Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 22 - 26)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam

Tại Việt Nam, cũng đã có các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC. Tác giả tóm tắt một số nghiên cứu có liên

quan như sau:

[1] Tên đề tài: Một số nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam

Tác giả: Đặng Đình Tân

Nguồn: Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, Số 84, trang 47–52 Năm phát hành: 2013

Nội dung:

+ Nghiên cứu đánh giá một số nhân tố có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập và mức độ phức tạp của việc lập BCTC ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam, đồng thời xem xét khả năng cải thiện tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết qua hai năm 2010, 2011.

+ Nghiên cứu thực hiện trên mẫu gồm 175 BCTC đã kiểm toán năm 2010 và 2011 của 120 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE).

+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được được hiểu như là tính kịp thời của hoạt động kiểm toán độc lập BCTC, được đo lường bằng số ngày kể từ ngày khóa sổ kế toán lập BCTC đến ngày ký báo cáo kiểm toán.

+ Tác giả đưa ra hai nhân tố ảnh hưởng tới tính kịp thời của BCTC bao gồm (1) loại BCTC (là BCTC riêng hay BCTC hợp nhất) và (2) loại công ty kiểm toán (Big4, công ty thành viên hãng kiểm toán quốc tế khác và công ty kiểm toán trong nước).

Tác giả đã thực hiện kiểm định Chi bình phương để kiểm định mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố trên đến tính kịp thời của BCTC. Kết quả cho thấy là có sự liên hệ giữa (1) loại BCTC đến tính kịp thời của BCTC, tuy nhiên, (2) loại công ty kiểm toán thì không có liên hệ. Nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định t-test để kiểm định sự khác biệt về tính kịp thời của BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam qua hai năm 2010, 2011, và có kết quả là có sự khác biệt giữa hai năm này.

[2] Tên đề tài: Các nhân tố tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Tác giả: Nguyễn An Nhiên

Nguồn: Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh Năm phát hành: 2013

Nội dung:

+ Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến tính kịp thời của BCTC ở các các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu về cải thiện tính kịp thời của BCTC ở các các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

+ Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu bao gồm 173 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh năm 2012.

+ Tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu được thể hiện là thời hạn công bố BCTC đúng hạn quy định, được đo lường bằng số ngày từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán.

+ Tác giả đề xuất năm nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC, bao gồm (1) quy mô công ty (đo lường bằng vốn chủ sở hữu và tổng tài sản), (2) loại công ty kiểm toán (Big4 hay non-Big4), (3) lợi nhuận kinh doanh (đo lường bằng hai tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE), (4) loại BCTC (BCTC riêng hay BCTC hợp nhất) và (5) loại ý kiến kiểm toán (ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần).

+ Tác giả sử dụng kiểm định ANOVA cho các nhân tố định tính (2), (4) và (5) và kiểm định ma trận hệ số tương quan cho các nhân tố định danh (1) và (3).

+ Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố loại BCTC hợp nhất, loại ý kiến kiểm toán, lợi nhuận kinh doanh có tác động đến tính kịp thời của thông tin trên BCTC.

Bên cạnh đó, kết quả phân tích cũng cho thấy các nhân tố như quy mô công ty, loại công ty kiểm toán không có tác động đến tính kịp thời của việc công bố thông tin trên BCTC.

[3] Tên đề tài: Mối quan hệ giữa đặc trưng của doanh nghiệp và tính kịp thời của việc công bố thông tin báo cáo tài chính của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Vy

Nguồn: Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh Năm phát hành: 2016

Nội dung:

+ Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc trưng của doanh nghiệp đến tính kịp thời của công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

+ Mẫu nghiên cứu bao gồm 100 công ty từ hai sàn HNX và HOSE có công bố BCTC trong giai đoạn 2012 – 2014.

+ Tính kịp thời của việc công bố thông tin BCTC trong nghiên cứu được đo lường bằng khoảng thời gian từ khi kết thúc kỳ báo cáo đến thời điểm ký báo cáo kiểm toán, và bằng khoảng thời gian từ khi ký báo cáo kiểm toán đến hạn cuối nộp BCTC.

+ Nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố thông tin BCTC bao gồm (1) tính đa dạng trong lĩnh vực hoạt động, (2) số lượng công ty con, (3) thu nhập trên cổ phần, (4) biến đổi trong khả năng sinh lời hằng năm và (5) ý kiến kiểm toán.

+ Bằng phương pháp phân tích hồi quy, tác giả luận văn đã có kết luận rằng: số lượng công ty con, tính phức tạp trong hoạt động (đại diện cho đặc trưng cấu trúc), biến đổi trong khả năng sinh lời hàng năm (đại diện cho đặc trưng tài chính) và ý kiến kiểm toán là các biến có ảnh hưởng đến tính kịp thời của việc công bố báo cáo tài chính. Theo đó, những doanh nghiệp có số lượng công ty con nhiều và có lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp đa dạng thì doanh nghiệp sẽ tốn nhiều thời gian công bố báo cáo tài chính hay báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ không đáp ứng được tính kịp thời. Trong khi đó, những doanh nghiệp có “Biến đổi trong khả năng sinh lời”

theo chiều hướng tốt và ý kiến kiểm toán là ý kiến chấp nhận toàn phần thì doanh nghiệp đó sẽ công bố báo cáo tài chính sớm hơn.

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 22 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)