Tính kịp thời của thông tin trên BCTC

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 39 - 42)

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.2. Cơ sở lý thuyết về kiểm toán BCTC và ý kiến kiểm toán

2.3.1. Tính kịp thời của thông tin trên BCTC

2.3.1.1. Khái niệm tính kịp thời của thông tin trên BCTC

Theo khung khái niệm cho các chuẩn mực kế toán quốc tế (The Conceptual

Framework for Financial Reporting), tính kịp thời (Timeliness) là một trong những đặc điểm chất lượng của thông tin hữu ích. Tính kịp thời có nghĩa là thông tin được cung cấp sẵn sàng kịp thời cho người ra quyết định. Nói chung, thông tin càng chậm thì càng kém hữu dụng, nhưng một số thông tin có thể vẫn hữu dụng một thời gian dài sau giai đoạn báo cáo vì một số người dùng vẫn có thể sử dụng để xác định và đánh giá xu hướng.

Theo VAS 01 – Chuẩn mực chung (2002) thì Kịp thời là một yêu cầu cơ bản đối với kế toán, yêu cầu các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. Khoản 4, Điều 101 Thông tư 200/2014/TT-BTC cũng có quy định về yêu cầu đối với thông tin trình bày trong BCTC là thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu.

2.3.1.2. Đo lường tính kịp thời của thông tin trên BCTC

Theo định nghĩa về tính kịp thời của thông tin trên BCTC, thì tính kịp thời có thể đo lường bằng khoảng thời gian từ khi người ra quyết định có nhu cầu thông tin đến khi nhận được thông tin. Với BCTC năm, thì tính kịp thời này có thể đo lường bằng khoảng thời gian từ ngày kết thúc năm tài chính (người sử dụng BCTC bắt đầu có nhu cầu về thông tin trên BCTC năm) đến ngày BCTC đã kiểm toán được công bố rộng rãi đến công chúng. Trong tình hình thực tế tại Việt Nam, khoảng thời gian này có thể chia làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày công ty hoàn thành BCTC năm. Đây là khoảng thời gian kể từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày mà bộ phận kế toán của công ty hoàn tất việc ghi nhận toàn bộ nghiệp vụ trong năm tài chính để lập BCTC năm, cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và các thuyết minh cho các số liệu trên các báo cáo trên. Độ dài thời gian của quá trình này sẽ phụ thuộc vào các đặc trưng của doanh nghiệp và năng lực của bộ phận kế toán của công ty.

- Giai đoạn 2: Từ ngày công ty hoàn thành BCTC năm đến ngày BCTC của công ty hoàn tất quá trình kiểm toán và có báo cáo kiểm toán. Sau khi bộ phận kế toán hoàn tất việc lập BCTC, quá trình kiểm toán BCTC của công ty sẽ được tiến hành. Các

KTV có đủ năng lực và độc lập sẽ tiến hành thu thập các bằng chứng về những thông tin trên BCTC để xem xét liệu BCTC có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng. Giai đoạn này cũng sẽ bao gồm quá trình thảo luận giữa KTV với ban giám đốc và bộ phận kế toán của công ty để có được kết quả kiểm toán cuối cùng là báo cáo kiểm toán. Độ dài thời gian của quá trình này cũng phụ thuộc vào các đặc trưng của doanh nghiệp, năng lực và sự độc lập của KTV, và số lượng, bản chất và mức độ của các vấn đề gây ra sai sót trọng yếu trên BCTC.

- Giai đoạn 3: Từ ngày ký báo cáo kiểm toán đến ngày chính thức công bố BCTC đã kiểm toán tại Sở giao dịch chứng khoán và tại website của công ty. Sau khi báo cáo kiểm toán đã được phát hành bởi công ty kiểm toán, trách nhiệm công bố BCTC đến công chúng là trách nhiệm của người đại diện pháp luật của công ty. Độ dài thời gian của quá trình này phụ thuộc vào quyết định của người đại diện pháp luật của công ty.

Rất nhiều nghiên cứu trước đây đã tiến hành đo lường tính kịp thời của BCTC.

Như đã trình bày trong Chương 1, đa phần các nghiên cứu trước đây đều đo lường tính kịp thời của BCTC bằng khoảng thời gian, bao gồm:

Tính kịp thời = khoảng cách thời gian từ khi kết thúc năm tài chính đến khi công bố BCTC tại Sở giao dịch chứng khoán mà công ty niêm yết hoặc trên báo chí.

(Whittred (1980), Owusu-Ansah và Leventis (2006)).

Tính kịp thời = khoảng cách thời gian từ khi kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán (Ashton et al. (1989), Soltani (2002), Cullinan et al. (2012), Rezaei và Shahroodi (2015), Đặng Đình Tân (2013), Nguyễn An Nhiên (2013) và Nguyễn Thị Xuân Vy (2016)).

Tính kịp thời = khoảng cách thời gian từ ngày ký báo cáo kiểm toán đến hạn cuối của ngày công bố BCTC (Nguyễn Thị Xuân Vy (2016)).

Tính kịp thời của BCTC nên được đo lường chính xác từ ngày kết thúc năm tài chính đến khi công bố BCTC rộng rãi và sẵn sàng cho người sử dụng BCTC (nghĩa là bao gồm cả 3 giai đoạn đã đề cập ở trên). Tuy nhiên, trong điều kiện tại Việt Nam,

do không thể thu thập chính xác ngày công ty chính thức công bố BCTC tại HOSE hoặc website của công ty để phục vụ cho nghiên cứu, tính kịp thời của BCTC trong nghiên cứu này được đo lường bằng khoảng thời gian từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày ký báo cáo kiểm toán, với giả định ngày công bố BCTC cũng là ngày ký báo cáo kiểm toán (nghĩa là bao gồm giai đoạn 1 và giai đoạn 2, với giả định rằng giai đoạn 3 rất ngắn, độ dài chỉ dưới 1 ngày).

Một phần của tài liệu (Luận văn thạc sĩ) ảnh hưởng của sự thay đổi ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh (Trang 39 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(140 trang)