CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.3. Nhận xét các nghiên cứu trước đây và khoảng trống nghiên cứu
Bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.1 – Tóm tắt các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu ST
T
Tác giả Phương pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
Nghiên cứu trên thế giới 1 G. P.
Whittred (1980)
- Kiểm định Mann- Whitney - Kiểm định Kruskal- Wallis
So sánh sự khác nhau giữa các nhóm theo:
(1) Thời gian công bố BCTC sơ bộ
(2) Thời gian ký báo cáo kiểm toán
(3) Thời gian công bố BCTC đã kiểm toán
- Công ty có ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần chậm trễ trong việc công bố BCTC sơ bộ và BCTC năm
- Mức độ nghiêm trọng của ý kiến kiểm toán càng cao thì càng có sự chậm trễ trong việc công bố BCTC
2 Ashton et al.
(1989)
Phân tích hồi quy
- Quy mô công ty - Lĩnh vực hoạt động - Tháng kết thúc năm tài chính
- Công ty kiểm toán - Dấu hiệu của thu nhập - Các khoản mục đặc biệt - Các khoản nợ tiềm tàng - Loại ý kiến kiểm toán
Các biến có mối quan hệ nhất quán với thời gian hoàn tất báo cáo kiểm toán:
- Quy mô công ty - Lĩnh vực hoạt động - Dấu hiệu của thu nhập - Các khoản mục đặc biệt
3 Soltani (2002)
Kiểm định Chi bình phương
So sánh sự khác nhau về số ngày ngày từ lúc kết thúc năm tài chính đến
- Có sự cải thiện tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết tại Pháp
ST T
Tác giả Phương pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
ngày ký báo cáo kiểm toán
từ 1985 – 1995 (cả BCTC riêng và BCTC hợp nhất) - Mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố báo cáo kiểm toán càng chậm hơn 4 Owusu-
Ansah và Leventis (2006)
Phân tích hồi quy
- Quy mô công ty - Đòn bẩy tài chính tổng nợ dài hạn trên tổng tài sản
- Tỷ lệ cổ phần nắm giữ trực tiếp và gián tiếp bởi những người trong doanh nghiệp
- Số lượng đoạn nhấn mạnh trong ý kiến kiểm toán
- Công ty kiểm toán - Lĩnh vực hoạt động
Các biến có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC:
- Quy mô công ty - Công ty kiểm toán - Lĩnh vực hoạt động
5 Cullinan et al.
(2012)
Phân tích hồi quy
- Loại ý kiến kiểm toán - Sự cải thiện ý kiến kiểm toán
- Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán
- Mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán
- Công ty với ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước công bố BCTC sớm hơn công ty với ý kiến kiểm toán suy giảm so với năm trước đó - Mức độ thay đổi thời gian công bố BCTC bị
ST T
Tác giả Phương pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
ảnh hưởng bởi mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán 6 Rezaei
và Shahroo di (2015)
Phân tích hồi quy
- Sự cải thiện ý kiến kiểm toán
- Sự suy giảm ý kiến kiểm toán
- Mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán
- Mức độ cải thiện ý kiến kiểm toán
- Mức độ suy giảm ý kiến kiểm toán
- Có mối quan hệ cùng chiều giữa ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước và thời gian công bố BCTC
- Có mối quan hệ ngược chiều giữa ý kiến kiểm toán được cải thiện so với năm trước và thời gian công bố BCTC
- Có mối quan hệ cùng chiều giữa của mức độ suy giảm của ý kiến kiểm toán và việc công bố chậm trễ BCTC Nghiên cứu tại Việt Nam
1 Đặng Đình Tân (2013)
- Kiểm định Chi bình phương - Kiểm định t-test
- Loại BCTC
- Loại công ty kiểm toán
Có sự liên hệ giữa loại BCTC đến tính kịp thời của BCTC, loại công ty kiểm toán thì không có liên hệ
2 Nguyễn An Nhiên
- Kiểm định ANOVA
- Quy mô công ty
- Loại công ty kiểm toán - Lợi nhuận kinh doanh
Các nhân tố có tác động đến tính kịp thời của BCTC:
ST T
Tác giả Phương pháp nghiên cứu
Các biến sử dụng Kết quả chính
(2013) - Kiểm định ma trận hệ số tương quan
- Loại BCTC
- Loại ý kiến kiểm toán
- Lợi nhuận kinh doanh - Loại BCTC
- Loại ý kiến kiểm toán
3 Nguyễn Thị Xuân Vy (2016)
Phân tích hồi quy
- Tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động
- Số lượng công ty con - Thu nhập trên cổ phần - Biến đổi trong khả năng sinh lời hằng năm
- Ý kiến kiểm toán
Các nhân tố có tác động đến tính kịp thời của thông tin trên BCTC:
- Tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động
- Số lượng công ty con - Ý kiến kiểm toán
Sau khi tổng hợp và tìm hiểu các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả có những nhận xét như sau:
- Đối với các nghiên cứu trước đây trên thế giới: kết quả của các nghiên cứu trước đây trên thế giới được trình bày trong bảng tóm tắt trên đều cho thấy có xu hướng thông tin tốt (thuận lợi) sẽ được công bố nhanh chóng hơn thông tin xấu (bất lợi) – good news early, bad news later, trong đó loại ý kiến kiểm toán là một thông tin quan trọng được rất nhiều người sử dụng BCTC quan tâm. Kết quả nghiên cứu của G. P.
Whittred (1980), Soltani (2002), Cullinan et al. (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015) đều có kết luận rằng ý kiến kiểm toán có mức độ chấp thuận càng giảm thì thời gian công bố BCTC càng chậm hơn, nghĩa là tính kịp thời của BCTC giảm đi, trong đó hai nghiên cứu của Cullinan et al. (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015) đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC, là đề tài nghiên cứu thực hiện trong luận văn này của tác giả. Đa phần các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC đều được thực hiện tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển và có độ minh bạch thông tin cao,
trong khi nghiên cứu tại thị trường chứng khoán trẻ và đang phát triển như Việt Nam còn hạn chế.
- Đối với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam: số lượng các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC tại Việt Nam được thực hiện còn hạn chế. Nghiên cứu trước đây của Đặng Đình Tân (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hai nhân tố loại BCTC và loại công ty kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC. Nghiên cứu của Nguyễn An Nhiên (2013) và Nguyễn Thị Xuân Vy (2016) đã nghiên cứu thêm ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác đến tính kịp thời của BCTC, mà trong đó có nhân tố loại ý kiến kiểm toán. Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố loại ý kiến kiểm toán trong năm nghiên cứu đến tính kịp thời của BCTC, mà chưa nghiên cứu đến khía cạnh thay đổi ý kiến kiểm toán giữa năm hiện tại và năm trước đó như một thông tin tốt (hoặc xấu) ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC.
Từ nhận xét trên, tác giả nhận thấy khoảng trống nghiên cứu và quyết định thực hiện luận văn với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn gần nhất là 2013 – 2016 tại Việt Nam để đóng góp bằng chứng thực nghiệm tại thị trường chứng khoán đang phát triển về chủ đề nghiên cứu là tác động của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày tóm lược các cơ sở lý thuyết nền tảng cho luận văn, cùng với các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng này, tác giả đã chỉ ra khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chỉ ra những vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu và giải quyết.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có một số nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, trong đó có nhân tố ý kiến kiểm toán, nhưng các nghiên cứu trước chỉ nghiên cứu trong phạm vi ảnh hưởng ý kiến kiểm toán của năm hiện tại đến tính kịp thời của BCTC và chưa mở rộng nghiên cứu đến ảnh hưởng của
sự thay đổi ý kiến kiểm toán giữa các năm. Đây chính là khoảng trống để tác giả thực hiện nghiên cứu dựa trên dữ liệu nghiên cứu cập nhật nhất. Từ đó, đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC tại Việt Nam, cụ thể là đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM.