Trong phạm vi của luận văn, tác giả tóm tắt một số công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau: [1] Tên đề tài: Audi
Trang 1LÊ PHƯƠNG THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI
Ý KIẾN KIỂM TOÁN ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2LÊ PHƯƠNG THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ THAY ĐỔI
Ý KIẾN KIỂM TOÁN ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN TÙNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “Ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến
tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi, không sao
chép của bất kỳ ai, do chính tôi hoàn thành với sự hướng dẫn của PGS TS Trần Văn Tùng
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018
Lê Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6
1.1 Các nghiên cứu trước đây trên thế giới 6
1.2 Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam 13
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước đây và khoảng trống nghiên cứu 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 23
2.1 Cơ sở lý thuyết về BCTC 23
2.1.1 Khái quát về BCTC 23
2.1.2 Mục đích của BCTC 23
2.2 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán BCTC và ý kiến kiểm toán 25
2.2.1 Mục đích của kiểm toán BCTC 25
2.2.2 Báo cáo kiểm toán về BCTC 26
2.2.3 Ý kiến kiểm toán 26
2.2.3.1 Các dạng ý kiến kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế 27
Trang 52.3.1 Tính kịp thời của thông tin trên BCTC 30
2.3.1.1 Khái niệm tính kịp thời của thông tin trên BCTC 30
2.3.1.2 Đo lường tính kịp thời của thông tin trên BCTC 31
2.3.2 Quy định công bố thông tin trên TTCK Việt Nam 33
2.3.2.1 Quy định công bố thông tin trên TTCK Việt Nam theo TT155/2015/TT-BTC 33 2.3.2.2 Những điểm mới của TT 155/2015/TT-BTC 35
2.4 Các lý thuyết nền tảng 36
2.4.1 Lý thuyết tín hiệu (Signal theory) 36
2.4.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 37
2.4.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information theory) 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 39
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Quy trình nghiên cứu 40
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 41
3.3 Định nghĩa các biến nghiên cứu 42
3.3.1 Biến phụ thuộc 43
3.3.2 Biến độc lập 43
3.3.2.1 Biến ý kiến kiểm toán cải thiện (D IMP ) 43
3.3.2.2 Biến ý kiến kiểm toán suy giảm (D DETER ) 45
3.3.2.3 Biến mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán (OPNCHG): 45
3.3.3 Biến kiểm soát 45
3.3.3.1 Biến lợi nhuận kỳ vọng (UE) 45
3.3.3.2 Biến thay đổi công ty kiểm toán (AS) 46
3.3.3.3 Biến CEO kiêm nhiệm (DUAL) 46
3.3.3.4 Biến Đòn bẩy tài chính (LEV) 46
3.3.3.5 Biến Quy mô công ty (SIZE) 46
3.4 Mô hình nghiên cứu 49
3.4.1 Phân tích ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 49
Trang 63.5.1 Quy định chọn mẫu: 51
3.5.2 Quy trình chọn mẫu 51
3.5.3 Kết quả chọn mẫu 51
3.6 Quy trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
4.1 Thống kê mô tả 54
4.1.1 Thống kê mô tả số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu 54
4.1.2 Thống kê mô tả thời gian công bố BCTC theo từng năm 54
4.1.3 Thống kê mô tả chênh lệch thời gian công bố BCTC giữa năm hiện tại và năm trước đó 55
4.2 Phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc 56
4.3 Phân tích hồi quy tuyến tính 58
4.3.1 Phân tích ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 58
4.3.1.1 Phân tích ảnh hưởng của sự cải thiện của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 58
4.3.1.2 Phân tích ảnh hưởng của sự suy giảm của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 60
4.3.2 Phân tích ảnh hưởng của mức độ thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 62
4.3.3 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 66
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Kiến nghị 68
5.2.1 Kiến nghị liên quan đến việc nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC 68
5.2.2 Kiến nghị liên quan đến việc ban hành các chuẩn mực kế toán 69
5.2.3 Kiến nghị liên quan đến việc quản lý và giám sát của UBCKNN và SGDCK tới việc công bố BCTC của các công ty niêm yết 71
Trang 75.3.2 Hạn chế trong việc đo lường biến độc lập 73
5.3.3 Hạn chế trong việc chọn mẫu 73
5.4 Đề xuất nghiên cứu trong tương lai 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP HCM
Trang 9Bảng 3.1 - Tóm tắt các biến nghiên cứu 47 Bảng 4.1 – Thống kê mô tả số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu 54Bảng 4.2 – Thống kê mô tả thời gian ký báo cáo kiểm toán theo từng năm trong giai đoạn nghiên cứu 54Bảng 4.3 – Thống kê mô tả chênh lệch thời gian công bố BCTC năm hiện tại và năm trước đó theo mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán 55Bảng 4.4 – Phân tích tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 57Bảng 4.5 – Phân tích hồi quy ảnh hưởng của của sự cải thiện của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 58Bảng 4.6 – Phân tích hồi quy ảnh hưởng của của sự suy giảm của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 60Bảng 4.7 – Phân tích hồi quy ảnh hưởng của mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC 62
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 – Tóm tắt quy trình nghiên cứu 40
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
BCTC dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh
và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế (Điều 97, Thông tư 200/2014/TT-BTC) Theo quy định hiện tại, công ty đại chúng phải công bố BCTC năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng BCTC được công bố luôn là tài liệu vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư vì nhà đầu tư sẽ phân tích các thông tin trên BCTC này để xem xét và ra quyết định đầu tư phù hợp Để BCTC có thể hữu ích cho nhà đầu tư, thì thông tin trình bày trên BCTC phải phản ánh trung thực, hợp lý và đầy đủ tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán, và phải được cung cấp cho nhà đầu tư một cách kịp thời
Tính kịp thời của BCTC ảnh hưởng đến giá trị của BCTC và nhà đầu tư có xu hướng chờ đợi đến khi thấy được BCTC đã kiểm toán mới thực hiện việc mua hoặc bán cổ phiếu của họ Việc công bố BCTC muộn dẫn đến sự kém hiệu quả trong việc
sử dụng thông tin trên BCTC để ra quyết định của người sử dụng BCTC, dù thông tin đã đầy đủ, khách quan, đáng tin cậy và có thể so sánh Sự phức tạp ngày càng tăng của các hoạt động kinh doanh và sự tăng trưởng không ngừng của cộng đồng các nhà đầu tư thúc đẩy nhu cầu ngày càng tăng của các nhà đầu tư về thông tin phù hợp hơn và kịp thời hơn nữa Tính kịp thời của BCTC phụ thuộc vào thời điểm mà BCTC được công bố rộng rãi đến người sử dụng Thời điểm công bố BCTC được coi
là một trong những quyết định về công bố thông tin cần được thực hiện bởi các nhà quản lý Thông tin trên BCTC được công bố sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường, do đó nếu thông tin trên BCTC bất lợi, ban giám đốc có thể trì hoãn việc công
bố kịp thời những tin tức không thuận lợi này, do chúng có thể gây giảm giá cổ phiếu, tăng chi phí vốn của công ty và làm giảm thu nhập của nhà quản lý, và ngược lại, các
Trang 11thông tin có lợi sẽ được công bố sớm nhất có thể để đem lại lợi ích cho nhà quản lý Điều này có nghĩa xu hướng khi công bố BCTC của nhà quản lý là thông tin tốt
(thuận lợi) sẽ được công bố nhanh chóng hơn thông tin xấu (bất lợi) – good news
early, bad news later
Một trong những thông tin quan trọng trong BCTC được công bố mà nhà đầu tư
có sự quan tâm đặc biệt là báo cáo kiểm toán Việc kiểm toán BCTC được thực hiện nhằm làm giảm sự mâu thuẫn lợi ích giữa nhà đầu tư và nhà quản lý, và giữa các nhà đầu tư với nhau bằng sự đảm bảo thông tin trên BCTC đã được kiểm toán bởi một đơn vị độc lập khách quan Do đó, ý kiến kiểm toán là một thông tin rất quan trọng trên BCTC mà nhà đầu tư có sự quan tâm đặc biệt Nhà đầu tư có xu hướng phản ứng tích cực với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần (thông tin tốt), và ngược lại, phản ứng tiêu cực với ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (thông tin xấu) Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy các công ty có ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ công bố BCTC nhanh hơn các công ty có ý kiến kiểm toán không phải
ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Việc thay đổi ý kiến kiểm toán giữa các năm cũng là thông tin mà nhà đầu tư quan tâm Ý kiến kiểm toán của năm hiện tại có mức
độ chấp nhận cao hơn ý kiến kiểm toán năm trước sẽ là thông tin tốt, và ngược lại, ý kiến kiểm toán của năm hiện tại có mức độ chấp nhận thấp hơn ý kiến kiểm toán năm trước sẽ là thông tin xấu Thông tin về sự thay đổi ý kiến kiểm toán cũng theo nguyên tắc thông tin tốt sẽ được công bố nhanh chóng hơn thông tin xấu đã đề cập ở trên Từ suy luận trên, đã có các nghiên cứu trên thế giới về mối liên hệ giữa sự thay đổi ý kiến kiểm toán và thời gian công bố BCTC, giúp cho người sử dụng thông tin trên BCTC, đặc biệt là các nhà đầu tư, có thể phần nào dự đoán được thông tin tốt hay xấu trên thị trường và có quyết định phù hợp Tuy nhiên tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới phát triển, có nhiều biến động thất thường do chịu ảnh hưởng lớn bởi tình trạng thông tin kém minh bạch (thông tin không đầy đủ, thiếu kịp thời, khó tiếp cận, thông tin nội gián…), và các nhà đầu tư tại Việt Nam rất cần nguồn thông tin hữu ích cho kế hoạch
đầu tư của mình Do đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của sự thay đổi
Trang 12ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận văn cao học
ty niêm yết tại HOSE
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
Câu hỏi 1: Chiều hướng thay đổi ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng đến tính kịp
thời của BCTC hay không?
Câu hỏi 2: Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán có ảnh hưởng đến tính kịp thời
của BCTC hay không?
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp hỗn hợp, bao gồm:
- Phương pháp định tính: tổng hợp và phân tích các tài liệu và nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến chủ đề nghiên cứu để xây dựng khung
Trang 13lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Phương pháp phân tích định lượng: thu thập dữ liệu thực tế, thực hiện thống kê
mô tả và phân tích hồi quy để kiểm định tác động của chiều hướng thay đổi và mức
độ thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
- Về mặt lý thuyết: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của việc thay đổi ý kiến kiểm toán tới tính kịp thời của BCTC tại thị trường Việt Nam
là thị trường chứng khoán đang phát triển
- Về mặt thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn, tác giả đề xuất các kiến nghị
để cải thiện tính kịp thời của BCTC, nhằm nâng cao chất lượng BCTC và nâng cao
sự minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Nội dung chương 1 trình bày tóm lược các các nghiên cứu liên quan đến tính kịp thời của BCTC đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam Từ đó tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chỉ ra những vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu và giải quyết
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Nội dung chương 2 trình bày tổng quan các cơ sở lý thuyết nền tảng của nghiên cứu, cơ sở lý thuyết về BCTC, kiểm toán BCTC, các dạng ý kiến kiểm toán, tính kịp thời của thông tin trên BCTC và các yêu cầu công bố thông tin trên BCTC trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 3 xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, mô tả các biến đưa vào
mô hình nghiên cứu Sau đó trình bày phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập
dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương 4 trình bày kết quả phân tích dữ liệu và thảo luận về kết quả thu được, cũng như so sánh kết quả thu được với các nghiên cứu trước đây
Trang 14Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Nội dung chương 5 tóm tắt kết quả và trình bày kết luận nghiên cứu, nêu ra những điểm hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu mới trong tương lai
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Các nghiên cứu trước đây trên thế giới
Các nghiên cứu liên quan đến tính kịp thời của BCTC đã xuất hiện từ những năm
80 của thế kỷ XX và sau đó phát triển đa dạng với rất nhiều bài nghiên cứu được công
bố trên các tạp chí chuyên ngành Các nghiên cứu phần lớn chú trọng đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và thông tin về lợi nhuận của công ty, và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, và đều nghiên cứu dựa trên nguyên tắc tin tốt được công bố trước, tin xấu được công bố sau (good news early, bad news
later) Những nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa tính kịp thời của BCTC và
thông tin về lợi nhuận của công ty sớm nhất là của Givoly và Palmon (1982), Chamber và Penman (1984), Kross và Schroeder (1984) Trong ba nghiên cứu trên, các tác giả đã thử nghiệm kiểm tra phản ứng của thị trường chứng khoán đối với tính kịp thời của BCTC Tổng quan, các nghiên cứu này cho thấy rằng các BCTC được công bố sớm hơn thời gian dự kiến của chúng được kết hợp với việc lợi nhuận tăng vượt mức bình thường, trong khi các BCTC được công bố trễ hơn thời gian dự kiến liên quan đến lợi nhuận giảm bất thường, hay có thể hiểu là thông tin tốt (good news) được công bố sớm hơn thông tin xấu (bad news) Những kết quả này chỉ ra rằng tính kịp thời của BCTC có thể được sử dụng như là một tín hiệu để phân biệt các công ty với những tin tức tốt lành và các công ty có tin tức xấu, và các nhà đầu tư nhận ra tín hiệu này trong quá trình ra quyết định đầu tư của họ
Trong phạm vi của luận văn, tác giả tóm tắt một số công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:
[1] Tên đề tài: Audit Qualification and the Timeliness of Corporate Annual
Reports (Báo cáo kiểm toán với ý kiến kiểm toán không phải dạng chấp nhận toàn
phần và tính kịp thời của BCTC thường niên của doanh nghiệp)
Tác giả: G P Whittred
Nguồn: The Accounting Review, Vol 55, No 4 (Oct., 1980), pp 563-577
Trang 16Năm phát hành: 1980
Nội dung:
+ Nghiên cứu điều tra tác động của các báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải
ý kiến chấp nhận toàn phần tới tính kịp thời của BCTC năm tại Úc
+ Mẫu nghiên cứu bao gồm 245 BCTC đã kiểm toán của 120 công ty niêm yết tại SGDCK Sydney (Úc), trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1974
+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng ba cách: (1) Số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày BCTC sơ bộ của doanh nghiệp được công bố chính thức tại SGDCK Sydney (Preliminary Lag)
(2) Số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm (Auditor’s Signature Lag)
(3) Số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày BCTC của doanh nghiệp được công bố chính thức tại SGDCK Sydney (Total Lag)
+ Thử nghiệm trong nghiên cứu này so sánh hành vi báo cáo của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần với một mẫu ngẫu nhiên của các công ty có báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn phần, và với hành vi báo cáo của chính các công ty đó trong những năm trước khi có báo cáo kiểm toán có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần
+ Kết quả kiểm định (bao gồm kiểm định Kruskal-Wallis và kiểm định Whitney) cho thấy bằng chứng về các công ty có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần chậm trễ trong việc công bố BCTC sơ bộ (theo yêu cầu của Cơ quan quản
Mann-lý Giao dịch Chứng khoán Úc) và BCTC năm (theo yêu cầu của Luật doanh nghiệp 1961) Kết quả cũng cho thấy rằng mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần càng cao thì càng có sự chậm trễ trong việc công bố BCTC Cụ thể, công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC trung bình sau 107 ngày, trong khi công ty với ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần công bố chậm trễ hơn trung bình 62 ngày, trong đó có ý kiến ngoại trừ công bố BCTC sau 17 ngày so với công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần Thêm vào đó, 50% số công ty có ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC sớm hơn trung
Trang 17bình 12 ngày so với năm trước đó nếu năm trước có ý kiến ngoại trừ, và 28 ngày nếu năm trước có ý kiến trái ngược hoặc từ chối phát hành ý kiến Những kết quả này được xem xét và được lập luận giải thích rằng lý do hợp lý cho sự chậm trễ này do sự gia tăng của thời gian cần thiết để hoàn thành cuộc kiểm toán cuối năm và thời gian dành cho việc thảo luận ý kiến kiểm toán giữa kiểm toán viên và khách hàng
[2] Tên đề tài: Audit delay and the timeliness of corporate reporting (Thời gian
hoàn tất báo cáo kiểm toán và tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp)
Tác giả: Robert H Ashton, Paul R Graul và James D Newton
Nguồn: Contemporary Accounting Research, Vol 5, No 2, pp 657-673
Năm phát hành: 1989
Nội dung:
+ Nhóm tác giả lập luận rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, do đó nhóm tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán (audit delay) để xác định tính kịp thời của BCTC
+ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 465 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Toronto (Canada) trong giai đoạn 1977 – 1982
+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán
+ Nhóm tác giả đề xuất các nhân tố có thể ảnh hưởng đến rằng thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (3) tháng kết thúc năm tài chính, (4) công ty kiểm toán, (5) dấu hiệu của thu nhập, (6) các khoản mục đặc biệt, (7) các khoản nợ tiềm tàng và (8) loại ý kiến kiểm toán và xây dựng
mô hình dựa trên các nhân tố này
+ Kết quả phân tích hồi quy mô hình cho thấy các biến có mối quan hệ nhất quán với thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán qua 6 năm phạm vi nghiên cứu bao gồm (1) quy mô công ty, (2) lĩnh vực hoạt động, (5) dấu hiệu của thu nhập và (6) các khoản mục đặc biệt Các biến còn lại có ý nghĩa thống kê nhưng tỷ lệ biến đổi của thời gian
Trang 18hoàn tất báo cáo kiểm toán được giải thích bởi các biến là rất thấp Cụ thể, (1) quy
mô công ty (đo lường bằng tổng tài sản) có ảnh hưởng ngược chiều với thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán Về (2) lĩnh vực hoạt động, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán nhanh hơn các công ty trong các lĩnh vực khác Về (5) dấu hiệu của thu nhập, công ty có thu nhập thuần âm
sẽ có thời gian thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán dài hơn các công ty có thu nhập thuần lớn hơn hoặc bằng không Và sự xuất hiện (6) các khoản mục đặc biệt trên BCTC, dù cho chúng có tác động làm tăng hay giảm thu nhập thuần, thì đều kéo dài thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán
[3] Tên đề tài: Timeliness of corporate and audit reports: Some empirical
evidence in the French context (Tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp và báo
cáo kiểm toán: Một số bằng chứng thực nghiệm tại Pháp)
Tác giả: Bahram Soltani
Nguồn: The International Journal of Accounting, Vol 37, pp 215–246
Năm phát hành: 2002
Nội dung:
+ Nghiên cứu được thực hiện để xem xét hai vấn đề chính liên quan đến tính kịp thời của BCTC tại Pháp gồm (1) sự cải thiện trong tính kịp thời của BCTC của các công ty tại Pháp (bao gồm BCTC riêng và BCTC hợp nhất), và (2) tác động của các loại báo cáo kiểm toán khác nhau tới tính kịp thời của BCTC
+ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm 5,801 BCTC của các công
ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Paris (Pháp) trong vòng 10 năm, giai đoạn 1986 –
Trang 19BCTC của các công ty niêm yết tại Pháp sau 10 năm Trong đó, các công ty với BCTC riêng giảm đi 10.2 ngày (121.5 ngày vào năm 1985, và 111.3 ngày vào năm 1995), công ty với BCTC giảm tới 16 ngày (120.8 ngày vào năm 1985, và 104.8 ngày vào năm 1995) Với loại báo cáo kiểm toán, BCTC với ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần giảm 34.3 ngày (101.2 ngày vào năm 1985, và 66.9 ngày vào năm 1995), còn BCTC với ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần chỉ giảm 22.3 ngày (131.5 ngày vào năm 1985, và 109.2 ngày vào năm 1995), công ty có báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần công bố BCTC kịp thời hơn so với công ty có báo cáo kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Về tác động của dạng ý kiến không phải chấp nhận toàn phần, tác giả đưa ra nhiều dạng ý kiến khác nhau, bao gồm ý kiến ngoại trừ (được tác giả phân loại gồm ý kiến ngoại trừ do hạn chế thông tin khoản mục, ngoại trừ do nhiều khoản mục không đảm bảo, ngoại trừ do không tuân thủ chuẩn mực và quy định, ngoại trừ do thiếu trích lập dự phòng hưu trí cho nhân viên, ngoại trừ do các khoản dự phòng khác, và các ý kiến ngoại trừ khác),
ý kiến trái ngược và từ chối phát hành ý kiến kiểm toán Thời gian ký báo cáo kiểm toán của công ty thay đổi theo mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán, với thời gian trung bình của báo cáo từ chối phát hành ý kiến kiểm toán là 179.8 ngày, báo cáo với ý kiến trái ngược là 129.5 ngày, và báo cáo với ý kiến ngoại trừ dao động từ 115.6 đến 127.8 ngày Từ đó, Soltani cũng kết luận rằng mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố báo cáo kiểm toán càng chậm hơn (the more serious the qualification, the greater the delay)
[4] Tên đề tài: Timeliness of Corporate Annual Financial Reporting in Greece
(Tính kịp thời của BCTC của doanh nghiệp tại Hy Lạp)
Tác giả: Stephen Owusu-Ansah và Stergios Leventis
Nguồn: European Accounting Review, Vol 15, No 2, pp 273–287
Năm phát hành: 2006
Nội dung:
Trang 20+ Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC tại Hy Lạp
+ Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu bao gồm BCTC của 95 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Athens (Hy Lạp) năm 1999
+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng số ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến ngày đến ngày công bố BCTC lần đầu tiên trên báo toàn quốc hàng ngày với công ty có trụ sở tại Athens, hoặc một tờ báo địa phương cho các công ty ở các tỉnh khác ngoài Athens
+ Nghiên cứu xây dựng mô hình ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC bao gồm các nhân tố (1) quy mô công ty, (2) đòn bẩy tài chính tổng nợ dài hạn trên tổng tài sản, (3) tỷ lệ cổ phần nắm giữ trực tiếp và gián tiếp bởi những người trong doanh nghiệp, (4) số lượng đoạn nhấn mạnh trong ý kiến kiểm toán, (5) công ty kiểm toán
và (6) lĩnh vực hoạt động
+ Kết quả thống kê cho thấy 92% công ty công bố BCTC trước hạn, 3% công bố BCTC đúng ngày cuối cùng và 5% còn lại công bố BCTC trễ so với so với yêu cầu của quy định Kết quả phân tích hồi quy đa biến MLS bằng phương pháp bình phương
bé nhất OLS cho thấy ảnh hưởng của (1) quy mô công ty, (5) công ty kiểm toán và (6) lĩnh vực hoạt động là các công ty có quy mô lớn, được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big5 và hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ có thời gian công bố BCTC ngắn hơn các công ty khác Bên cạnh đó, công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, công
ty có BCTC với ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần và công ty với tỷ lệ
cổ phần nắm giữ trực tiếp và gián tiếp bởi những người trong doanh nghiệp cao thì không công bố BCTC kịp thời
[5] Tên đề tài: Audit opinion improvement and the timing of disclosure (Sự cải
thiện ý kiến kiểm toán và thời gian công bố BCTC)
Tác giả: Charles P Cullinan, Fangjun Wang, Bei Yang và Junrui Zhang
Nguồn: Advances in Accounting, Vol 28, No.2, pp 333-343
Năm phát hành: 2012
Trang 21Nội dung:
+ Nhóm tác giả nghiên cứu tác động tiềm tàng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đối với tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC, với những cải thiện trong
ý kiến kiểm toán được coi là "tin tốt"
+ Mẫu bao gồm 6,115 BCTC của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sàn chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến (Shanghai and Shenzhen Stock Exchanges) trong giai đoạn 2003 – 2009
+ Thời gian công bố BCTC được đo lường bằng chênh lệch số ngày công bố BCTC giữa năm hiện tại và năm trước đó
+ Nghiên cứu xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC bao gồm các biến phụ thuộc là (1) loại ý kiến kiểm toán, (2) sự cải thiện ý kiến kiểm toán, (3) mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán và (4) mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán; và bao gồm các biến kiểm soát (1) lợi nhuận kỳ vọng, (2) chi phí tranh chấp, kiện tụng, (3) thay đổi công ty kiểm toán, (4) chuẩn mực kế toán mới, (5) sự kiêm nhiện giữa CEO và chủ tịch hội đồng quản trị và (6) đòn bẩy tài chính
+ Sau khi phân tích kết quả hồi quy mô hình, nhóm nghiên cứu kết luận rằng công ty với ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước (mức độ chấp thuận tăng) công bố BCTC sớm hơn công ty với ý kiến kiểm toán suy giảm so với năm trước đó (mức độ chấp thuận giảm), và mức độ thay đổi thời gian công bố BCTC bị ảnh hưởng bởi mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng thông tin thay đổi tiêu cực trong ý kiến kiểm toán (bad audit opinion news) có ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC mạnh hơn là ảnh hưởng của thông tin thay đổi tích cực
[6] Tên đề tài: The relationship between audit opinion change and timing of
disclosure (Mối quan hệ giữa sự thay đổi ý kiến kiểm toán và thời gian công bố BCTC)
Tác giả: Farzin Rezaei và Parandis Shahroodi
Nguồn: International Journal of Innovation and Applied Studies, Vol 10, No 3,
pp 778-790
Trang 22Năm phát hành: 2015
Nội dung:
+ Tương tự như nghiên cứu của của Cullinan et al (2012), nhóm tác giả nghiên cứu tác động của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đối với tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC, với những cải thiện trong ý kiến kiểm toán được coi là "tin tốt",
và sự suy giảm trong ý kiến kiểm toán được xem là “tin xấu”
+ Mẫu bao gồm 103 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran (Iran) trong giai đoạn 2003 – 2013
+ Thời gian công bố BCTC được đo lường bằng chênh lệch số ngày công bố BCTC giữa năm hiện tại và năm trước đó
+ Nghiên cứu xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC bao gồm các biến phụ thuộc là (1) sự cải thiện ý kiến kiểm toán, (2) sự suy giảm ý kiến kiểm toán, (3) mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán và (4) mức độ suy giảm
ý kiến kiểm toán; và bao gồm các biến kiểm soát (1) lợi nhuận kỳ vọng, (2) thay đổi công ty kiểm toán, (3) sự kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch hội đồng quản trị, (4) đòn bẩy tài chính, (5) quy mô công ty và (6) số trang của BCTC
+ Sau khi phân tích kết quả hồi quy mô hình, nhóm nghiên cứu kết luận rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước (mức
độ chấp thuận tăng) và thời gian công bố BCTC, và có mối quan hệ ngược chiều giữa
ý kiến kiểm toán suy giảm so với năm trước đó (mức độ chấp thuận giảm) và thời gian công bố BCTC Bên cạnh đó, mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán cũng có ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC Tuy nhiên, nhóm tác giả chỉ thấy bằng chứng rõ ràng cho sự ảnh hưởng cùng chiều của mức độ suy giảm của ý kiến kiểm toán (audit opinion deteriorations) đến việc công bố chậm trễ BCTC, còn mối quan hệ giữa cải thiện của ý kiến kiểm toán (audit opinion improvement) và tính kịp thời của BCTC thì không rõ ràng ảnh hưởng đến thời gian công bố BCTC
1.2 Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cũng đã có các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC Tác giả tóm tắt một số nghiên cứu có liên
Trang 23quan như sau:
[1] Tên đề tài: Một số nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính
của các công ty niêm yết tại Việt Nam
+ Nghiên cứu thực hiện trên mẫu gồm 175 BCTC đã kiểm toán năm 2010 và
2011 của 120 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE)
+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được được hiểu như là tính kịp thời của hoạt động kiểm toán độc lập BCTC, được đo lường bằng số ngày kể từ ngày khóa
sổ kế toán lập BCTC đến ngày ký báo cáo kiểm toán
+ Tác giả đưa ra hai nhân tố ảnh hưởng tới tính kịp thời của BCTC bao gồm (1) loại BCTC (là BCTC riêng hay BCTC hợp nhất) và (2) loại công ty kiểm toán (Big4, công ty thành viên hãng kiểm toán quốc tế khác và công ty kiểm toán trong nước) Tác giả đã thực hiện kiểm định Chi bình phương để kiểm định mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố trên đến tính kịp thời của BCTC Kết quả cho thấy là có sự liên hệ giữa (1) loại BCTC đến tính kịp thời của BCTC, tuy nhiên, (2) loại công ty kiểm toán thì không có liên hệ Nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định t-test để kiểm định sự khác biệt về tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam qua hai năm
2010, 2011, và có kết quả là có sự khác biệt giữa hai năm này
Trang 24[2] Tên đề tài: Các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các
công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn An Nhiên
Nguồn: Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Năm phát hành: 2013
Nội dung:
+ Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến tính kịp thời của BCTC ở các các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu về cải thiện tính kịp thời của BCTC ở các các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam + Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu bao gồm 173 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh năm 2012
+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được thể hiện là thời hạn công bố BCTC đúng hạn quy định, được đo lường bằng số ngày từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán
+ Tác giả đề xuất năm nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, bao gồm (1) quy mô công ty (đo lường bằng vốn chủ sở hữu và tổng tài sản), (2) loại công ty kiểm toán (Big4 hay non-Big4), (3) lợi nhuận kinh doanh (đo lường bằng hai tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE), (4) loại BCTC (BCTC riêng hay BCTC hợp nhất) và (5) loại ý kiến kiểm toán (ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần) + Tác giả sử dụng kiểm định ANOVA cho các nhân tố định tính (2), (4) và (5) và kiểm định ma trận hệ số tương quan cho các nhân tố định danh (1) và (3)
+ Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố loại BCTC hợp nhất, loại ý kiến kiểm toán, lợi nhuận kinh doanh có tác động đến tính kịp thời của thông tin trên BCTC Bên cạnh đó, kết quả phân tích cũng cho thấy các nhân tố như quy mô công ty, loại công ty kiểm toán không có tác động đến tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC
Trang 25[3] Tên đề tài: Mối quan hệ giữa đặc trưng của doanh nghiệp và tính kịp thời của
việc công bố thông tin báo cáo tài chính của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Vy
Nguồn: Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Năm phát hành: 2016
Nội dung:
+ Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc trưng của doanh nghiệp đến tính kịp thời của công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Mẫu nghiên cứu bao gồm 100 công ty từ hai sàn HNX và HOSE có công bố BCTC trong giai đoạn 2012 – 2014
+ Tính kịp thời của việc công bố thông tin BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng khoảng thời gian từ khi kết thúc kỳ báo cáo đến thời điểm ký báo cáo kiểm toán,
và bằng khoảng thời gian từ khi ký báo cáo kiểm toán đến hạn cuối nộp BCTC + Nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố thông tin BCTC bao gồm (1) tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động, (2) số lượng công
ty con, (3) thu nhập trên cổ phần, (4) biến đổi trong khả năng sinh lời hằng năm và (5) ý kiến kiểm toán
+ Bằng phương pháp phân tích hồi quy, tác giả luận văn đã có kết luận rằng: số lượng công ty con, tính phức tạp trong hoạt động (đại diện cho đặc trưng cấu trúc), biến đổi trong khả năng sinh lời hàng năm (đại diện cho đặc trưng tài chính) và ý kiến kiểm toán là các biến có ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố báo cáo tài chính Theo đó, những doanh nghiệp có số lượng công ty con nhiều và có lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đa dạng thì doanh nghiệp sẽ tốn nhiều thời gian công bố báo cáo tài chính hay báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ không đáp ứng được tính kịp thời Trong khi đó, những doanh nghiệp có “Biến đổi trong khả năng sinh lời” theo chiều hướng tốt và ý kiến kiểm toán là ý kiến chấp nhận toàn phần thì doanh nghiệp đó sẽ công bố báo cáo tài chính sớm hơn
Trang 261.3 Nhận xét các nghiên cứu trước đây và khoảng trống nghiên cứu
Bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.1 – Tóm tắt các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu
ST
T
Tác giả Phương
pháp nghiên cứu
- Kiểm định Kruskal-Wallis
So sánh sự khác nhau giữa các nhóm theo:
(1) Thời gian công bố BCTC sơ bộ
(2) Thời gian ký báo cáo kiểm toán
(3) Thời gian công bố BCTC đã kiểm toán
- Công ty có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần chậm trễ trong việc công bố BCTC sơ bộ
và BCTC năm
- Mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán càng cao thì càng có sự chậm trễ trong việc công
- Quy mô công ty
- Lĩnh vực hoạt động
- Tháng kết thúc năm tài chính
- Công ty kiểm toán
- Dấu hiệu của thu nhập
- Các khoản mục đặc biệt
- Các khoản nợ tiềm tàng
- Loại ý kiến kiểm toán
Các biến có mối quan hệ nhất quán với thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán:
- Quy mô công ty
So sánh sự khác nhau về
số ngày ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến
- Có sự cải thiện tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết tại Pháp
Trang 27T
Tác giả Phương
pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
ngày ký báo cáo kiểm toán
từ 1985 – 1995 (cả BCTC riêng và BCTC hợp nhất)
- Mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố báo cáo kiểm
- Quy mô công ty
- Đòn bẩy tài chính tổng
nợ dài hạn trên tổng tài sản
- Tỷ lệ cổ phần nắm giữ trực tiếp và gián tiếp bởi những người trong doanh nghiệp
- Số lượng đoạn nhấn mạnh trong ý kiến kiểm toán
- Công ty kiểm toán
- Lĩnh vực hoạt động
Các biến có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC:
- Quy mô công ty
- Công ty kiểm toán
- Loại ý kiến kiểm toán
- Sự cải thiện ý kiến kiểm toán
- Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán
- Mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán
- Công ty với ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước công bố BCTC sớm hơn công ty với ý kiến kiểm toán suy giảm
so với năm trước đó
- Mức độ thay đổi thời gian công bố BCTC bị
Trang 28T
Tác giả Phương
pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
ảnh hưởng bởi mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán
- Sự cải thiện ý kiến kiểm toán
- Sự suy giảm ý kiến kiểm toán
- Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán
- Mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán
- Mức độ suy giảm ý kiến kiểm toán
- Có mối quan hệ cùng chiều giữa ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước và thời gian công bố BCTC
- Có mối quan hệ ngược chiều giữa ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước và thời gian công bố BCTC
- Có mối quan hệ cùng chiều giữa của mức độ suy giảm của ý kiến kiểm toán và việc công bố chậm trễ BCTC
Nghiên cứu tại Việt Nam
- Kiểm định t-test
- Loại BCTC
- Loại công ty kiểm toán
Có sự liên hệ giữa loại BCTC đến tính kịp thời của BCTC, loại công ty kiểm toán thì không có liên hệ
2 Nguyễn
An
Nhiên
- Kiểm định ANOVA
- Quy mô công ty
- Loại công ty kiểm toán
- Lợi nhuận kinh doanh
Các nhân tố có tác động đến tính kịp thời của BCTC:
Trang 29T
Tác giả Phương
pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
(2013) - Kiểm
định ma trận hệ số tương quan
- Loại BCTC
- Loại ý kiến kiểm toán
- Lợi nhuận kinh doanh
- Tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động
- Số lượng công ty con
- Tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động
- Số lượng công ty con
- Ý kiến kiểm toán
Sau khi tổng hợp và tìm hiểu các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả có những nhận xét như sau:
- Đối với các nghiên cứu trước đây trên thế giới: kết quả của các nghiên cứu trước đây trên thế giới được trình bày trong bảng tóm tắt trên đều cho thấy có xu hướng thông tin tốt (thuận lợi) sẽ được công bố nhanh chóng hơn thông tin xấu (bất lợi) –
good news early, bad news later, trong đó loại ý kiến kiểm toán là một thông tin quan
trọng được rất nhiều người sử dụng BCTC quan tâm Kết quả nghiên cứu của G P Whittred (1980), Soltani (2002), Cullinan et al (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015) đều có kết luận rằng ý kiến kiểm toán có mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố BCTC càng chậm hơn, nghĩa là tính kịp thời của BCTC giảm đi, trong đó hai nghiên cứu của Cullinan et al (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015) đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC, là đề tài nghiên cứu thực hiện trong luận văn này của tác giả Đa phần các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC đều được thực hiện tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển và có độ minh bạch thông tin cao,
Trang 30trong khi nghiên cứu tại thị trường chứng khoán trẻ và đang phát triển như Việt Nam còn hạn chế
- Đối với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam: số lượng các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC tại Việt Nam được thực hiện còn hạn chế Nghiên cứu trước đây của Đặng Đình Tân (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hai nhân tố loại BCTC và loại công ty kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC Nghiên
thêm ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác đến tính kịp thời của BCTC, mà trong đó có nhân tố loại ý kiến kiểm toán Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố loại ý kiến kiểm toán trong năm nghiên cứu đến tính kịp thời của BCTC, mà chưa nghiên cứu đến khía cạnh thay đổi ý kiến kiểm toán giữa năm hiện tại và năm trước đó như một thông tin tốt (hoặc xấu) ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC
Từ nhận xét trên, tác giả nhận thấy khoảng trống nghiên cứu và quyết định thực hiện luận văn với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn gần nhất là 2013 – 2016 tại Việt Nam để đóng góp bằng chứng thực nghiệm tại thị trường chứng khoán đang phát triển về chủ đề nghiên cứu là tác động của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tóm lược các cơ sở lý thuyết nền tảng cho luận văn, cùng với các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam Dựa trên nền tảng này, tác giả đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chỉ ra những vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu và giải quyết
Tại Việt Nam, mặc dù đã có một số nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, trong đó có nhân tố ý kiến kiểm toán, nhưng các nghiên cứu trước chỉ nghiên cứu trong phạm vi ảnh hưởng ý kiến kiểm toán của năm hiện tại đến tính kịp thời của BCTC và chưa mở rộng nghiên cứu đến ảnh hưởng của
Trang 31sự thay đổi ý kiến kiểm toán giữa các năm Đây chính là khoảng trống để tác giả thực hiện nghiên cứu dựa trên dữ liệu nghiên cứu cập nhật nhất Từ đó, đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC tại Việt Nam, cụ thể là đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 32CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
BCTC của một đơn vị bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán: cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn của đơn vị tại thời điểm cụ thể
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: cung cấp thông tin doanh thu, chi phí
và kết quả hoạt động của đơn vị trong một kỳ kế toán
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: cung cấp thông tin về sự luân chuyển dòng tiền ra
và vào đơn vị trong một kỳ kế toán Báo cáo này có thể được lập theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
- Thuyết minh BCTC: cung cấp thông tin chi tiết cho các số liệu đã trình bày trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Ngoài các báo cáo trên, doanh nghiệp có thể lập các báo cáo quản lý mô tả và diễn giải những đặc điểm chính về tình hình kinh doanh và tài chính và những sự kiện không chắc chắn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó, nếu ban giám đốc xét thấy chúng hữu ích cho những người sử dụng BCTC dựa vào thông tin trên BCTC
để ra các quyết định kinh tế
2.1.2 Mục đích của BCTC
Theo VAS 21 - Mục đích của BCTC (2003), thì mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, các thông tin này hữu ích cho số đông những người sử dụng BCTC trong việc đưa ra các quyết định kinh tế
Trang 33Để đạt mục đích cung cấp thông tin hữu ích này, BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu; doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi lỗ, các luồng tiền và các thông tin thuyết minh chi tiết, giúp người sử dụng BCTC dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt
là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền
Để đảm bảo BCTC hữu ích với người sử dụng, thông tin trình bày trên BCTC phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo sự trung thực, thông tin trình bày trên BCTC phải có
3 tính chất là đầy đủ, khách quan, không có sai sót Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế, phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu, phải đảm bảo
có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu và phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán
BCTC có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm đến BCTC trên một góc độ khác nhau tùy theo từng mục đích sử dụng, nhưng nhìn chung đều mong muốn có được những thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của mình, cụ thể như sau:
- Với nhà quản lý doanh nghiệp: BCTC cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh sau một kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra được các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
- Với các cơ quan hữu quan của nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan quản lý về tài chính, kiểm toán nhà nước: BCTC là tài liệu quan trọng trong việc hướng dẫn, tư vấn và kiểm tra giám sát doanh nghiệp thực hiện các chính sách của nhà nước
- Với cổ đông, nhân viên: thông tin trên BCTC mà họ quan tâm là khả năng cũng như chính sách chi trả cổ tức, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập
Trang 34cá nhân, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích của họ
- Với các nhà đầu tư, các chủ nợ cho vay của doanh nghiệp: BCTC giúp họ nhận biết tình hình sử dụng các loại tài sản, nguồn vốn, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, của doanh nghiệp, để họ cân nhắc, lựa chọn
và đưa ra quyết định đầu tư hay cho vay hoặc thu hồi nợ phù hợp
- Với nhà cung cấp: BCTC giúp nhà cung cấp nhận biết khả năng và phương thức thanh toán của doanh nghiệp, để từ đó họ quyết định có bán hàng cho doanh nghiệp hay không, hoặc quyết định phương thức thanh toán, chính sách công nợ cho doanh nghiệp như thế nào cho hợp lý
- Với khách hàng: BCTC giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ khách hàng, chính sách công nợ, để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp
2.2 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán BCTC và ý kiến kiểm toán
Theo Luật Kiểm toán độc lập (2011) thì kiểm toán BCTC là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Sauk hi kết thúc
2.2.1 Mục đích của kiểm toán BCTC
Theo Luật Kiểm toán độc lập (2011), mục đích của hoạt động kiểm toán độc lập bao gồm:
- Góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác
- Phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng
Trang 35Theo VSA 200 (2012), mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với BCTC, thông qua việc KTV đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC
có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan
sẽ giúp KTV hình thành ý kiến kiểm toán kiến về việc liệu BCTC có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ
về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không
2.2.2 Báo cáo kiểm toán về BCTC
Luật Kiểm toán độc lập (2011) đưa ra định nghĩa về báo cáo kiểm toán là văn bản
do kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam lập sau khi kết thúc việc kiểm toán, đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính và những nội dung khác đã được kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán
Theo VSA 700 (2012), kết quả của quá trình kiểm toán BCTC là Báo cáo kiểm toán về BCTC Báo cáo kiểm toán về BCTC đánh giá tính trung thực và hợp lý của BCTC, phù hợp với chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành Báo cáo kiểm toán được sử dụng để:
- Cổ đông, nhà đầu tư, bên tham gia liên doanh, liên kết, khách hàng và tổ chức,
cá nhân khác có quyền lợi trực tiếp hoặc liên quan đến đơn vị được kiểm toán xử lý các quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan
- Đơn vị được kiểm toán phát hiện, xử lý và ngăn ngừa kịp thời sai sót, yếu kém trong hoạt động của đơn vị
- Cơ quan nhà nước quản lý, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ được giao
2.2.3 Ý kiến kiểm toán
Theo VSA 700 (2012), ý kiến của KTV và doanh nghiệp kiểm toán về BCTC đề cập đến việc liệu BCTC có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không Ý kiến của
Trang 36KTV không đưa ra sự đảm bảo về khả năng tồn tại trong tương lai của đơn vị được kiểm toán, hay hiệu quả trong công tác điều hành của Ban Giám đốc đơn vị
Trong một số trường hợp, pháp luật và các quy định có liên quan có thể yêu cầu KTV đưa ra ý kiến về một số vấn đề khác, như hiệu quả của kiểm soát nội bộ hay sự phù hợp giữa báo cáo của Ban Giám đốc với BCTC Do chuẩn mực kiểm toán chỉ quy định và hướng dẫn đối với các vấn đề liên quan tới việc đưa ra ý kiến về BCTC, KTV có thể phải thực hiện thêm các công việc bổ sung nếu KTV có thêm các trách nhiệm đưa ra ý kiến về các vấn đề khác ngoài phạm vi BCTC
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu KTV phải đạt được sự đảm bảo hợp lý
về việc liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi KTV đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến không phù hợp khi BCTC còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được, nhưng
sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà KTV dựa vào
để đưa ra ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định
2.2.3.1 Các dạng ý kiến kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Theo ISA 700 - Forming an Opinion and Reporting on Financial statements (2008), ý kiến kiểm toán được chia làm 2 dạng:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần (Unmodified opinion): Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng
- Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (Modified opinion): là dạng ý kiến được đưa ra khi BCTC có sai sót trọng yếu hoặc BCTC có thể có sai sót trọng yếu trong trường hợp KTV không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp; bao gồm các loại ý kiến được gọi là ý kiến kiểm toán ngoại trừ (qualified opinion), ý kiến kiểm toán trái ngược (adverse opinion) và từ chối đưa ra ý kiến (disclaimer of opinion)
Trang 372.2.3.2 Các dạng ý kiến kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Từ ngày 01/01/2014, 37 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới, được ban hành bởi TT 214 /2012/TT-BTC ngày 06/12/2012, chính thức có hiệu lực thi hành Vì mục tiêu hướng đến sự hội tụ và hài hòa với các Chuẩn mực quốc tế, nội dung của 37 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam này (cùng hệ thống 10 Chuẩn mực đợt 2 ban hành
từ 2015) đã theo sát với quy định quốc tế Tác giả trình bày lý thuyết theo hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới này
Trong hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành, ba chuẩn mực quy định về Ý kiến kiểm toán bao gồm:
- Chuẩn mực kiểm toán số 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về BCTC
- Chuẩn mực kiểm toán số 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
- Chuẩn mực kiểm toán số 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về BCTC
Theo quy định của VSA 700 (2012) hiện hành, ý kiến kiểm toán được chia làm hai dạng:
- Ý kiến kiểm toán dạng chấp nhận toàn phần: Ý kiến này được đưa ra khi KTV
kết luận rằng BCTC được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ
Trang 38trái ngược” và “từ chối đưa ra ý kiến” Việc quyết định xem dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần nào là phù hợp phụ thuộc vào:
+ Bản chất của vấn đề dẫn đến việc KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần
+ Xét đoán của KTV về ảnh hưởng lan tỏa hoặc những ảnh hưởng có thể có của vấn đề nêu tại mục trên đối với BCTC
Thuật ngữ lan tỏa là một thuật ngữ được sử dụng, trong điều kiện có sai sót, để
mô tả những ảnh hưởng của sai sót đối với BCTC hoặc mô tả những ảnh hưởng sâu, rộng có thể có của sai sót chưa được phát hiện (nếu có) đối với BCTC do KTV không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp Ảnh hưởng lan tỏa đối với BCTC
là những ảnh hưởng mà theo xét đoán của KTV:
- Những ảnh hưởng này không chỉ giới hạn đến một số yếu tố, một số tài khoản hoặc khoản mục cụ thể của BCTC;
- Kể cả chỉ ảnh hưởng giới hạn đến một số yếu tố, một số tài khoản hoặc khoản mục cụ thể của BCTC thì những ảnh hưởng này vẫn đại diện hoặc có thể đại diện cho một phần quan trọng của BCTC; hoặc
- Những ảnh hưởng này trong trường hợp liên quan đến các thuyết minh, là vấn
đề căn bản để người sử dụng hiểu được BCTC
Việc xác định ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần phụ thuộc vào xét đoán của KTV, VSA 705 cũng có đưa ra hướng dẫn về cách xét đoán của KTV về bản chất của vấn đề dẫn tới việc KTV phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần, minh họa trong bảng sau:
Bảng 2.1 – Các dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
Bản chất của vấn đề dẫn tới việc KTV
phải đưa ra ý kiến kiểm toán không
phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
Xét đoán của KTV về tính chất lan tỏa của các ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng có thể có của vấn đề đó đối với BCTC
Trọng yếu nhưng không lan tỏa
Trọng yếu và lan tỏa
Trang 39BCTC có sai sót trọng yếu Ý kiến kiểm toán
ngoại trừ
Ý kiến kiểm toán trái ngược Không thể thu thập được đầy đủ bằng
chứng kiểm toán thích hợp
Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
Từ chối đưa ra ý kiến
Nguồn: VSA 705
Bên cạnh đó, VSA 706 (2012) đề cập đến “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán:
Vấn đề cần nhấn mạnh
Nếu KTV thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với một vấn đề
mà theo xét đoán của KTV là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC thì KTV phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán,
để thể hiện là KTV đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn
đề đó không bị sai sót trọng yếu trong BCTC Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” chỉ được đề cập đến các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC
Vấn đề khác
Nếu KTV thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của KTV là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán, về trách nhiệm của KTV hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và các quy định cũng không cấm việc này thì KTV phải trình bày về vấn đề đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc
“Các vấn đề khác” KTV phải trình bày đoạn này ngay sau đoạn “Ý kiến của KTV”
và đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” (nếu có), hoặc ở một vị trí khác trong báo cáo kiểm toán nếu nội dung đoạn “Vấn đề khác” là thích hợp với phần “Báo cáo về các yêu cầu khác của pháp luật và các quy định”
2.3 Cơ sở lý thuyết về tính kịp thời của thông tin trên BCTC và quy định công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam
2.3.1 Tính kịp thời của thông tin trên BCTC
2.3.1.1 Khái niệm tính kịp thời của thông tin trên BCTC
Theo khung khái niệm cho các chuẩn mực kế toán quốc tế (The Conceptual
Trang 40Framework for Financial Reporting), tính kịp thời (Timeliness) là một trong những đặc điểm chất lượng của thông tin hữu ích Tính kịp thời có nghĩa là thông tin được cung cấp sẵn sàng kịp thời cho người ra quyết định Nói chung, thông tin càng chậm thì càng kém hữu dụng, nhưng một số thông tin có thể vẫn hữu dụng một thời gian dài sau giai đoạn báo cáo vì một số người dùng vẫn có thể sử dụng để xác định và đánh giá xu hướng
Theo VAS 01 – Chuẩn mực chung (2002) thì Kịp thời là một yêu cầu cơ bản đối
với kế toán, yêu cầu các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ Khoản 4, Điều
101 Thông tư 200/2014/TT-BTC cũng có quy định về yêu cầu đối với thông tin trình bày trong BCTC là thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu
2.3.1.2 Đo lường tính kịp thời của thông tin trên BCTC
Theo định nghĩa về tính kịp thời của thông tin trên BCTC, thì tính kịp thời có thể
đo lường bằng khoảng thời gian từ khi người ra quyết định có nhu cầu thông tin đến khi nhận được thông tin Với BCTC năm, thì tính kịp thời này có thể đo lường bằng khoảng thời gian từ ngày kết thúc năm tài chính (người sử dụng BCTC bắt đầu có nhu cầu về thông tin trên BCTC năm) đến ngày BCTC đã kiểm toán được công bố rộng rãi đến công chúng Trong tình hình thực tế tại Việt Nam, khoảng thời gian này
có thể chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày công ty hoàn thành BCTC năm Đây là khoảng thời gian kể từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày mà bộ phận
kế toán của công ty hoàn tất việc ghi nhận toàn bộ nghiệp vụ trong năm tài chính để lập BCTC năm, cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và các thuyết minh cho các số liệu trên các báo cáo trên Độ dài thời gian của quá trình này sẽ phụ thuộc vào các đặc trưng của doanh nghiệp và năng lực của bộ phận kế toán của công ty
- Giai đoạn 2: Từ ngày công ty hoàn thành BCTC năm đến ngày BCTC của công
ty hoàn tất quá trình kiểm toán và có báo cáo kiểm toán Sau khi bộ phận kế toán hoàn tất việc lập BCTC, quá trình kiểm toán BCTC của công ty sẽ được tiến hành Các