS.TS Phạm Thu Yến đã đưa ra định nghĩa về tục ngữ như sau:
“Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh dễ nhớ, dễ truyền, có chức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội” [62, tr.137]
PGS TS Nguyễn Bích Hà cũng đưa ra định nghĩa: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, có vần, có nhịp, có ý nghĩa khái quát lớn, thường tổng kết, khái quát kinh nghiệm trong đời sống phong phú của nhân dân” [26, tr.67]
Theo PGS.TS Trần Thị Trâm thì: “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian gồm những câu nói ngắn gọn, có vần điệu, có hình ảnh, dễ nhớ, dễ thuộc, có chức năng đúc kết kinh nghiệm và tri thức lâu đời của nhân dân về thiên nhiên, sản xuất, về con người và xã hội”[55, tr.67]
Trang 131.1.1.2 Quan niệm của đề tài
Từ những định nghĩa của các tác giả, ở góc độ triết học, chúng tôi xin được đưa ra cách hiểu về tục ngữ như sau:
Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản, mang nội dung súc tích, biểu hiện một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, tư tưởng đạo đức, trí tuệ của nhân dân lao động về mọi lĩnh vực của đời sống
Có thể nói, tục ngữ là tư liệu khoa học dân gian mang tính triết lý sâu sắc, là thể loại "diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm
xã hội lịch sử của nhân dân lao động" 39, tr.229
1.1.2 Ca dao
1.1.2.1 Một số khái niệm về ca dao
Theo GS Nguyễn Lân: “Ca dao là những câu hát truyền miệng của dân gian không theo một điệu nhất định”[32, tr.C75]
Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân”[43, tr.39]
PGS.TS Nguyễn Bích Hà cũng đưa ra định nghĩa: “Ca dao được hiểu như những câu thơ dân gian hoặc phần lời của những câu hát dân gian (không
có từ đệm)” [26, tr.227]
Còn tác giả Trần Thị Trâm lại viết: “Ca dao là những bài hát được lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu nhằm diễn tả tình cảm và miêu tả đời sống của nhân dân lao động” [55, tr.75]
1.1.2.2 Quan niệm của đề tài
Từ những ý kiến của các nhà nghiên cứu, để làm điểm tựa cho quá trình khảo sát, chúng tôi xin được đưa ra quan niệm của mình về ca dao như sau:
Trang 14Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
Nếu định nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có chương khúc hoặc
có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát ngắn không có chương khúc Như
vậy, nếu xét về bản chất thì ca dao và dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt, bởi dân ca chính là những bài hát dân gian Song, trên thực tế, thuật ngữ
ca dao hiện nay có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca: ca dao là thơ dân gian, còn dân ca là những bài hát dân gian có làn điệu bền vững ổn định và có giá trị âm nhạc cao Như vậy, khi nghiên cứu ca dao, các nhà nghiên cứu văn học dân gian chỉ quan tâm tới đối tượng như một nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) mà không quan tâm đến phần âm nhạc, tiếng đệm, tiếng luyến láy…của các bài dân ca
Trong luận văn của mình, chúng tôi cũng chỉ khảo sát những triết lí trong ca dao dưới góc độ những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
1.1.3 Tư tưởng triết học
1.1.3.1 Khái niệm tư tưởng
Theo GS Nguyễn Lân: “Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới xung quanh”[32, tr T796]
Như vậy, khái niệm “tư tưởng” ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng - mà với ý nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên nền tảng triết học (thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ
sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực
1.1.3.2 Khái niệm triết học
Triết học là một khái niệm khó và có nhiều định nghĩa khác nhau Theo người Trung Quốc: triết học không phải là sự mô tả mà là sự truy
Trang 15tìm bản chất của đối tượng Triết học chính là trí, là sự hiểu biết sâu sắc của con người
Theo tiếng Ấn Độ, triết học là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng mang hàm ý là trí thức dựa trên lí trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến lẽ phải
Theo tiếng Hilạp, triết học là philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái, thể hiện khát vọng tìm kiếm chân lí của con người
Theo GS Nguyễn Lân: “Triết: trí sáng suốt”, “Học: môn học” “Triết học là môn học nghiên cứu về những mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa con người và xã hội, giữa tồn tại và tư duy, và tuỳ theo lập trường duy tâm hay duy vật, phát biểu quan điểm của từng học phái đối với những mối quan hệ đó” [32, tr.T760]
GS.TS Nguyễn Hữu Vui và GS.TS Nguyễn Ngọc Long quan niệm:
“Triết học là hệ thống tri thức lí luận chung nhất của con người về thế giới; về vai trò, vị trí của con người trong thế giới ấy” [61, tr.8]
1.1.3.3 Quan niệm của đề tài
Từ những định nghĩa trên, trong đề tài này, chúng tôi xin được phép đưa ra quan niệm của mình về tư tưởng triết học như sau:
Tư tưởng triết học là hệ thống những tư tưởng, quan điểm của con
người đối với thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó
Nhưng nếu triết học là tri thức khoa học, là hệ thống các quan niệm, quan điểm về thế giới, là sự tổng hợp và khái quát ở mức độ chung nhất và cao nhất những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội, của con người và của
tư duy thì tục ngữ, ca dao chỉ là thứ trí khôn, trí tuệ của dân gian, là triết lý dân gian- “thứ lẽ phải thông thường”, thể hiện những tư duy triết học của nhân dân lao động, được tổng kết và thử thách trong thực tiễn Đó hoàn toàn
Trang 16không phải những triết thuyết kinh viện mà tất cả đều được tiềm ẩn, trong những câu hát dân dã, bằng cách nói mộc mạc, sinh động nhưng ý vị và sâu lắng
1.2 Khái quát về nội dung và nội dung triết học của tục ngữ, ca dao
1.2.1 Nội dung của tục ngữ, ca dao
Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của người Việt Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ Chính vì vậy, nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc
dù có thay đổi một vài từ khi đến "cư trú" ở các địa phương khác nhau
1.2.1.1 Nội dung tục ngữ
Tục ngữ là kho kinh nghiệm vô cùng quý giá, là “bộ bách khoa toàn thư”
mà nhân dân lao động đã sáng tạo, lưu truyền và gìn giữ trong suốt tiến trình lịch
sử mấy ngàn năm của dân tộc M.Gorki đã nhận xét và đánh giá rất cao giá trị của tục ngữ: “Mỗi câu tục ngữ có giá trị như một pho sách”39, tr170
Có thể nói rằng, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian có nội dung phản ánh rộng và có số lượng tác phẩm lớn nhất so với các thể loại văn học dân gian khác Nếu như thần thoại thiên về việc phản ánh những vấn đề nguồn gốc vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên; truyền thuyết phản ánh những sự kiện, biến cố, nhân vật lịch sử qua tư tưởng thẩm mĩ dân gian… thì tục ngữ bao quát một phạm vi phản ánh rộng lớn cả về tự nhiên, xã hội và con người Kho tàng tục ngữ rất đồ sộ Ngay từ năm 1928, Nguyễn Văn Ngọc trong cuốn
Tục ngữ phong giao đã sớm giới thiệu với công chúng 6500 câu tục ngữ Năm
1975, nhóm Chu Xuân Diên đã tập trung làm rõ hơn giá trị và trữ lượng to lớn
của tục ngữ Việt Nam: “chúng ta hôm nay có một kho tàng tục ngữ quý giá hàng chục ngàn câu” 18, tr.34
Trang 17Đến bộ sách Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập, hàng ngàn trang) [30]
do GS.TS Nguyễn Xuân Kính sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu thì hầu như toàn bộ giá trị, sự giàu có của kho tàng tục ngữ của dân tộc cơ bản đã được khẳng định
“Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện
cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan” 40, tr.41 Là một thể loại văn học ứng dụng, ra đời và phát triển trong lao động, với đặc điểm ngắn gọn, hàm súc, tục ngữ chủ yếu làm nhiệm vụ tổng kết toàn bộ kinh nghiệm của nhân dân trên tất thẩy mọi phương diện Những kinh nghiệm ấy lại được thử thách kỹ càng trong thực tiễn khách quan và chỉ những gì hợp lý mới tồn tại rồi thành quy luật, thành những chân lý sống động, thành những tư tưởng triết học sâu sắc mà giản dị, gần gụi của những người bình dân áo vải
Như vậy, trong lao động, trí óc con người ngày càng phát triển, cảm quan thẩm mỹ ngày càng được tôi luyện, trên cơ sở đó những sáng tác nghệ thuật dân gian đã được hình thành Đồng thời, để tồn tại và phát triển, con người luôn có ý thức chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho chính mình, muốn thế cần phải có những hiểu biết về quy luật vận động của thế giới tự nhiên Ban đầu, khoa học chưa phát triển, mà mới chỉ là những kinh nghiệm Những kinh nghiệm ấy thông qua tập thể, được đúc bằng những câu xuôi tai hoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian Đó
là những câu tục ngữ cổ xưa nói về thời tiết, về trồng cấy, chăn nuôi và lao động sản xuất nói chung
Nên sơ bộ, có thể nói, nội dung của tục ngữ trước hết là phản ánh kinh nghiệm, hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên và tổng kết những kinh nghiệm sản xuất của nhân dân lao động
Trang 18- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
- Cơn đằng Đông không mưa giông cũng bão giật
- Một lượt tát, một bát cơm
- Lúa dé là mẹ lúa chiêm
-Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa
Thứ hai, nội dung tục ngữ đặc biệt quan tâm phản ánh là kinh nghiệm ứng xử trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa con người với con người Và thật thú vị, nếu, tầng lớp trí thức đương thời thường viện những lời
lẽ thánh hiền để bênh vực ý kiến của mình, thì người nông dân chỉ cần khéo léo cắt dán một câu tục ngữ xen vào lời nói là đã có thể dễ dàng chinh phục người nghe, ngay cả những người khó tính nhất:
- Vỏ quýt dày, móng tay nhọn
- Cái xảy nảy cái ung
- Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng v.v…
Nếu ca dao thiên về thể hiện tình cảm thì tục ngữ ngược lại, nghiêng về lí trí Vì thế, trước những vấn đề bất công xã hội, tục ngữ bao giờ cũng biểu hiện tư tưởng, thái độ yêu ghét của con người một cách mạnh mẽ, tỉnh táo:
- Miệng quan trôn trẻ
- Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ
- Muốn ăn đầu gối phải bò
Ngay cả trong ứng xử thường ngày, tục ngữ bao giờ cũng thể hiện cách ứng nhân xử thế rõ ràng, sắc xảo, đúng đắn:
- Làm phúc phải tội
- Người dưng có ngãi thì đãi người dưng Chị em không ngãi thì đừng chị em
- Bút sa, gà chết
Trang 19Tóm lại, về mặt nội dung, tục ngữ là những tổng kết kinh nghiệm cuộc sống của nhân dân về thiên nhiên, về lao động sản xuất; là những kinh nghiệm ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội Nội dung ấy vừa phong phú, vừa sinh động Vì được đúc kết qua nhiều thế hệ, vượt qua kinh nghiệm thông thường, nhiều nội dung của tục ngữ đã đạt đến trình độ khoa học và hàm chứa được không ít tư tưởng triết học, thứ triết học bình dân mộc mạc mà sâu sắc
Như vậy, tục ngữ tuy không phải là triết học nhưng về phương diện nào
đó nó rất gần gũi với triết học Tục ngữ được ra đời với mục đích tổng kết kinh nghiệm, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các
sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Nên nhiều người gọi tục ngữ là "'triết lý dân gian", là "triết học của nhân dân lao động" 57 Điều đó được thể hiện ở chỗ, trong nội dung tục ngữ có chứa đựng những yếu
tố của tư tưởng triết học, nghĩa là, những tư tưởng triết học không được thể hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ như những quy luật, nguyên lý và mệnh đề triết học mà chúng chỉ được thể hiện một phần nào đó và bằng cách nào đó trong nội dung của tục ngữ
Đặt tục ngữ dưới góc độ nghiên cứu của triết học, chúng tôi mong muốn sẽ làm cho kết quả nghiên cứu về kho tàng tri thức dân gian mà cụ thể
là tục ngữ thêm phong phú và sâu sắc Từ đó có thể đưa ra những kết luận về lối nghĩ, nếp nghĩ trong truyền thống tư duy người Việt
1.2.1.2 Nội dung ca dao
Thơ ca trữ tình dân gian, mà tiêu biểu là ca dao, là nơi bộc lộ rõ nhất
sự tinh tế và sâu sắc của tâm hồn dân tộc Thể hiện những cảm xúc, tâm trạng của con người nên ca dao giống như một tấm gương phản chiếu mọi sắc thái tình cảm của con người: khi là niềm hạnh phúc sâu lắng, khi là niềm vui, khi
là nỗi buồn da diết… Mặc dù cảm xúc hết sức đa dạng nhưng về bản chất, ca dao là sản phẩm của những tâm hồn trong sáng, lành mạnh, giàu nghị lực, hết
Trang 20sức thực tiễn và cũng đầy lạc quan, lãng mạn
Đề tài của ca dao bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động Chính vì thế, những hình ảnh trong ca dao tuy mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình, những nỗi niềm thân phận Toát lên từ những lời ca là ý thức về phẩm giá, nhân cách, là những tình cảm thương nhớ đợi chờ, là khát vọng được sẻ chia, là ước ao về cuộc sống thủy chung mặn nồng Trong những lời ca dao còn chứa đựng cái nhìn dân gian xung quanh việc đánh giá mối quan hệ giữa hình thức với nội dung, giữa hiện tượng với bản chất qua những so sánh trực quan Ví dụ như bài ca dao sau:
Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biêt rằng em ngọt bùi
Nếu tục ngữ là trí tuệ của trí tuệ, rất gần với triết học, thì ngược lại mang đậm tính trữ tình, là tiếng hát trái tim, ca dao thường nghiêng về giá trị nghệ thuật Việc tổng kết kinh nghiệm không phải là mục đích chủ yếu của ca dao mà thể hiện đời sống tình cảm đối với quê hương đất nước, tình yêu con người, giá trị nhân văn mới là khát vọng cao nhất mà ca dao hướng tới:
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Em có chồng rồi trả yếm cho anh
- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh Yếm em em mặc, yếm gì anh anh đòi
- Anh đi làm thợ nơi nao
Để em gánh đục gánh bào đi đưa Trời nắng cho chí trời mưa
Để em cởi áo che cưa cho chàng
Trang 21Nhưng, một khi đã là sản phẩm của tư duy thì nó cũng đồng thời thể hiện lối nghĩ, cách nghĩ, những tư tưởng triết học của một dân tộc Bởi những nhà văn lớn bao giờ cũng đồng thời là những triết gia:
Hai tay em cầm bốn quả dưa Quả ăn quả để quả đưa mời chàng
Câu ca dao mộc mạc nhưng lại có sức khái quát lớn đã diễn tả hết sức khéo léo về một cách sống, lối ứng xử biết điều của người Việt, về vẻ đẹp của văn hóa Việt: biết ăn cho mình, biết để dành phòng khi gặp trở ngại, khó khăn
và phải biết dành cho người khác, không chấp nhận hành vi “uống nước cả cặn”, hay “ cạn tàu ráo máng”
Có thể nói, muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể không nghiên cứu ca dao Việt Nam Bởi hầu như ca dao đã diễn tả một cách thật sự tinh tế mọi khía cạnh, mọi cung bậc của tình cảm con người đất Việt
Nếu những bài ca nghi lễ gắn với sinh hoạt tín ngưỡng, làm chức năng khẩn nguyện, chúc tụng hoặc cầu khấn thần linh và các đấng thiêng liêng trong những dịp lễ trọng đại như: lễ cầu mưa, lễ cầu tạnh, lễ cầu mùa, lễ chúc mừng cô dâu chú rể….thì những bài ca lao động lại nói về những kinh nghiệm trong lao động sản xuất hay tâm tình của người lao động đối với công việc, tình cảm sâu nặng của họ đối với những người những xung quanh và đối với những đồ vật gần gũi, thân thiết:
- Giã ơn cái cối cái chầy Nửa đêm gà gáy có mày có tao Giã ơn cái cọc cầu ao, Nửa đêm gà gáy có tao, có mày
- Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta
Trang 22Bên cạnh đó, còn có nhóm bài ca dao nói về ý chí, nghị lực, lòng quyết tâm vượt qua mọi gian khó và thể hiện niềm tin, niềm lạc quan, hy vọng ở một tương lai tốt đẹp của nhân dân lao động:
- Sóng to thì mặc sóng to
Ta đẩy con đò quyết vượt sóng lên
- Rủ nhau đi cấy đi cày, Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Còn bài ca về sinh hoạt gia đình chính là tiếng ca đặc sắc nhất của người phụ nữ Các gia đình gia trưởng Việt Nam xưa cũng giống như một xã hội phong kiến thu nhỏ, trong đó người đàn ông được quyền ưu đãi, cha mẹ có quyền định đoạt số phận của con cái Những người phụ nữ trong gia đình như: người vợ, người con gái, con dâu… thường là những thân phận bé nhỏ, luôn bị phụ thuộc và bị áp bức Nên những bài ca dao này thường phần nhiều là những khúc hát than thân, bắt đầu bằng cụm từ ai oán “thân em” Đó là những bài ca
thấm đẫm nước mắt và chứa đựng tinh thần phản kháng:
- Thân em như thể con tằm
Xe tơ kéo kén quanh năm còn gì
- Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, kẻ phàm rửa chân
Nhóm bài ca về sinh hoạt xã hội, lịch sử là một mảng ca dao có chủ đề khá phong phú Đó là nhóm bài ca thể hiện tình yêu quê hương đất nước, là tiếng ca phản kháng áp bức bóc lột, là tiếng ca tình nghĩa, là những khúc hát thấm đẫm yêu thương:
-Làng ta phong cảnh hữu tình Dân cư giang khúc như hình con long
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Trang 23Ca dao cũng luôn bám sát những chặng đường của lịch sử dân tộc, đặc biệt những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm:
Ru con, con ngủ cho lành, Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Chứa chan tinh thần dân chủ, ca dao luôn quan tâm phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống lại chế độ bất công, tàn ác:
- Ếch kêu dưới vũng tre ngâm Ếch kêu mặc ếch, tre dầm mặc tre
- Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan
Nhưng giá trị đặc sắc nhất của ca dao chủ yếu nằm ở nội dung trữ tình,
là tiếng hát yêu thương con người mà tiêu biểu là những bài ca dao giao duyên Đó là mảng ca dao hay nhất, phong phú nhất và trữ tình nhất, bởi
không có gì bí ẩn, lãng mạn bằng tâm hồn những kẻ đang yêu:
- Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này
- Yêu anh cốt rũ xương mòn Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh
Nhìn chung, nội dung của tục ngữ, ca dao thật vô cùng phong phú và sâu sắc Chúng không chỉ là một bộ phận của văn học dân tộc, không chỉ đơn thuần là thơ ca mà còn là ngọn nguồn của khoa học, là lịch sử, là pháp quyền,
là sinh học, nông học, đạo đức, tôn giáo học… Và điều mà chúng tôi muốn khẳng định là: trong tục ngữ, ca dao còn chứa đựng những tư tưởng triết học của dân gian Hai thể loại này không chỉ phản ánh tâm hồn Việt mà còn là sự kết tinh trí tuệ Việt Nam, lối tư duy, cách suy nghĩ của người Việt qua nhiều
Trang 24thế hệ Đây là một nội dung hết sức quan trọng bởi trong đó kết tinh toàn bộ
sự thông tuệ và minh triết của dân gian
1.2.2.Tư tưởng triết học - nội dung đặc sắc của tục ngữ, ca dao Việt Nam
1.2.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao
Có thể nói rằng, hoàn cảnh địa lý và đặc điểm lịch sử của mỗi dân tộc
đã góp phần hết sức quan trọng vào quá trình kiến tạo diện mạo của nền văn hóa dân tộc đó
Còn theo cách nói của triết học Mác-Lênin thì tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội Tồn tại xã hội chính là khái niệm triết học để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Các yếu tố cấu thành tồn tại xã hội gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân cư Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất
là quan trọng nhất
Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các bộ phận khác nhau của lĩnh vực tinh thần xã hội như quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của cộng đồng xã hội; mà những bộ phận này nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định
Tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội; nội dung của ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng tồn tại xã hội thế nào thì ý thức xã hội thế ấy:“đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất” 61, tr.431, do đó không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó mà phải tìm trong hiện thực vật chất Ý thức xã hội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội
và phụ thuộc vào tồn tại xã hội Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện
Trang 25đời sống vật chất khác nhau thì ý thức xã hội cũng khác nhau Mỗi khi tồn tại
xã hội (nhất là phương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật tất yếu sẽ biến đổi theo
Dĩ nhiên, để tồn tại và phát triển, con người không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, mà còn sản xuất ra của cải tinh thần, ra bản thân con người và các quan hệ xã hội Các lĩnh vực sản xuất đó tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội Chính sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả tính phong phú, đa dạng của nó
Thuộc lĩnh vực tinh thần xã hội, những tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao Việt Nam ra đời rất sớm nhưng chủ yếu được hình thành trong xã hội phong kiến với những đặc điểm riêng của môi trường sinh thái: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đồng thời còn chịu ảnh hưởng tác động của các luồng văn hóa ngoại lai
Về điều kiện tự nhiên Việt Nam là một xứ sở nhiệt đới thuộc vành đai
Châu Á gió mùa, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, thực vật phát triển hơn động vật, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của con người Việt Nam trong trường kì lịch sử Nghề nông trồng lúa nước là cơ tầng của văn hoá, văn minh Việt Nam, sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng triết học của người Việt Nam Do
ở vào một địa bàn cư trú rất thấp so với mực nước biển, địa hình hẹp, diện tích tiếp giáp với biển lớn, hàng năm, người Việt luôn phải đối đầu với những hiểm họa như : thủy, hỏa, đạo tặc mà kinh sợ nhất đó là thủy nạn Hoàn cảnh
tự nhiên khắc nghiệt đã nhào nặn và hình thành ở những cư dân nơi đây một nếp sống, nếp nghĩ, một cách thức hành động, một lối ứng xử hài hoà, hiếu
Trang 26sinh, một tư duy tổng hợp, biện chứng, một khát vọng phồn thực và luôn thường trực ở họ một ước mơ trị thuỷ:
- Người ta đi cấy lấy công Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng
- Nhờ trời mưa thuận gió hoà, Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau
Chim, gà, cá, lợn, cành cau, Mùa nào thức ấy giữ màu nhà quê
- Thâm đông, hồng tây, dựng mây;
Ai ơi! Ở lại ba ngày hãy đi
Mặt khác, nước ta ở vùng Đông Nam Á, gần xích đạo, với đặc trưng văn minh hái lượm, văn minh thực vật, công cụ tổng hợp (có nhiều chức năng), từ đó quy định đặc tính của con người là nhu mềm, còn tư duy có phần manh mún
Thông qua tục ngữ, ca dao, ta có thể thấy trong đời sống cũng như trong lao động sản xuất, người nông dân phải phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thậm chí phải dựa vào tự nhiên để ứng xử, điều hoà mọi công việc trong đời sống sinh hoạt và sản xuất
Về điều kiện kinh tế Nhìn đại thể, xã hội Việt Nam là một xã hội nông
nghiệp với chế độ làng xã, chế độ mà theo C.Mác gọi là “đem lại cho mỗi đơn
vị nhỏ bé một cuộc sống cô lập, biệt lập” 27, tr.22 Nói cách khác, xã hội Việt Nam trước kia được phân thành các làng xã đồng nhất và hầu như không gắn kết với nhau về kinh tế Vì thế, giữa các làng xã ít có mối quan hệ ràng
Trang 27buộc nhau Kinh tế làng xã được tổ chức theo phương thức sản xuất châu Á, tức là lối sản xuất gia đình tự cấp, tự túc, bị trói buộc bởi các xiềng xích nô lệ của các quy tắc cổ truyền C.Mác đã dùng khái niệm “Bất động”, “Tĩnh” để chỉ xã hội phương Đông, trong đó có Việt Nam Chính vì vậy, nền kinh tế của Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp trì trệ, kém phát triển Điều này cũng xuất phát từ nguyên nhân nữa, đó là trình độ khoa học kĩ thuật, trình độ công nghệ lạc hậu Do đó nền kinh tế của người Việt Nam ta chỉ dựa vào kinh nghiệm của thế hệ trước, được truyền từ đời này sang đời khác bằng hình thức dân gian, như tục ngữ, ca dao Với người nông dân trồng lúa nước, khi cày, bừa, cấy, hái, họ phải trông trời, trông đất, quan sát thiên nhiên, vì vậy cha ông chúng ta cũng nắm được trong một chừng mực nhất định quy luật của thiên nhiên Những kinh nghiệm ấy thông qua tập thể, được đúc kết lại bằng những câu xuôi tai hoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian Đó là những câu tục ngữ về thời tiết, về cày cấy, về trồng trọt, về chăn nuôi Như:
- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa -Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa
- Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua
Gà trắng chân chì mua chi giống ấy
- Đốm lưỡi thì nuôi, đốm đuôi thì thịt,v,v…
Tư duy manh mún, tản mạn là một đặc điểm nổi bật của nông dân trong lao động sản xuất thời phong kiến, thuộc địa nửa phong kiến và trước những năm đổi mới Họ sống khép kín sau lũy tre làng; canh tác trên mảnh đất bạc màu, những thửa ruộng nhỏ, lẻ với công cụ thô sơ: “Con trâu đi trước cái cày theo sau”, dựa trên những thói quen, tập quán nhiều đời… Hoàn cảnh
đó đã làm nảy sinh và nuôi dưỡng tư duy manh mún, tản mạn (ít khả năng khái quát, tổng hợp) của người nông dân Chính vì vậy không ít người chỉ
Trang 28thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, chỉ thấy lợi ích cá nhân, không thấy lợi ích tập thể
Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp, dưới tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội cũng dễ tạo ra ở con người thói lười biếng trong suy nghĩ, tính ỷ lại, an phận và bảo thủ; sự sùng bái kinh nghiệm và coi thường lớp trẻ Đó cũng là hệ quả lâu dài của nền kinh tế tiểu nông mà dù muốn hay không người nông dân vẫn bị ảnh hưởng Trong nền kinh tế tiểu nông, kiểu
“Lão nông tri điền”, “Sống lâu nên lão làng”, “Đất lề quê thói”, “Phép vua thua lệ làng” đã trở thành thói quen làng xã phổ biến ở người nông dân Hơn nữa, sống trong chế độ phong kiến dưới sự thống trị của chế độ đẳng cấp, tôn
ti, trật tự Nho giáo, người nông dân thường có cái nhìn ít tôn trọng đối với lớp trẻ và coi cố gắng đổi mới của họ như là ý đồ muốn “Trứng khôn hơn vịt”…
Người nông dân (tư hữu nhỏ) sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên
“nắng mưa bất thường” và “tùy tiện cá nhân” đã trở thành thói quen phổ biến
ở làng xã Việt Nam Do bị quy định bởi tính chất tư hữu nhỏ, bởi trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế - xã hội, người nông dân tuy cần cù, thông minh nhưng thiếu tính tổ chức, thiếu tính kỷ luật, bộc lộ tính đố kỵ, ganh ghét, cục bộ Trong điều kiện kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậu này đã hình thành nên tâm lí “Đèn nhà ai rạng nhà ấy”, “Ta về ta tắm ao ta”, “Trâu buộc ghét trâu ăn”… ở người nông dân Việt Nam
Về hoàn cảnh lịch sử Hiển nhiên, đặc điểm lịch sử dân tộc làm nên
diện mạo nền văn hóa dân tộc Việt Nam là một trong không nhiều quốc gia trên thế giới mà nét nổi bật của lịch sử là sự nối tiếp nhau của những cuộc chiến tranh vệ quốc Nhà nước Việt Nam được hình thành chủ yếu không phải
do sự biến đổi của lực lượng sản xuất, hạ tầng cơ sở, mà phần lớn là do chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước Điều này hoàn toàn không giống và hoàn toàn khác với sự hình thành nhà nước ở phương Tây Sự hình thành nhà
Trang 29nước Vạn Xuân của Lý Bí, của Ngô Quyền, của triều Hậu Lê đã chứng minh cho đặc điểm này của nhà nước Việt Nam
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người nông dân vừa phải chống chọi với thiên nhiên vừa phải chống giặc ngoại xâm, nhưng dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bám trụ quê cha đất tổ với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời”, bởi đối với họ, quê cha đất tổ là “thánh địa linh thiêng”.Vì vậy, tình yêu quê hương đất nước, sự gắn bó với quê cha đất tổ là một trong những truyền thống nổi bật của người nông dân Việt Nam
- Dù ai ăn đâu làm đâu Nhớ ngày giỗ Tổ rủ nhau cùng về
- Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Do đặc thù của nền nông nghiệp trồng lúa nước phức tạp, phải trải qua nhiều công đoạn và phải thường xuyên chống chọi với tự nhiên đã làm cho người dân Việt Nam quy tụ, quần họp nhau lại giúp đỡ nhau cùng sản xuất Chính vì vậy, tính cộng đồng, cố kết của người Việt rất sâu sắc Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, người Việt hiểu rất rõ sức mạnh đoàn kết giữa con người với con người trong một cộng đồng dân tộc
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Cuộc sống sinh hoạt, lao động kiểu làng xã dưới thời phong kiến đã tạo ra sự đoàn kết gắn bó cộng đồng, yêu thương đùm bọc lẫn nhau Tình nghĩa thuỷ chung đã trở thành lẽ sống của người nông dân Chính công việc cày cấy hàng ngày và sinh hoạt trong họ hàng, làng xã đã làm cho cuộc sống của người nông dân “tối lửa tắt đèn có nhau”, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi đắng cay…Đây cũng là những biểu hiện của tinh thần đoàn kết, hợp tác thân thiện giữa những người nông dân trong làng xã
Trang 30Việt Nam Điều này được thể hiện không chỉ trong hoạt động hàng ngày mà còn được khái quát trong ca dao, tục ngữ:
- Nhà có láng giềng nhà, đồng có láng giềng đồng
- Bán anh em xa mua láng giềng gần
Câu tục ngữ cho thấy, trong cuộc sống người ta phải ứng xử làm sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, chứ ở đây tuyệt nhiên không có sự mua đi bán lại Sự hợp tác láng giềng thân thiện của người Việt xưa là được xây dựng trên cơ sở tình nghĩa “Người dưng có ngãi thì đãi người dưng”
Có thể thấy làng có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của mỗi người dân Người ta quan niệm: “Sống ở làng, sang ở nước” và thiết tha gắn bó với làng
Kẻ bỏ làng bị chê bai và cũng tự cảm thấy khổ tâm Làng rất bình dị, mộc mạc, thậm chí heo hút, nhưng lại có một sức mạnh to lớn Tính biểu tượng của mỗi làng cũng khác nhau, nói về tính cách, người ta ví von “Trai làng này, gái làng nọ”; nói về sinh kế, người ta gắn đặc sản với tên làng… Văn hóa làng được trân trọng đến độ, nhiều làng được vua chúa đặt tên như làng Kiên Nghĩa, Bái Ân, Mỹ Nhân Trong làng có gia đình được ban tấm biển “Khả phong” hay “Ân tứ”, cũng thành một làng văn hóa truyền thống vì có những gia đình nền nếp, gia phong, có những con người có phẩm hạnh
Văn hóa làng được tiếp nối từ quá khứ tới tương lai Cho đến hiện nay, văn hóa làng vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng
Như vậy, chính đời sống văn hoá làng đã góp phần không nhỏ trong quá trình hình thành nên những tư tưởng triết lí sâu sắc trong tư duy của người Việt
Ở nước ta, thời phong kiến, trong xã hội luôn diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, quyết liệt giữa người nông dân và địa chủ, giữa người nông dân và giai cấp phong kiến, bóc lột Thậm chí có cả một thế kỷ được lịch sử mệnh danh là thế kỷ nông dân khởi nghĩa, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa có
Trang 31quy mô toàn quốc của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ Đây cũng là một trong những điều kiện để hình thành những triết lí trong tục ngữ, ca dao
Sự tác động và ảnh hưởng của nền văn hoá các nước trên thế giới và trong khu vực tới những triết lí trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nằm ở ngã tư
đường của các nền văn minh, nơi gặp gỡ tiếp xúc giữa các nền văn hoá Bắc - Nam, Đông - Tây Ngay từ đầu, Việt Nam đã quan hệ với thế giới Đông Nam
Á, sau đó là thế giới Tây Nam Á, Đông Bắc Á và thế giới phương Tây, nên bên cạnh các điều kiện bên trong, tư tưởng triết học Việt Nam còn được hình thành trên cơ sở điều kiện giao lưu, tiếp xúc văn hoá với thế giới bên ngoài Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh cam go
để bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá tư tưởng của dân tộc Việt Nam, đồng thời còn phải tiếp thu các học thuyết tư tưởng triết học của nước ngoài để làm phong phú thêm cho nền văn hoá vốn có của dân tộc; là quá trình đấu tranh để thoát ly sự đồng hoá của các thế lực ngoại bang xâm lược, đô hộ, đồng thời
“đồng hoá theo chiều ngược lại” những nhân tố tư tưởng đã đáp ứng được các nhu cầu, nhiệm vụ của lịch sử dân tộc; là quá trình nhào nặn, dung hoà những yếu tố tư tưởng triết học vốn xa lạ với nhau trên những hoàn cảnh thực tế của đất nước; là quá trình chọn lọc, sắp xếp, cấu trúc lại những yếu tố đã tiếp thu được từ bên ngoài Tất cả những nội dung này được thể hiện rất rõ trong đời sống tinh thần, trong những suy nghĩ, quan niệm về tự nhiên, xã hội, con người… của người dân Việt Nam
Ngoài ra, trong hành trình tư tưởng triết học ở Việt Nam còn có những nội dung phổ quát của nhân loại được người Việt tiếp thu và sử dụng, tuy không có sự thay đổi hoặc cấu trúc lại nhưng nó vốn đã và đang chi phối đời sống tinh thần của con người Việt Nam, chỉ đạo hành động của một bộ phận người Việt Nam
Về đại thể, hệ tư tương triết học Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, không thể lẫn với bất cứ hệ tư tưởng triết học của dân tộc nào
Trang 32khác Nó thấm nhuần những giá trị nhân bản cao cả, thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước chân chính của con người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng có những nhân tố tư tưởng (triết học) mang ý nghĩa giá trị phổ biến của nhân loại, vì đã biết chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại, cả các triết thuyết phương Đông và phương Tây, những hệ tư tưởng triết học hoàn chỉnh và tiên tiến của mọi thời đại Ví dụ, Đạo Phật là trường phái tư tưởng đã du nhập vào Việt Nam từ những kỷ nguyên Tây lịch, rồi tồn tại, phát triển và chan hòa với dân tộc ta cho đến tận hôm nay Nếu thời gian là thước đo của chân lý thì với
bề dày lịch sử đó, Đạo Phật đã khẳng định chân giá trị của nó trên mảnh đất này Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chính trị, đặc biệt là xét trên khía cạnh hệ thống tư tưởng, thì Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành mọi quan niệm sống và sinh hoạt cho con người Việt Nam Điều này thể hiện rất rõ trong tục ngữ, ca dao Bên cạnh đó, hệ thống tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc cũng có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống tư tưởng của người Việt Nam Hơn mười thế kỷ chịu ảnh hưởng trực tiếp của Hán học, lại hơn mười thế kỷ sùng bái Thánh Khổng như một bậc vạn thế sư biểu, cùng với các nhà tư tưởng tiêu biểu của hệ thống lý học hay tâm học như Chu, Trình, Lục, Vương, những tư tưởng vĩ đại của văn hóa Trung Hoa
đã ăn sâu vào nền văn hoá Việt Tuy nhiên cũng như Đạo Phật, trong quá trình tiếp thu, người dân Việt cũng đã biết sàng lọc, thu hóa các tư tưởng ngoại lai ấy khiến cho nền văn hoá Việt Nam vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Chính sự tiếp thu này mà triết học Việt Nam có một nội dung tương đối phong phú, trong đó có những tư tưởng triết học đã mất đi trong các thời kì lịch sử, nhưng cũng có nhiều tư tưởng triết học lớn được truyền thừa, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, tạo nên những truyền thống văn hoá tư tưởng ổn định của người Việt Nam Chẳng hạn như: tư tưởng nhân ái, đoàn kết, tư tưởng yêu nước, ý thức cộng đồng, ý thức về bổn phận, nghĩa vụ, tinh thần trọng đạo lí, đạo
Trang 33đức, trọng nghĩa khinh tài, trọng truyền thống, lòng biết ơn đối với những người
đã có công, thích sống cuộc sống quân bình, hài hoà, yêu thiên nhiên
Ta có thể kể đến một trong những phạm trù trung tâm của Phật giáo là phạm trù “Từ bi” Phạm trù này đã trở thành một đạo lí cao đẹp trong triết học nhân sinh Phật giáo Việt Nam Phạm trù này đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt Tinh thần bao dung, độ lượng, nhân ái, vị tha là những nội dung lớn trong tục ngữ, ca dao và được phổ biến rộng rãi
trong quần chúng nhân dân lao động Việt Nam như:
- Lá lành đùm lá rách
- Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ
- Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng
- Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng đều thấm nhuần và thuộc nằm lòng Nó nói lên lòng nhân ái, vị tha của dân tộc Việt Nam Như vậy, với đạo lí “Từ bi”, triết học Phật giáo Việt Nam đã góp phần tạo dựng một cơ sở lí luận cho tư tưởng nhân ái Việt Nam, tư tưởng này vốn đã có cơ sở hiện thực từ lịch sử cố kết cộng đồng dân tộc Có thể nói tinh thần Phật giáo trong tục ngữ, ca dao đã hòa quyện với văn hóa dân tộc, góp phần nâng cao những giá trị tư tưởng trong đời sống, bồi đắp cho nền văn hóa dân tộc được trường tồn Sự ảnh hưởng sâu sắc trên đây không chỉ thể hiện qua tục ngữ, ca dao bình dân mà còn thể hiện rất sâu sắc trong nhiều loại hình thơ ca, văn vần, văn xuôi, nói chung là văn chương bác học trong nền văn học Việt Nam Vấn đề này xin để dành dịp khác chúng ta sẽ bàn tới
Trang 341.2.2.2 Khái quát một số tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao
Nhìn lại toàn bộ hệ thống tục ngữ, ca dao của dân tộc, ta thấy trong đó hiện lên những suy tư, trăn trở của cha ông về các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống như: thế giới tự nhiên, thế giới con người, mối quan hệ giữa hai thế giới này như thế nào? Ta là ai ? Con người làm gì để tồn tại được trong xã hội đầy phức tạp ấy?
Tục ngữ, ca dao tuy không phải là triết học nhưng nghiên cứu, tìm hiểu,
ta sẽ thấy một mảng nội dung của tục ngữ, ca dao rất gần gũi với một số tư tưởng triết học Như ta đã biết, tục ngữ, ca dao được làm ra với mục đích triết
lý, luôn luôn cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Do đó nhiều người gọi tục ngữ, ca dao là "'triết lý dân gian", "triết học của nhân dân lao động"
Bước đầu, chúng tôi thấy tuy không trình bầy những nội dung triết học theo kiểu triết học, trong một hệ thống lý luận có tính chất kinh viện nhưng nội dung triết học trong tục ngữ, ca dao ít nhiều cũng đã cho thấy thế giới quan và nhân sinh quan của nhân dân lao động Việt Nam Về mặt thế giới quan, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh những nhận thức có tính duy vật tự phát, thừa nhận sự tồn tại và vận động khách quan của thế giới không phụ thuộc vào con người Sự vật và hiện tượng khách quan tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật vốn có của nó Đồng thời nhân dân lao động còn thể hiện
tư tưởng duy vật của mình trong việc nhìn nhận và giải quyết các vấn đề về đời sống xã hội Đó là một thứ chủ nghĩa duy vật trực quan, chất phác, ngây thơ, xuất phát từ kinh nghiệm Chẳng hạn:
- Nước chảy đã mòn
- Tre già măng mọc
- Được mùa cau, đau mùa lúa
Trang 35Nói đến xã hội, thì phải nói đến chính bản thân con người, vì không có con người thì không có xã hội Bởi vậy khi nghiên cứu tục ngữ, ca dao, ta thấy phần lớn dân gian bàn về con người Tục ngữ ta có câu; " Người ta là hoa đất”, một câu nói chỉ có năm từ thuần Việt mà thể hiện sâu sắc quan niệm cả
về vũ trụ và nhân sinh, với một tư tưởng nhân văn cao đẹp
Đi đôi với tư tưởng duy vật tự phát, trong tục ngữ, ca dao Việt Nam cũng chứa đựng rất nhiều những yếu tố của tư tưởng biện chứng Đó là cách dân gian nhìn nhận các sự vật và hiện tượng không phải ở trạng thái đứng im, bất biến mà ở trong sự vận động, biến đổi và phát triển Các sự vật và hiện tượng không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà giữa chúng có những mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau với mức độ và phạm vi khác nhau tùy theo từng đối tượng cụ thể Các phạm trù triết học như: lượng, chất, độ, thuộc tính, nguyên nhân, kết quả, cái chung, cái riêng, nội dung, hình thức, cái tất nhiên
và cái ngẫu nhiên… và mối quan hệ giữa chúng được đề cập tới một cách giản dị qua cách nói mộc mạc của dân gian như:
- Trông mặt mà bắt hình dong Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon
- Người khôn con mắt đen sì Người dại con mắt nửa chì nửa thau
Bên cạnh những tư tưởng duy vật và tư tưởng biện chứng có tính chất trực quan đó, do thế giới quan không thuần nhất, do trình độ nhận thức của nhân dân lao động xưa kia còn thấp kém và do bị áp bức nặng nề trong xã hội
có giai cấp đối kháng nên không tránh khỏi những tư tưởng duy tâm, mê tín dị đoan Những tư tưởng duy tâm này không những chi phối nặng nề đời sống của nhân dân lao động nước ta trong các xã hội trước đây, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận nhân dân trong xã hội ta ngày nay, đặc biệt khi
Trang 36con người gặp khó khăn, trắc trở trong cuộc sống Đó cũng là điều khó tránh khỏi Chỉ có sự phát triển của đời sống xã hội và kinh nghiệm thực tế của mỗi người mới có thể dần dần khắc phục và loại trừ những quan niệm sai lầm trong thế giới quan và nhân sinh quan nói trên
Tiểu kết chương 1
Trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc, tục ngữ, ca dao là hai thể loại văn vần hết sức quan trọng, là sự kết tinh thành tựu của trí tuệ dân gian Nếu tục ngữ có số lượng hàng nghìn câu thì ca dao cũng có trữ lượng tới hàng vạn bài Nội dung của tục ngữ, ca dao hết sức phong phú và sâu sắc Mang đặc điểm của một “nghệ thuật nguyên hợp”, tục ngữ, ca dao không chỉ là thơ
ca mà còn là lịch sử, là địa lý, là tôn giáo, là đạo đức, là pháp quyền, đặc biệt còn là triết học của mỗi dân tộc Những tư tưởng triết học sơ khai ấy chỉ có thể được hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh địa lý - lịch sử - văn hóa nhất định, trong môi trường sinh thái nhất định
Ý nghĩa triết học của kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam rất to lớn, hình thức biểu hiện lại phong phú và muôn hình, muôn vẻ Đó là “những viên ngọc quý” của đời sống tinh thần dân tộc, chúng được coi như một trong những điểm tựa về tư tưởng truyền thống của dân tộc mà chúng ta cần chọn lọc, kế thừa và vận dung một cách linh hoạt trong cuộc sống mới hiện nay
Trang 37Chương 2
KHẢO SÁT MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
2.1 Quan niệm về tự nhiên và xã hội trong tục ngữ, cao dao Việt Nam
2.1.1 Một số tư tưởng duy vật và duy tâm
Tục ngữ và triết học là hai lĩnh vực, hai hiện tượng ý thức xã hội khác nhau Tục ngữ thuộc lĩnh vực nghệ thuật, là một thể loại văn học dân gian (folklore), còn triết học thuộc lĩnh vực khoa học - khoa học về thế giới quan
và phương pháp luận Tri thức của tục ngữ là tri thức dân gian, được rút ra trong quá trình quan sát và miêu tả cái cụ thể dựa trên cơ sở hiện thực về tự nhiên, xã hội và tư duy, đó là những tri thức kinh nghiệm, những "lẽ phải thông thường" Còn triết học là hệ thống những quan niệm, quan điểm về thế giới, là sự tổng hợp và khái quát ở mức độ chung nhất và cao nhất những quy luật vận động của tự nhiên, của xã hội, của con người, của tư duy Tục ngữ là văn học dân gian nên tác giả của nó là tập thể, là quần chúng nhân dân, còn triết học là một môn khoa học nên tác giả của một hệ thống hoặc một tác phẩm triết học bao giờ cũng là cá nhân – một triết gia, người hoạt động trí óc chuyên nghiệp, có khả năng tư duy lý luận và có năng lực khái quát cao Xét
về cội nguồn, về thời điểm ra đời tục ngữ cũng có trước triết học Tục ngữ đã
có từ trong xã hội nguyên thuỷ, nhưng trong xã hội nguyên thủy thì chưa thể
có triết học, nhiều lắm là chỉ có những mầm mống của tư tưởng triết học, hay
là tư duy tiền triết học Phải đến thời đại văn minh, tức là khi xã hội đã phân chia giai cấp thì triết học thực sự mới có điều kiện ra đời, nghĩa là trình độ tư duy trừu tượng và các tri thức khoa học của con người đã phát triển đến mức đòi hỏi và có khả năng khái quát các tư tưởng triết học Nói như thế có nghĩa là: tục ngữ ra đời sớm hơn triết học và tất yếu là những tri thức, quan điểm tư
Trang 38tưởng về thế giới “ngoài ta và trong ta” của tục ngữ chưa thể trở thành hệ thống như triết học theo đúng khái niệm khoa học của từ này
Tục ngữ tuy không phải là triết học nhưng về phương diện nào đó nó rất gần gũi với triết học Tục ngữ được làm ra với mục đích tổng kết kinh nghiệm, bước đầu nhằm phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật
và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người Do đó nhiều người gọi tục ngữ là “triết lý dân gian”, triết học của nhân dân lao động Điều đó được thể hiện ở chỗ trong nội dung tục ngữ có chứa đựng những yếu tố của tư tưởng triết học, nghĩa là những tư tưởng triết học không được thể hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ như những quy luật, nguyên lý và mệnh đề triết học
mà những nội dung triết học có phần nguyên sơ ấy chỉ được thể hiện một cách không hệ thống dưới một hình thức rất bình dị
Nhìn chung, cũng giống như nhiều nước phương Đông, do tư duy duy cảm mà tư tưởng triết học Việt Nam có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan, vì thế, vấn đề cơ bản của triết học còn có phần mờ nhạt: quan hệ giữa vật chất và ý thức, tư duy và tồn tại, tinh thần và giới tự nhiên không tồn tại một cách lộ thiên dưới dạng kinh viện mà thường ẩn sâu trong những câu ca dao, tục ngữ mộc mạc Song có lẽ: đi dến tận cùng của cái đẹp đó là sự giản dị của triết lý dân gian Việt Nam
Tư tưởng triết học Việt Nam nhìn chung không phân chia thành trường phái và rất khó phân chia theo các vấn đề: bản thể luận, nhận thức luận, nhân loại luận Hình thái đấu tranh giữa duy vật và duy tâm không phân tuyến, không trực diện, không rõ ràng mà thường thể hiện qua hình thái đấu tranh giữa khách quan và chủ quan, giữa vô thần và hữu thần Hơn thế nữa, suy nghĩ của người Việt thường gắn liền với một tín ngưỡng, một tôn giáo đa thần với các thần sông, thần núi v.v từ đó đi tới thần thành hoá các nhân vật lịch sử, những người có công với làng, với nước Chính vì đặc điểm này, cho nên bên cạnh
Trang 39những câu tục ngữ, ca dao hoàn toàn duy vật hoặc hoàn toàn duy tâm thì vẫn có những câu chứa đựng những triết lí nhân sinh có sự hoà trộn giữa tư tưởng duy tâm với tư tưởng duy vật
Trong điều kiện một luận văn thạc sĩ ngành Triết học, chúng tôi chỉ có thể bước đầu khảo sát một số tư tưởng triết học trong tục ngữ, ca dao
2.1.1.1 Tư tưởng duy vật
Về mặt thế giới quan, tục ngữ Việt Nam đã phản ánh những nhận thức
có tính duy vật tự phát, thừa nhận sự tồn tại và sự vận động khách quan của thế giới không phụ thuộc vào con người Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vận động theo quy luật riêng vốn có của nó Tuy nhiên sự nhận thức này của nhân dân lao động mới chỉ mang tính duy vật trực quan ngây thơ, chất phác, chỉ dừng lại ở việc giải thích thế giới tự nhiên chứ chưa đóng vai trò cải tạo thế giới để phục vụ cho con người
- Trăng đến rằm thì trăng tròn, Sao đến tối thì sao mọc
- Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn
- Tháng tám mưa trai, tháng hai mưa thóc
- Mùa nực gió đông thì đồng đầy nước
- Còn da lông mọc, Còn chồi nẩy cây
- Rắn già rắn lột, người già người tụt vào săng
- Tháng bảy ngâu ra, mồng ba ngâu vào
Nội dung thứ hai của chủ nghĩa duy vật là: vật chất quyết định ý thức Nội dung này cũng được nhân dân lao động đề cập tới khi đưa ra quan điểm về
sự tồn tại Quan điểm duy vật đó được thể hiện một cách đơn giản:
Có thực mới vực được đạo
Trang 40"Thực" là ăn, là thứ vật chất cụ thể như gạo cơm, lương thực, cái ăn hàng ngày nhưng chủ yếu là được hiểu theo nghĩa khái quát như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vận dụng trong những trường hợp cụ thể khác nhau Nhưng
dù sao, "thực" cũng là một cơ sở kinh tế, là đời sống vật chất, là tồn tại xã hội, còn "đạo" nghĩa là đạo đức lễ nghĩa, là sự nghiệp, là lý tưởng hoạt động thuộc lĩnh vực kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần, là ý thức xã hội "Thực" vực "đạo", nghĩa là vật chất quyết định ý thức, tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội Hay:
- Mạnh vì gạo, bạo vì tiền
- Tốt lễ dễ kêu
- Tiền không chân xa gần đi khắp
- Có tiền mua tiên cũng được
- Không ăn thì mẻ cũng chết
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy
- Có tiếng không bằng có miếng
- Tề Thiên Đại Thánh không mạnh bằng cơm
Như vậy, từ thực tiễn, ông cha ta đã sớm có những tổng kết quan trọng Tuy chưa đạt đến một hệ thống lí luận như C.Mác: “Con người trước hết cần phải ăn uống, ở và mặc đã rồi mới có thể làm thơ, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”4, tr.662, nhưng trên thực tế, tầng lớp bình dân Việt Nam đã tự phát tiếp nhận và đã tập trung giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Dĩ nhiên nói theo các triết gia thì vấn đề cơ bản của toàn bộ triết học, nhất
là triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức Vấn đề cao siêu ấy lại được dân gian thể hiện một cách hết sức nhẹ nhàng, giản dị bằng lời ăn tiếng nói thông tục hàng ngày Đây có thể gọi là thứ triết học nghiệm sinh: