ở Trung Hoa có các nhà nghiên cứu đáng chú ý nh- Tào Thăng, Hứa Hanh, Phùng Hữu Lan, V-u Sùng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt đ-ợc rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũ
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
Nguyễn anh nguyên
Tìm hiểu một số t- t-ởng triết học
trong kinh dịch
Luận văn thạc sỹ triết học
Hà nội - 2009
Trang 2đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
Nguyễn anh nguyên
Tìm hiểu một số t- t-ởng triết học
Trang 3Hµ néi - 2009
Trang 4MụC LụC
Mở ĐầU Trang 1
1 Tính cấp thiết của đề tài Trang 1
2 Tình hình nghiên cứu…… Trang 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……… Trang 10
4 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
của luận văn… Trang 10
5 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
của luận văn Trang 11
6 Đóng góp của luận văn Trang 11
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Trang 11
8 Kết cấu của luận văn Trang 11 CHƯƠNG 1 BốI CảNH LịCH Sử
HìNH THàNH KINH DịCH Trang 12 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Quốc Trang 12 1.2 Tiền đề t- t-ởng Trang 23
TRONG KINH DịCH.……… Trang 38 2.1 T- t-ởng về con ng-ời……… Trang 38
2.2 T- t-ởng về đạo đức……… Trang 45 2.3 Quan niệm của Kinh Dịch
về sự tiến hóa xã hội con ng-ời…… Trang 60 2.4 Một số biểu hiện ảnh h-ởng của Kinh Dịch
đối với các nhà t- t-ởng Việt Nam Trang 68 KếT LUậN.……… Trang 83
DANH MụC TàI LIệU THAM KHảO……… Trang 86
Trang 5Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
T- t-ởng triết học Trung Quốc cổ đại có một giá trị rất lớn trong nền văn minh nhân loại Trong hệ thống t- t-ởng triết học nổi tiếng đó có những
đóng góp rất lớn về mặt định h-ớng hoạt động thực tiễn nhằm thích ứng, cải biến thực trạng xã hội đ-ơng thời; thúc đẩy sự phát triển xã hội tiến lên một tầm cao mới Những giá trị đó đã có tầm ảnh h-ởng sâu rộng tới tất cả các cá nhân và xã hội
Trên con đ-ờng đi tìm sự thích ứng của mỗi cá nhân trong việc khẳng
định cái tôi trong một cộng đồng, tập thể, xã hội; trong việc tu d-ỡng đạo đức,
đối nhân xử thế, trong việc dụng binh, nhận xét về thời thế cũng nh- việc chờ
đợi thời cơ… Những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra trong bất cứ thời đại nào cũng có thể tìm hiểu đ-ợc ít nhiều ở trong t- t-ởng của cổ nhân Ng-ời x-a đã
để lại cho chúng ta một nền tảng tri thức vô cùng phong phú trong đó những tri thức về con ng-ời, xã hội là một phần vô cùng quan trọng và thực sự qúy giá, thiết thực trong cuộc sống hôm nay Việc nghiên cứu một số t- t-ởng triết học trong Kinh Dịch của luận văn cũng nhằm cố gắng làm rõ điều đó
Nghiên cứu Kinh Dịch thực chất là nghiên cứu những t- t-ởng thể hiện trong đó, nơi đây chứa đựng những t- t-ởng về xã hội và con ng-ời nói chung
ở Trung Hoa có các nhà nghiên cứu đáng chú ý nh- Tào Thăng, Hứa Hanh, Phùng Hữu Lan, V-u Sùng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt đ-ợc rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũng nh- về chiêm bốc, độn giáp…
ở Việt Nam, tình hình lịch sử - xã hội có những đặc điểm đặc thù so với các n-ớc nên tình hình nghiên cứu Kinh Dịch cũng có những điểm khác biệt Với n-ớc ta, nhu cầu về xử lý những vấn đề thiết thực của cuộc sống trong những thời điểm lịch sử nhất định đ-ợc đề cao hơn so với việc nghiên cứu học thuật một cách thuần túy Do vậy, nh- học giả Nguyễn Hiến Lê nói trong
Trang 6nhà Dịch học đ-ợc”[46, 70] Tuy vậy, theo ý kiến của ng-ời thực hiện luận
văn thì các học giả chuyên về Dịch học ở Việt Nam ch-a nhiều nh-ng họ cũng
đã ít nhiều đạt đ-ợc những thành tựu nhất định, phần nhiều các nhà nghiên cứu Kinh Dịch để ứng dụng vào hoạt động thực tiễn xã hội, do vậy các tác phẩm nghiên cứu Kinh Dịch họ để lại không nhiều và rất tản mạn trong các ghi chép khác nhau; cần phải đ-ợc s-u tầm và tập hợp trong một thời gian nhất định mới đạt đ-ợc kết qủa
Trong hoàn cảnh nh- vậy, nếu việc nghiên cứu và học tập Kinh Dịch chỉ thuần túy dựa vào các bản dịch từ tiếng n-ớc ngoài sang tiếng Việt thì ch-a hẳn đã đ-ợc trọn vẹn Có nhiều nguyên nhân nh- bản thân các tác phẩm n-ớc ngoài ch-a hẳn tất cả đã thể hiện đ-ợc ý nghĩa của Kinh Dịch và việc dịch tất cả các tác phẩm đó ra tiếng Việt là điều rất khó khăn Đồng thời, những tác phẩm ở n-ớc ngoài ch-a hẳn là đã phù hợp với chúng ta Do vậy, việc phải nghiên cứu Kinh Dịch một cách nghiêm túc và dựa trên tinh thần của ng-ời Việt Nam là một đòi hỏi thực sự cần thiết nếu nh- chúng ta muốn nắm
đ-ợc tinh thần của Dịch học và ứng dụng những t- t-ởng tích cực của Dịch vào việc xử lý các vấn đề của cá nhân và xã hội ở Việt Nam Yêu cầu này
đang đ-ợc đặt ra một cách nghiêm túc, có nh- vậy chúng ta mới hi vọng có thể có tiếng nói riêng của mình trên diễn đàn học thuật và t- t-ởng quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Kinh Dịch là một loại sách đ-ợc xếp vào hàng kinh điển của Nho gia,
đứng đầu trong Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Th-, Kinh Lễ, Kinh
Xuân Thu) Việc nghiên cứu Kinh Dịch trong lịch sử đã đạt đ-ợc rất nhiều
thành tựu với các nhà Dịch học tiêu biểu ở cả ph-ơng Tây và ph-ơng Đông
ở ph-ơng Tây, theo tìm hiểu trong các t- liệu chúng tôi đ-ợc biết có những nhà nghiên cứu về Kinh Dịch tiêu biểu nh-:
Meclatchie Rev với A translation of the Confuchian Yi Kinh, or the
Classic of Changes (Th-ợng Hải, 1876) Cuốn này có một điểm rất lạ là tác
giả muốn đem những nghiên cứu về thần thoại để tìm hiểu những bí mật của Kinh Dịch Cuốn này có nhiều sự chú thích và phụ lục đính kèm
Trang 7Legge J với The texts of Confucianism, Pt II, the Yi King (Oxford,
1899) Đây là một bản dịch sát và kỹ l-ỡng bản Kinh Dịch in năm 1715 đời Khang Hy nhà Thanh Tuy nhiên, dịch giả không coi Kinh Dịch là một sách bói, không tin môn bói Dịch, không có phần bàn về bói Dịch và những chú thích của ông cũng còn sơ sài
Wilhem R với I Ging: das Buch der Wandlungen (Jena, 1924) Đây là
bản dịch đầy đủ, đ-ợc nhiều ng-ời đọc -a thích, bản này có lời giới thiệu rất hay và lời mở đầu sâu sắc của Tiến sỹ C Jung Tuy nhiên, cách sắp xếp các ch-ơng còn rắc rối, với những ng-ời mới đọc Dịch thì rất khó theo dõi Sau
đó, Baynes C lại dịch cuốn này ra tiếng Anh với nhan đề The I Ching or Book
of Changes (London, 1950) Từ bản I Ging: das Buch der Wandlungen của
Wilhem R, Tienne Perrot E đã dịch ra tiếng Pháp với tên gọi Yi King - Le
livre des transformations (Paris, 1971)
Blofeld J với The Book of Change (London, 1965) Đây là một bản dịch
Kinh Dịch khác của học giả ng-ời Anh Cuốn này nói kỹ về cách bói, tuy nhiên tác giả không dịch những lời chú thích của Khổng Tử về Kinh Dịch Tác giả muốn nói nhiều về phần Dịch truyện
Siu R với The man of many qualities; A legacy of the I Ching
(Cambridge, 1968) Đây là một bản dịch mới nói riêng về phần Dịch kinh thời
kỳ Chu Văn V-ơng và Chu Công Dịch giả trích dẫn trên 700 chỗ trong văn học thế giới để giải thích phần kinh đó Trong tác phẩm này, tác giả nói về cách bói với những ý t-ởng mới mẻ, hấp dẫn
Ngoài ra, các học giả ph-ơng Tây đã vận dụng Kinh Dịch vào khoa học
kỹ thuật, đáng chú ý là:
Leibniz, nhà triết học và toán học ng-ời Đức (1646 - 1716) là ng-ời đầu tiên nghĩ ra phép nhị phân thay cho phép thập phân bằng cách chỉ dùng hai con số: Số 1 làm d-ơng và số 0 làm âm để mã máy tính điện tử Hai con số này mỗi nhóm 6 số và gồm 64 nhóm Khi có điện vào thì đèn bật là 1 và khi
điện tắt là 0, cứ nh- thế truyền các tín hiệu
Trang 8C Jung, ng-ời gốc Thụy Sĩ, sinh năm 1875, cùng với Freud tạo ra khoa
phân tâm học Ông là bạn của Wilhem R, ng-ời đã dùng Kinh Dịch để tìm
hiểu tiềm thức con ng-ời, trong đó có cả việc bói toán
L-u Tử Hoa, một nhà bác học Trung Quốc ở Anh cũng nói đã vận dụng
nguyên lý “Bát quái” từ năm 1930, tìm ra quỹ đạo hành tinh thứ 10 trong hệ
Mặt trời
Hai nhà vật lý học ng-ời Mỹ gốc Trung Quốc là Tsung Tao Lee (Lý Chính Đạo), giáo s- đại học Princeton và Tchen Ninh Ang (D-ơng Chấn Ninh), giáo s- đại học Columbia đã tuyên bố nhờ nghiên cứu Dịch học mà biết rằng, trong thế giới điện tử, phía trái và phía phải không nh- nhau, d-ơng thì 9 mà âm thì 6, có tỷ số là 3/2 Hai ông chứng minh khi hạt nhân nguyên tử
nổ làm bắn ra những ly tử âm và ly tử d-ơng, tia d-ơng bắn xa hơn tia âm theo
tỷ lệ 3/2 tạo ra định luật số chẵn, lẻ Hai ông đã đ-ợc nhận giải Nobel Vật lý năm 1957
Và nhiều tác giả khác nữa
Hiện nay, trong giới học giả ng-ời Hoa, theo các tài liệu chúng tôi thu thập đ-ợc thì có các nhà nghiên cứu sau là đáng chú ý:
Cao Hanh và Lý Kính Trình trong những năm đầu nghiên cứu Kinh
Dịch đều khẳng định đó là sách để xem bói Với Chu Dịch cổ kinh kim chú,
Chu Dịch tạp luận, Cao Hanh đã giải thích “trinh cát” của lời hào thứ 4 (âm)
quẻ Thủy Địa Tỷ là “bói gặp lời hào này, thì tốt” (Phệ ngộ thử hào tắc cát); giải thích “gian trinh” ở lời hào thứ 3 (dương) quẻ Địa Thiên Thái là “Chiêm
vấn hoạn nạn chi sự, vị chi gian trinh” (bói hỏi việc hoạn nạn, gọi là gian
trinh).v.v Lúc đầu, cũng giống nh- Lý Kính Trình, qua quyển Chu Dịch cổ
kinh kim chú thể hiện rõ ràng lời nào của quẻ là cùng loại với giáp cốt bốc từ
Ông giải thích lời hào của một quẻ, vẫn ch-a kết hợp lời quẻ với hình t-ợng quẻ, tên quẻ Nh-ng về sau ông đã thay đổi ý kiến và có cách nhìn mới về
quan hệ giữa lời hào, lời quẻ và tượng quẻ, do đó, cách giải thích chữ “trinh”
cũng đã có thay đổi Ví dụ, trong bài T- t-ởng triết học của lời hào, lời quẻ
của Chu Dịch, ông đã giải thích lời hào thứ 3, quẻ Đại Súc: “L-ơng mã trục,
Trang 9lợi gian trinh, nhật hàn dữ vệ, lợi hữu du vãng” là “C-ỡi ngựa tốt, (đi) xe chắc, thì không sợ con đ-ờng gian nan và xa xôi”, không giải thích chữ
“trinh” thành “chiêm” (xem, bói) hoặc “chiêm vấn” (hỏi quẻ, xem bói)
T-ơng tự Cao Hanh, Lý Kính Trình lúc đầu giải thích chữ “trinh” ở Kinh Dịch là “chiêm” (xem, bói), “chiêm” tức là “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bói) Thực ra, “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bói) là nghĩa gốc của chữ “trinh”, còn
“chính” là nghĩa mở rộng Về sau, khi viết Chu Dịch thông nghĩa ông thừa nhận: “Hiểu rõ tên quẻ và lời hào của quẻ hoàn toàn có liên quan với nhau,
trong đó đa số, mỗi quẻ đều có một trung tâm t- t-ởng, tên quẻ là tiêu đề của nó” Điều đó khẳng định sau này ông đã thay đổi cách nhìn nhận Ông đã dẫn
ra những từ “trinh cát, hối vong, vô cữu” có trong hào đều là thuyết minh và phán đoán sự lý Những lời hào của quẻ cũng “có chứa đựng t- t-ởng tác giả”
Trên thực tế, hai ông đã có ph-ơng pháp nghiên cứu mới, lúc đầu hai ông quan niệm Kinh Dịch là sách thuần túy để xem bói, nh-ng về sau đã thay đổi ý kiến
Nhóm chỉnh lý Bạch th- ở mộ Mã V-ơng Đôi đời Hán với Mã V-ơng
Đôi Bạch th- Chu Dịch lục thập tứ quái thích văn Tr-ơng Chính Long với Bạch th- lục thập tứ quái bạt Hào L-ơng với Bạch th- Chu Dịch đây là các
nhóm tác giả nghiên cứu về các văn bản Chu Dịch viết trên lụa đ-ợc khai quật trên các ngôi mộ cổ ở Tr-ờng Sa (Hồ Nam) và đã có những ý kiến nhận định khác nhau về việc tìm hiểu Kinh Dịch khác với cách nghiên cứu truyền thống
V-u Sùng Hoa với Mai hoa dịch tân biên Ông V-u Sùng Hoa muốn
đem những tri thức khoa học thời hiện đại để chú giải những luận điểm của học giả Thiệu Khang Tiết đời Tống Cuốn này đã đ-ợc dịch giả Cao Hoàn Diên Khánh dịch ra tiếng Việt (1997)
Fung Yu Lan (Phùng Hữu Lan) với A History of Chinese Philosophy
(1937) Hiện tác phẩm này đã đ-ợc tác giả Lê Anh Minh dịch ra tiếng Việt với
nhan đề Lịch sử Triết học Trung Quốc (2006) Đây là một tác phẩm nghiên
cứu rất công phu về lịch sử triết học Trung Quốc do chính một học giả ng-ời Trung Quốc viết, tác phẩm đã đ-ợc giới nghiên cứu ở ph-ơng Tây đánh giá rất
Trang 10cao và trở thành tài liệu nghiên cứu chính thức về lịch sử triết học Trung Quốc trong các tr-ờng đại học ở ph-ơng Tây
Gần đây, học giả Thiệu Vĩ Hoa với nhiều tác phẩm về dự đoán, bốc
quẻ… đã gây những tiếng vang và có thể coi nh- đã tạo nên “cơn sốt Dịch
học” trên diễn đàn Dịch học quốc tế; một số tác phẩm của ông đã đ-ợc dịch ra
tiếng Việt nh-: Dự đoán theo tứ trụ (2002), Chu Dịch với dự đoán học
(2003)… Tuy nhiên, các tác phẩm này phần nhiều đi về chiêm bốc, độn giáp nên trong phạm vi luận văn không có điều kiện khảo cứu sâu
ở Việt Nam, tr-ớc năm 1975 đã có ba bản dịch bộ Chu Dịch ra chữ Quốc ngữ, đó là:
Kinh Dịch của Ngô Tất Tố, tác giả dựa vào bản Chu Dịch đại toàn đời
Minh - là bộ đầy đủ hơn hết - để dịch ra tiếng Việt Bản dịch này của ông tuy khá đầy đủ, song nhiều chỗ dịch vẫn qúa khó hiểu, do sử dụng nhiều từ Hán Việt cổ, đôi khi ông cũng không dịch mà sử dụng luôn phiên âm tiếng Hán Nếu ng-ời nào không biết tiếng Hán thì khó mà có thể sử dụng đ-ợc quyển của ông
Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu, nguyên gốc là bản Dịch học chú giải
Mặc dù cụ Phan dịch quyển này từ những năm 30 của thế kỷ XX khi thực dân Pháp buộc cụ phải an trí ở Huế, song đến năm 1969 mới đ-ợc Nhà sách Khai
Trí xuất bản với tên Chu Dịch Cụ Sào Nam uyên thâm Hán học, cuộc đời
đ-ợc trải nghiệm qua nhiều phong ba hùng tráng, lại để nhiều năm nghiên cứu
về Dịch nên cả phần dịch và phần bình bộ Kinh Dịch của cụ đều hết sức có giá trị Có lẽ, đây vẫn là một trong những bộ Kinh Dịch đầy đủ và chan chứa nhiều tình cảm của ng-ời biên soạn nhất ở Việt Nam cho tới thời điểm này
Kinh Chu Dịch bản nghĩa của Nguyễn Duy Tinh Ngoài phần Kinh thì
Nguyễn Duy Tinh cũng dịch thêm phần Truyện (tức Thập dực), mà trong cuốn
của Ngô Tất Tố không có
Gần đây, có một số tác giả khác dịch lại cuốn Chu Dịch song phần lớn
đã không v-ợt đ-ợc những ng-ời đi tr-ớc Chỉ có cuốn Kinh Dịch đạo của
ng-ời quân tử của Nguyễn Hiến Lê là khá đầy đủ nh-ng thực ra vẫn còn một
Trang 11số chỗ tác giả dịch rất khó hiểu, thậm chí dùng nguyên nghĩa đen của tiếng Hán khi dịch ra tiếng Việt nên khi diễn đạt các hào có phần g-ợng ép; ngoài
ra khi dịch tác giả dùng ngôn ngữ khu vực Nam Bộ nên cũng gây một số khó khăn cho các độc giả ở các địa ph-ơng khác
Tuy vậy, đã xuất hiện một số cuốn nh- Chu Dịch đại truyện của Lê Anh Minh, Kinh Dịch và cấu hình t- t-ởng Trung Quốc của D-ơng Ngọc
Dũng và Lê Anh Minh giúp ích nhiều cho ng-ời đọc; đó là các bản dịch đầy
đủ, hoàn thiện và cập nhật Ngoài việc căn cứ trên văn bản Hán cổ, các tác giả
- dịch giả còn đối sánh với nhiều bản dịch tiếng Trung Quốc hiện đại, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức… nên độ chính xác của văn bản rất cao
Chính vì cuốn Kinh Dịch có một nội dung rất phong phú, nhiều chiều, nên các tác phẩm nghiên cứu ở Việt Nam cũng có một nội dung rất khác nhau Những mảng t- t-ởng đ-ợc đề cập chủ yếu đến là bản thể luận, nhân sinh quan, t-ợng số, thuật bói toán, độn giáp, v.v ở đây chúng tôi xin đ-ợc phác thảo theo thứ tự thời gian những nét cơ bản về các tác phẩm đ-ợc nhiều ng-ời biết đến nhất
Cuốn Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu vừa là một bản dịch, vừa là tác
phẩm nghiên cứu có giá trị Nét đặc sắc trong chú giải của cụ không chỉ gói
gọn trong các phần Phát đoan từ, Phàm lệ, Đề bạt từ mà còn đặc biệt đ-ợc thể
hiện trong phần bình giảng của cụ đối với từng quẻ Những nội dung cụ đề cập
về sự biến hóa cùng những quy luật của âm d-ơng trời đất, nhất là các nội dung liên quan đến triết lý sống của con ng-ời, tuy không dài dòng nh-ng đã
“không khác gì dọn gai gốc mà thấy đ-ờng bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt
trời, làm cho chân t-ớng triết học của Thánh hiền Đông ph-ơng bị che lấp mấy trăm đời, nay đ-ợc bày tỏ một cách sáng suốt, giá trị của bản sách này không phải là ít” [13, 7 – 8]
Năm 1953, Nhà xất bản Vỡ Đất ở Hà Nội cho in quyển Một nhận xét về
Kinh Dịch của Nguyễn Uyển Diễm Ông đặt ra nhiều vấn đề trái ng-ợc với
các nhà nho đi tr-ớc, ví dụ nh- những phân tích và nhận định về việc Khổng
Trang 12Tử không hề san định Kinh Dịch, hay Kinh Dịch là quyển sách đi từ triết học
đến bói toán v.v
Một trong những học giả viết nhiều về Kinh Dịch là Nguyễn Duy Cần
Tác phẩm đầu tiên của ông về vấn đề này là Dịch học tinh hoa Cuốn sách này
tập trung phân tích những thuật ngữ cơ bản trong Kinh Dịch để từ đó suy ra các quy luật vận động của vạn vật Bên cạnh việc dựng nên một bức tranh khá mạch lạc về các nguyên lý chính của Dịch thì trong tác phẩm này Nguyễn Duy Cần đã qúa c-ờng điệu tính tiên tri và thần bí trong Kinh Dịch dựa trên ph-ơng pháp so sánh một chiều, từ đó ông đã phú cho Kinh Dịch nhiều chức năng mà nó ch-a từng có Tác phẩm thứ hai của Nguyễn Duy Cần, bổ trợ cho
cuốn tr-ớc là Chu Dịch huyền giải Song đáng tiếc cuốn này nội dung không
có gì nhiều, hầu hết chỉ là nhắc lại những ý kiến cũ
Một quyển đ-ợc đầu t- rất nhiều và viết khá sâu là Kinh Dịch với vũ trụ
quan Đông ph-ơng của Nguyễn Hữu L-ơng Nội dung tác phẩm này t-ơng
đối khác với các cuốn khác, chủ yếu là bàn nhiều về Hà Đồ và Lạc Th-, là những vấn đề t-ợng số học, từ đó tìm ra vũ trụ quan của Dịch nói riêng và của ph-ơng Đông nói chung Tuy chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với cách tiếp cận trên, song vẫn phải thừa nhận đây là một bộ sách khảo cứu hết sức công phu và có giá trị không ít về mặt lý luận
Trên đây là một số tr-ớc tác đ-ợc viết và xuất bản tr-ớc năm 1975 Bên
cạnh đó còn có một số cuốn sách nữa, nh- Dịch, Kỳ môn độn giáp của Nguyễn Mạnh Bảo, Bói Dịch của Thanh Bồ, Dịch học nhập môn của Đỗ Đình
Tuân song nội dung của các cuốn đó phần lớn là bói toán huyền bí hoặc y dịch vì vậy ở đây chúng tôi không có điều kiện đề cập đến
Từ sau năm 1975 đến nay, ở n-ớc ta xuất hiện một số tác phẩm nghiên
cứu Dịch học đáng qúy nh- Tinh hoa văn hoá Ph-ơng Đông: Chu Dịch-nhân
sinh và ứng xử, Sách học Kinh Dịch, Chu Dịch với khoa học quản lý, Chu Dịch vũ trụ quan, Các nhà tiên tri Việt Nam, Khảo luận t- t-ởng Kinh Dịch …
của tác giả Lê Văn Quán Đây là các tác phẩm phản ánh nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau của tác giả, bao gồm cả lịch sử hình thành Kinh Dịch
Trang 13trong lịch sử, những ứng dụng của Dịch học trong các lĩnh vực khác nhau nh- quản lý, lập quẻ, xem ngày giờ, ứng xử đạo đức rất có giá trị trong nghiên cứu khoa học cũng nh- trong thực tiễn cuộc sống
Nghiên cứu Chu Dịch do Trung tâm Trung Quốc học - Đại học S-
phạm Hà Nội biên soạn Đây là tập hợp các bài viết về Kinh Dịch d-ới nhiều góc độ khác nhau nh- thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức của các học giả Nguyễn Tài Th-, Lê Văn Quán, Mai Xuân Hải, Phan Văn Các, Đặng Đức Siêu…
Các bài viết Một vài suy nghĩ về thế giới quan trong Kinh Dịch và Triết
lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến“ trong ph-ơng châm xử thế và hành động của
Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Hùng Hậu Đây là hai bài viết phản ánh về
thế giới quan trong Kinh Dịch và tìm hiểu triết lý “dĩ bất biến ứng vạn biến”
của Ng-ời, ở các bài viết này tác giả nhấn mạnh về khía cạnh đạo đức trong việc nghiên cứu triết lý hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kinh dịch diễn giải Đạo lý m-u cầu tồn tại và phát triển do tác giả Trần
Trọng Sâm khảo cứu Tuy nhiên, tác phẩm này phần nhiều đi về giải quẻ và trích lại phần Dịch truyện nh- các tác phẩm đã có tr-ớc đây Ch-a thấy đ-ợc ý kiến riêng của tác giả về các vấn đề trong Kinh Dịch
Từ điển Chu Dịch của Tr-ơng Thiện Văn Ng-ời dịch: Tr-ơng Đình
Nguyên, Nguyễn Đức Sâm, Phan Văn Các, Mai Xuân Hải, Hoàng Văn Lâu, L-ơng Gia Tĩnh, Trần Lê Sáng, Đặng Đức Siêu, Trần Ngọc Thuận, Lê Hạo, Thích Thanh Quyết Đây là bản dịch rất chi tiết cuốn Từ điển Chu Dịch của tác giả Tr-ơng Thiện Văn Các phần, mục, quẻ của Kinh Dịch đ-ợc từ điển giải thích rất chi tiết Tuy nhiên, phải là những ng-ời nghiên cứu có trình độ nhất định mới dùng đ-ợc cuốn này
Và nhiều tác giả với những tác phẩm khác nữa…
Nói một cách tổng quát có thể thấy rằng các t- t-ởng trong Kinh Dịch
đ-ợc nhiều tác giả tìm hiểu ở nhiều góc độ và đạt đ-ợc nhiều thành tựu khác nhau Đây chính là những tiền đề quan trọng để chúng tôi có điều kiện thuận
Trang 14lợi trong việc đi vào nghiên cứu t- t-ởng triết học trong Kinh Dịch một cách
đầy đủ và sâu sắc hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Luận văn trình bày một cách có hệ thống và có chiều sâu những t-
t-ởng về con ng-ời và t- t-ởng đạo đức, quan niệm về sự tiến hóa xã hội con ng-ời trong Kinh Dịch; đồng thời b-ớc đầu tìm hiểu một số ảnh h-ởng của
Kinh Dịch đến các nhà t- t-ởng Việt Nam
Nhiệm vụ:
Để thực hiện các mục đích đã nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ
thể cần phải giải quyết nh- sau:
Thứ nhất: Trình bày điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề t- t-ởng của sự
hình thành Kinh Dịch
Thứ hai: Giới thiệu nội dung Kinh Dịch
Thứ ba: Phân tích những t- t-ởng về con ng-ời, đạo đức, quan niệm về
sự tiến hóa xã hội con ng-ời Nêu lên những mặt tích cực và hạn chế của những t- t-ởng đó trong xã hội phong kiến ngày x-a
Thứ t-: Luận văn b-ớc đầu tìm hiểu một số biểu hiện ảnh h-ởng của
Kinh Dịch đến các nhà t- t-ởng Việt Nam (trong đó có Hồ Chí Minh)
4 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên Chủ nghĩa Mác-Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh, đ-ờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc nghiên cứu lý luận, t- t-ởng; xem đó
là cơ sở lý luận để nhìn nhận và phân tích một số t- t-ởng triết học đ-ợc thể hiện trong Kinh Dịch
Ngoài ra, luận văn còn kế thừa những thành tựu, kết qủa của các công trình nghiên cứu trong và ngoài n-ớc trên lĩnh vực nghiên cứu về triết học ph-ơng Trung Quốc, lịch sử t- t-ởng Việt Nam
Ph-ơng pháp nghiên cứu:
Trang 15Luận văn sử dụng ph-ơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ph-ơng pháp phân tích – tổng hợp, ph-ơng pháp lôgíc, ph-ơng pháp so sánh
5 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối t-ợng nghiên cứu:
Các t- t-ởng về con ng-ời, đạo đức, sự tiến hóa xã hội con ng-ời đ-ợc thể hiện trong Kinh Dịch và một số biểu hiện ảnh h-ởng của Kinh Dịch đối với các nhà t- t-ởng Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu một số t- t-ởng triết học trong Kinh Dịch nh- t- t-ởng về con ng-ời, đạo đức, sự tiến hóa xã hội con ng-ời trong Kinh Dịch bằng cách khảo cứu chi tiết các văn bản Kinh Dịch hiện hành, phân tích
điểm tích cực và hạn chế của những t- t-ởng đó và tìm hiểu một số biểu hiện ảnh h-ởng của Kinh Dịch đối với các nhà t- t-ởng Việt Nam
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu và trình bày có hệ thống một số t- t-ởng triết học
đ-ợc thể hiện trong Kinh Dịch và một số biểu hiện ảnh h-ởng của Kinh Dịch
đối với các nhà t- t-ởng Việt Nam Trên cơ sở đó góp một phần nhỏ vào việc thúc đẩy tình hình nghiên cứu triết học ph-ơng Đông nói chung và Kinh Dịch nói riêng; có ý nghĩa bảo tồn và gìn giữ những giá trị cổ truyền ng-ời x-a để lại
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn giá trị một số t- t-ởng triết học trong Kinh Dịch, tạo điều kiện cho những ai quan tâm, tìm hiểu Kinh Dịch trong lịch sử triết học Trung Quốc và một số biểu hiện ảnh h-ởng của Kinh Dịch đối với các nhà t- t-ởng Việt Nam
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy về lịch sử triết học Trung Quốc và phục vụ cho việc tìm hiểu, tham khảo của các bạn sinh viên
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm có 2 ch-ơng, 6 tiết
Trang 16CHƯƠNG 1 BốI CảNH LịCH Sử HìNH THàNH KINH DịCH
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Quốc
Tam hoà ng Ngũ đế là thời kỳ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc Đây là các vị vua huyền thoại trong thời kỳ từ năm 2852 tới 2205 Tr-ớc Công nguyên (TCN), thời kỳ ngay tr-ớc nhà Hạ
Tam Hoà ng là ba vị vua đầu tiên của n-ớc nà y, th-ờng đ-ợc gọi là Phục Hy, Hoà ng Đế và Thần Nông
Phục Hy, là ng-ời đầu tiên trong ba vị vua huyền thoại của Trung Quốc
cổ ông là một nhân vật văn hóa, đ-ợc cho là ng-ời phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá và bẫy thú
T-ơng truyền cho rằng khởi nguyên của Kinh Dịch ngày nay là do ông
đọc ở bức Hà Đồ trên l-ng con long mã dâng lên ở sông Hà (nh- hình d-ới
đây)
Theo truyền thuyết, cách sắp xếp của Bát quái đã hiện lên tr-ớc ông một cách thần bí Cách sắp xếp này có tr-ớc khi Kinh Dịch đ-ợc biên soạn Giới nghiên cứu về sau thống nhất đặt hình bát quái thời kỳ Phục Hy là Tiên thiên Bát quái (nh- hình bên, trang 15)
Trang 17Một số thuyết nữa lại cho rằng 64 quẻ của Kinh Dịch ngày nay có đ-ợc
là do chính Phục Hy trùng quái lên Tuy nhiên, qua một số nghiên cứu khảo
cổ thì có một số ý kiến cho rằng ở thời kỳ Phục Hy, Kinh Dịch ch-a thể xuất hiện đầy đủ Phải đến thời kỳ Tây Chu thì Kinh Dịch mới hoàn tất đ-ợc phần Dịch Kinh, đến thời Chiến quốc với công san định và viết Dịch truyện của Khổng Tử thì Kinh Dịch mới có đ-ợc diện mạo cơ bản giống nh- chúng ta vẫn thấy ngày nay
Thần Nông là một trong các vị vua Trung Hoa đầu tiên dạy dân làm ruộng, ông chế ra cày bừa và là vị vua đầu tiên làm lễ Tịch điền, đồng thời
trồng cây thuốc trị bệnh cho dân Dân gian có câu nói: “Thần Nông giáo dân
nghệ ngũ cốc”, tức “Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc”
Hoàng Đế là một thủ lĩnh huyền thoại, đ-ợc ng-ời Trung Hoa coi là
thủy tổ Chữ hoàng ở đây hàm nghĩa là mầu vàng, biểu tr-ng cho hành Thổ; khác với chữ hoàng đế (vua) nh- chúng ta vẫn hiểu sau này
Theo truyền thuyết, thời Hoàng Đế có nhiều phát minh sáng tạo của nhiều ng-ời nh-ng đ-ợc quy chung cho Hoàng Đế nh- làm nhà, đóng xe
thuyền, may quần áo, kim chỉ nam, lịch pháp, y thuật (Hoàng Đế nội kinh
t-ơng truyền là do Hoàng Đế viết), lịch cổ Trung Quốc lấy mốc bắt đầu từ Hoàng Đế
Nhà Hạ là triều đại đầu tiên đ-ợc miêu tả trong các ghi chép sử học cổ
đại nh- Sử ký và Trúc th- kỷ niên Nhà Hạ đ-ợc vua Đại Vũ lập nên và kết
thúc ở vua Kiệt Theo biên niên sử truyền thống dựa trên các tính toán của L-u Hâm thì nhà Hạ trị vì từ khoảng năm 2205 đến 1766 TCN Mặc dù một số học giả từng tranh cãi về sự tồn tại của triều đại này nh-ng các chứng cứ khảo
Trang 18cổ học lại chỉ ra sự tồn tại thực sự của triều đại nhà Hạ Giới sử gia Trung Hoa vẫn coi đây là triều đại đầu tiên của Trung Quốc, sau thời Tam hoàng Ngũ đế
và tr-ớc thời kỳ nhà Th-ơng
Với những cuộc khai quật gần đây tại các di chỉ thời đại đồ đồng sớm tại Nhị Lý Đầu (Hà Nam), thật khó tách biệt truyền thuyết ra khỏi thực tế đối với sự tồn tại của triều đại này Hầu hết các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng văn hóa Nhị Lý Đầu là nơi phát tích của nhà Hạ Tuy nhiên, các nhà khảo
cổ học ph-ơng Tây vẫn không đồng ý về mối liên hệ giữa nhà Hạ và văn hóa Nhị Lý Đầu
Truyền thuyết nói rằng vua Vũ là ng-ời hiền, có công đào vét chín con sông trị thủy trong nhiều năm Trong thời gian đào vét sông, nhiều lần ông đi ngang qua nhà mình mà không vào thăm Với công lao nh- vậy, ông đ-ợc vua Thuấn chọn làm ng-ời truyền ngôi
Trong thời nhà Hạ đã xuất hiện truyền thuyết khi vua Vũ trị thủy có một con rùa thần dâng tấm đồ hình ở sông Lạc, lịch sử nghiên cứu Kinh Dịch th-ờng gọi là Lạc Th- (nh- hình d-ới đây)
Hiện nay, cùng với Hà Đồ thời vua Phục Hy, Lạc Th- vẫn còn đ-ợc l-u truyền trong việc nghiên cứu lịch sử hình thành Kinh Dịch
Năm 2208 TCN, vua Thuấn mất, Đại Vũ để tang ba năm rồi mới chính thức lên ngôi Sau khi lên trị vì thiên hạ, ông vẫn giữ lệ cũ cử hiền tài trong n-ớc để nối ngôi mà không có ý định truyền ngôi cho con trai là Khải Đại Vũ
định cử ông Cao Dao thay mình làm vua sau này nh-ng Cao Dao lại mất tr-ớc
Trang 19ông, vì vậy Đại Vũ phong cho con cháu Cao Dao đất Anh và Lục, rồi tiếp tục
cử Bá ích quản lý chính sự để chuẩn bị làm vua
Năm 2198 TCN, vua Vũ đi tuần về phía đông, khi đến Cối Kê thì mất Bá ích không nhận ngôi vua mà nh-ờng lại cho con trai của vua Vũ là Khải rồi bản thân mình thì tránh ra ở phía nam Cơ Sơn Do Khải cũng có nhiều uy tín nên thiên hạ nhiều ng-ời quy phục ông làm vua Từ đời vua Khải, nhà Hạ giữ
lệ cha truyền con nối, không truyền ngôi ra ngoài nữa
Năm 2188 TCN, vua Khải mất, con là Thái Khang lên thay Do Thái Khang ham chơi bời, thích săn bắn mà không quan tâm đến việc chính sự dẫn
đến bị đảo chính, mất ngôi đến bốn đời; các vua nhà Hạ phải l-u lạc ở n-ớc ngoài Đến đời Thiếu Khang mới khôi phục lại địa vị chính thống
Năm 2058 TCN, vua Thiếu Khang mất, con là Trữ nối ngôi Từ thời vua Trữ truyền thêm đ-ợc tám đời, đến thời Khổng Giáp thì nhà Hạ bắt đầu suy (Do Khổng Giáp tin nhiều vào qủy thần và hoang dâm nên nhiều ch- hầu không thần phục nhà Hạ nữa)
Đến đời Hạ Kiệt tàn bạo, hoang dâm, mê nàng Muội Hỷ; dân chúng oán ghét Nhiều ch- hầu nổi dậy chống lại nhà Hạ, Kiệt đem quân đánh dẹp các ch- hầu Thủ lĩnh bộ lạc Th-ơng là Thành Thang, là ch- hầu của nhà Hạ bị Kiệt bắt gian ở Hạ Đài Sau một thời gian Thành Thang đ-ợc thả ra, về n-ớc
ông ra sức làm điều nhân đức, quy tập lực l-ợng Năm 1767, Thành Thang dấy binh đánh nhà Hạ, Kiệt thua phải chạy ra đất Minh Điều Nhà Hạ bị diệt, nhà Th-ơng lên thay Vua Thành Thang phong đất cho các con cháu còn lại của nhà Hạ cũ, đến thời nhà Chu sau này đất đó gọi là n-ớc Kỷ
Nhà Th-ơng là triều đại đầu tiên đ-ợc ông nhận về mặt lịch sử Theo biên niên sử dựa trên các tính toán của L-u Hâm thì nhà Th-ơng trị vì từ khoảng năm 1766 TCN đến khoảng năm 1122 TCN Triều đại này bắt đầu từ vua Thành Thang và kết thúc ở vua Trụ
Do việc trị thủy thời kỳ nhà Th-ơng còn nhiều hạn chế, lũ lụt, thiên tai th-ờng xuyên xảy ra nên triều đình phải thiên đô nhiều lần Tới khoảng năm
Trang 201384 TCN đời vua Bàn Canh, triều đình nhà Th-ơng đã chuyển kinh đô về đất
Ân và ổn định về sau này Vì vậy, nhà Th-ơng còn đ-ợc gọi là nhà Ân
D-ới thời nhà Th-ơng, các dân c- trong khu vực dọc sông Hoàng Hà đã
đào đ-ợc các con kênh, ngòi dẫn n-ớc để t-ới mùa màng; ngoài ra các đô thị thời kỳ này cũng đã có kênh dẫn n-ớc ra ngoài Dân c- đã biết sản xuất r-ợu,
mở rộng th-ơng mại và sử dụng tiền tệ d-ới các dạng quy -ớc khác nhau để giao dịch Ngoài ra, kỹ thuật đúc đồng cũng đã xuất hiện trong thời kỳ nhà Th-ơng
Khoảng năm 1300 TCN, chữ viết cổ của ng-ời Trung Hoa đã xuất hiện
ở thời kỳ văn minh nhà Th-ơng - họ đã phát triển chữ viết có hơn ba nghìn ký
tự, một phần là t-ợng hình và một phần là t-ợng thanh Loại chữ viết này đ-ợc phát hiện trên những phần phẳng của x-ơng gia súc hay h-ơu nai, mai rùa, yếm rùa Đó là những đoạn văn tản mạn ghi chép về những việc bói toán Những ký hiệu chữ viết này còn rất đơn giản, bằng cách dùi vào một cái yếm (hoặc mai) rùa rồi đem hơ trên lửa; những đ-ờng nứt biểu t-ợng cho các ký tự
đã đ-ợc quy -ớc sẽ hiện ra, cho biết câu trả lời về thời tiết, mùa màng, xuất hành, liên kết, chiến tranh
Thời kỳ nhà Th-ơng, ng-ời dân đã có niềm tin vào những lực l-ợng thần bí Họ coi các hiện t-ợng thiên nhiên là do nhiều vị thần sử dụng sức mạnh thần thánh tạo ra, các vị thần đ-ợc gọi chung là qủy thần Có nhiều vị thần cai quản những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống nh- mùa màng, sông núi, mặt trăng, mặt trời
Nhà Chu là triều đại nối tiếp sau nhà Th-ơng và tr-ớc nhà Tần Nhà Chu tồn tại lâu hơn bất cứ một triều đại nào khác trong lịch sử Trung Hoa và trong thời kỳ nhà Chu đã xuất hiện việc sử dụng đồ sắt Nhà Chu cũng là khoảng thời gian khi hệ thống chữ viết cổ xuất hiện trên các đỉnh đồng thời Tây Chu d-ới hình thức những văn bản ghi chép cổ cuối thời Chiến Quốc
Nhà Chu khởi nguồn ở sông Vị, phía tây nền văn minh Th-ơng Tổ tiên
bộ tộc Chu khởi nghiệp từ đất Thai (nay thuộc Vũ Công, Thiểm Tây), t-ơng truyền có tên là Khí, cũng gọi là Hậu Tắc Về sau, Chu phát triển lên thành
Trang 21một bộ lạc lớn và bắt đầu di c- về đất Mân (nay thuộc Tuần ấp, Thiểm Tây) Tại đây, họ bắt đầu mở rộng ảnh h-ởng và trở thành thủ lĩnh của liên minh các
bộ lạc gần nền văn minh nhà Th-ơng Họ đóng đô ở đất Kỳ (nay thuộc Kỳ Sơn, Thiểm Tây)
Tới đời Chu Văn V-ơng, liên minh bộ lạc này phát triển thành một n-ớc Chu hùng mạnh với kinh đô đóng ở đất Phong N-ớc Chu trở thành một
đối trọng mạnh mẽ uy hiếp sự tồn tại của nhà Th-ơng
Chu Văn V-ơng mất đi, con trai là Cơ Phát lên thay lấy hiệu là Chu Vũ V-ơng, tiếp tục nuôi ý định diệt Th-ơng Khi vua Th-ơng là Trụ tàn bạo và làm mất lòng dân Chu Vũ V-ơng đã tranh thủ sự ủng hộ của các ch- hầu oán ghét nhà Th-ơng hợp thành lực l-ợng to lớn Vào năm 1123 TCN, nhà Chu chiến thắng vua Trụ ở trận Mục Dã, Trụ phải tự thiêu Nhà Chu thiết lập sự
thống trị của mình Chu Vũ V-ơng tự x-ng là thiên tử
Tr-ớc khi nhà Chu trở thành bá chủ, Chu Văn V-ơng thời còn là ch- hầu của nhà Th-ơng đã từng bị vua Trụ bắt giam khoảng ba năm ở ngục Dữu
Lý Chính trong thời gian rất khó khăn này, ông đã bỏ nhiều công sức để tập trung nghiên cứu và vẽ lại một hình bát quái mới với những ý nghĩa sắp đặt các quẻ khác hẳn với cách sắp đặt trong Tiên thiên Bát quái của vua Phục Hy Giới nghiên cứu về sau gọi bát quái đó là Hậu thiên Bát quái (nh- hình d-ới
đây) Tuy nhiên, cách diễn giải Kinh Dịch thời kỳ Chu Văn V-ơng vẫn còn rất khó hiểu
Tới khi nhà Chu diệt nhà Th-ơng và lập nên một triều đại mới, nhu cầu phải xây dựng một nền t- t-ởng mới tiến bộ hơn, có sức lôi cuốn và tập hợp nhân dân mạnh mẽ hơn thời kỳ nhà Th-ơng trở nên cấp thiết Tr-ớc tình hình
Trang 22nh- vậy, Chu Công là con thứ của Chu Văn V-ơng đã dành nhiều tâm huyết
để chỉnh lý và đặt ra những lời giải quẻ khiến cho Dịch trở nên t-ơng đối mạch lạc và ứng dụng đ-ợc nhiều hơn trong cuộc sống Tính chất bói toán nguyên thủy đã dần dần bớt đi, tính học thuật đã dần hình thành Lịch sử
nghiên cứu gọi đây là thời kỳ hình thành Dịch kinh
Nhà Chu coi tất cả đất đai thuộc về thần thánh và họ chính là những đứa con của thần thánh, do vậy tất cả đất đai và dân c- trên đó đều thuộc về nhà
Chu (vua Chu x-ng là thiên tử, tức con của Trời) Tự thấy rằng đất đai chinh
phục đ-ợc qúa rộng lớn để một ng-ời có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chia
đất đai thành những vùng khác nhau và chỉ định một ng-ời nào đó cai trị d-ới
danh nghĩa của mình (gọi là ch- hầu); lựa chọn một ng-ời thân trong họ,
những ng-ời có thể tin t-ởng đ-ợc hay một vị thủ lĩnh bộ lạc khác đã cùng họ
đi đánh nhà Th-ơng tr-ớc đây để giao phó nhiệm vụ này Mỗi vị ch- hầu này
có quyền sắp đặt mọi việc ở trong lãnh thổ của mình, kể cả việc xây dựng lực l-ợng vũ trang riêng Ngoài ra, vua Chu còn ban cho họ những qùa tặng nh-
xe ngựa, vũ khí, ng-ời hầu, gia súc Các vị ch- hầu đ-ợc phong t-ớc và đ-ợc truyền lại ngôi vị cho con trai mình, t-ớc vị của ch- hầu là cha truyền con nối
Để cai quản vùng đất của mình tốt hơn, những vị ch- hầu nhà Chu lại phong những t-ớc nhỏ hơn cho những ng-ời thân cận của mình (gọi là các công, khanh, đại phu ) Nh- thế, một hệ thống địa vị thứ bậc và tránh nhiệm giữa ng-ời với ng-ời đã xuất hiện trong xã hội nhà Chu
Thời nhà Chu, nông nghiệp đã đ-ợc triều đình rất quan tâm và phát triển tập trung Tất cả đất đai trồng trọt đều thuộc sở hữu của qúy tộc, các qúy tộc lại trao đất đai cho các nông dân của mình Một mảnh đất nh- vậy sẽ chia
thành chín phần, hình chữ Tỉnh gọi là là phép tỉnh điền Thu hoạch từ mảnh
đất nằm chính giữa sẽ thuộc về nhà n-ớc, ở những mảnh xung quanh sẽ thuộc
về nông dân Theo cách này thì nhà n-ớc có thể tích trữ l-ơng thực d- thừa và
đem ra dùng khi có việc cần thiết Một số lĩnh vực sản xuất quan trọng đã xuất hiện trong thời kỳ này nh- chế tạo đồ đồng, vũ khí và nông cụ Những ngành này đều thuộc quyền quản lý của tầng lớp qúy tộc
Trang 23Thời kỳ nhà Chu đã xuất hiện một vị thần gọi là Th-ợng đế và các vua
Chu cho rằng họ đ-ợc cai trị bằng quyền lực của thần linh Vua Chu là thiên
tử, là hiện thân của Th-ợng đế trên mặt đất và nhiệm vụ của họ là làm trung gian giữa thần thánh và con ng-ời, thay mặt thần thánh coi sóc muôn dân Bất
kỳ một sự chống đối nào nhằm vào họ cũng là sự chống đối lại ý muốn của trời đất
Để thuyết phục thần dân, đặc biệt là các qúy tộc về tính chính đáng của quyền lực của mình, nhà Chu lập ra một hệ thống quyền lực mới mà họ gọi là
thiên mệnh hay mệnh trời Khái niệm này về sau trở thành một phần trong
những lý thuyết về quyền lực ở Trung Quốc Vua nh- một vị trí trung gian giữa trời và đất; đặc tính của vua thể hiện hùng hồn điều này Chữ V-ơng của nghĩa này bao gồm đ-ờng ngang và một nét sổ dọc Điều này thể hiện sự kết nối giữa trời ở trên và đất ở d-ới, thiên tử ở giữa Đây thực chấp là sự ủy nhiệm của trời đất Nếu vị vua trở nên ích kỷ hay không đ-ợc tín nhiệm, không thể chăm sóc ng-ời dân đ-ợc nữa thì trời sẽ chuyển sự ủy nhiệm đó cho ng-ời khác Cách duy nhất để biết đ-ợc sự ủy nhiệm đó là thông qua việc tiến hành lật đổ vua Nếu việc lật đổ thành công thì sự ủy nhiệm không còn, còn nếu việc lật đổ không thành công thì sự ủy nhiệm dành cho vị vua đó vẫn còn Quan niệm này cũng đã làm cho quan niệm của ng-ời Trung Quốc về trời, vốn bắt nguồn từ khái niệm tr-ớc đó về một th-ợng đế trở thành một lực l-ợng cai trị vũ trụ, đạo đức Chính khía cạnh đạo đức này của Trời đã ảnh h-ởng
đến khuynh h-ớng chung của văn hóa và triết học Trung Quốc
Chính trong thời Chu, các khái niệm về thiên mệnh đã đ-ợc thể hiện mạnh mẽ nhất Chu Văn V-ơng, Chu Công đã dành nhiều tâm huyết để xây dựng Kinh Dịch, làm cho việc ứng dụng Kinh Dịch vào cuộc sống trở nên dễ dàng hơn nhiều Một hệ t- t-ởng mới của nhà Chu với những đặc điểm -u việt
và trình độ cao hơn hệ thống t- t-ởng của nhà Th-ơng rất nhiều Vào giai
đoạn Chu Công, phần thứ nhất của Kinh Dịch là Dịch kinh đã đ-ợc hoàn thiện
về cơ bản
Trang 24Năm 771 TCN, khi Chu U V-ơng phế truất Thân hậu để đ-a nàng Bao
Tự lên thay thế, kinh đô nhà Chu đã bị các lực l-ợng du mục phía bắc tràn vào c-ớp phá do sự xúi giục của Thân hầu (cha Thân hậu) Chu U V-ơng bị giết chết và con cả là thái tử Nghi Cữu đ-ợc các qúy tộc ch- hầu là Trịnh, Tấn, Tần đ-a lên làm vua, tức là Chu Bình V-ơng Do kinh đô cũ đã bị c-ớp phá nên Chu Bình V-ơng phải dời đô về Lạc D-ơng (nay thuộc Hà Nam) năm 722 TCN Từ đây bắt đầu giai đoạn Đông Chu và kết thúc khi bị nhà Tần tiêu diệt năm 256 TCN
Trong lịch sử Trung Quốc, giai đoạn Đông Chu lại đ-ợc gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc Thời Đông Chu chính là giai đoạn phát triển mạnh
mẽ nhất của t- t-ởng và văn hóa Trung Hoa trong lịch sử Giai đoạn này những nhà t- t-ởng lớn nhất đã sáng tạo ra những quan niệm khởi đầu về triết học, đạo đức, học thuyết chính trị và văn hóa Trung Quốc Trong thời kỳ Xuân Thu, Trung Quốc gồm phần lớn là một nhóm các n-ớc ch- hầu hùng mạnh nh-ng chính thiên tử nhà Chu cũng ch-a bao giờ có đủ sức mạnh để xác lập
đ-ợc quyền kiểm soát các ch- hầu của mình nh- các vua thời Tây Chu Chính vì sự không ổn định của cục diện thời Xuân Thu và sự xâm lấn của các dân tộc
du mục ở bên ngoài lãnh thổ nên các ch- hầu phải liên minh với nhau và chấp nhận một số vị bá chủ Vì vậy, thời Xuân Thu là một giai đoạn nguy hiểm và không chắc chắn Các vị trí lãnh thổ ch- hầu bị chuyển dịch liên tục, các cuộc xâm lấn th-ờng xuyên xảy ra và các liên minh đ-ợc lập nên rồi lại tan rã nhanh chóng đến không ngờ Đúng nh- Tr-ơng Nghi, Thừa t-ớng n-ớc Tần
đã nói “hợp tung nh- đống cát, dễ hợp mà dễ tan”
Từ thời Chu Bình V-ơng về sau, “thiên tử” nhà Chu chỉ còn cai trị trên
danh nghĩa, quyền lực thực sự nằm trong tay các ch- hầu hùng mạnh Các ch- hầu tiến công lẫn nhau để giành lấy ngôi bá chủ, điều khiển các ch- hầu khác thay cho vai trò của vua Chu Nh-ng họ vẫn dựa trên danh nghĩa vua Chu để
ra lệnh cho các ch- hầu Trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện
các n-ớc ch- hầu mạnh nối nhau làm bá chủ gọi là Ngũ bá gồm Tề Hoàn
Công, Tấn Văn Công, Sở Trang V-ơng, Tần Mục Công, Tống T-ơng Công
Trang 25Một số nhà sử học lại đ-a ra danh sách Ngũ bá khác là Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Sở Trang V-ơng, Ngô V-ơng Phù Sai và Việt V-ơng Câu Tiễn
Tới cuối thời Chiến Quốc, các ch- hầu thậm chí cũng không cần biết
tới sự cai trị chỉ mang tính biểu t-ợng của thiên tử nhà Chu nữa mà họ tự x-ng
v-ơng Chiến tranh giữa các ch- hầu tàn khốc hơn, quy mô lớn hơn và một
loạt các n-ớc nhỏ thời Xuân Thu đã bị tiêu diệt, chỉ còn lại khoảng 10 n-ớc;
trong đó có 7 n-ớc lớn gọi là Chiến Quốc thất hùng bao gồm Tề, Yên, Tần,
Sở, Hàn, Triệu, Ngụy
Nhà Chu lúc này chỉ còn cai quản vùng đất nhỏ bé giống nh- các ch- hầu còn sót lại ch-a bị tiều diệt nh- Lỗ, Vệ Các vua ch- hầu lớn muốn trở thành vua của các ông vua
Tới thế kỷ thứ 3 TCN, n-ớc Chu bé nhỏ lại còn nảy sinh lục đục và hai n-ớc Hàn, Triệu lấy cớ can thiệp Họ chia lãnh thổ nhỏ bé đó làm đôi và giao
cho hai vị tông thất cai quản gọi là Tây Chu Công và Đông Chu Công Thiên
tử nhà Chu ở chung với Tây Chu Công Từ đây, Tây Chu và Đông Chu tồn tại
song song và chỉ còn mang nghĩa phân chia trong phạm vi hẹp của vùng đất nhà Đông Chu cũ xuang quanh Lạc D-ơng, không phải là hai thời kỳ Tây Chu
và Đông Chu x-a kia
Tới năm 257 TCN, h-ởng ứng phong trào hợp tung do hai n-ớc Yên và
Sở phát động để chống lại n-ớc Tần hùng mạnh đang lấn đất ch- hầu nh- tằm
ăn lá dâu, thiên tử nhà Chu cũng mộ binh đi đánh Tần Nh-ng lúc đó nhà Chu
đã kiệt quệ tới mức thiên tử không có đủ tiền chiêu binh mà phải đi vay Tây Chu Công tự làm t-ớng cùng hợp binh với các n-ớc Yên, Sở Thế nh-ng, các n-ớc ch-a đánh đ-ợc trận nào với n-ớc Tần ra trò mà đã bị tan rã: N-ớc Hàn thì bị Tần bao vây, không cựa quậy đ-ợc N-ớc Triệu vừa thua trận Tr-ờng Bình mất gần hết binh lực và nhuệ khí N-ớc Tề lại thông hiếu với Tần nên từ chối ra quân Hai n-ớc Yên và Sở cô thế đành rút lui
Lấy cớ nhà Chu gây hấn, năm 256 TCN, Tần Chiêu T-ơng V-ơng sai Tr-ơng Đ-ờng đem quân đánh vào Tây Chu, bắt thiên tử nhà Chu đem về giam ở thành Hàm D-ơng Năm 250 TCN, Tần Chiêu T-ơng V-ơng chết, liền
Trang 26sau đó con là Hiếu Văn V-ơng lên ngôi vừa đ-ợc ba ngày cũng chết, cháu nội
là Tử Sở lên ngôi hiệu là Trang T-ơng V-ơng Đông Chu Công thấy n-ớc Tần
ba ngày mất liền hai vua, lại sai ng-ời đi bàn với ch- hầu hợp tung đánh Tần lần nữa thành ra chọc giận n-ớc Tần Năm sau, vua Tần sai Lã Bất Vi đem 10 vạn quân tấn công Đông Chu, bắt nốt Đông Chu Công đem về, từ đây nhà Chu mất hẳn
Tính từ vua Chu Vũ V-ơng đến Đông Chu Công có 37 vua, nhà Chu là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc Thời đại Chiến Quốc kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN đến khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc năm 221 TCN Thông th-ờng, thời Chiến Quốc đ-ợc coi là giai đoạn thứ hai nhà Đông Chu, tiếp sau giai đoạn Xuân Thu, dù nhà Chu đã kết thúc vào năm 256 TCN,
35 năm tr-ớc khi kết thúc giai đoạn Chiến Quốc Tên gọi Chiến Quốc xuất
phát từ cuốn Chiến Quốc sách đ-ợc biên soạn đầu thời nhà Hán Điểm khởi
đầu thời Chiến Quốc vẫn còn tranh cãi Tuy nhiên, th-ờng là các nhà nghiên cứu lấy năm 403 TCN - Năm n-ớc Tấn bị chia ba - là năm bắt đầu của thời kỳ này Giai đoạn Chiến Quốc là giai đoạn phát triển của đồ sắt tại Trung Quốc, thay thế đồ đồng trở thành vũ khí chính đ-ợc sử dụng trong chiến tranh Các vùng nh- Thục (Tứ Xuyên) và Việt (Triết Giang) cũng đã nhập vào vùng ảnh h-ởng văn hóa Trung Quốc trong thời gian này Những bức t-ờng do các ch- hầu xây dựng nên để ngăn ngừa lẫn nhau và ngăn chặn các bộ lạc du mục phía bắc là tiền thân của Vạn lý Tr-ờng thành sau này Các triết thuyết khác nhau
đã đ-ợc phát triển trong giai đoạn Bách gia ch- tử nh- Nho gia, Đạo gia, Mặc
gia, Pháp gia Th-ơng mại cũng trở nên quan trọng và một số nhà buôn làm chính trị đã có đ-ợc quyền lực to lớn (tiêu biểu là Lã Bất Vi) Chính trong thời gian này, với sự san định của Khổng Tử, phần thứ hai của Kinh Dịch là Dịch truyện đã đ-ợc ra đời Các đời về sau phát triển thành các phái nghiên cứu khác nhau nh- T-ợng số, Lý học cũng vẫn trên cơ sở Dịch học mà phát triển lên theo một khía cạnh nào đó Tới cuối thời Chiến Quốc, n-ớc Tần trở thành n-ớc mạnh nhất trong Chiến Quốc thất hùng Nhời -u thế về kinh tế và quân
sự, họ chiếm -u thế rõ rệt so với các quốc gia phía đông, nhất là sau sự xuống
Trang 27dốc của hai nước Sở và Tề Nước Tần dùng chiến thuật “thân xa đánh gần”,
lấn đất các n-ớc tiếp giáp với mình nh- Hàn, Triệu, Ngụy, Sở nh-ng lại hòa hiếu với các n-ớc ở xa nh- Tề Chiến thuật này tỏ ra rất có hiệu qủa Các n-ớc
ch- hầu khác có đôi lúc liên minh với nhau theo thuyết “Hợp tung” để chống
Tần nh-ng ràng buộc lỏng lẻo và hay bị Tần chia rẽ nên liên minh không tồn tại đ-ợc lâu Thêm vào đó, nhiều vua ch- hầu không thấy đ-ợc lợi ích thiết thực của liên minh chống Tần mà bị Tần lung lạc bởi các lợi ích nhỏ nhặt tr-ớc mắt nên bị mắc m-u Tần, dần trở thành nạn nhân trong qúa trình thống nhất của Tần Sau khi tiêu diệt nhà Chu, Tần tiếp tục tấn công các ch- hầu khác Đất đai của họ bị lấy mất nhiều và tới khoảng năm 240 TCN, phần đất còn lại của các n-ớc giáp nh- Hàn, Triệu, Ngụy thực chất chỉ còn rất nhỏ Cuối cùng, Tần dùng vũ lực tiêu diệt lần l-ợt hết sáu n-ớc ch- hầu phía đông, thống nhất Trung Quốc
1.2 Tiền đề t- t-ởng
Giới nghiên cứu Kinh Dịch gọi Dịch học là dòng sông Dịch học tuôn chảy Đây là một ví dụ rất hay, Chu Dịch là bộ điển tích cổ kính của Trung Quốc, có lịch sử l-u truyền đã mấy nghìn năm Dịch học là các thứ giải thích
đối với Chu Dịch, thông qua những giải thích ấy, dần dần hình thành một hệ thống lý luận Dịch học ngọn nguồn xa x-a, trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, hình thành nên rất nhiều phái nghiên cứu, nội dung không ngừng
đ-ợc bổ sung cho phong phú và ngày càng phát triển thêm lên, có ảnh h-ởng sâu sắc đối với triết học, tôn giáo, khoa học, văn học nghệ thuật, đến cả đời sống chính trị và luân lý, cả phong tục tập quán của nhân dân Trình độ trí tuệ
và t- duy lý luận của ng-ời Trung Quốc tr-ớc khi tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây chủ yếu là thông qua nghiên cứu Chu Dịch mà đ-ợc rèn luyện và nâng cao
Tuy vậy, cả trong một thời kỳ rất lâu dài, Dịch học vẫn luôn bị che phủ bởi một lớp sắc màu thần bí Có lẽ do vậy mà ng-ời ta vẫn coi Dịch học là một dòng sông trí tuệ thần bí
Trang 28Đã là một dòng sông lớn ắt có n-ớc nguồn tuôn chảy, có mạch nhỏ róc rách, có khe con suối nhỏ, cho đến cả mặt sông bao la cuộn sóng, cũng ắt có dòng xiết bãi hiểm và những xoáy n-ớc đục ngầu Muốn hiểu rõ ngọn nguồn của Dịch học cần phải nói tự đầu nguồn, từng b-ớc từng b-ớc hé mở lớp mạng che mặt, để tr-ng ra kho trí tuệ dồi dào đó
Chiêm tinh và tạp chiêm
Thời kỳ viễn cổ Trung Quốc, do sức sản xuất cực kỳ thấp kém, con ng-ời tỏ ra bất lực tr-ớc các vật thể tự nhiên và khuất phục tr-ớc sức mạnh thiên nhiên; tri thức hiểu biết lại rất nghèo nàn, càng gây nên nỗi sợ hãi ghê gớm tr-ớc sức mạng tự nhiên Sùng bái tự nhiên, sùng bái tôtem, sùng bái tổ tiên và các thần linh ở thời đại viễn cổ Trung Quốc chính là phản ánh t- t-ởng
ấu trĩ ấy Thời ấy, ng-ời ta phổ biến tuân theo một thứ vu giáo nguyên thủy Bất cứ hoạt động gì, từ săn bắt, xuất hành, làm nông nghiệp, xây nhà, cúng tế, chiến tranh, c-ới hỏi… họ đều quyết định hành động của mình trên cơ sở bói
để hỏi ý kiến thần linh Để dò biết ý chỉ của thần linh, quan sát điềm báo họa phúc, thành bại, đoán lành dữ… ng-ời ta phải sử dụng các ph-ơng pháp khác nhau, đó tức là thuật số Thời đó có nhiều kiểu thuật số, đ-ợc chia thành hai loại lớn Một loại là Thiên khải (bao gồm chiêm tinh, tạp chiêm), còn loại kia
là Nhân vi (bao gồm bói mai rùa, bói cỏ thi) Thiên khải là cái có tr-ớc, còn nhân vi là cái có sau, là sự bổ trợ của thiên khải
Chiêm tinh là thuật số căn cứ vào sự biến hóa của thiên văn tinh t-ợng
mà đoán điềm lành dữ Chiêm tinh khởi nguồn hẳn rất sớm Sách Kinh Th-,
phần Nghiêu Điển có nói: “Bèn sai ông họ Hy, ông họ Hòa: Kính theo trời
cao, làm lịch làm t-ợng về mặt trời, mặt trăng và các vì sao, cẩn thận truyền cho dân về mùa” [59, 233] Hy Hòa quan sát thiên t-ợng, nói cho dân biết
cách tính thời tiết ra sao Nếu tinh t-ợng nảy sinh hiện t-ợng khác th-ờng, v-ợt ngoài kinh nghiệm thực tế của con ng-ời, thì rất có khả năng họ dùng hình thức vu thuật tôn giáo đ-a ra các thứ giải thích khác nhau, đó tức là chiêm tinh nguyên thủy Lịch sử về chiêm tinh ở Trung Quốc đã đ-ợc l-u giữ rất nhiều trong các sách cổ, trong đó phần nhiều là chép các điển tích liên
Trang 29quan đến việc xem bói để đúc kết việc thịnh suy của mỗi n-ớc, hay việc chiến tranh, truyền nối ngôi…
Trong Kinh Dịch, quái từ và hào từ chắc hẳn đã hấp thụ t- liệu chiêm
tinh nguyên thủy Quẻ Thuần Càn nói nhiều đến Long như: “Tiềm long vật
dụng”, “Hiện long tại điền”, “Phi long tại thiên”… Trong chiêm tinh thì Long
là một tên sao, sách Tả truyện nói “Long, Tống, Trịnh chi tinh dã” nghĩa là
Long, chòm sao ở phận n-ớc Tống, n-ớc Trịnh Cửu tam quẻ Phong nói:
“Phong kỳ bái, nhật trung kiến muội, chiết kỳ hữu quăng, vô cữu: Phong đô
trời đột nhiên đổ m-a, giữa ban ngày thấy sao nhỏ, té gãy tay phải, gieo quẻ bói hỏi thì quẻ nói không sao” [15, 609] Cửu tứ nói: “Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kỳ di chủ, cát” tức là “Phong đô bị nhật thực che mờ, giữa tr-a nhìn thấy đ-ợc sao Bắc đẩu, gặp đ-ợc dị nhân, gieo quẻ bói hỏi thì quẻ nói tốt lành” ở các t- liệu trên ta thấy Long, Đẩu, Cát đều là các sao trên trời, tựa hồ
đây cũng là một trong những nguồn gốc chiêm tinh của Kinh Dịch Hệ từ
cũng nói “xem t-ợng rủ, hiện rõ lành dữ” cũng có ý nói về chiêm tinh
Tạp chiêm là số thuật dựa vào t-ợng của vật thể mà xét đoán điềm gở, cũng gọi là vật chiêm Có rất nhiều câu chuyện về vật chiêm nh- thời Ân Cao Tông hiện lên cây dâu và cây lúa trong cung vua, báo hiệu nhà vua cần phải trau dồi ân đức, các cây dâu, lúa dần tàn lụi đi; Chu Văn V-ơng đêm nằm mơ thấy gấu bay là điềm báo ông sẽ gặp đ-ợc Kh-ơng Tử Nha (Tử Nha hiệu là
Phi Hùng), Tấn Văn Công khi l-u vong, xin ăn dọc đ-ờng ở n-ớc Vệ đã đ-ợc
ng-ời nông phu cho một hòn đất, ngụ ý sau này ông ta sẽ có đ-ợc vùng đất đai của riêng mình… Vật chiêm coi đoán mộng là điều quan trọng nhất, căn cứ vào vật t-ợng trong giấc mơ mà đoán lành dữ Chuyện thực tế về đoán mộng
đ-ợc chép rất nhiều trong Tả truyện, Hán th-… Ngoài đoán mộng ra còn có
lối căn cứ trực tiếp vào sự hiển hiện đặc thù của vật t-ợng mà suy đoán lành dữ nh- việc cây lúa và cây dâu mọc trong cung vua thời Ân Cao Tông Trong
Kinh Dịch ta cũng thấy xuất hiện những điểm t-ơng tự nh- Dịch nói “Lý
s-ơng kiên băng chí” [48, 24] có nghĩa là b-ớc trên s-ơng thì biết băng dày
sắp đến, Thoán từ quẻ Lý nói “Lí hổ vĩ, bất điệt nhân, hanh”: “Dẫm lên đuôi
Trang 30cọp, mà cọp không cắn, hanh thông” [44, 231] Những câu chữ phản ánh trình
tự diễn ra tất nhiên của sự vật chính là thuộc loại suy đoán này
Loại hình tạp chiêm này thời th-ợng cổ có rất nhiều nh- Hình pháp t-ớng chiêm (xem t-ớng, phong thủy), đồng dao sấm ngữ, phong giốc (bói theo h-ớng gió thổi), xạ phúc (đoán thứ úp d-ới khí cụ)… về sau quy bốc, chiêm phệ sản sinh rồi thì tạp chiêm và bói rùa, bói cỏ thi đồng thời sử dụng với nhau để đoán định cát hung, lành dữ Cho nên, Kinh th-, phần Thái thệ
trung nói “Trời đã lấy ra chăn dân, nên mộng hay quẻ bói của Trẫm đều
thành, đánh Th-ơng ắt đ-ợc” [59, 287]
Bói rùa và bói cỏ thi
Đi đôi với đà phát triển không ngừng của vu thuật nguyên thủy, sự nâng cao của ý thức t- duy và trình độ nhận thức của con ng-ời thì lối bói vật chiêm cũng t-ơng đối tập trung, nhân tố nhân vi tham dự ngày càng nhiều hơn vào thiên khải, con ng-ời bói hỏi thần linh lành dữ, họa phúc, dần chuyển sang hai dụng cụ là mai rùa và cỏ thi, dần dần đây trở thành hai ph-ơng pháp t-ơng đối
ổn định So sánh hai ph-ơng pháp thì phần nhiều các nhà nghiên cứu cho rằng bói rùa xuất hiện sớm hơn bói cỏ thi
Chiêm bốc đã nảy sinh ở đầu đời Hạ hoặc có thể sớm hơn chút ít ở di chỉ văn hóa Long Sơn phát hiện đ-ợc 16 mảnh bốc cốt (x-ơng dùng để bói),
rõ ràng thời bấy giời đã có ng-ời hành nghề chiêm bốc Quy bốc là đem mai, yếm rùa và x-ơng thú dùi lỗ, đặt sấy trên lửa, xung quanh liền xuất hiện
những vân nứt “Bốc” là chữ viết mô phỏng tình trạng vân nứt Thứ vệt nứt trên yếm rùa gọi là “bốc triệu” Người bói căn cứ vào hình thù của bốc triệu
mà đoán định lành dữ Ph-ơng pháp này đến đời Ân rất phổ biến Một khối l-ợng lớn giáp cốt văn đào đ-ợc ở Ân Kh- đã chứng minh ng-ời đời Ân rất
mê tín phép quy bốc Ng-ời đời Chu cũng rất mê tín quy bốc, Kinh Th-, thiên
Hồng phạm nói “Trù thứ bảy: Khảo sát điều ngờ Chọn đặt ng-ời trông coi
việc bói rùa và bói cỏ thi” [59, 297]; thiên Kim Đằng nói về việc Chu Vũ
V-ơng bị ốm nặng, Chu Công làm lễ tế trời đất xin đ-ợc gánh bệnh tình thay
cho Vũ Vương, có câu nói “Bèn sai ba ng-ời bói rùa Đều thấy tốt Mở tráp
Trang 31coi sách cũng thấy tốt” [59, 302] Từ kim đằng ở trên nghĩa là cái tráp làm
bằng mây sơn vàng
Ng-ời đời Chu không chỉ dùng cách bói rùa mà còn dùng cả bói cỏ thi, hai loại này th-ờng đ-ợc dùng phối hợp song song với nhau, trong Kinh Thi
và Kinh Th- có nhiều chỗ bốc và phệ nói liền nhau Theo ng-ời đời Chu, nếu
so sánh giữa bói rùa và bói cỏ thi thì bói bói rùa linh nghiệm hơn bói cỏ thi Câu truyện Tần Hiến Công muốn đ-a nàng Lệ Cơ lên hàng phu nhân, vua cho bói rùa và cỏ thi thấy bói rùa thì thuận, còn bói cỏ thi thì nghịch; Tần Hiến Công bèn nghe theo cách bói rùa vì các quan coi bói cho rằng rùa mệnh thọ tr-ờng, cỏ thi mệnh đoản là một ví dụ tiêu biểu
Theo những nghiên cứu gần đây, một số học giả cho rằng phép phệ bắt nguồn từ phép bốc Kinh Dịch vạch các quái từ d-ới lên trên, điều này nhất trí với thứ tự khắc ở trong các giáp cốt mà về sau đã trở thành các thông lệ phổ biến; sáu đoạn hào từ (trong Kinh Dịch) và số sáu câu lời khắc (trong bốc) càng phù hợp, thống nhất với nhau Trong Kinh Dịch, các lời đoán lành dữ nếu
đem so sánh với bốc từ trong giáp cốt thì có rất nhiều chữ dùng giống nhau
Ví như chữ “trinh” trong giáp cốt văn có nghĩa là bói hỏi thì trong Kinh Dịch chữ “trinh” cũng có nghĩa tương tự Lại nữa, như trong bốc từ có “cát”, “đại
cát”, “vong -u”, “lợi”, “bất lợi”… cũng nhất trí với “cát”, “nguyên cát”, “vô cữu”, “vô -u”, “lợi hữu du vãng”, “bất lợi hữu du vãng”… trong Kinh Dịch
Những câu chữ trong hào từ một số quẻ như “mật vân bất vũ”, “điền hoạch
tam hồ”, “điền hữu cầm”, “điền vô cầm”, “tuy tuần vô cựu”, “chí vu bát nguyệt hữu hung”… cũng hầu nh- toàn toàn t-ơng đồng với các câu chữ trong
bốc từ giáp cốt Điều này chứng tỏ sáu hào trong các quẻ của Kinh Dịch và chiêm từ là thoát thai hoặc mô phỏng từ bốc từ Trong các hiện vật khai quật
đ-ợc ở di chỉ văn hóa Thanh Đôn Tùng Trạch huyện Hải An (Giang Tô) có 8 mảnh x-ơng, sừng h-ơu nhánh ở trên đó có khắc ký hiệu chữ số đơn lẻ, một
số nhà nghiên cứu cho rằng đó là hình thái phát triển sơ khai của quẻ Dịch Tuy nhiên, rõ ràng là từ phép quy bốc đời Ân đến phép phệ của thời Chu là cả một qúa trình phát triển, tức là qúa trình phát triển từ quy t-ợng (hình nứt trên
Trang 32mai, yếm rùa) đến phệ số (số thẻ cỏ thi) Đặc điểm của chiêm phệ, tức là qua
sự biến hóa của số l-ợng cỏ thi mà tìm đ-ợc quái t-ợng, từ đó suy ra lành dữ
So sánh với phép bốc thì phệ có nhiều đặc điểm mới Dùi mai hoặc yếm rùa lấy t-ợng, vết nứt tự nhiên thành vân, hoàn toàn là điều ngẫu nhiên; còn quái t-ợng là số thẻ cỏ thi phải đếm bằng tay, chiếu theo một trình tự nhất
định suy diễn mà thành, có phép tắc để thực hiện Loại bốc chủ yếu xuất phát
từ tự nhiên, còn phệ thì hoàn toàn dựa vào suy đoán nhân vi Quy t-ợng hình thành rồi thì không thể cải đổi, ng-ời bói dựa theo đ-ờng vân là có thể suy
đoán điềm lành dữ Quái t-ợng hình thành rồi còn phải trải qua đủ thứ phân tích đối với quái t-ợng, thậm chí cả những suy đoán lôgíc nữa mới có thể suy
ra những điều cát hung, có tính t- t-ởng và tính linh hoạt khá lớn Điều này nói lên hình thức phệ hình thành và phát triển có nghĩa là nhân tố nhân vi tăng thêm hơn lên, nhân tố thiên khải càng bị chèn đẩy; điều này phản ánh trí tuệ của con ng-ời ngày càng tăng tr-ởng mạnh mẽ Do coi trọng năng lực t- duy của con ng-ời cho nên về sau từ trong nội tại Kinh Dịch đã phát triển lên đ-ợc một hệ thống triết học, còn phép bốc thì tr-ớc sau vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn
mê tín và dần dần bị con ng-ời vứt bỏ Do vậy, một số nhà nghiên cứu cho rằng khởi nguyên của Kinh Dịch là bói toán sau đó phát triển lên thành triết học là có ý này
Dịch Kinh đ-ợc tạo thành bởi các bộ phận nh- quái t-ợng, quái từ và hào từ Quái t-ợng do hai loại hào là d-ơng và âm Cứ mỗi quẻ
vạch sắp xếp tổ hợp mà thành 64 quẻ gọi là Lục thập tứ quái Sắp xếp sáu vạch
trong quẻ từ d-ới lên, dùng sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, th-ợng để biểu thị thứ tự Hào d-ơng thì gọi là Cửu, hào âm thì gọi là Lục, tất cả có 384 quẻ Các hào
âm, d-ơng và các quẻ có rất nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc phát sinh của chúng nh-ng ban đầu đó chỉ là những ký hiệu trừu t-ợng ghi ra
để xem bói lành dữ, hình t-ợng bên ngoài của chúng không mang nhiều ý nghĩa nh- sau này ng-ời đời sau thêm thắt vào
Nh- ta vẫn thấy, Kinh Dịch đ-ợc các học giả nhiều đời biên soạn thành sách Việc biên soạn bao gồm sự sàng lọc đối với phệ từ, sắp xếp chỉnh lý và
Trang 33rất nhiều kiểu cách ngôn, kiểu thơ ca theo vần, đã khác với lối biên soạn lời quẻ bói Câu văn vận ngữ khá đều đặn, ngắn gọn; mang nhiều tính t- t-ởng và nghệ thuật Điều này rõ ràng đã trải qua giai đoạn chỉnh lý nghệ thuật của các nhà biên soạn
Tuy nhiên, nhìn chung thì phần lớn vẫn là xếp đống phệ từ, quái từ, hào từ… một số quẻ thiếu sự liên hệ giữa các hào, thiếu tính lôgíc Kinh Dịch hình thành xuất phát do nhu cầu chiêm phệ, không phải nhằm trình bày một hệ thống lý luận nào cả, nó không phải là một bộ sách văn học nh- Kinh Thi mà thực chất ban đầu nó là một bộ sách dùng để bói toán Việc cho rằng Kinh Dịch hàm chứa ý nghĩa sâu xa, đựng đầy mọi vấn đề trong thiên hạ… là câu chuyện của các nhà nghiên cứu Dịch học về sau Còn bộ mặt nguyên thủy vốn
có của Kinh Dịch thì cũng còn đơn giản, sơ khai cũng giống nh- t- duy của con ng-ời thời kỳ xa x-a vậy
ở Trung Quốc, về mặt lịch sử triết học, từ các đời Tần - Hán về sau, đại thể có thể chia làm bốn thời kỳ nghiên cứu Kinh Dịch chủ yếu: Thời kỳ Hán Dịch, Dịch học thời kỳ Hán - Đ-ờng, Dịch học thời kỳ Tống - Minh và Dịch học thời Thanh
Thời Hán: Từ sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng thực hiện việc đốt bỏ các sách thuộc về các tr-ờng phái triết học khác nhau mà chỉ
độc tôn Pháp gia nên các tài liệu giữ đ-ợc chủ yếu là các sách dạy về nghề nghiệp; trong đó việc bói toán là một việc đ-ợc coi trọng cho nên Dịch học vẫn tiếp tục phát triển Nhờ vậy, đến thời Hán thì Dịch học rất thịnh Đây là
thời kỳ phồn vinh của Dịch học sau khi hình thành sách Chu Dịch Trong thời
kỳ L-ỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán), đặc tr-ng của Dịch học là giải thích t-ợng số (T-ợng vốn là chỉ những vân hoa trên mai rùa thời chiêm bốc, tức là những điềm tốt, xấu; số là chỉ số cỏ thi diễn biến thời bói cỏ thi) là giai đoạn thịnh v-ợng tột đỉnh về t-ợng số học mà rất ít khai thác nghĩa lý ẩn chứa ở trong Từ Đông Tấn về sau, cách bói cỏ thi dần dần thay thế địa vị của bói mai rùa truyền thống, (hình) t-ợng dần dần biến thành chuyên chỉ về t-ợng quẻ T-ợng số học của Chu Dịch tức là thần học và triết học duy tâm phát triển trên
Trang 34cơ sở thuật xem bói cỏ thi Từ giữa thời kỳ Tây Hán về sau, với các đại biểu là Kinh Phòng, Mạnh Hỉ T-ợng số học của Chu Dịch phát triển t-ơng đối mạnh, tự hình thành thành hệ thống, trở thành một phái độc lập trong Dịch học Những tr-ớc tác của Mạnh Hỉ hiện nay đã thất truyền, tr-ớc tác của Kinh
Phòng phần lớn cũng đã mất, chỉ còn lại cuốn Kinh thị Dịch truyện Đặc điểm
chung, Dịch học của Mạnh Hỉ và Kinh Phòng là phát minh một loạt thuyết khí quẻ (quái khí) để trình bày về âm d-ơng tai quái, đó là điều Chu Dịch không
có Nói chu thể, tức là chỉ Khảm , Chấn , Ly , Đoài là bốn ph-ơng chủ yếu, lại chia 24 hào làm 24 tiết khí chủ yếu, mỗi một tiết khí lại chia nó ra làm ba, thì đ-ợc 72 khí, mỗi khí quản lý hơn 5 ngày, mỗi khí đều có tiêu chí khí hậu của vật khác nhau Trong 64 quẻ, ngoài 4 quẻ chủ yếu còn 60 quẻ, mỗi quẻ quản lý hơn 6 ngày Dự báo tr-ớc nền chính trị thịnh suy thất bại, chiêm nghiệm nhân sự bằng việc xấu tốt, họa phúc v.v Cách xem mới này đã h- cấu một hình vẽ vũ trụ thời gian và không gian đan xen nhau, chứa đựng nhiều mặt tri thức: Thiên văn, lịch pháp, số học, sinh học, chính trị, lịch sử, luân lý coi nh- là bao gồm muôn mặt, thực ra thì khiến cho triết học phụ thuộc theo thần học, khoa học khai thác theo mê tín V-ơng Phu Chi phê phán rất đúng về những điều đó Ông đã chỉ ra Kinh Phòng dùng hình vẽ t-ợng số
để giải thích thế giới là để nhấn mạnh thêm sinh vật tự nhiên: “Trong trời đất
không có cái chỉnh tề nh- thế, chỉ có cái con ng-ời làm ra thì mới có mà thôi” Nếu so sánh nó với hệ thống triết học Dịch truyện thì là một điều thụt
lùi Điều đó gọi là quái khí, là nói sự biến hóa của hào quẻ đại biểu sự tiêu tr-ởng của hai khí âm d-ơng Sự biến hóa của hào quẻ là mê tín, bói toán; hai khí âm d-ơng tiêu tr-ởng là t- duy triết học, kết hợp hai điều đó lại một cách máy móc, khiến cho Dịch học của Mạnh Hỉ và Kinh Phòng có đặc tr-ng chủ nghĩa tiên nghiệm và chủ nghĩa thần bí
T-ợng số học trong Dịch vĩ đã kế thừa đặc trưng này “Vĩ” tức là vĩ thư,
đa số là dùng mê tín, bói toán để lắp vào các tr-ớc tác kinh điển của Nho gia một cách g-ợng gạo, nh-ng trong đó đã bảo tồn một số t- liệu khoa học và t-
t-ởng triết học Các loại vĩ th- hiện chỉ còn từng mẩu, chỉ có Bàn tạc độ và
Trang 35Càn khôn tạc độ ở trong Dịch vĩ là t-ơng đối hoàn chỉnh, là tr-ớc tác chủ
yếu nói về t-ợng số học trong vĩ th- Dịch vĩ tiếp thu tư tưởng “Có sinh ở
Không” của Đạo gia, từ góc độ bàn về hình thành vũ trụ, đối với nguồn gốc vũ
trụ của Dịch truyện, “Dịch” đã nói rõ điều mới: “Dịch bắt đầu ở không, từ
không vào có, có nguyên lý nh- hình chất, hình thành mà biến đổi ở t-ợng, tượng rồi sau là số“ “Có nguyên lý nh- hình chất” (hữu lý nh-ợc hình) là nói
tr-ớc tiên có nguyên lý, sau có hình chất, nguyên lý trừu tượng “vô” (không)
là bản thể, hình chất cụ thể “hữu” (có) là phái sinh Điều này đối với Dịch
truyện là một phát triển mới và sau này huyền học thời Ngụy Tấn chủ tr-ơng:
Khí âm d-ơng và trời đất muôn vật là theo nguyên lý phái sinh của Càn Khôn (trời đất); bậc thánh nhân dùng cỏ thi sắp xếp, tổ hợp; có thể đ-ợc số t-ợng quẻ và trời đất, mà t-ợng số tức là nguồn gốc của muôn vật Đó là học thuyết tiên nghiệm chủ nghĩa
“Dịch vĩ”, nếu nói về tổng thể thì đầy màu sắc thần bí chủ nghĩa: “Số
trời là 1, 9, 25, 39755; số đất là 2, 6, 13, 86420 v.v ”, đều có mang ý nghĩa
thần bí T-ợng số bắt nguồn rất sớm, Chu Dịch nói đến t-ơng đối nhiều và
đ-ợc ban cho ý nghĩa thần bí dự báo xấu, tốt Song, nghiên cứu t-ợng số đều phát triển thành t-ợng số học lại là đặc tr-ng của Dịch học thời Hán Ngoài
Mạnh Hỉ, Kinh Phòng; D-ơng Hùng bắt ch-ớc Chu Dịch làm ra Thái huyền,
xây dựng một hệ thống t-ợng số nh-ng khác với cách chia hai của Dịch vĩ,
dùng cách chia ba đã cấu tạo một hình vẽ thế giới là “Một huyền, ba ph-ơng,
chín châu, hai m-ơi bảy độ, tám m-ơi mốt nhà” Tượng số học có một đặc
điểm chung cho rằng tất thảy những bí hiểm của hoạt động con ng-ời và giới
tự nhiên đều có thể nắm vững bằng ph-ơng pháp vận số thủ t-ợng của Chu Dịch; theo đó mà đạt đến mục đích dự đoán t-ơng lai ở đây cũng bao gồm có thành phần hợp lý, tức là yêu cầu theo quan hệ số l-ợng để khảo sát sự tiêu tr-ởng của lực l-ợng đối lập (âm - d-ơng) T- t-ởng này đối với khoa học Trung Quốc cổ đại có tác dụng tích cực phát triển, đặc biệt là thiên văn lịch pháp Và một điều không thể phủ nhận là T-ợng số học đã khuyếch đại điểm
này, cho là “Số đại diễn, sở dĩ thành biến hóa và hành động nh- thần”; trời
Trang 36đất phạm vi t-ợng số của Chu Dịch vô cùng kỳ diệu không thể l-ờng đ-ợc
Điều này tất nhiên là duy tâm chủ nghĩa và thần học
Triết học thời Hán là thời kỳ tôn giáo thần học cuồng nhiệt nhất trong
lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại Mục đích luận thần học thiên nhân cảm
ứng của Đổng Trọng Th- đã xây đắp phẩm cách này, mà t-ợng số học thì có
tác dụng mở ra con đ-ờng đi cho những quan điểm đó Giải thích về vấn đề t-ợng số, càng trình bày càng phong phú; đến thời Đông Hán, Trịnh Huyền, Ngu Phiên thì đạt đến tột đỉnh Các kiểu t- t-ởng của thuyết Dịch kế tiếp
nhau xuất hiện nh-: Thuyết quái khí, Bát cung thế ứng, Phi phục, Nạp giáp,
Ngũ hành hào vị, Cửu cung, Kiền thăng Khôn giáng, Quẻ biến, Hỗ thể Dịch
học làm thành một bộ phận triết học xuyên suốt thời kỳ L-ỡng Hán và Ngụy Tấn, nh-ng không tuân theo một quy luật nhất định
Nh-ợc điểm của Hán Dịch đã đ-ợc V-ơng Bật ng-ời đời Ngụy quét dọn, bỏ đi những chỗ chú thích r-ờm rà về t-ợng số học, đề x-ớng nghĩa lý và t- biện; chẳng những đã mở ra luồng gió mới một thời của Dịch học, đ-a đến cho mọi ng-ời một bộ mặt cảm thụ mới mà còn đặt cơ sở cho tính chất t- biện trừu t-ợng cao độ huyền học thời Ngụy - Tấn V-ơng Bật muốn bỏ vấn đề t-ợng số và bói toán mà chuyên nghiên cứu về nghĩa lý, mở đ-ờng cho Lý học
đời Tống Ông thường nói: “Đ-ợc ý rồi thì quên t-ợng, đ-ợc t-ợng rồi thì
quên lời” nghĩa là đọc Dịch chỉ cần chú trọng tới ý nghĩa của mỗi quẻ thôi,
không câu nệ vào t-ợng và lời Ông dùng Lão - Trang huyền học giải thích Dịch, trở thành ng-ời khai sáng của phái Nghĩa lý trong lịch sử Dịch học và sự phát triển của Dịch học cũng đã b-ớc lên một bậc thềm mới
Cách làm của V-ơng Bật là chú trọng phân tích ý nghĩa, có ý nghĩa tích cực phủ định học phong vụn vặt Dịch học thời L-ỡng Hán, có tác dụng thúc
đẩy nhất định trong việc nâng cao năng lực t- duy trừu t-ợng của dân tộc Trung Hoa Nh-ng điều này cũng ch-a làm hoàn toàn mất hẳn ý nghĩa của phái T-ợng số học Tuân Dung, Tuân Huy là thế hệ đời sau của Tuân Sảng vẫn trình bày các thuyết hỗ thể, quái khí, quẻ biến v.v
Trang 37Thời Tam Quốc: Ngu Phiên nhấn mạnh về thuyết tiêu tức (tăng, giảm,
thịnh, suy), L-u Biểu, Quản Lộ chú trọng đến bói, đặt ra nhiều thuật, các sách
bói đời sau vẫn th-ờng dùng
Sau V-ơng Bật có Hàn Khang Bá ở đời Tấn chú thích Hệ từ Nhân
V-ơng Bật chú thích Hệ từ ch-a xong thì Hàn Khang Bá bổ sung Hệ từ chú
Có thể nói là V-ơng Bật phát triển Dịch học, nó tiến thêm một b-ớc bài xích T-ợng số học của Hán Dịch và tiến thêm một b-ớc huyền học hóa Dịch lý
Đời Đ-ờng: Phật giáo cực thịnh nên ít ng-ời nghiên cứu Dịch học, đáng
kể chỉ có Khổng Dĩnh Đạt học rộng, s-u tập các sách viết về Dịch, hiệu đính
đ-ợc nhiều chỗ, tìm ra đ-ợc nhiều điều thâm thúy Khổng Dĩnh Đạt viết Chu
Dịch chính nghĩa, Lý Đỉnh Tộ viết Chu Dịch tập giải
“Chính nghĩa” cũng là một tác phẩm triết học, nói về lịch sử triết học,
thì quyển sách đó cũng là thông qua việc nói rõ nghĩa lý của Chu Dịch, hình thành một hệ thống thế giới quan, tạo cơ sở t- t-ởng chuyển h-ớng Huyền học thời Ngụy - Tấn sang Lý học thời Tống - Minh
Thời Tống: Đạo sĩ Trần Đoàn (hiệu là Hi Di) thu thập Hà đồ, Lạc th-,
Tiên thiên đồ, Thái cực đồ đã thất truyền để có thêm luận chứng và truyền
bá rộng rãi Ông cho rằng Bát quái gốc ở Hà Đồ, đ-a Dịch học tiến vào nẻo
thuật số (đoán số mạng) Ông đặt ra môn Bát tự Hà lạc, chuyển Can Chi của ngày tháng năm sinh thành những con số rồi chuyển những số đó thành quẻ để
đoán vận mệnh con ng-ời Ông cũng sáng lập ra môn Tử vi đẩu số, rất có uy tín trong giới thuật sĩ
Bắc Tống là thời kỳ các nhà nghiên cứu Dịch học nh- Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Tr-ơng Tái, Nhị Trình đ-ợc coi nh- những ng-ời khai sáng Dịch học thời Tống - Minh, họ đều tinh thông Dịch học và có những tr-ớc tác chuyên bàn về Chu Dịch; ngoài ra còn có một số nhà văn, lịch sử học cũng là những ng-ời uyên bác về Dịch học nh- Âu D-ơng Tu, Tô Thức, T- Mã Quang
Trang 38Từ đời Tống đến đời Thanh, Dịch đồ có rất nhiều loại Trong đó có
tr-ớc tác của Thiệu Ung, Chu Chấn v.v tuy có chỗ thêm vào một cách khiên c-ỡng, nh-ng cũng không thiếu những sự suy nghĩ về triết lý
Thời Tống - Minh, mở đầu phái nghĩa lý trong Dịch học là Âu D-ơng
Tu, Lý Cấu nh-ng ng-ời tập đại thành lại là Trình Di Trình Di một mặt phê bình T-ợng số học, một mặt kế thừa V-ơng Bật dùng học phong nghĩa lý để lý giải Dịch, nh-ng không tán thành V-ơng Bật dùng Lão - Trang giải thích Dịch
lý, mà là dùng thiên lý (lẽ trời), là điều ông tự suy nghĩ ra để chú giải Chu
Dịch
Thiên lý của Trình Di tức là hình thái triết lý hóa của chế độ đẳng cấp
phong kiến và trật tự luân th-ờng Vua tôi trên d-ới, cao thấp, sang hèn là quy
định bản chất của thiên lý, do đó không ai có thể làm trái (Dịch nói Thiên tôn
địa ty, Càn Khôn định hỹ [13, 870]) Trong thiên lý còn có vấn đề trọng nam
khinh nữ, con gái tùy thuộc ở con trai Và t- t-ởng d-ơng (nam) tôn, âm (nữ)
ty của Dịch truyện và của Đổng Trọng Th- lại đ-ợc c-ờng hóa lẽ trời thêm một b-ớc
Th-ờng lý (lẽ th-ờng) tức là thiên lý (lẽ trời), Nhị Trình cũng từ đó suy
luận ra đạo lý “Chết đói là việc rất nhỏ, không giữ đ-ợc trinh tiết mới là việc
rất lớn” ở đây, họ nói đến thủ tiết tức là trói buộc tinh thần cấm hẳn ng-ời
phụ nữ th-ờng ngày không đ-ợc suy nghĩ đến dục vọng, nuốt sống tuổi thanh
xuân đẹp đẽ của nữ giới Đó chính là thực chất của tồn thiên lý, diệt nhân dục
Chủ nghĩa cấm dục là lý luận đạo đức và là ph-ơng thức sống, yêu cầu mọi ng-ời nghiêm khắc tiết chế tình dục, họ cho rằng tình dục của con ng-ời (đặc biệt là dục tính) là nguồn gốc của tội lỗi, nhấn mạnh diệt tình dục là con
đ-ờng lý t-ởng tự mình thực hiện hoàn thiện đạo đức
Các thời Nguyên, Minh: Dịch học không có sự phát triển gì đáng kể, xét chung thì đều theo đời Tống Các tr-ớc thuật Dịch học chủ yếu là xoay quanh những tác phẩm của Trần Đoàn, Thiệu Ung, Trình Di, Chu Hy
Thời Thanh: Xuất hiện một số tr-ớc thuật Dịch học với bộ mặt mới,
những tr-ớc tác này đã có những đóng góp cho sự phát triển triết học Trung
Trang 39Quốc Thời kỳ này, không khí nghiên cứu Chu Dịch rất thịnh v-ợng Theo
“Thanh sử cảo, Nghệ văn chí” thống kê thì ng-ời đời Thanh hiệu đính, giải
thích Chu Dịch có đến hơn 150 kiểu loại; tựu chung, họ chú trọng t-ơng đối nhiều đến s-u tập và chú giải Chu Dịch Thành qủa nghiên cứu của họ đáng để
kế thừa, chỉnh lý và phát huy Trong đó, ng-ời nổi tiếng là Hoàng Tôn Hi và
V-ơng Phu Chi Tác phẩm Dịch học t-ợng số luận là tác phẩm triết học quan
trọng của Hoàng Tôn Hi Tác giả trọng nghĩa lý nh-ng cũng nói đến t-ợng số
Ông nói đến t-ợng số nh-ng phản đối mê tín thuật số, coi Chu Dịch là văn hiến cổ đại, ra sức khôi phục bộ mặt vốn có của nó
V-ơng Phu Chi là kho báu Dịch học và t- t-ởng phép biện chứng Trung Quốc cổ đại Ông xuất phát từ góc độ vật chất và vận động gắn chặt với nhau,
đã khẳng định tính tuyệt đối của vật chất vận động Theo ông, Khí thái h- là
nguồn gốc của vũ trụ muôn vật, tự thân nó luôn luôn (vĩnh hằng) vận động
V-ơng Phu Chi đã để lại những tr-ớc tác nh-: Chu Dịch nội truyện, Chu Dịch
ngoại truyện, Chu Dịch đại t-ợng giải đều là những tác phẩm triết học
Tuy nhiên, đến cuối đời Thanh, dân tộc Trung Hoa đã phải trải qua các biến cố lịch sử lớn lao, bị các n-ớc đế quốc Ph-ơng Tây chia cắt, giày xéo; vận mệnh dân tộc ở mức nguy nan cho nên triết học cũng phải có những biến chuyển lớn Đạo học trở nên suy vi, Nho giáo tuy vẫn giữ đ-ợc địa vị cũ nh-ng đã thiên về thực dụng, khảo cứu rồi canh tân cho hợp thời Dịch học cũng theo trào l-u t- t-ởng mới đó
Những t- t-ởng huyền bí, khó tin dần dần bị quét sạch để thay vào đó là việc giải quyết những vấn đề cấp bách của xã hội đang đặt ra Nguy cơ bị lạc hậu của xã hội phong kiến Trung Hoa với các xã hội công nghiệp ở Ph-ơng Tây và Nhật Bản; đồng thời nguy cơ xâm l-ợc của các n-ớc đế quốc ph-ơng Tây cũng nh- Nhật Bản đối với dân tộc Trung Hoa là thực sự nguy cấp mà các giá trị tinh thần phong kiến, đặc biệt trong đó là Hán học không thể đáp ứng
đ-ợc Do vậy, cần thiết phải có những t- t-ởng khác tiến bộ hơn và bản thân các kinh điển cũng phải có đ-ợc những h-ớng nghiên cứu mới Với tính chất
Trang 40uyển chuyển vốn có của mình, Kinh Dịch đã đi đầu trong việc tìm tòi h-ớng nghiên cứu mới đó
Vào tháng 12 năm 1973, tại Trung Quốc đã diễn ra cuộc khai quật nổi tiếng các ngôi mộ cổ ở khu vực Mã V-ơng Đôi (Tr-ờng Sa, tỉnh Hồ Nam) ở
đó đã phát hiện hơn hai m-ơi bộ sách cổ; trong đó có hai bản Lão Tử bằng lụa, một bản Chiến quốc trung hoành gia th-, một bản Ngũ hành thập nhị
bệnh ph-ơng và một bản Chu Dịch viết trên lụa (gọi là Bạch th- Chu Dịch)
Bản Bạch th- Chu Dịch này đ-ợc tìm thấy ở ngôi mộ đánh số 3 của các v-ơng
thất nhà Hán Đó là một tấm lụa dài 85 cm chữ viết bằng mực đen, đ-ợc gấp gọn và đặt trong hộp sơn son Các văn bản khai quật đ-ợc nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay; tuy nhiên đã xuất hiện một số sai biệt
đáng kể
Bản Chu Dịch trong ngôi mộ cổ bao gồm cả những chú giải bổ sung của Kinh Dịch mà tr-ớc đây ng-ời ta không đ-ợc biết và có vẻ nh- đ-ợc viết ra (nh- ng-ời ta vẫn gán cho) bởi Khổng Tử Văn bản trong ngôi mộ ở Mã V-ơng Đôi là sớm hơn vài thế kỷ so với các bản sớm nhất đ-ợc công nhận Khi nói về sự phát triển của Kinh Dịch, các nhà khoa học nghiêng về xu h-ớng hiện đại cho rằng đây là điều quan trọng để phân biệt giữa văn bản của Kinh Dịch truyền thống và các văn bản giống nh- Kinh Dịch (mà theo họ là sai niên đại), nằm trong những chú giải đ-ợc thần thánh hóa suốt hàng thế kỷ cùng với chủ thể của chúng Các nghiên cứu lịch sử đó gần đây còn nhận đ-ợc
hỗ trợ bởi các phê phán của các nhà ngôn ngữ học hiện đại và các nhà khảo cổ học Nhiều ng-ời cho rằng các văn bản này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau, nh-ng nhiều nhà khoa học hiện đại nghi ngờ về sự tồn tại thật sự của Phục Hy cũng nh- cho rằng Khổng Tử không làm gì cho Kinh Dịch cả Một
số học giả khác cho rằng đồ hình của Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp ở phía nam sông Tr-ờng Giang mà sau này ng-ời Hoa Hạ
đã học tập và phát triển lên
Để thay đổi cả một truyền thống nghiên cứu Dịch học hàng mấy nghìn năm qua là điều không đơn giản và cần phải có những luận chứng sắc bén