Các lý thuyết nền tảng

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 45 - 49)

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.4. Các lý thuyết nền tảng

2.4.1. Lý thuyết tín hiệu (Signal theory)

Thời điểm công bố BCTC đã được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Những nghiên cứu này thường dựa trên lý thuyết tín hiệu, ban đầu được đề xuất bởi Spence (1973) để giải thích hành vi của thị trường lao động. Trong mô hình của Spence, giáo dục được xem như là một dấu hiệu của chất lượng của nhân viên tiềm năng, và do đó có thể ảnh hưởng đến hành vi tuyển dụng. Lý thuyết tín hiệu đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kế toán và kiểm toán nhằm đề xuất rằng nhà quản lý có thể báo hiệu một điều gì đó về công ty thông qua các khía cạnh khác nhau của việc công bố hoặc tiết lộ thông tin trên BCTC, điều mà các nhà đầu tư có thể xem như một tín hiệu ảnh hưởng đến quyết định của mình.

Áp dụng lý thuyết tín hiệu cho đề tài nghiên cứu: Thời điểm tiết lộ thông tin có thể được xem như là một dấu hiệu cho thấy công ty có tin tốt hay tin xấu để công

bố. Việc công bố thông tin tài chính sớm có thể cho thấy một số tin tốt lành (như tăng thu nhập) mà nhà quản lý muốn thị trường biết càng sớm càng tốt, ngược lại, sự trì hoãn công bố thông tin có thể là tín hiệu cho những tin xấu (chẳng hạn như thu nhập giảm). Mối quan hệ được đề xuất này có thể được tóm tắt là “tin tốt đến sớm, tin xấu đến muộn” (good news early, bad news later). Do ý kiến kiểm toán là thông tin mà nhà đầu tư có quan tâm đặc biệt trên BCTC đã kiểm toán được công bố rộng rãi, ý kiến kiểm toán của công ty năm hiện tại có thay đổi tích cực (ý kiến kiểm toán có sự cải thiện mức độ chấp nhận so với năm trước) là một thông tin tốt mà nhà quản lý muốn thông báo rộng rãi, trong khi ý kiến kiểm toán của công ty năm hiện tại có thay đổi tiêu cực (ý kiến kiểm toán có sự suy giảm mức độ chấp nhận so với năm trước) là thông tin xấu mà nhà quản lý muốn trì hoãn việc công bố rộng rãi đến công chúng.

2.4.2. Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Theo Mitnick(1975), và Jensen và Meckling (1976), lý thuyết đại diện xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy nhiệm) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ, người ủy nhiệm - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác quản lý công ty (người đại diện, hay người được ủy nhiệm - agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền định đoạt tài sản của công ty. Lý thuyết đại diện giả định rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình. Khi bên được ủy nhiệm hành động vì lợi ích riêng của họ mà gây bất lợi cho bên ủy nhiệm thì bên ủy nhiệm sẽ đưa ra các biện pháp để giới hạn lại lợi ích riêng của bên được ủy nhiệm.

Do đó sẽ làm phát sinh chi phí ủy nhiệm (Agency cost). Chi phí ủy nhiệm là chi phí trả cho sự xung đột lợi ích giữa hai bên bao gồm chi phí giám sát (Monitoring cost), chi phí liên kết (bonding cost) và chi phí khác (Residual cost).

Áp dụng lý thuyết đại diện cho đề tài nghiên cứu: Theo lý thuyết đại diện, mâu thuẫn giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm là rất đáng kể vì thường người điều hành doanh nghiệp chỉ sở hữu một phần rất nhỏ cổ phần của doanh nghiệp. Vì vậy, để hạn chế chi phí ủy nhiệm và đạt được sự cân bằng lợi ích của cả hai bên, người điều hành phải công bố thông tin nhiều hơn đến các cổ đông. Do đó, lý thuyết

đại diện giải thích được ảnh hưởng của việc thay đổi ý kiến kiểm toán đến thời gian công bố BCTC kịp thời. Nguyên nhân là do khi có thông tin tốt (năm nay có ý kiến kiểm toán có mức độ chấp nhận cao hơn năm trước) thì nhà quản lý luôn muốn công bố thông tin nhanh hơn để thể hiện khả năng quản lý của mình, ngược lại khi có thông tin xấu (ý kiến kiểm toán năm nay có mức độ chấp nhận thấp hơn năm trước), nhà quản lý có thể sẽ mất nhiều thời gian thương thảo với kiểm toán viên và trì hoãn thời gian công bố BCTC sao cho có lợi nhất, dẫn đến việc công bố BCTC muộn hơn khi có thông tin tốt.

2.4.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information theory)

Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Theo các nhà kinh tế học, bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che giấu thông tin, người mua không có đầy đủ thông tin xác thực và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa. Hậu quả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường. Sau cùng, bất cân xứng thông tin thậm chí còn có thể dẫn đến tình trạng trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm có chất lượng kém, hàng hóa tốt bị loại bỏ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên.

Bất cân xứng thông tin còn gây ra rủi ro đạo đức (moral hazard) và độc quyền về thông tin (information monopoly).

Áp dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng cho đề tài nghiên cứu: Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty, hoặc khi doanh nghiệp, những người quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng nhà đầu tư. Vì vậy có thể dẫn tới hiện tượng che đậy các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư khác nhau. Sự thay đổi ý kiến kiểm toán giữa hai năm là một thông tin của doanh nghiệp mà nhà đầu tư có sự quan tâm đặc biệt để phục vụ

cho việc ra quyết định của bản thân, nhưng thông tin này chỉ được công bố thông qua BCTC đã kiểm toán. Trong thời điểm trước khi công bố BCTC, thông tin này chỉ có nhà quản lý sở hữu riêng, do đó khi có thông tin tốt (năm nay có ý kiến kiểm toán có mức độ chấp nhận cao hơn năm trước) thì nhà quản lý luôn muốn công bố thông tin nhanh chóng, nhưng khi có thông tin xấu (ý kiến kiểm toán năm nay có mức độ chấp nhận thấp hơn năm trước), nhà quản lý sẽ trì hoãn việc công bố thông tin này. Như đã nói ở trên, bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất, đó là sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Điều này sẽ làm bóp méo quyết định tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến thất bại thị trường.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Nội dung chương 2 trình bày tổng quan các cơ sở lý thuyết nền tảng của nghiên cứu, cơ sở lý thuyết về BCTC, kiểm toán BCTC, các dạng ý kiến kiểm toán, tính kịp thời của thông tin trên BCTC và các yêu cầu công bố thông tin trên BCTC trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các lý thuyết này làm nền tảng và là cơ sở lý luận cho các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài.

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 45 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)