1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học chính trị của a tocqueville trong tác phẩm nền dân trị mỹ”

110 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tocqueville – một người ngoại quốc hiểu Mỹ hơn cả người Mỹ – luôn được xếp ngang hàng với Tuyên ngôn 1 Tác phẩm nguyên bản được viết bằng tiếng Pháp với nhan đề “De la démocratie en A

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo Những tài liệu trích dẫn trong luận văn là có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Học viên

Bùi Đức Kiên

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã nhiệt tình dạy dỗ, trang bị cho em những kiến thức quan trọng làm nền tảng trong quá trình em nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và tất cả bạn

bè đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập

Học viên

Bùi Đức Kiên

Trang 5

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

B NỘI DUNG 9

Chương 1: Những điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng triết học chính trị của Alexis de Tocqueville 9

1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội 9

1.2 Những tiền đề tư tưởng 15

1.2.1 Triết học khai sáng Anh: T Hobbes và J.Locke 17

1.2.2 Triết học khai sáng Pháp: Montesquieu và J.J Rousseau 22

1.2.3 Tư tưởng chính trị Mỹ 27

1.3 Alexis de Tocqueville và tác phẩm “Nền dân trị Mỹ” 30

1.3.1 Alexis de Tocqueville – con người và tư tưởng 30

1.3.2 Cấu trúc và nội dung cơ bản của tác phẩm “Nền dân trị Mỹ” 36

Chương 2: Những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học chính trị Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ và những giá trị, hạn chế của nó 41

2.1 Khái niệm về triết học chính trị 41

2.2 Những nguyên tắc của tư tưởng triết học chính trị Tocqueville 43

2.2.1 Nguyên tắc “nhân dân tối thượng” 44

2.2.2 Nguyên tắc tự do và bình đẳng 49

2.3 Tư tưởng về các quyền lực nhà nước 65

2.4 Tư tưởng về thiết chế và các tổ chức chính trị xã hội 81

Trang 6

2.5 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học chính trị của Alexis de

Tocqueville trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ” 88

2.5.1 Những giá trị 88

2.5.2 Những hạn chế 94

C KẾT LUẬN 97

LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triết học chính trị đã hình thành từ thời cổ đại trong tư tưởng phương Đông lẫn tư tưởng phương Tây Việc nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn vô cùng lớn bởi đối tượng của triết học chính trị có tầm ảnh hưởng rộng lớn đến hầu khắp các mặt của đời sống con người Trong số các tác phẩm thuộc lĩnh vực triết học chính trị, tác giả luận văn đặc

biệt chú ý đến Nền dân trị Mỹ1 của A.Tocqueville (1805 – 1859) với những lý do như sau:

Thứ nhất, Khi bàn về các tư tưởng triết học chính trị thời cổ đại người ta thường

nhắc đến Platon, Aristote; thời cận đại người ta chú ý đến những nhà tư tưởng thuộc dòng Khai sáng như J Locke, Montesqueu, J.J Rousseau, J S Mill… Bên cạnh những triết gia vĩ đại của nhân loại đó một tên tuổi cũng không kém phần nổi bật, một nhà quý tộc Pháp nhưng lại có những đánh giá khách quan về nền dân trị đó là A.Tocqueville Tại Mỹ, ông được coi là “một huyền thoại, một thần tượng, vì được xem như là hiểu nước Mỹ hơn

cả người Mỹ” [xem tài liệu 75] Vào đầu thế kỉ XXI, vẫn còn không ít trí thức Mỹ tự nhận mình là môn đồ của ông: “Tất cả chúng ta bây giờ đều theo phái Tocqueville cả!” (We are all Tocquevillians now!) [xem tài liệu 75]

Ở châu Âu, tên tuổi và tác phẩm của ông ít phổ biến hơn so với ở Mỹ nhưng ông vẫn thường được coi là “Montesquieu của thế kỉ XIX” [xem tài liệu 75] Trong mọi cuộc thảo luận về chính trị học học hiện đại, ông được xem trọng bên cạnh những nhân vật tiêu biểu của thế kỉ XIX – đầu XX: Auguste Comte, Max Weber, John Stuart Mill, Karl Marx,…

Thứ hai, tác phẩm Nền dân trị Mỹ của A Tocqueville khi vừa mới ra đời đã

tạo ra tiếng vang vô cùng to lớn Tác phẩm nhận được sự đánh giá cao của giới học

giả đương thời và sau này Ở Mỹ, Nền dân trị Mỹ của A Tocqueville – một người

ngoại quốc hiểu Mỹ hơn cả người Mỹ – luôn được xếp ngang hàng với Tuyên ngôn

1

Tác phẩm nguyên bản được viết bằng tiếng Pháp với nhan đề “De la démocratie en Amérique”, được dịch sang tiếng Anh với nhan đề Democracy in America – việc dịch sang tiếng Việt là Nền dân trị Mỹ hay Nền dân chủ Mỹ trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, tác giả cho rằng điều đó về cơ bản không có gì

khác biệt

Trang 8

độc lập 1776 và Hiến pháp Hoa Kỳ 1789 [xem tài liệu 75] Qua tác phẩm này, Tocqueville đã mô tả rõ nét mô hình nhà nước và xã hội dân chủ tư sản, chỉ ra được những nguyên nhân tạo nên mô hình nhà nước ấy, đồng thời phân tích những giá trị

và hạn chế của nó Ngoài ra, Nền dân trị Mỹ chứa đựng nhiều giá trị cho đến nay, hậu

thế còn đang bàn luận: những giá trị về dân chủ, về công bằng, về tự do, về tổ chức kiểm soát quyền lực nhà nước, những tư tưởng về các thiết chế xã hội…

Thứ ba, nhà nước pháp quyền, xã hội công dân, chế độ dân chủ, kinh tế thị

trường tuy gắn liền với tên tuổi các nhà tư tưởng tư sản cũng như quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, đó không phải chỉ là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa mà là những giá trị, những phát kiến của nhân loại trên con đường tự hoàn thiện mình Chính vì thế, ngày nay, việc tìm hiểu những giá trị tinh hoa ấy của nhân loại là hết sức cần thiết trên con đường phát triển và hội nhập của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng

Thứ tư, Việt Nam đã và đang đặt mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng đất nước theo tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc

“nhìn lại mình” không đơn thuần chỉ là nghiên cứu lại những giá trị cốt lõi trong kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, nó còn là nhìn vào nền tri thức của nhân loại không phân biệt chế độ chính trị và quan điểm tư tưởng Từ đó, chắt lọc ra những tinh hoa, những giá trị tích cực nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa Như F Engels đã nhận định: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [28, 489] và “năng lực ấy cần phải được phát triển, rèn luyện, và muốn rèn luyện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu triết học thời trước” [28, 487]

Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc nghiên cứu tư tưởng của Tocqueville nói chung

và nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị của ông nói riêng mới được quan tâm gần

đây khi tác phẩm Nền dân trị Mỹ được xuất bản bằng tiếng Việt Bởi vậy, các công

trình nghiên cứu chuyên sâu về triết học chính trị của Tocquevill chưa có nhiều

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng triết học chính trị của A

Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học

Trang 9

chuyên ngành Triết học của mình Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị của Tocquevill cũng là điều mong muốn từ lâu của tác giả luận văn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về Tocqueville (cả về tiểu sử, cuộc đời cho đến nội dung tư tưởng) đã có rất nhiều chủ yếu là tài liệu tiếng Anh và tiếng Pháp Một số công trình bằng tiếng nước ngoài tiêu biểu đáng kể đến như

Tocqueville: a very short introduction (tạm dịch là “Tocqueville: nhập môn”)

Đây là tập sách của của Harvey C Mansfield2 do Oxfod University Press xuất bản năm 2010 nghiên cứu tổng quan về Tocqueville từ cuộc đời và các tác phẩm của ông với những dòng đầu tiên tác giả nhận định Tocqueville là một con người có cái nhìn chân thực sâu sắc và khách quan về nền dân chủ cùng mối tương quan của nó với tự

do Bên cạnh đó, tác phẩm cũng chỉ ra tư tưởng của Tocqueville về những dân chủ, giá trị trong nền dân chủ, về nguy cơ chuyên quyền của nên dân chủ, cách thức quản

lý và tổ chức kiểm soát quyền lực trong nền dân chủ, cuối cùng tập sách có những đánh giá chung về những giá trị mà Tocqueville đã đóng góp cho nhân loại

Tác phẩm Aristocratic Liberalism: The Social and Political Thought of Jacob Burkhardt, John Stuart Mill, and Alexis de Tocqueville (Chủ nghĩa tự do quý tộc: tư

tưởng chính trị của Jacob Burkhardt, John Stuart Mill, and Alexis de Tocqueville) của Alan S Kahan được xuất bản năm 2001 bởi New Brunswick, USA và Transaction Publishers, London, UK Trong tác phẩm, tác giả bày tỏ quan điểm của mình về chủ nghĩa tự do quý tộc như là một bộ phận của chủ nghĩa tự do nói chung bằng cách tập trung vào tư tưởng về tự do của ba nhà quý tộc Burckhardt, Mill và Tocqueville Khi

đi vào tìm hiểu tư tưởng của ba nhà quý tộc, Kahan đã có sự so sánh và nhận thấy cả

ba ông đều có những nhận định chung về sự tự do tối thiểu đều phải chứa đựng trong

nó tự do sử hữu, tự do thương mại, tự do báo chí và các quyền tự do ứng cử vào chính phủ Tuy nhiên, ông cũng khẳng định mức độ ủng hộ của ba nhà quý tộc về những mặt trên là khác nhau

Luận án tiến sĩ French political thought from montesquieu to tocqueville (Tư

tưởng chính trị Pháp từ Montesquieu đến Tocqueville) của Annelien de Dijn3 xuất

Trang 10

bản năm 2009 Tác phẩm khái quát lịch sử tư tưởng nước Pháp từ giai đoạn Montesquieu đến Tocqueville trong tình hình chính trị liên tục biến động Trong đó, tác giả dành hẳn một chương viết về Tocqueville từ lý tưởng muốn xây dựng “một khoa học chính trị mới mẻ” (a new political science) [66, 136] Tác giả tập trung mô

tả tư tưởng của Tocqueville trong trong bối cảnh nền quân chủ nước Pháp đang đi vào hồi “chung kết”, trong bối cảnh tầng lớp quý tộc ở Pháp đang mất dần vị trí trong xã hội và phân tích quan điểm về quyền tự do của Tocqueville Trong Luận

án, tác phẩm De la democratie in Amérique (Nền dân chủ Mỹ) xuất bản bằng tiếng

Pháp vào năm 1835 và 1840 cùng các tác phẩm khác của Tocqueville được tác giả khai thác với khía cạnh nhấn mạnh về quyền tự do của con người Tác giả cho rằng

“Theo Tocqueville, tự do có tác dụng hữu ích trong nhiều mặt của cuộc sống con người: nó khuyến khích hoạt động kinh tế trong tiểu bang, nó kích thích lòng yêu nước – trên thực tế, sự tồn tại của một quốc gia phụ thuộc vào nó” [66, 139] Tác giả cũng cho rằng quan điểm của Tocqueville giống với Montesquieu khi khẳng định chế độ độc tài không thể tồn tại lâu dài Trong sự phân tích của mình, tác giả đưa ra kết luận Tocqueville là người ủng hộ một quốc gia tự do – nơi mà con người được

tự do phát triển hết khả năng của mình và chỉ có quyền lực nhà nước mới có thể đảm bảo được cho tự do của mỗi người

Tiếp sau đó, tác giả đưa ra thêm nhận định nữa cho rằng, tuy Tocqueville là người ủng hộ tự do nhưng với xuất thân là một nhà quý tộc nên ông ủng hộ việc xây dựng xã hội dân chủ dựa trên nền tảng xã hội quý tộc trong điều kiện tự do được đảm bảo hơn bất cứ điều gì khác [66, 150]

Bài viết “Tocqueville and the political thought of the french doctrinaires (Guizot, Royer – Collard, Rémusat)” (Tocqueville và tư tưởng chính trị của các nhà

lý luận giáo điều Pháp (Guizot, Royer – collard, Rémusat) của Aurelian Craiutu4

nằm trong công trình biên soạn tập thể Lịch sử tư tưởng chính trị ( History of

Political Thought) tập 20 xuất bản năm 1999 đã trình bày về sự ảnh hưởng, sự tương đồng và khác biệt trong tư tưởng của Guizot, Royer – collard, Rémusat và tư tưởng chính trị của Tocqueville

4

Khoa chính trị, đại học Princeton, New Jersey, Mỹ

Trang 11

Bài viết “State and Civil Society in the Political Philosophy of Alexis de Tocqueville” (Tư tưởng triết học chính trị của A Tocqueville về nhà nước và xã hội dân sự) của Henk E S Woldring5 đăng ở International Journal of Voluntary and Nonprofit Organizations, Vol 9, No 4, 1998 (Tạp chí quốc tế của tổ chức tình nguyện và phi lợi nhuận, tập 9, số 4, năm 1998) đã khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của Tocqueville và

sau đó nêu bật nên những tư tưởng lớn của ông về chính phủ và sự tập trung chính phủ,

về mối quan hệ giữa hiệp hội tự do với tự do và bình đẳng của công dân,…

Ngoài những công trình và bài viết kể trên còn nhiều công trình nghiên cứu

khác như Tocqueville, democracy, and social reform (Tocqueville, dân chủ và cải cách

xã hội) của Michael Drolet do Palgrave Macmillan được xuất bản năm 2003,

Tocqueville’s Moral and Political thought (tư tưởng đạo đức và chính trị của Tocqueville) của M.R Ossewaarden do Routledge Prees, London xuất bản năm 2004

Công trình chuyên biệt nghiên cứu về tác phẩm Nền dân trị Mỹ phải kể đến

đó là công trình của James T Schleifer: The Making of Tocqueville’s Democracy in America (Sự ra đời Nền dân chủ Mỹ của Tocqueville) được Indianapolis xuất bản

năm 2000 Công trình đã khái quát quá trình ra đời những tư tưởng chủ đạo trong

tác phẩm Nền dân trị Mỹ

Những công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị được viết hay dịch sang

tiếng Việt có rất nhiều Chẳng hạn như, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật,

tập 1 của Trần Ngọc Đường do Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999;

Triết học chính trị (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ) Đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh của Doãn Chính – Đinh Ngọc Thạch xuất bản năm 2003 … Ngoài ra, một số tập sách về lĩnh vực triết học chính trị được được dịch sang tiếng việt như:

P Phê-đô-xê-i-ép, Bàn về quan hệ giữa triết học và chính trị, Nxb Sự Thật, 1957; Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới, Dịch giả Lưu Kiếm Thanh – Phạm Hồng Thái, Nxb Văn hóa thông tin, HN, 2006 Hay như bài viết đăng trên Tạp chí Triết học Số 1 (224) năm 2010, trang 70 – 74 : “Bàn thêm về một số thuật ngữ triết

học chính trị – xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài” của Nguyễn Tấn Hùng,…

5

Khoa Luật và Khoa Triết, Đại học Free ở Amsterdam, Hà Lan

Trang 12

Về A Tocqueville, ông “là một khuôn mặt lạ thường” [xem tài liệu 75] ở Việt Nam, một cái tên xa lạ đối với hầu hết người Việt Tuy nhiên, trong một số tập sách tiếng Việt, ông cũng đã đôi lần được nhắc đến

Công trình của N.M Voskresenskaia – N.B Davletshina (2009), Chế độ dân chủ – Nhà nước và xã hội, Phạm Văn Trường dịch, Nxb Tri thức cũng đề cập đến

Tocqueville cùng những đánh giá của ông về nền dân chủ: “Những khuyết điểm của nền dân chủ thì dễ nhận thấy ngay từ đầu còn ưu điểm của nó thì phải sau một thời gian tồn tại mới có thể chứng minh” [ Trích theo 63, 18]

Trong công trình do Vũ Dương Ninh chủ biên (2010), Lịch sử văn minh thế giới – tái bản lần thứ mười hai, Nxb Giáo dục Việt Nam Tocqueville được đánh giá

là một nhà chính trị học nghiên cứu về quyền con người và cơ cấu tổ chức của nhà nước, đặc biệt là nhà nước dân chủ với tiên đoán: “trào lưu dân chủ thế kỉ XIX là không thể dập tắt được” [46, 327]

Tác giả Đoàn Thị Quý trong đề tài luận văn thạc sĩ Triết học chính trị phương Tây hiện đại bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –

Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định Tocqueville là một nhà tư tưởng thuộc trường phái chủ nghĩa tự do cổ điển

Tác phẩm Nền dân trị Mỹ được dịch giả Phạm Toàn chuyển ngữ sang tiếng

Việt do Nxb Tri thức xuất bản lần đầu năm 2006 tái bản năm 2009, 2013 là công trình đầu tiên của Tocqueville được xuất bản ở Việt Nam Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông

Ngoài tác phẩm gốc được dịch sang tiếng Việt, còn có bài viết của nhà nghiên

cứu Bùi Văn Nam Sơn: A.Tocqueville và sự trầm tư về nền dân trị được viết năm

2006 với tư cách là lời giới thiệu về tổng quan tác phẩm được đăng tải trên một số

website và sau đó được in trong phần đầu của tập sách Nền dân trị Mỹ Trong bài

viết, Bùi Văn Nam Sơn đã khái quát được một số những nội dung lớn và trọng tâm

mà Tocqueville đã trình bày trong tác phẩm Tác giả đã chỉ rõ trong tư tưởng của Tocqueville, dân trị chỉ là một thuộc tính nhằm đảm bảo cho cộng đồng được “tham gia công khai, không hạn chế mọi công dân vào các vị trí kinh tế xã hội và chính trị Như thế dân trị là khái niệm không giới hạn để phân biệt với các hình thức cai trị

Trang 13

khác trong lịch sử”[xem tài liệu 75] Đồng thời, tác giả cũng vạch ra những tư tưởng

cơ bản về nền dân trị trong quan niệm của Tocqueville: thứ nhất, nền dân trị được coi

là một chế độ có tính dân chủ cao; thứ hai, trong nền dân trị đó quyền lực phải thuộc

về nhân dân hay là phải có nguyên tắc “nhân dân tối thượng”; thứ ba, quyền lực

thuộc về nhân dân phải dựa trên việc tự do lập chính đảng, hội họp, tự do báo chí…;

thứ tư, quyền lực thuộc về nhân dân phải dựa trên việc nhân dân tự mình bầu ra người

đại diện thông qua phổ thông đầu phiếu

Tóm lại, trên thế giới Tocqueville đã và đang được nhiều học giả nghiên cứu nhưng

ở Việt Nam sự hiểu biết về ông còn rất mờ nhạt Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống về tư tưởng triết học

chính trị của Tocqueville nói chung và tác phẩm Nền dân trị Mỹ nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ tư tưởng triết học chính trị của A

Tocqueville thể hiện trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ từ đó đưa ra đánh giá về những

giá trị và hạn chế của nó

Nhiệm vụ của luận văn:

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ những điều kiện và tiền đề ra đời của tư tưởng triết học chính trị của A Tocqueville và tác phẩm Nền dân trị Mỹ

Thứ hai, phân tích những nguyên tắc và nội dung cơ bản của tư tưởng triết học chính trị của A Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ

Thứ ba, phân tích những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học chính trị của

A Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng triết học chính trị của A

Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ

Phạm vi nghiên cứu của luận văn đó là những tư tưởng triết học chính trị của

A Tocqueville trong tác phẩm Nền dân trị Mỹ trong bối cảnh kinh tế chính trị và diễn

tiến của nền triết học Mỹ

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp cụ thể như: phương pháp nghiên cứu văn bản, chú giải học, tổng hợp, phân tích tài liệu,…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên, học viên cao học và độc giả quan tâm đến tư tưởng triết học chính trị của A Tocqueville

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương 8 tiết

Trang 15

B NỘI DUNG

Chương 1: Những điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng triết học

chính trị của Alexis de Tocqueville 1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội

Trong sự phát triển không ngừng của lịch sử nhân loại, giai đoạn châu Âu thế

kỉ XVII – XIX có những biến chuyển vô cùng mạnh mẽ về mọi mặt trong đời sống

xã hội từ kinh tế, chính trị cho đến các khía cạnh xã hội Đó là giai đoạn châu Âu biến đổi ở hệ thống và phương thức sản xuất vật chất - là cơ sở cho sự tồn tại phát triển của mình

Về kinh tế, phương thức sản xuất phong kiến đã hoàn thành vai trò lịch sử

của mình và đang bộc lộ những hạn chế không thể cải tạo Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dần dần hình thành thay thế phương thức sản xuất phong kiến “xuất hiện nhiều công trường thủ công, ban đầu là các nước ven Địa Trung Hải nhất là Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nước khác Thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển là nền sản xuất công trường thủ công đem lại năng suất lao động cao hơn”[64, 241]

Nhằm giải quyết được những nhu cầu trong đời sống kinh tế: tìm kiếm nguồn nguồn tài nguyên và nhân công, mở rộng thị trường,…hàng loạt các phát kiến địa lý

đã ra đời, tiêu biểu như: cuộc thám hiểm tìm ra châu Mỹ năm 1492 của Cristoforo Colombo, cuộc thám hiểm đường biển vòng qua châu Phi tới Ấn Độ năm 1479 –

1498 của Vasco Da Gama và cuộc thám hiểm vòng quanh thế giới năm 1519 – 1522 của Ferdinand Magellan Bên cạnh những phát kiến địa lý là hàng loạt những phát minh trong khoa học như máy dệt, máy kéo sợi, máy in, la bàn, thuật luyện kim, thuốc súng, kính viễn vọng,…nhằm đáp ứng đòi hỏi của sản xuất Những phát minh

đó đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử, nó trở thành động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển và cũng là một trong những nguyên nhân bùng nổ cách mạng công nghiệp như phát minh ra “máy hơi nước” (1784) của James Watt

Trong bối cảnh phát triển kinh tế ấy, một trong những “mặt hàng” đem lại nhiều lợi nhuận nhất đó là “nô lệ da đen” Người nô lệ da đen được những kẻ buôn người mua từ châu Phi bằng trao đổi hàng hóa rồi sau đó lại được đem sang châu

Trang 16

Mỹ bán lấy tiền hoặc đổi lấy nguyên liệu Đây là “mặt hàng” có giá trị cao, lợi nhuận lớn: “mua” một nô lệ ở châu Phi chỉ tốn từ 70 đến 100frăng, mang sang bên kia đại dương bán có thể thu được từ 1000 đến 2000frăng, tỉ suất lợi nhuận từ 1000% đến 3000%” [Trích theo tài liệu 76]6

Việc kinh tế phát triển nhanh chóng (đặc biệt là khi châu Âu bước vào thời

kỳ Cách mạng công nghiệp), nhiều công trường thủ công ra đời, lao động chân tay, giản đơn, quy mô nhỏ bị thay thế bằng nền công nghiệp sử dụng máy móc trên quy

mô lớn đã ảnh hưởng lớn đến mọi mặt trong đời sống châu Âu Từ sự bùng nổ về kinh tế đó, giai cấp tư sản xuất hiện và ngày càng có vai trò to lớn trong nền kinh tế

Về chính trị, giai cấp tư sản mới ra đời liên vấp phải nhiều cản trở trong sự

phát triển mình Việc giải quyết những cản trở này nhất thiết phải có sự thay đổi ở hệ thống kiến trúc thượng tầng Bên cạnh đó, dưới sự cai trị của vua chúa phong kiến và tăng lữ giáo hội khiến đời sống nhân dân đặc biệt là nông dân nghèo rất khổ cực, lầm than Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra, tiêu biểu nhất là phong trào khởi nghĩa nông dân Đức (1524 – 1525) Đó là phát súng đầu tiên báo hiệu chế độ phong kiến đã quá lỗi thời, nhất thiết phải thay đổi bởi một chế độ khác tiến bộ hơn Tiếp sau phong trào khởi nghĩa nông dân Đức là các cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra tấn công vào chế

độ phong kiến trên toàn “lục địa châu Âu già cỗi”, bắt đầu với Cách mạng Nederlandsnăm 1566 Lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà nước theo chính thể cộng hòa được ra đời do giai cấp tư sản lãnh đạo [xem 48, 182 – 183]

Với sự thắng lợi của cách mạng tư sản Nederlandscuối thế kỉ XVI và cách mạng tư sản Anh (1642 – 1689), cuộc cách mạng Pháp (1789 – 1799) là một “cuộc tấn công vào thành trì của chế độ cũ” [34, 9], lật đổ chế độ xã hội cũ xây dựng chế

độ xã hội mới, loại bỏ phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu, lỗi thời, tiến hành củng cố và phát triển phương thức sản xuất mới đang trên con đường khẳng định mình Từ đây châu Âu bắt đầu bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản

Trong thời đại cách mạng sục sôi ấy, bên kia bờ đại dương, mười ba thuộc địa của Tân thế giới (châu Mỹ) cũng tiến hành một cuộc cách mạng tư sản (1776 –

6

Xem thêm Nguyễn Mạnh Tường, (1994), Lý luận giáo dục châu Âu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

trang 24–25

Trang 17

1783) với mục tiêu là thoát khỏi sự ảnh hưởng của mẫu quốc và lập ra một nhà nước mới theo mô hình dân chủ tư sản đưa mình đi theo con đường tư bản chủ nghĩa

Về văn hóa, cuối thời Trung đại (thế kỉ XIV), ở châu Âu có một phong trào

văn hóa mới: phong trào văn hóa Phục hưng Bắt đầu bùng nổ ở Ý, phong trào văn hóa Phục hưng nhanh chóng lan ra toàn châu Âu Đi kèm với phong trào ấy là sự phát triển và chiếm lĩnh của ý thức hệ tư sản

Phong trào Phục hưng đã đạt được nhiều thành tựu từ lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đến khoa học và triết học Những thành tựu trong mọi lĩnh vực của thời kì Phục hưng chẳng hạn như “thuyết nhật tâm” của Nicolas Copernic, “vật lý cơ học” của Isaac Newton, “tính duy truyền máu” của William Harvay, các phát minh toán học của René Descartes, Gottfried Leibniz, Isaac Newton,… Những thành tựu của thời kì Phục hưng đã không những bác bỏ những sai lầm ngự trị mấy trăm năm ở châu Âu, khôi phục lại những giá trị văn hóa của thời kì cổ đại mà còn tạo đà cho hàng loạt những phát minh mới, những tư tưởng mới ra đời trong giai đoạn kế sau

mà người ta thường gọi là “Thời kì khai sáng” Trong thời đại khai sáng ấy nước Pháp đã xuất hiện hàng loạt các vĩ nhân như René Descartes, Votaire, J.J Rousseau, Montesquieu,…

Về xã hội, bước sang thế kỉ XVI – XVII, giai cấp tư bản đã khẳng định vị thế

của mình trong xã hội buộc các giai tầng cũ phải liên minh với mình Nhưng đó chỉ là biểu hiện của sự liên minh tạm thời giữa giai cấp quý tộc phong kiến, tầng lớp giáo sĩ

và giai cấp tư sản mới ra đời Có sự liên minh tạm thời này vì khi mới ra đời, giai cấp

tư sản nhận thấy rằng, chỉ dưới chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền công nghiệp mới có thể phát triển thuận lợi, nhất là trong bối cảnh có những ngăn trở

về thuế quan giữa các địa phương và sự lớn mạnh của chính quyền quân chủ còn đem lại nhiều quyền lợi chính trị [xem 48, 157]

Nằm trong bối cảnh đó, nước Pháp đầu thể kỉ XVIII trong tình trạng chế độ quân chủ chuyên chế bộc lộ những hạn chế không thể khắc được Khi nước Anh đang tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa thì nước Pháp vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu: Hai hai triệu người chiếm 90% dân số sống bằng nghề nông,

Trang 18

công cụ và phương pháp canh tác vô cùng lạc hậu, đất đai trong toàn lãnh thổ thuộc quyền sở hữu của vua Chế độ phát canh thu tô vẫn thống trị trong nông nghiệp Tô thuế vẫn là nguồn sống chủ yếu của giới quý tộc, tăng lữ và đối tượng bóc lột chính vẫn là nông dân

Sự phát triển của công thương nghiệp ở Pháp so với Anh còn thua kém rất xa nhưng cũng đã làm cho bộ mặt Pháp có sự thay đổi lớn Hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp phổ biến ở Pháp lúc này theo mô hình công trường thủ công Giao thương của nước Pháp với các quốc gia khác đặc biệt là việc buôn bán với các thuộc địa dần chiếm một vị trí quan trọng Các mặt hàng chủ yếu là lúa mì, len, dạ, gia súc, rượu vang và các mặt hàng xa xỉ phẩm… Bên cạnh đó, “mặt hàng” nô lệ da đen trở thành một món hàng đem lại nhiều lợi nhuận nhất Tuy nhiên, dưới sự cai trị của chế độ phong kiến với những quy định ngặt nghèo trong sản xuất và buôn bán, hàng trăm thứ thuế cùng với sự thiếu thống nhất giữa hệ thống đo lường thuế khóa đã gây nên trở ngại rất lớn tới sự phát triển của nền công thương nghiệp, đòi hỏi là cần phải xóa bỏ sợi xích ràng buộc của chế độ phong kiến

Dưới sự thay đổi trong kinh tế, xã hội Pháp cũng có những sự phân hóa rõ rệt: Đẳng cấp đầu tiên là tăng lữ – thành phần xã hội có đặc quyền vô cùng lớn Nhà thờ Cơ đốc giáo ở Pháp, theo nghĩa đen, đã tồn tại với tư cách là “nhà nước bên trong nhà nước” hơn tám trăm năm ở Pháp sở hữu khoảng 10 – 15% ruộng đất

Đẳng cấp thứ hai là quý tộc chiếm địa vị cao trong nhà thờ, quân đội và nhà nước Bên cạnh những thứ thuế họ thu được từ việc phát canh ruộng đất cho nông dân, họ còn thu thêm hàng loạt các thứ thuế khác như thuế muối, thuế xay lúa, thuế nhà kho, thuế rượu, thế qua đường, thuế đi đò, câu cá, giết mổ gia súc,… Họ sở hữu khoảng 30% đất đai trong xã hội

Đẳng cấp thứ ba là tư sản, nông dân, thợ thủ công, trí thức,… chiếm đa số trong xã hội Đây là đẳng cấp hoàn toàn không có bất kì quyền hành nào trong hệ thống chính trị Trong số đó, nông dân là những thành phần khổ cực nhất Bên cạnh những chi phí sinh hoạt tối thiểu đủ để sống của mình, họ còn phải gồng mình lên gánh chịu hàng loạt các thứ thuế và phải thường xuyên đi lao dịch cho giới tăng lữ quý tộc và nhà nước

Trang 19

Nguyên nhân tồn tại của trật tự xã hội phi lý và bất công trên là do vị trí xã hội của con người đã không tồn tại một cách tự nhiên mà được áp đặt bằng pháp luật, địa vị con người trong xã hội được nhà nước quy định Nói cách khác, bên cạnh việc quy định vị thế xã hội của con người theo dòng dõi và thành tích gia tộc (chứ không phải được căn cứ bởi tài năng) đã hết sức phi lý thì việc “thể chế hóa” (quy định bởi nhà nước) đã ngăn chặn sự chuyển hóa tự nhiên giữa các thành phần trong xã hội [xem 25, 30]

Như vậy, trong xã hội Pháp cuối thể kỉ XVIII đã chia thành hai trận tuyến rõ rệt, một bên là phong kiến bao gồm đẳng cấp thứ nhất và thứ hai còn một bên là đẳng cấp thứ ba do giai cấp tư sản lãnh đạo Như F Engels đã viết trong tác phẩm

Chống Duyhring: “Nhưng bên cạnh sự đối lập giữa quý tộc phong kiến với giai cấp

tư sản, giai cấp đứng ra làm đại biểu cho toàn bộ xã hội còn lại, còn có sự đối lập chung giữa những kẻ bóc lột và những kẻ bị bóc lột, giữa những người giàu lười biếng và những người nghèo lao động Chính tình hình đó đã làm cho các đại biểu của giai cấp tư sản có thể mạo nhận mình là đại biểu không phải của một giai cấp riêng biệt, mà chỉ là đại biểu của toàn thể nhân loại đau khổ.” [28, 31 – 32]

Chính trong bối cảnh ngột ngạt về kinh tế và chính trị ấy, kế thừa những thừa những thành tựu mà phong trào Văn hóa Phục hưng đã đạt được ở giai đoạn trước, ở nước Pháp xuất hiện “Phong trào Khai sáng” và trở thành một trong những quốc gia

đi đầu của phong trào ấy Phong trào Khai sáng tiếp tục khuynh hướng phê phán các quan niệm cũ về thế giới, về con người “Giờ đây, tôn giáo, các quan niệm về tự nhiên, xã hội, tổ chức, nhà nước,… tất cả đều được đem ra phê phán trước tòa án lý tính và biện hộ cho sự tồn tại của mình hoặc từ bỏ sự tồn tại của mình” [dẫn theo 64, 350] Nói cách khác, các nhà khai sáng Pháp thông qua ngòi bút của mình đã thu hút

và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội, hướng họ vào mục đích đấu tranh chống chế độ thống trị của giai cấp tăng lữ, quý tộc và xác lập một chế độ mới tốt đẹp hơn

Bên cạnh những sự “thăng hoa” trong đời sống lý luận của mình, nước Pháp cũng phải đối mặt với hiện thực hết sức nghiệt ngã: xã hội biến động, khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân khổ cực, điêu đứng Khắp cả nước bùng nên những

Trang 20

cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của người dân Chỉ riêng trong mùa xuân năm 1789

đã có tám trăm cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân đến mức một viên chức chính phủ phải thốt lên “không ở đâu có sự khuất phục, ngay cả trong quân đội cũng không tin được” [dẫn theo 34, 74] Các cuộc nổi dậy của nhân dân bị chính quyền thống trị sử dụng mọi biện pháp đàn áp, giai cấp thống trị sử dụng quân đội dập tắt những phản kháng của nhân dân Nhưng cuộc nội dậy của nhân dân vùng này bị dẹp yên thì vùng khác lại bùng lên bởi lòng căm thù của nhân dân Pháp với chế độ chuyên chế đã không thể điều hòa được nữa

Cuộc Cách mạng Pháp nổ ra năm 1789 nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các giai tầng nhân dân đã làm rung chuyển trật tự xã hội nước Pháp lúc bấy giờ Đó là cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo (nó quy định bởi địa vị kinh tế và xã hội lúc bấy giờ của giai cấp tư sản), có mục tiêu lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, xác lập một chế độ chính trị mới chứa đựng nhiều quyền tự do dân chủ hơn, giải phóng sức sản xuất, mở đường cho nền kinh tế chủ nghĩa tư bản phát triển Để từ đó, các mối quan hệ khác của chủ nghĩa tư bản cũng được xác lập trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Giống như các cuộc cách mạng tư sản khác, Cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) có điểm hạn chế là: nó không nhằm mục đích xóa bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột, không nhằm giải phóng hoàn toàn con người khỏi áp bức giai cấp Song, nó cũng đã phần nào cải thiện đời sống nhân dân, và các tư tưởng khai sáng –

vũ khí lý luận của giai cấp tư sản – với nhiều ưu điểm hơn tư tưởng phong kiến được hiện thực hóa ở một số luận điểm đặc biệt là trong việc tổ chức bộ máy xã hội

Trật tự chính trị xã hội châu Âu đang rung chuyển bởi các cuộc cách mạng thì ở châu Mỹ, mười ba thuộc địa của Anh cũng đang tìm cách khẳng định sự độc lập của mình trước Mẫu quốc (Đế quốc Anh)

Châu Mỹ được tìm thấy vào năm 1492, một trong những vùng đất đón nhận những luồng dân di cư từ “cựu lục địa” (châu Âu) sang đầu tiên là khu vực Bắc Mỹ Bên cạnh những nhóm người bản xứ, dân di cư sang bắc Mỹ rất đa dạng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo Nhưng họ có cùng một đặc điểm đều là những người có tinh thần yêu chuộng tự do và bình đẳng Trong cuộc tìm kiếm tài nguyên

và thị trường, Đế quốc Anh đã thiết lập tại Bắc Mỹ 13 xứ thuộc địa (tiền thân của

Trang 21

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Quá trình hình thành lên 13 thuộc địa này là quá trình dần dần từng bước chứ không phải đồng loạt Tuy mỗi thuộc địa có nhiều điểm khác với các thuộc địa khác, nhiều sự kiện và khuynh hướng trong hai thế kỷ XVII và XVIII đã khiến các thuộc địa này kết hợp lại với nhau Một trong những lý

do là tất cả các thuộc địa này đều có nguồn gốc thuộc địa trong Đế quốc Anh, trong khi có lý do khác làm họ muốn độc lập với Anh và dẫn đến Cách Mạng Hoa Kỳ (1775 – 1783)

Sau cuộc chiến chống lại Pháp và Người da đỏ (1754 – 1763), các “khẩn địa”

ở Bắc Mỹ có sự đoàn kết với nhau và lòng chung thành với Mẫu quốc (Đế quốc Anh) hơn bao giờ hết Tuy nhiên, với những tổn thất mà cuộc chiến với Pháp và Người da đỏ để lại cùng với những chính sách luật pháp và thuế má phi lý hoặc quá nặng của Mẫu quốc đã làm nhân dân các “khẩn địa” ở Bắc Mỹ cảm thấy bất bình đẳng như Đạo luật Đường, Đạo luật Tem, Đạo luật đóng quân, Đạo luật trà,…Thêm vào đó, Đế quốc Anh ngày càng muốn can dự nhiều hơn vào công việc hành chính của các xứ thuộc địa khiến mâu thuẫn giữa người dân ở 13 thuộc địa Bắc Mỹ với

Đế quốc Anh ngày càng trở nên sâu sắc

Cách mạng giành độc lập của nhân dân Hoa Kỳ thắng lợi đã có nhiều tác động đến tình hình châu Âu Ở Pháp, cuộc cách mạng Hoa Kỳ đã cổ vũ cho giai cấp

tư sản Pháp lãnh đạo nhân dân chống lại chế độ quân chủ Pháp nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp quý tộc tăng lữ nhằm xác lập một chế độ mới tiến bộ hơn

A Tocqueville sống trong bối cảnh như vậy, lúc Phong trào Khai sáng đã sản sinh ra hàng loạt những vĩ nhân lớn, những nhà tư tưởng kiệt xuất; lúc xã hội loài người đang có những biến động vô cùng dữ dội; trong bối cảnh giai cấp tư sản Pháp đã khẳng định được địa vị của mình trong xã hội

Không một tư tưởng nào ra đời trên mảnh đất trống không mà trái lại nó gắn chặt vào những điều kiện lịch sử cụ thể thời đại mà nó sinh ra Bên cạnh những điều kiện về kinh tế – xã hội (điều kiện vật chất), ta cần phải xét rõ hơn những tiền đề về

tư tưởng

1.2 Những tiền đề tư tưởng

Trang 22

Tocqueville (29/7/1805 – 16/4/1859) sinh tại nước Pháp, trong bối cảnh châu

Âu đang trải qua một giai đoạn chủ nghĩa tư bản đang từng bước định hình, trong lúc châu Âu đang muốn khôi phục và phát triển những giá trị đã có từ thời cổ đại Thời kì Phục hưng của châu Âu như lời nhận xét của Engels: “Đó là một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng Những người đã đặt cơ sở cho nền thống trị hiện đại của giai cấp tư sản có thể được coi bất cứ là những người như thế nào nhưng quyết không phải là những người có tính hạn chế tư sản Trái lại, ít nhiều họ đều có cái tinh thần phiêu lưu của thời đại họ cổ vũ” [28, 459 – 460]

Từ những thành tựu to lớn mà thời kì Phục hưng (XIV – XVI) đã đem lại cho châu Âu nhiều giá trị to lớn, là nền tảng để một phong trào mới được khai sinh, sau này thường nhắc đến với cụm từ “Thời đại Khai sáng” (XVII – XIX)

“Thời đại Khai sáng” là thời đại bùng nổ của sức sản xuất, của các phát minh, của tư tưởng của con người Bắt đầu ở Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, “Thời đại Khai sáng” đã ảnh hưởng tới toàn châu Âu và lan cả sang “Tân thế giới” Giai đoạn cận đại nói chung và đặc biệt là “Thời đại Khai sáng” đã sản sinh

ra rất nhiều vĩ nhân như: John Locke (1632 – 1704), Voltaire (1694 – 1778), Montesquieu (1689 – 1755), Thomas Hobbes (1588 – 1679), J Rousseau, (1712 – 1788), Benjamin Franklin (1706 – 1790), Thomas Jefferson (1743 – 1826),…

Thời kì này, tưởng châu Âu mang bốn đặc trưng lớn:

Thứ nhất, triết học thời kì này là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc

đấu tranh chống phong kiến và giáo hội

Thứ hai, tư tưởng triết học của các nhà duy vật thời kì này mang tính hai

mặt, chứa đựng nhiều yếu tố duy tâm, phiếm thần luận, tự nhiên thần luận

Thứ ba, triết học thời kì này gắn liền với đề tài nâng cao giá trị và khát vọng

giải phóng con người

Trang 23

Thứ tư, triết học giai đoạn này mang đậm tính nhân văn sâu sắc, các nhà triết

học đã nhìn thằng vào mặt trái trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, vào đời sống bần cùng và khốn quẫn của quần chúng lao động [11, 201 – 202]

Trong bối cảnh như vậy, Tocqueville đã có điều kiện học hỏi và chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng, học thuyết của các bậc tiền bối Trong phạm vi luận văn thạc sỹ triết học này, tác giả luận văn tập trung khảo cứu những triết gia có ảnh hưởng trực tiếp nhất tới tư tưởng triết học chính trị của Tocqueville, đó là: Lý thuyết về trạng thái tự nhiên và quyền con người của T Hobbes; quan niệm về quyền tự nhiên của con người và tư tưởng phân quyền của John Locke; triết học chính trị Khai sáng của Montesquieu và Rousseau: những người đi đầu trong lý thuyết về phần quyền, khế ước xã hội và chủ quyền của nhân dân

1.2.1 Triết học khai sáng Anh: T Hobbes và J.Locke

Hobbes (1588 – 1679), là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về trạng thái tự nhiên – trạng thái tự do hoàn hảo, quyền tự nhiên của con người và những tư tư tưởng khởi đầu trong lý thuyết về “khế ước xã hội”

Lý thuyết về trạng thái tự nhiên được Hobbes đưa ra khác hẳn với cách nhìn nhận đánh giá của các tôn giáo khi xem xét bản tính con người Nếu như tôn giáo xem con người là thực thể do Thượng đế sáng tạo ra, mang bản chất của Thượng đế thì Hobbes quan niệm: trong trạng thái tự nhiên, mọi người đều tự do và bình đẳng tuyệt đối nhưng sống không tách rời nhau Mỗi cá nhân đều mong muốn bảo vệ mình và có nhu cầu sống trong trạng thái hòa bình Đây là cơ sở để khẳng định quyền tự nhiên của con người

Hobbes coi bản tính con người vốn dĩ là ác, “con người là động vật ranh ma hơn cả chó sói, gấu, rắn” [dẫn theo 55, 14] Những luận thuyết của Hobbes đưa ra dựa trên cơ sở vật lý học khi ông coi mọi sự vật, hiện tượng của thế giới về mối quan

hệ số lượng và toán học, ngay cả khi trái tim con người ông cũng coi như chiếc lò xo

và dây thần kinh là những sợi chỉ còn khớp xương là những chiếc bánh xe Tất cả chúng hợp thành một bộ máy làm cho cơ thể con người được chuyển động

Hobbes phủ nhận quan niệm của Aristotle coi con người là động vật chính trị Ông cho rằng con người là một thực thể thống nhất giữa tự nhiên và xã hội

Trang 24

Chính vì bản chất như thế, con người sinh ra bình đẳng về mọi mặt Điều tạo nên sự khác biệt giữa con người với nhau là nhu cầu, khát vọng và ham muốn của họ Từ bản chất “ác” và nhu cầu, ước muốn không thể san sẻ với người khác, Hobbes đưa

ra quan niệm về lợi ích: con người sống với nhau, đối xử với nhau và tạo lập các mối quan hệ với nhau dựa trên cơ sở lợi ích Vì lợi ích của bản thân, nhiều người sẽ làm phương hại, xâm lấn đến lợi ích của người khác Cụ thể hơn, ông đưa ra ba lý

do lý giải tính hiếu chiến của con người: cạnh tranh (để giành quyền sống cho mình), thiếu tin cậy vào người khác (nhu cầu tự bảo toàn) và thèm khát vinh quang (nhu cầu được kính trọng) Cạnh tranh đưa con người đến bạo lực, đến tình trạng chiến tranh và hỗn loạn

Bản tính tự nhiên của con người là bình đẳng và tự do nên sống trong một xã hội để đảm bảo được điều đó, con người cần thiết lập những quy tắc ứng xử trong trạng thái tự nhiên Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan niệm sự bình đẳng của con người càng cao bao nhiêu thì sự bất hạnh của con người càng lớn bấy nhiêu Sự bình đẳng của người này luôn có nguy cơ va chạm vào sự tự do của người khác, dẫn đến họ tự do tiêu diệt lẫn nhau Để ngăn chặn điều này, Hobbes đã đưa đến một giải pháp là cần có một quyền lực làm cho tất cả mọi người phải nể sợ, phục tùng Quyền lực ấy phải dựa trên một cơ sở là “khế ước xã hội” “Khế ước xã hội” được hiểu là khi con người cùng thỏa thuận với nhau từ bỏ trạng thái tự nhiên của mình chuyển sang trạng thái có nhà nước Đó là bản thỏa thuận trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau Giao ước được kí kết

có nghĩa là mọi người tự nguyện chuyển nhượng một phần quyền tự nhiên của mình cho một số người, chuyển từ trạng thái sống tự nhiên sang trạng thái dân sự Luật pháp trong xã hội có khế ước được coi như là công cụ bạo lực để trừng phạt những

ai vi phạm khế ước: “luật pháp không có quyền bảo vệ công dân nếu không có một lưỡi gươm trong tay người hay trong tay một số người để thi hành các luật ấy” [dẫn theo 55, 17]

Hobbes đưa ra các hình thức nhà nước như chính thể quân chủ, chính thể cộng hòa và chính thể quý tộc Trong đó, ông ủng hộ chính thể quân chủ Nhưng đó không phải là hình thức chính thể đã từng tồn tại ở những giai đoạn trước đó, bởi

Trang 25

hình thức này được bổ sung thêm những hoạt động chính trị của giai cấp tư sản Nhà nước có vai trò như là người điều phối quản lý và đảm bảo cho xã hội được hòa bình bằng sức mạnh và quyền lực đặc biệt của mình Để đảm bảo được điều đó, nhà nước phải giới hạn quyền tự do của con người trong một khuôn khổ nhất định Như

vậy, ở đây Hobbes đã nhấn mạnh nhà nước là sản phẩm của con người, là do nhu cầu của mọi người trong xã hội mà hình thành nên chứ không phải là sản phẩm của vua chúa hay Thượng đế Đây là một đòn đánh mạnh vào sự thống trị của nhà nước

phong kiến và nhà thờ

Sự xuất hiện của nhà nước với vai trò điều phối xã hội, đảm bảo quyền tự do cho tất cả mọi người thì sự tự do cá nhân với nghĩa là ý muốn cá nhân của từng thành viên có thể bị thu hẹp, bị hạn định trong khuôn khổ nhưng tự do cá nhân với nghĩa là tiền đề cho sự tự do của người khác thì được mở rộng Quan điểm này đã ảnh hưởng tới quan niệm của Tocqueville khi bàn đến xã hội công dân Trong quan niệm về trạng thái tự nhiên của con người, Tocqueville cũng nhận thấy rằng trong trạng thái tự nhiên con người luôn có sự bình đẳng với nhau, không ai hơn ai Không giống với Hobbes, Tocqueville không quan niệm sự bình đẳng của con người càng cao thì bất hạnh của con người càng lớn Trái lại, Tocqueville “tôn sùng” sự bình đẳng, đặc biệt là “sự bình đẳng về các điều kiện”, coi đó là cơ sở để xác lập các quyền tự nhiên khác của con người

Tiếp theo T Hobbes, J.Locke (1632 – 1704) tiếp tục phát triển quan niệm về quyền tự nhiên của con người bên cạnh đó ông còn phát triển tư tưởng phân quyền trong chính thể nhà nước

Tư tưởng của Locke xuất phát từ những quan niệm về con người, phê phán quan niệm cho rằng con người là có những tư tưởng bẩm sinh sẵn có Ông đưa ra luận điểm Tabula rasa (Nguyên lý Tấm bảng trắng): Từ khi sinh ra con người không

có những tri thức bẩm sinh, những tư tưởng sẵn có mà tất cả đều được đem đến bởi cảm giác, kinh nghiệm “con người đạt được mọi tri thức nhờ sử dụng các khả năng

tự nhiên của họ mà không cần sự giúp đỡ bẩm sinh nào” [3, 391] Mọi người sinh ra đều giống như một tờ giấy trắng, trên đó chưa hề có một kí hiệu hay ý niệm nào cả, mọi ý niệm đều hình thành nhờ quá trình sống sau nay Tức là, cho dù một trí khôn

Trang 26

sâu sắc nhất hay vĩ đại nhất, nhạy bén nhất cũng không có khả năng sáng tạo hay hình thành nên một ý niệm đơn giản mới trong trí khôn nếu không thông qua cảm giác và quá trình phản tư Nói cách khác, kinh nghiệm là cái đưa đến tri thức của con người Từ việc làm sáng tỏ tố chất của con người, ông đi đến các quyền thiêng liêng của con người nói chung như quyền tự do vô hạn, quyền bình đẳng tự nhiên, quyền ở hữu và quyền chiếm hữu – đây là những nền tảng được các nhà tư tưởng sau đó kế thừa

Kế thừa pháp quyền tự nhiên của Hobbes, Locke tiếp tục phát triển và làm sâu sắc chúng khi ông khẳng định phẩm chất tự nhiên của con người không chỉ là tự

do mà còn là sự bình đẳng tự nhiên sẵn có Điều này được rút ra trong quá trình ông

so sánh giữa trạng thái tự nhiên và trạng thái công dân của con người Mỗi người sinh ra được bình đẳng về tinh thần và thực tế mà không kể đến ưu thế về quyền lực hay tài sản Từ quan niệm về sự bình đẳng cố hữu, sẵn có ông đi đến quan niệm về

“trạng thái tự nhiên hoàn hảo”

Locke không khẳng định động lực thúc đẩy con người là tính ích kỉ và điều này chi phối mọi hoạt động của con người trong xã hội Ông cũng không cho rằng trong trạng thái tự nhiên, con người luôn có xu hướng chống lại nhau, để tránh điều

đó con người cần phải có một quyền lực chung, thống nhất Với Locke, “trạng thái

tự nhiên” là trạng thái lý tưởng nhất đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại Ở đó, con người có cuộc sống hòa bình và có những hành động phù hợp với luật tự nhiên

“Trạng thái tự nhiên” là trạng thái con người có thể tự do hành động theo ý muốn của mình, không phải phụ thuộc vào ai khác Nói khác đi, đó là sự bình quyền của con người Locke khẳng định: “thiên nhiên đã tạo nên những con người hết sức bình đẳng về khả năng thế chất và tinh thần” [dẫn theo 3, 306] Từ đó, mỗi người luôn tự giác tôn trọng sự bình đẳng của nhau

“Trạng thái tự nhiên” đem lại cho con người sự bình đẳng, tự do nhưng điều

đó lại không được đảm bảo chắc chắn Khi bất cứ ai cũng “có quyền trừng phạt những kẻ xâm nhập đến luật của họ, đến mức có thể cản trở sự vi phạm ấy” [35, 37], mỗi người đều tự làm quan tòa cho chính mình sẽ dẫn đến sự thiếu công minh trong phán xét, dẫn đến nguy cơ bùng phát các cuộc chiến tranh làm phá vỡ trạng thái tự nhiên vốn có Khi Trạng thái chiến tranh xuất hiện, mọi nguyên tắc tự nhiên

Trang 27

bị xâm phạm, con người sử dụng vũ lực để tranh giành quyền lợi và xâm phạm đến quyền tự do, công bằng và sở hữu của người khác Cuối cùng, kết quả dẫn đến hình thành Trạng thái nô lệ Vì vậy, để ngăn chặn những “thảm họa” trên, con người cần phải chuyển sang trạng thái khác là Trạng thái công dân Trạng thái này gắn liền với

sự hình thành xã hội dựa trên những nguyên tắc về sở hữu, về pháp lý và đạo đức

Đó là một trạng thái có tổ chức nhà nước Trong trạng thái đó, con người không thể

tự do hành động theo ý muốn của mình mà phải tuân thủ ý chí chung của toàn thể

xã hội Luật pháp được tạo ra nhằm giúp mọi thành viên trong xã hội thể hiện quyền

sở hữu của mình, đồng thời đưa ra những quy tắc chung cho toàn xã hội

Locke cho rằng, quyền lực nhà nước được sinh ra với mục đích đảm bảo các quyền tự nhiên của con người Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ quyền tự do và quyền sở hữu do lao động đem lại như bảo đảm quyền tự nhiên của mỗi công dân Tự do cho con người vừa là mục đích, vừa là giới hạn quyền lực của nhà nước Con người chỉ dành cho nhà nước một phần cuộc sống của mình và tồn tại ngoài nhà nước là chủ yếu Quyền lực của nhà nước được thể hiện qua các đạo luật, quy định và giới hạn quyền của mỗi cá nhân

Kế thừa và phát triển quan điểm phân quyền của Aristotle, Locke đưa ra một chính thể nhà nước được cấu thành bởi ba quyền lực nhà nước đó là lập pháp, hành pháp và quyền liên hiệp (quyền thành lập các tổ chức chính trị xã hội) Locke cho rằng chỉ có một quyền lực tối cao là cơ quan lập pháp, tất cả các quyền lực còn lại đều phải phụ thuộc vào đó Như vậy, Locke coi cơ quan lập pháp là linh hồn của toàn bộ thể chế chính trị, quy định quyền lực của nhà nước và quyền hạn của mỗi công dân trong xã hội Ông cũng nhận định quyền lực ấy “được xuất phát từ nhân dân, từ một sự chuyển nhượng [theo sự thỏa thuận đôi bên] mang tính chất tự nguyện, xác thực và cùng với một chế định” [35, 24]

Như vậy, tư tưởng phân quyền đã bắt đầu được định hình ở Locke, điều này

đã được các nhà khai sáng tiếp theo kế tục và phát triển Montesquieu tiếp tục phát triển thành tư tưởng tam quyền phân lập: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền

tư pháp Những quyền này hạn chế lẫn nhau, cân bằng nhau và thuộc về các cơ quan khác nhau Tocqueville tìm kiếm cơ sở lý luận của mình ở Locke Giống như

Trang 28

Locke, nếu như xét đến quyền lực nhà nước, ông cho rằng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Tuy nhiên, ông không cho rằng cơ quan lập pháp là cơ quan cao nhất vượt lên trên hai cơ quan còn lại mà chúng có sự song hành với nhau, cùng kiểm soát lẫn nhau Tocqueville không ủng hộ một chính thể quân chủ tuyệt đối, quyền lực tập trung toàn bộ trong tay nhà vua mà cũng như Locke, ông cho rằng cần phải xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực của vị quân vương, hạn chế sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua để đảm bảo các quyền tự nhiên của con người

1.2.2 Triết học khai sáng Pháp: Montesquieu và J.J Rousseau

Montesquieu (1689 – 1755) là nhà triết học khai sáng Pháp có quan niệm nhà nước ra đời từ sự vận động và phát triển của xã hội loài người đến một trình độ nhất định Khác với Hobbes, ông cho rằng cùng với sự ra đời của xã hội thì các cuộc chiến tranh giữa con người ngày càng phát triển, các mối quan hệ của con người ngày càng trở nên phức tạp Chính sự có mặt của chúng, đòi hỏi cần phải thiết lập luật pháp giữa những con người với nhau [xem 64, 351] Từ cơ sở đó, nhà nước xuất hiện Nhà nước sử dụng pháp luật cho nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia và các thành viên xã hội Ông phân loại nhà nước ra làm ba hình thức: chuyên chế, quân chủ và dân chủ Ngoài ra, ông còn đề cập đến hình thức nhà nước quý tộc, cùng với chính thể dân chủ là hai hình thức của nước cộng hòa So sánh ba hình thức nhà nước cơ bản, ông kịch liệt lên án hình thức nhà nước chuyên chế bởi trong hình thức nhà nước đó không tồn tại pháp luật, mọi thứ chỉ vận hành theo sở thích và ý chí của người đứng đầu [xem 33, 47]

Montesquieu quan niệm trong xã hội có nhà nước, quyền lực tối thượng của

xã hội là thuộc về nhân dân Nhân dân dùng lá phiếu của mình bầu ra nhà nước; nhà nước tạo ra pháp luật và nhân dân phải tuân thủ pháp luật do nhà nước tạo ra Trong nền cộng hoà dân chủ, để biến sự lựa chọn đó thành hiện thực, người dân uỷ nhiệm một số người nắm quyền lực nhà nước và thay mặt nhân dân tổ chức, quản lý xã hội Montesquieu cũng cho rằng, chỉ trong nền cộng hoà dân chủ những giá trị của

tự do và bình đẳng mới có thể đến được với mỗi người Tuy nhiên, chính trong nhà nước dân chủ thì sự thoái hóa lại trở nên dễ dàng nhất: con người vì ham muốn bình đẳng nên thiếu tôn trọng những người do mình bầu ra để quản lý xã hội; nhà cầm

Trang 29

quyền thì vì lợi ích của bản than dễ trở nên sa đọa Từ đây, ông cho rằng cần phải xem “đạo đức là nguyên tắc của chính thể dân chủ”7 [25, 45]

Tiếp thu tư tưởng của Aristotle và J Locke, Montesquieu quan niệm trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền là quyền lập pháp, quyền thi hành những điều luật về công pháp (quyền hành pháp) và quyền thi hành những điều trong luật dân

sự (quyền tư pháp) Quyền lập pháp giao cho nghị viện, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho toà án Montesquieu cho rằng khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viện nguyên lão thì

sẽ không còn gì tự do nữa Khi ấy có thể xảy ra trường hợp nhà cầm quyền sẽ đặt ra những luật lệ độc tài có lợi cho mình rồi thi hành Ông cũng nhìn thấy sự mất tự do nếu như quyền tư pháp không tách riêng khỏi quyền lập pháp và hành pháp Trong trường hợp quyền tư pháp nhập với quyền lập pháp, con người có thể mất đi quyền làm chủ cuộc sống của mình, bởi vì nhà cầm quyền vừa là người làm ra luật, vừa là người thi hành điều luật đó Trong trường hợp khác, quyền tư pháp và quyền hành pháp nhập làm một, thì sẽ chẳng có còn công cụ nào để kiểm soát hành động của nhà cầm quyền nữa và ông ta sẽ có cái sức mạnh của “kẻ đàn áp” [33, 101] Cấu trúc phân quyền này không chấp nhận việc một cơ quan nhà nước đứng trên hoặc nắm trọn vẹn cả ba quyền, không chấp nhận một cơ quan nào vượt lên những cơ quan kia, không một cơ quan có thể tước đoạt quyền cá nhân của công dân Tam quyền phân lập nhằm dùng quyền lực kiểm soát và kiềm chế quyền lực Quyền lập pháp giao cho nghị viện có đại biểu của quý tộc phong kiến và tư sản Quyền hành pháp giao cho vua, nhưng vua phải chịu trách nhiệm trước nhân dân mà đại biểu là giai cấp tư sản, chỉ tham gia vào chuẩn y hay bác bỏ những điều luật sau khi cơ quan lập pháp đã thông qua Quyền tư pháp độc lập, được trao cho cơ quan do dân

cử và được bầu theo định kỳ Như vậy, dù ba cơ quan tuy có độc lập nhưng lại rằng buộc lẫn nhau tạo nên sự vận động chung cho toàn bộ hệ thống nhà nước

Không giống với Hobbes chủ trương tập trung quyền lực tối cao vào tay nhà nước; không giống với Locke chủ trương trao cho xã hội quyền phán xử tối cao các

7

Đạo đức ở đây là đạo đức của con người với quốc gia, luật pháp và nền dân chủ chứ không phải đạo đức ứng xử

Trang 30

tranh chấp giữa bộ ba hành pháp – lập pháp – nhân dân, Montesquieu không nói đến

sự tập trung quyền lực tối cao mà chỉ nhắc đến thứ quyền lực có thể phân chia ngay trong các bộ phận của nhà nước, đó là thứ quyền lực có kiểm soát Ông nhận thấy, cần thiết phải có sự phân chia quyền lực bởi nếu quyền hành pháp và lập pháp rơi vào tay một người thì luật pháp sẽ vừa được ban bố và thi hành một cách độc tài, con người sẽ mất đi tự do của mình; nếu quyền tư pháp nhập với quyền lập pháp thì các quyền tự nhiên của con người cũng không thể được đảm bảo, nếu quyền hành pháp nhập với tư pháp thì nhà nước sẽ đem đến sự khủng bố, đàn áp cho mỗi người dân [25, 50]

Bên cạnh tư tưởng phân quyền, Montesquieu còn bàn đến các khái niệm tự do

và bình đẳng, coi chúng là bản chất của các thể chế chính trị Tự do và bình đẳng là các khái niệm gắn liền với dân chủ, xã hội dân chủ sẽ bị suy đồi nếu như những khái niệm trên không được giữ gìn Ngược lại, cũng chính nhờ nhà nước và pháp luật mà con người được trở lại bình đẳng giống như sự bình đẳng đã tồn tại trước đó trong trạng thái tự nhiên

Quan niệm về tự do của Montesquieu chịu ảnh hưởng một phần bởi quan điểm của Xixeron khi cho rằng con người chỉ được phép tự do làm những gì luật pháp cho phép [33, 99] Quan niệm về quyền tự do của ông nổi bật lên hai vấn đề

Thứ nhất đó là tự do thân thể Quan niệm về tự do thân thể của Montesquieu giống

với các nhà khai sáng trước đó và cả sau này: con người có quyền tự nhiên bảo vệ

an ninh của bản thân mình Trong trạng thái tự nhiên con người làm điều đó với tư cách cá nhân nhưng trong xã hội có khế ước thì trách nhiệm đó thuộc về nhà nước (nhưng trong một số trường hợp chính nhà nước lại làm tổn hại đến an ninh của

người dân) Vấn đề thứ hai là tự do ngôn luận mà thực chất trong ông là quyền tự do

tư duy và tự do tư tưởng Quan niệm này được các K Marx khẳng định trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 khi khẳng định hoạt động tư duy, tinh thần là hoạt

động của riêng con người và nhờ hoạt động ấy mà con người có được tự do

Những tư tưởng về nhà nước, về tự do, bình đẳng của Tocqueville dựa trên sự

kế thừa tư tưởng của Montesquieu Về nhà nước, Tocqueville quan niệm cần phải có

sự phân chia quyền lực giữa các bộ phận của nhà nước nếu không nhà nước sẽ rơi

Trang 31

vào chuyên quyền độc đoán Hơn nữa, ông còn cho rằng, sự phân chia quyền lực giữa các bộ phận cấu thành lên nhà nước là chưa đủ, cần phải có sự kiểm soát quyền lực giữa các “thực thể” khác trong xã hội mà ông gọi là “hiệp hội dân sự”, “hiệp hội chính trị” hay gọi chung là “thiết chế xã hội” và các hiệp hội báo chí Bên cạnh đó, những tư tưởng về bình đẳng và tự do của Montesquieu cũng được Tocqueville khai thác và phát triển đặc biệt là quan niệm về tự do trong tư tưởng Tocqueville cho rằng, tự do trong tư tưởng cần được đảm bảo, biện pháp đảm bảo hiệu quả nhất đó là đảm bảo quyền tự do báo chí Ngoài ra, khi bàn đến quan niệm về bình đẳng, Tocqueville đã kế thừa quan niệm cho rằng sự bình đẳng gắn liền với nền dân chủ,

“lòng yêu mến dân chủ là lòng yêu mến sự bình đẳng” [33, 66] nhưng ông lại không giống với Montesquieu, ông cho rằng một xã hội tự do phải dựa trên sự bình đẳng chứ không phải sự bất bình đẳng

Mặc dù tư tưởng của Montesquieu có nhiều giá trị tích cực tiến bộ nhưng ông vẫn mắc phải những hạn chế mang tính chất thời đại như ông đã không thấy mặt trái pháp luật đó chính là ý chí chung của giai cấp thống trị xã hội chứ không phải của toàn thể nhân dân; đưa ra quan niệm để đạt được bình đẳng con người cần phải giảm bớt của cải và lòng thèm khát Điều này đã bị Rousseau ngầm lên án “sự bình đẳng này là điều tưởng tượng hão huyền không thể có trong thực tế” [19, 86]

Lý thuyết về chủ quyền nhân dân, khế ước xã hội của J J Rousseau (1712–

1788) Trên cơ sở nhìn nhận xã hội giai đoạn ông sống hoàn toàn thiếu tinh thần tự do

và bình đẳng: “người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích” [52, 29] Đồng thời khi luận giải về tự do Rousseau cho rằng tự do là giá trị thiêng liêng nhất của con người, không thể xem nó là món hàng để rồi có thể đem cho hoặc bán được Từ đó, ông đi đến lên án những ai từ bỏ quyền tự do của mình, bởi: “từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và

cả nghĩa vụ làm người” [52, 36]

Tiếp tục kế thừa quan điểm của các nhà đi trước về “Trạng thái tự nhiên” của con người, ông cho rằng con người trong giai đoạn đó luôn có được sự tự do và bình đẳng “Trạng thái tự nhiên” tồn tại khi con người còn mông muội, kém hiểu biết nhưng càng về sau, trí tuệ con người phát triển và đặc biệt là sự xuất hiện của tư

Trang 32

hữu thì trạng thái đó dần dẫn bị phá vỡ Bất bình đẳng và mất tự do xuất hiện, con người tự do xâm phạm đển bình đẳng và tự do của người khác Để bảo vệ sự bình đẳng và quyền tự do của mỗi người thì cần tìm ra hình thức liên kết giữa con người với nhau để tạo ra sức mạnh chung và dùng sức mạnh đó bảo vệ mọi thành viên:

“Mỗi thành viên trong khi tự khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tập thể, mà vẫn được tự do như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình” [52, 41] Cuối cùng, con người tham gia vào một trạng thái xã hội có tồn tại một “khế ước” Theo đó, khi tham gia vào khế ước, mỗi người dân tự nguyện trao quyền của mình cho một tổ chức đại diện cho ý chí của toàn thể xã hội gọi là nhà nước Nhà nước tồn tại là nhằm bảo vệ những quyền cơ bản của mỗi con người và quyền lực nhà nước thuộc

về toàn thể nhân dân Việc con người tham gia vào khế ước xã hội, trao quyền của mình cho nhà nước con người sẽ mất đi quyền tự do thiên nhiên của mình và cái quyền hạn chế điều mình muốn làm nhưng đổi lại, con người sẽ được quyền tự do dân sự, quyền sở hữu và được đảm bảo quyền bình đẳng với nhau trong lĩnh vực luật pháp Nhà nước do khế ước xã hội tạo ra quản lý xã hội bằng pháp luật – được sinh ra từ ý chí chung của toàn thể nhân dân Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thông qua việc uỷ quyền cho các đại biểu của mình trong bộ máy nhà nước Khi nhà nước vi phạm “khế ước xã hội” đã thoả thuận thì nhân dân có quyền thay thế bằng nhà nước mới

Tóm lại, khi tham gia vào nhà nước hay vào khế ước xã hội, con người từ bỏ trạng thái tự nhiên để bước sang trạng thái dân sự Đây là “một biến chuyển lớn lao” [52, 49], con người bước ra khỏi giới động vật ngu muội để trở thành con người vĩnh viễn Nhà nước là “con người tập thể” đại diện cho ý chí và quyền lực chung của tất cả mọi người Vì chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, nên ý chí chung chỉ

có thể điều khiển nhà nước theo mục đích chung và phục vụ lợi ích chung chứ không phải là ý chí của cá nhân hay một nhóm áp đặt cho tất cả Công dân tuân thủ

ý chí chung tức là tuân thủ ý chí của mình Không thể có một sự phân chia quyền lực thực sự thật sự nào với ý nghĩa là sự phân chia quyền lực tối thượng của nhân dân “Chủ quyền tối cao không thể từ bỏ thì cũng không thể phân chia được” [52, 55] còn sự phân chia quyền lực, nếu có, chỉ là nhằm thực hiện quyền lực tối cao đó

Trang 33

Tức là ở đây, ông cũng đưa ra quan niệm về tam quyền phân lập trên sự kế thừa tư tưởng của Montesquieu khi chia nhà nước ra làm ba bộ phận riêng biệt: Lập pháp, hành pháp và tư pháp

Quan niệm về chủ quyền tối cao của nhân dân được Tocqueville kế thừa và xây dựng thành nguyên tắc nhân dân tối thượng khi ông có chuyến khảo sát về nước

Mỹ Giống như Rousseau, ông coi chủ quyền tối cao là sự thực hiện ý chí chung của nhân dân, nó thuộc về nhân dân, xuất phát từ nhân dân Tuy nhiên, khác với Rousseau quan niệm con người phải chủ động tuân thủ theo ý chí chung, nhà nước

“không nên có các phe nhóm riêng” [52, 59], Tocqueville có quan niệm khi con người bước vào xã hội dân sự, có nguyên tắc nhân dân tối thượng ẩn dấu trong tất

cả các hoạt động của con người, con người tuân lệnh nguyên tắc đó mà không nhận

ra, muốn đảm bảo được nguyên tắc nhân dân tối thượng thì cần phải đảm bảo các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền tự do lập hội đoàn chính trị

1.2.3 Tư tưởng chính trị Mỹ

Ảnh hưởng của phong trào khai sáng châu Âu, ở Tân thế giới (châu Mỹ), tư tưởng khai sáng cũng đã được truyền bá và ảnh hưởng đến nhiều tên tuổi nằm trong thế hệ lập quốc của Mỹ như Benjamin Franklin (1706 – 1790), Thomas Paine (1737 – 1809), Thomas Jefferson (1743 – 1826),…

Các nhà tư tưởng chính trị Mỹ làm quen với các học thuyết khai sáng được truyền bá từ châu Âu trong đó có tư tưởng về quyền con người và tư tưởng về khế

ước xã hội Trong tác phẩm Quyền của con người (1791 – 1792), T Paine đã nhấn

mạnh cần phải nghiên cứu bản chất con người bắt đầu từ khi con người rời khỏi tay của Đấng sáng thế, ông không nhắc đến con người với địa vị trần gian mà nhắc đến con người trong bối cảnh chưa có nhiều sự phân biệt Như vậy, trong quan niệm của Paine, con người về bản chất có sự bình đẳng với nhau Điều này đã được thể hiện rất rõ trong tư tưởng về bình đẳng của Tocqueville khi ông cho rằng, con người luôn có sự bình đẳng với nhau

Quyền công dân theo Paine có nguồn gốc từ quyền tự nhiên Nó bắt nguồn từ các quyền tự nhiên mà con người không có khả năng bảo vệ một cách đơn độc

Trang 34

Chính vì thế cần thiết phải có một sức mạnh lớn hơn đảm bảo quyền tự nhiên của con người Từ đó, con người giao phó quyền của mình cho xã hội để tạo thành một quyền lực lớn hơn đảm bảo cho những quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người

không thể tự đảm bảo Từ đây, Paine đi đến kết luận: Thứ nhất, quyền công dân bắt nguồn từ quyền tự nhiên Thứ hai, quyền lực dân sự là sự thực hiện các quyền tự nhiên mà con người không thể đảm bảo được một mình trong xã hội Thứ ba, Con

người không được sử dụng quyền lực dân sự để xâm phạm các quyền tự nhiên mà con người có thể đảm bảo bằng quyền lực cá nhân

Muốn làm được những điều ấy, theo Paine, con người cần phải tham gia vào khế ước xã hội Khế ước xã hội trong quan niệm của Paine cũng giống như quan niệm của Rousseau là khế ước giữa những cá nhân riêng biệt cùng tham gia vào quá trình xây dựng nhà nước chứ không phải là một khế ước giữa những kẻ thống trị và

bị trị hay giữa những người nắm quyền lực và công dân Ở đây, Paine ủng hộ quan điểm cho rằng quyền lực nhà nước phải xuất phát từ quyền lực của nhân dân Hơn nữa, Paine cho rằng cần phải có một bản tuyên bố chung được gọi là “hiến pháp” (hay “tuyên ngôn”) làm cơ sở cho nhà nước đó hoạt động Hiến pháp là văn bản do nhân dân cùng xây dựng, nó được thừa nhận là bộ luật cơ bản nhất, tối cao nhất quy định sự tồn tại của nhà nước, nhà nước chỉ là con đẻ của hiến pháp Hiến pháp không chỉ quy định sự tồn tại của nhà nước mà nó còn là công cụ để đảm bảo quyền

tự nhiên của công dân như quyền tự do, sở hữu, an ninh, chống bạo lực, quyền tự do làm những gì không có hại cho người khác,…

Thomas Jefferson, tác giả của Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ cũng xuất phát từ các quyền tự nhiên của con người đặc biệt là những quyền cá nhân, xem đó là những nguyên tắc không thể chối bỏ của chủ quyền nhân dân Theo ông, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa đã cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Nhà nước được tạo dựng nên nhằm mục đích bảo vệ những quyền tự nhiên mà tạo hóa ban cho con người đó Nếu như hình thức nhà nước tồn tại không đảm bảo được những quyền tự nhiên ấy thì người dân có quyền thủ tiêu

Trang 35

và xây dựng một nhà nước mới Luật pháp được xác lập không phải muôn đời mà phải được liên tục sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của các thế hệ Từ đó, ta có thể ngầm hiểu Thomas Jefferson tán thành quan điểm Montesquieu khi ông cho rằng mỗi chính quyền phải phù hợp với từng quốc gia Hay nói như Hamilton sự phù hợp

ấy “như thể mỗi chiếc áo phù hợp với mỗi cá nhân Vì thế, điều có thể là tốt đẹp ở Philadenphia có thể sẽ tồi tệ ở Paris, hay trở nên lố bịch ở Saint Pertersburgh” [trích theo 4, 621] Tuy nhiên, khi bàn đến mô hình nhà nước, ông khẳng định, chế độ cộng hòa là chế độ tốt nhất bởi vì trong nhà nước cộng hòa mọi thành viên đều có quyền quyết định như nhau thông qua những đại diện do chính họ bầu lên thay mình quản lý công việc chung Cơ sở cho nhà nước cộng hòa là sự bình đẳng của người dân trước pháp luật, quyền tự do của con người, quyền sở hữu và các quyền

cá nhân của con người Để bảo vệ quyền bình đẳng của người dân ông chống lại chế

độ nô lệ và ủng hộ xây dựng một mô hình nhà nước có sự phân quyền không chỉ theo chiều ngang (tức là sự phân chia ba nhánh quyền lực lập pháp – hành pháp – tư pháp) mà còn phần quyền theo chiều dọc (theo các khu vực và cấp độ hành chính)

Có thể nhận định rằng, trong các nguyên tắc cơ bản hình thành khế ước xã hội được các nhà tư tưởng Mỹ thừa nhận để xây dựng nên nhà nước đó là: sự tự do

và chủ quyền tối cao không thể chối bỏ của nhân dân, là quyền bình đẳng và tính bất khả xâm phạm của sở hữu tư nhân,…

Tocqueville trong thời gian “du khảo” kéo dài 9 tháng ở Mỹ, ông đã nghiên cứu ông đánh giá cao tư tưởng lập hiến của các nhà tư tưởng thời kỳ lập quốc ở Mỹ,

tư tưởng về sự phù hợp giữa chính quyền với mỗi dân tộc, tư tưởng về tự do và bình đẳng – coi chúng như là hai điều kiện cơ bản nhất để xây dựng chính quyền Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy sự mâu thuẫn trong hiện thực khi khảo cứu nước Mỹ Quyền tự do và bình đẳng luôn luôn có sự va chạm lẫn nhau, nhất là khi các nhà tư tưởng chính trị Mỹ sử dụng nguyên tắc quyền lực thuộc về đa số để xây dựng nền dân chủ nhằm đảm bảo các quyền tự nhiên của con người Tức là, mọi người đều bình đẳng với nhau trong việc đóng góp ý tưởng, nếu như ý tưởng đó được phần đông thông qua thì nó đó sẽ trở thành ý tưởng chung của tất cả mọi người Như vậy,

sự bình đẳng tạo cơ hội cho sự mất tự do xuất hiện Ngược lại, sự tự do cũng có thể

Trang 36

xâm phạm đến quyền bình đẳng của người khác, chẳng hạn sự “tự do” sở hữu nô lệ của chủ nô sẽ tước đi quyền bình đẳng giữa những người nô lệ và giới chủ không chỉ trong chính trị mà còn trong đời sống thường ngày

Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế, chính trị lẫn tư tưởng của thế giới ở Pháp và ở

Mỹ có những diễn biến sinh động như vậy, Tocqueville đã có những sự ảnh hưởng

nhất định trong quá trình hình thành nên tư tưởng triết học chính trị của mình

1.3 Alexis de Tocqueville và tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”

1.3.1 Alexis de Tocqueville – con người và tư tưởng

Alexis de Tocqueville (29/7/1805 – 16/4/1859) sinh ra ở Paris, Pháp trong một gia đình quý tộc lâu đời vùng Normandie Ông được thế giới biết đến như là một “nhà sử học, nhà văn, nhà hoạt động xã hội” [63, 18] Ngoài ra, ông được coi là một trong những nhà kinh điển của khoa học chính trị

Ông sống trong bối cảnh nước Pháp đang ở giai đoạn rối ren nhất của nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu XIX: Pháp vừa trải qua một cuộc cách mạng vĩ đại (1789 – 1799), nền quân chủ chuyên chế tồn tại mấy trăm năm bị lật đổ Trong vòng hai năm từ khi cách mạng nổ ra, Pháp trải qua nhiều sự thay đổi về chính quyền Đầu tiên là chính quyền quân chủ lập hiến do vua Louis XVI đứng đầu, rồi đến chính quyền cộng hòa tư sản Girondin, chính quyền chuyên chính dân chủ Jacobin, tiếp đó đến chính quyền thời

kì đốc chính, chế độ thủ lĩnh (tổng tài) – Giai đoạn này thường được gọi là nền cộng hòa đệ nhất (1792 – 1804)

Cũng trong giai đoạn này, hàng loạt các văn kiện lớn của Pháp đã được soạn thảo và thông qua có ảnh hưởng không chỉ với nước Pháp mà còn trên toàn thế giới

như Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền do Hầu tước La Fayette cùng Thomas

Jefferson soạn thảo được Quốc hội lập hiến thông qua ngày 26/8/1789 Đây là cương lĩnh thấm nhuần tinh thần của các nhà triết học khai sáng Pháp và được đúc kết trong khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” Không chỉ có tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, thời kì cách mạng đã để lại những bản hiến pháp năm 1791,

1793, 1795,… chứa đựng nhiều giá trị tiến bộ

Chế độ thủ lĩnh (tổng tài) đã được xác lập sau cuộc chính biến “Ngày 18 tháng Sương mù” khi những người đứng đầu nhà nước chỉ muốn bảo vệ quyền lợi

Trang 37

của mình mà lờ đi quyền lợi của nhân dân, trong bối cảnh phong trào quần chúng đòi tự do dân chủ và dòng họ phong kiến Bourbon muốn quay trở lại khôi phục quyền lợi của mình đang đe dọa Cuối cùng sự kiện Napoléon Bonaparte lên ngôi hoàng đế năm 1804 đã chấm dứt thời kì nền Cộng hòa thứ nhất và xác lập Đế chế thứ nhất (1804 – 1814)

Tocqueville đã được sinh ra, những năm đầu đời ông sống trong giai đoạn Napoléon Bonaparte đang ở đỉnh cao quyền lực (giai đoạn Đế chính): Đế quốc Pháp trải hầu khắp châu Âu với 130 tỉnh, hơn 44 triệu dân (gấp đôi dân số nước Pháp lúc bấy giờ) Là người con thứ ba của Hervé de Tocqueville và Louise de Rosanbo, ông sinh ra trong một dòng họ quý tộc đã trải qua nhiều biến cố đau thương, hầu hết các thành viên bị lên máy chém trong Thời kì khủng bố (1793 – 1794) Chính cha mẹ ông cũng chút nữa bị lên đoạn đầu đài nếu như chính quyền Jacobin không bị sụp

đổ sau chính biến Thermidor (1794)

Hồi còn ấu thơ Tocqueville sống ở Verneuil–sur–Seine, nơi cha ông giữ chức thị trưởng Do đặc thù công việc, cha ông thường xuyên vắng nhà nên ông chủ yếu sống với mẹ Trong giai đoạn này, người ảnh hưởng lớn nhất đến ông là vị linh mục Abbé Lesueur, người đã truyền cho Tocqueville nhưng hiểu biết đầu tiên về đạo Thiên chúa và chế độ quân chủ Pháp Cha Tocqueville là một nhà quý tộc chủ trương bảo hoàng ủng hộ nền quân chủ cũ của dòng họ Bourbon, điều này đã ảnh hưởng đến Tocqueville suốt cả cuộc đời Năm 15 tuổi (1820), theo yêu cầu của cha mình ông chuyển về sống với cha tại Metz, nơi ông theo học trường Collège Royale và lấy bằng triết học và nghệ thuật hùng biện năm 1823 Trong quãng thời gian này, dưới sự quản

lý chặt chẽ và nghiêm khắc của cha, ông tiếp tục được trang bị những tri thức nền tảng

về hai lĩnh vực trên bên cạnh việc trang bị những kiến thức khác như về toán học, ngôn ngữ Latin Đây cũng là giai đoạn ông bắt đầu tiếp xúc với những tư tưởng khai sáng của các bậc tiền bối không chỉ của Pháp (đặc biệt là Montesquieu, Rousseau) mà còn của Anh, Đức, Hà Lan… Chính trong quá trình này, khi tiếp xúc với những con người vĩ đại đó, ông đã trải qua một cuộc khủng hoảng về giá trị của tầng lớp quý tộc

mà ông đang là thành viên

Trang 38

Sau năm 1823, ông trở lại Paris và tiếp tục việc học hành Cùng người bạn thân đồng thời cũng là người anh em họ của mình Louis de Kergorlay, ông muốn theo học ở trường đại học Bách khoa (École Polytechnique), chuyên ngành quân sự giống như truyền thống gia đình nhưng sức khỏe đã không cho phép ông làm điều

đó Cuối cùng, ông theo học ngành luật và đề tài tốt nghiệp của ông được viết bằng hai thứ tiếng Latin và Pháp Cuối năm 1826, để phục vụ cho quá trình làm đề tài tốt nghiệp, ông đã có chuyến đi Ý và ở đảo Sicily với người anh thứ hai, Édouard de

Tocqueville để nghiên cứu về luật La mã Trong quá trình này, ông đã viết Voyage

en Sicile (Chuyến du hành đến Sicile) dưới dạng nhật ký Nhưng đáng tiếc là bản

thảo của của cuốn nhật ký này đã bị thất lạc, hậu thế chỉ còn biết đến thông qua những bức thư mà Tocqueville gửi cho Gustave de Beaumont Theo lời của Gustave

de Beaumont, bản thảo này cho phép người đọc nghiên cứu đúng theo tinh thần của Tocqueville về những quan điểm sau này ông đã phát triển trong tác phẩm của mình Cũng chính trong bản thảo này, người ta sẽ tìm thấy một Tocqueville với những phân tích sắc sảo về những tác hại của nền chuyên chế với xã hội, về những điều kiện cần thiết cho một việc mở rộng tự do cho con người

Tháng 4/1827, ông quay trở về Paris, hoàn thành nốt khóa học của mình Sau

khi tốt nghiệp ông trở thành trợ lý thẩm phán tại tòa án Versailles Trong quãng thời gian làm việc ở đây, ông tiếp tục việc nghiên cứu luật pháp, trau dồi những kiến thức thực tiễn khi còn học ông chưa có điều kiện nghiên cứu Giai đoạn này đã trang bị cho Tocqueville những kiến thức nền tảng của khoa học chính trị

Quãng thời gian phục vụ vương triều Bourbon thời trẻ với Tocqueville là quãng thời gian đẹp nhất Đó cũng là quãng thời gian những quan niệm về tự do của ông đã được vun trồng, nẩy nở và trở thành một tình yêu nhiệt thành, cháy bỏng suốt cuộc đời ông Tuy nhiên, ngày tháng đẹp đẽ ấy của Tocqueville không kéo dài được bao lâu Cách mạng tháng 7/1830 đã lật đổ sự cầm quyền của vương triều Bourbon và đưa Công tước Louis Phillipe vùng Orleans lên làm vua thiết lập nền Quân chủ tháng Bảy (1830 – 1848) Trong những ngày diễn ra cách mạng, Tocqueville vẫn làm việc tại toà án Versailles nên có sự an toàn nhất định Ông chăm chú theo dõi những sự kiện đang diễn ra ở thủ đô và cảm thấy chán nản, thất vọng về những phản

Trang 39

ứng của vương triều Bourbon Khi chính phủ mới được ra đời, ông buộc phải tuyên thệ trung thành với chính phủ mới mặc dù trong thâm tâm ông vẫn hướng về vương triều Bourbon

Trong quá trình làm việc tại Versailles, ông đã quen Marie Mottley, con gái của một gia đình dòng dõi quý tộc và lớn hơn ông 9 tuổi Mối quan hệ của ông với Marie Mottley bị gia đình và bạn bè phản đối bởi ngoài việc hơn tuổi, Marie Mottley còn là một người theo đạo Tin lành và gia đình khá giả hơn ông rất nhiều Cuộc hôn nhân giữa ông và Marie Mottley đã diễn ra vào năm 1835 Tocqueville luôn cảm thấy hài lòng về cuộc hôn nhân của mình và ông chưa bao giờ hối hận vì điều đó Với Tocqueville, Marie Mottley mãi là chỗ dựa vững chắc về tình thần cho mình

Trước khi đi sang Mỹ (1831), ông đã theo học một khóa học về văn minh châu Âu với giáo sư lịch sử trường đại học Sorbonne, François Pierre Guillaume Guizot – người theo chủ nghĩa tự do trong chính trị Ông đã chịu ảnh hưởng từ người thầy của mình trong các quan điểm về tự do sau này Để có những hiểu biết sâu sắc hơn nữa về luật pháp, ông đề xuất việc cần phải có một sự khảo cứu không chỉ

ở châu Âu Lúc này, bên kia đại dương một quốc gia mới đã hình thành và có hệ thống pháp luật rất đáng để nghiên cứu: nước Mỹ Cuối cùng, chính phủ mới của Pháp đã đồng ý để ông có một chuyến du hành sang Mỹ với mục đích chỉ nghiên cứu về hệ thống thi hành án ở Mỹ Thực chất, chuyến đi này xuất phát từ việc Tocqueville chán ghét chế độ đang tồn tại ở Pháp và nhìn thấy sự hấp dẫn của nền dân trị non trẻ ở Mỹ

Ngày 2/4/1831 Tocqueville cùng Beaumont – bạn thân của ông – đã rời

Pháp, sau đó trải qua chín tháng đi du lịch khắp nước Mỹ, tìm kiếm bản chất của

nước Mỹ Ông và Beaumont được chào đón nồng nhiệt ở Boston, New York, Philadelphia,… Hai ông còn được gặp những con người nổi tiếng của nước Mỹ trong đó có cả người cuối cùng còn sót lại của thế hệ “Những người cha lập quốc” (The Founding Fathers) của Mỹ

Về nước, ông cảm thấy cần có thời gian nghỉ ngơi và cũng là để biên soạn công trình mà ông cùng bạn ông đã dự định viết sau chuyến đi Mỹ, ông xin từ chức

Năm 1833 Tocqueville và Beaumont cũng hoàn thành nhiệm vụ ban đầu của họ: Hệ thống Trại cải tạo ở Mỹ và ứng dụng của nó ở Pháp được xuất bản Công trình đó đã

Trang 40

nhận được sự hoan nghênh rộng rãi và đem lại cho hai ông giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp

Cũng trong khoảng thời gian đó, ông tiến hành biên soạn công trình của riêng mình về những gì ông đã được chứng kiến trong thời gian ở Mỹ Công trình

Nền dân trị Mỹ (De la démocratie en Amérique) của ông được xuất bản tập đầu năm

1835 được đánh giá cao bởi giới chuyên môn

Với những tri thức thu nhặt được từ chuyến đi sang Mỹ, sang Anh và Thụy sĩ trong những năm 1831 – 1836, ông tiêp tục nghiên cứu tình hình Pháp và kết quả là

cho ra đời tiểu luận Trạng thái xã hội và chính trị của nước Pháp trước và kể từ

1789 (L'Etat social et politique de la France avant et depuis 1789)

Năm 1836, ông ứng cử không thành vào Nghị viện lập pháp vùng Manche (tỉnh Valognes) nhưng sau đó, với uy tín của mình trong giới trí thức, ông được bầu vào Viện Hàn lâm các Khoa học Đạo đức và Chính trị năm 1841 Từ những nghiên cứu sâu sắc về chế độ lao tù ở Mỹ, ông được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này Đặc biệt là sau khi ông cho xuất bản báo cáo lớn của ông về việc cải cách chế độ nhà tù ở Pháp năm 1843

Trong quá trình “du khảo” Mỹ trước đó, ông đã được tiếp xúc với nhiều nhà

tư tưởng Mỹ có thái độ chống lại chế độ nô lệ, được trực tiếp thấy đời sống khổ cực của người nô lệ ở đây nên hình thành trong ông cái nhìn cảm thông và thân thiện đối với thân phận nô lệ Khi nhìn thấy nước Pháp vẫn còn tồn tại chế độ chiếm nô ở thuộc địa, ông phản đối cực lực với bản báo cáo lớn về việc bãi bỏ chế độ nô lệ tại các thuộc địa năm 1839 Sau chuyến đi Angiérie, ông tiếp tục có bản báo cáo lớn về các vấn đề của Angiérie (1847) trong đó lên tiếng gay gắt hơn nữa chế độ nô lệ ở đây

Năm 1840, ông công bố tập thứ hai của Nền dân trị Mỹ Trước sự khủng

hoảng chính trị của quê nhà, tập sách không được nhiều người đón nhận giống như tập thứ nhất Tuy nhiên, ở Anh nó lại rất được chào đón Khác với tập thứ nhất, tập thứ hai chứa đựng nhiều suy tư của ông “về “loại hình lý tưởng” của một nền dân trị nói chung”[xem tài liệu 75]

Trước khi in tập thứ hai tác phẩm Nền dân trị Mỹ, ông được cử tri vùng

Valogue bầu vào Viện dân biểu đồng thời có nhiều hoạt động hỗ trợ công việc giảng

Ngày đăng: 15/03/2021, 18:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm