CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính
4.3.3. Bàn luận về kết quả nghiên cứu
Sau khi tiến hành phân tích hồi quy dựa trên dữ liệu thực tế thu thập từ BCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết tại HOSE thỏa các điều kiện chọn mẫu nghiên cứu trong giai đoạn 2013 – 2016, tác giả kết luận rằng cả chiều hướng và mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán đều có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC.
Ảnh hưởng của chiều hướng thay đổi ý kiến kiểm toán:
- Theo kết quả của mô hình (1), trọng số hồi quy β1 DIMP = -7.802 của biến độc lập sự cải thiện ý kiến kiểm toán cho thấy khi có sự cải thiện ý kiến kiểm toán, thời gian công bố BCTC của năm hiện tại giảm so với năm trước đó, do đó sự cải thiện ý kiến kiểm toán có tác động cùng chiều đến tính kịp thời của BCTC. Điều này phù
hợp với các lý thuyết nền tảng đã nêu tại mục 2.4. Theo lý thuyết tín hiệu, việc công bố thông tin tài chính sớm có thể cho tin tốt lành (như sự cải thiện ý kiến kiểm toán) mà nhà quản lý muốn thị trường biết càng sớm càng tốt. Sự cải thiện ý kiến kiểm toán này cũng là tin tốt mà nhà quản lý luôn muốn công bố thông tin nhanh hơn để thể hiện khả năng quản lý của mình, theo lý thuyết đại diện. Trong thời điểm trước khi công bố BCTC đã kiểm toán, thông tin về sự thay đổi ý kiến kiểm toán chỉ có nhà quản lý sở hữu riêng, dẫn đến sự bất cân xứng thông tin trên thị trường. Khi có thông tin tốt (năm nay có ý kiến kiểm toán có mức độ chấp nhận cao hơn năm trước) thì nhà quản lý luôn muốn công bố thông tin nhanh chóng, vì điều này có lợi cho nhà quản lý.
- Theo kết quả của mô hình (2) trọng số hồi quy β1 DDETER = 11.828 của biến độc lập sự suy giảm ý kiến kiểm toán cho thấy khi có sự suy giảm ý kiến kiểm toán, thời gian công bố BCTC của năm hiện tại tăng so với năm trước đó, do đó sự suy giảm ý kiến kiểm toán có tác động ngược chiều đến tính kịp thời của BCTC. Tương tự như trên, điều này phù hợp với ba lý thuyết nền tảng đã nêu tại mục 2.4, bao gồm lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất cân xứng.
Sự khác biệt trong giá trị tuyệt đối của trọng số hồi quy của hai biến độc lập trong mô hình (1) và (2): |β1 DIMP| = -7.802 < |β1 DDETER| = 11.828 cũng cho thấy khác biệt trong tác động của sự cải thiện và sự suy giảm ý kiến kiểm toán đến tính kịp thời của BCTC: thông tin xấu (sự suy giảm ý kiến kiểm toán) có tác động lớn hơn đến tính kịp thời lớn hơn là thông tin tốt (sự cải thiện ý kiến kiểm toán).
Kết quả này nhất quán với kết quả nghiên cứu trước đây của Cullinan et al. (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015).
Ảnh hưởng của mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán:
Kết quả kiểm định hồi quy của mô hình (3) cho thấy mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán ảnh hưởng cùng chiều đến tính kịp thời của BCTC, nghĩa là khi giá trị của biến mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán càng lớn, ý kiến kiểm toán năm sau càng cải thiện hơn năm trước, tính kịp thời của BCTC càng tăng. Nghiên cứu của của Cullinan et al. (2012) và Rezaei và Shahroodi (2015) đều có kết luận tương tự về mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán ảnh hưởng ngược chiều đến thời gian công bố BCTC, nghĩa là ảnh hưởng cùng chiều với tính kịp thời của BCTC.
Thêm vào đó, dù không phải là mục tiêu chính của nghiên cứu, nhưng trong quá trình chạy mô hình hồi quy, hai biến kiểm soát Lợi nhuận kỳ vọng (UE) và Thay đổi công ty kiểm toán (AS) đều có kết quả tác động giống nhau trong 4 mô hình hồi quy.
Từ đó, có thể kết luận sự thay đổi Lợi nhuận thuần có tác động cùng chiều đến tính kịp thời của BCTC, và sự thay đổi công ty kiểm toán có tác động ngược chiều đến tính kịp thời của BCTC. Lợi nhuận tăng là thông tin tốt trên thị trường, do đó, thông tin tốt này cũng đi theo quy luật “tin tốt đến sớm, tin xấu đến muộn” như thông tin sự cải thiện ý kiến kiểm toán. Khi thay đổi công ty kiểm toán, nhóm kiểm toán mới sẽ
mất thời gian nhiều hơn trong việc tìm hiểu công ty để hoàn thành toàn bộ mọi thủ tục của quy trình kiểm toán, cũng như mất nhiều thời gian trong việc thảo luận kết quả kiểm toán với nhà quản lý doanh nghiệp, do đó, tính kịp thời của BCTC giảm đi.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Trong chương 4 tác giả tiến hành xử lý dữ liệu thực tế đã thu thập được để đánh giá mức độ tương quan của các biến độc lập đến tính kịp thời của BCTC. Kết quả cho thấy các biến độc lập DIMP, DDETER đặc trưng cho chiều hướng thay đổi ý kiến kiểm toán, và biến OPNCHG đặc trưng cho mức độ thay đổi ý kiến kiểm toán là các biến có ảnh hưởng đến tính kịp thời của BCTC.