CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4. Mô hình nghiên cứu
Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra tại mục 3.2, mô hình hồi quy được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập đã chọn lọc tại mục 3.3. Mỗi giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định trong một mô hình hồi quy riêng biệt như sau:
3.4.1. Phân tích ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
Mô hình 1: Phân tích ảnh hưởng của sự cải thiện ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
Để kiểm định Giả thuyết H1, tác giả sử dụng mô hình sau:
DELi,t = β0 + β1 DIMP + β2 UE + β3 AS + β4 DUAL + β5 LEV + β6 SIZE + εi,t (1) Trong mô hình (1) này, hệ số hồi quy của từng biến đánh giá sự thay đổi của biến phụ thuộc DEL. Hệ số hồi quy dương có thể cho thấy có sự trì hoãn trong việc công bố BCTC so với năm trước, trong khi hệ số âm cho thấy việc công bố BCTC kịp thời hơn. Thêm vào đó, giá trị tuyệt đối của hệ số càng cao thì việc công bố BCTC càng nhanh hơn. Theo giả thuyết H1, sự cải thiện ý kiến kiểm toán và tính kịp thời của BCTC có quan hệ cùng chiều với nhau, sự cải thiện ý kiến kiểm toán sẽ làm giảm số ngày công bố BCTC, và làm tăng tính kịp thời của BCTC, theo đó, tác giả mong đợi β1 < 0.
Mô hình 2: Phân tích ảnh hưởng của sự suy giảm ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
Để kiểm định Giả thuyết H2, tác giả sử dụng mô hình sau:
DELi,t = β0 + β1 DDETER + β2 UE + β3 AS + β4DUAL + β5LEV + β6SIZE + εi,t (2) Theo giả thuyết 2, sự suy giảm ý kiến kiểm toán sẽ làm tăng số ngày công bố BCTC và làm giảm đi tính kịp thời của BCTC, tác giả mong đợi β1 > 0.
3.4.2. Phân tích ảnh hưởng của mức độ thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
Mô hình 3: Phân tích ảnh hưởng của mức độ thay đổi của ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC
Tác giả sử dụng mô hình sau để kiểm định giả thuyết H3:
DELi,t = β0 + β1 OPNCHG + β2 UE + β3 AS + β4 DUAL + β5 LEV + β6 SIZE + εi,t (3)
Theo giả thuyết H3, mức độ thay đổi của ý kiến kiểm toán và tính kịp thời của BCTC có quan hệ cùng chiều với nhau, giá trị của biến mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán càng lớn, ý kiến kiểm toán năm sau càng cải thiện hơn năm trước, tính kịp thời của BCTC càng tăng, do đó tác giả kỳ vọng β1 <0.
3.5. Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu tiến hành khảo sát và đánh giá trên mẫu nghiên cứu, không phải toàn
bộ các công ty niêm yết tại HOSE.
3.5.1.Quy định chọn mẫu:
Đặc điểm của các công ty nằm trong mẫu được chọn bao gồm:
- Các công ty hoạt động trong các lĩnh vực phi tài chính: Mẫu được chọn không bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng và các tổ chức tín dụng do các công ty trong lĩnh vực này tuân theo chuẩn mực và các quy định đặc thù riêng, không áp dụng cùng các chuẩn mực kế toán như đối với các công ty phi tài chính.
- Các công ty được niêm yết tại HOSE trước ngày 31/12/2013 và cung cấp đầy đủ BCTC đã kiểm toán trong giai đoạn 2013 – 2016.
3.5.2. Quy trình chọn mẫu
Quy trình chọn mẫu được tiến hành như sau:
- Bước 1: Liệt kê tất cả các công ty niêm yết dựa trên danh sách niêm yết tại website của HOSE (http://www.hsx.vn)
- Bước 2: Dựa trên thông tin nhóm ngành cung cấp tại website để loại bỏ các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng và các tổ chức tín dụng
- Bước 3: Dựa trên thông tin ngày niêm yết cung cấp tại website để loại bỏ các công ty niêm yết sau ngày 31/12/2013
- Bước 4: Kiểm tra BCTC đã được kiểm toán trong giai đoạn 2013 – 2016 và loại bỏ tất cả các công ty không công bố đủ các thông tin cần thiết.
3.5.3. Kết quả chọn mẫu
Tại thời điểm tiến hành thu thập dữ liệu, có tổng cộng 351 công ty đang có chứng khoán niêm yết tại HOSE. Tác giả loại trừ 20 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính và 79 công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính nhưng niêm yết sau ngày 31/12/2013. Mẫu cuối cùng bao gồm 252 công ty thỏa mãn tất cả điều kiện cần thiết.
Từ 252 công ty này, tác giả thu thập 1008 BCTC đã kiểm toán trong giai đoạn 2013- 2016 để lấy dữ liệu cần thiết cho bài nghiên cứu. Danh sách các công ty trong mẫu được nêu tại Phụ lục 2.
Dựa vào công thức tính cỡ mẫu tối thiểu đối với phân tích hồi quy đa biến của Tabachnick và Fidell (1996), thì n = 50 + 8*m, với m là số biến độc lập trong mô hình. Trong 3 mô hình (1), (2), (3), số biến độc lập bao gồm các biến kiểm soát đưa vào mô hình là 6 biến. Từ đó, tác giả tính toán cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập cho luận văn là n = 50 + 8*6 = 98 mẫu. Mẫu thực tế chọn thu thấp lớn hơn cỡ mẫu tối thiểu này, do đó số lượng mẫu đã chọn đáng tin cậy.