Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS trong giai đoạn hiện nay cho thấy vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc bất cập cần có sự hoàn thiện hoặc cần có văn bản hướng dẫn để phát huy giá trị pháp lý của thủ tục tố tụng này. Từ những lí do trên, nhóm chúng em xin chọn đề bài 19: “Phân tích và bình luận các quy định về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng” để đi sâu làm rõ vấn đề.
Trang 1BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
Luật Tố tụng dân sự
ĐỀ BÀI:19
Phân tích và bình luận các quy định về cấp, tống đạt
và thông báo văn bản tố tụng
Hà Nội, 2020
Trang 2
Mục lục
Trang 3Các từ ngữ viết tắt BLTTDS: Bộ Luật Tố tụng dân sự VBTTDS: Văn bản tố tụng dân sự UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một xu thế tất yếu khách quan Để thực hiện được điều này, một trong những yếu tố cần thiết đó là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra Cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng dân sự là một phần rất quan trọng trong hoạt động tư pháp: hoạt động xét xử và thi hành án Chính vì vậy, hiện nay có khá nhiều văn bản pháp luật quy định về cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS để đảm bảo hiệu quả của hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS như Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS trong giai đoạn hiện nay cho thấy vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc bất cập cần có
sự hoàn thiện hoặc cần có văn bản hướng dẫn để phát huy giá trị pháp lý của thủ tục tố tụng này Từ những lí do trên, nhóm chúng em xin chọn đề bài 19:
“Phân tích và bình luận các quy định về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng” để đi sâu làm rõ vấn đề
NỘI DUNG
1 Khái niệm.
- Về văn bản tố tụng:
Trong các văn bản pháp luật hiện nay chưa có khái niệm cụ thể cho văn bản
tố tụng Tuy nhiên, có thể thấy văn bản tố tụng là một dạng của văn bản quy phạm pháp luật, mang những đặc điểm chung của văn bản quy phạm pháp luật như: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, được xác lập bằng ngôn ngữ viết, được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, theo trình tự thủ tục
do pháp luật quy định, ở đó cũng quy định các quy tắc xử sự của các chủ thể liên quan
Từ đó, có thể hiểu văn bản tố tụng là văn bản (các tài liệu, giấy tờ) do cơ
Trang 5quan
tiến hành tố tụng dân sự ban hành theo thủ tục, trình tự luật định và áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, trong đó chứ đựng các quy tắc xử sự của đương sự và các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan
- Cấp văn bản tố tụng dân sự:
Cấp văn bản tố tụng dân sự là hoạt động của Tòa án, cơ quan thi hành án, Thừa phát giao lại văn bản tố tụng, trong đó xác định quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của các đương sự cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến việc giải quyết văn bản dân sự và thi hành án dân sự để họ sử dụng
- Tống đạt văn bản tố tụng dân sự:
Tống đạt văn bản tố tụng trong tố tụng dân sự được hiểu là việc “các cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát, Tòa án) giao các tài liệu, giấy tờ, các quyết định như: giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn phiên tòa….cho đương sự”1
Có thể hiểu tống đạt VBTTDS như sau: Tống đạt VBTTDS là hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng giao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự văn bản tố tụng và buộc họ phải nhận
- Thông báo văn bản tố tụng dân sự:
Là hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự biết về những vấn đề liên quan đến họ
2 Phân tích, bình luận các quy định về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng
2.1 Chủ thể cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng dân sự.
Theo Điều 170 BLTTDS 2015 quy định: “Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương
1 https://dongdoilaw.vn/can-quy-dinh-cu-the-thoi-han-de-toa-an-tong-dat-van-ban-to-tung-cho-duong-su/
Trang 6sự, những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật này và pháp luật có liên quan”, đối việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thì cơ Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành sẽ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Trong tố tụng dân sự, việc chuyển giao, báo cáo cho cá nhân, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự như đương sự, người làm chứng, người giám định là rất cần thiết Thông qua các hoạt động này, tòa án báo được cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự những thông tin cần thiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ để thực hiện, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân
sự được nhanh chóng và đúng đắn Ngoài ra, việc cấp, tống đạt, thông báo cũng đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra công khai, minh bạch và dân chủ
Ngoài ra, Điều 172 BLTTDS 2015 còn quy định việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự thông qua những người sau:“Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng do những người sau đây thực hiện:
1 Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
2 Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu
3 Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định
4 Nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính
5 Người có chức năng tống đạt
6 Những người khác mà pháp luật có quy định.”
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng không phải là người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng thì người thực hiện phải thông báo ngay kết quả việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố
Trang 7tụng đó Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo nhưng không làm đúng trách nhiệm của mình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
2.2 Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo.
Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo cho những người có liên quan đến vụ việc dân sự là những văn bản tố tụng liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của họ Trên cơ sở đó, phạm vi các văn bản tố tụng phải cấp, tống đạt hoặc thông báo được quy định tại Điều 171 BLTTDS 2015: “1 Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự
2 Bản án, quyết định của Tòa án
3 Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự
4 Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định”
Có thể thấy, theo quy định của pháp luật, các văn bản tố tụng sẽ được các
cơ quan ban hành văn bản tố tụng và người có thẩm quyền của các cơ quan này tiến hành cấp, tống đạt, thông báo cho những người tham gia tố tụng và những người liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự
2.3 Phương thức và thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng.
Do có rất nhiều văn bản tố tụng được cấp, tống đạt hoặc thông báo nên cũng có rất nhiều phương thức cấp, tống đạt hoặc thông báo các văn bản tố tụng dân sự Theo Điều 173*1 BLTTDS 2015 quy định các phương thức cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm: trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, người thứ ba được ủy quyền, phương tiện điện tử, niêm yết công khai, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện khác
mà luật quy định
Trang 82.3.1 Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp.
Đối với phương thức cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp được BLTTDS
2015 quy định tại Điều 175*2, 177*3, 178*4 thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có liên quan Người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải kí nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng, thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
Với trường hợp cấp, tống đạt, thông báo thông qua người khác thì người thực hiện phải lập biên bản ghi rõ việc người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt, văn bản tố tụng được giao cho ai, lí do, ngày, giờ giao, quan hệ giữa họ với nhau, cam kết giao lại tận tay ngay văn bản tố tụng cho người được cấp, tống đạt, thông báo Tuy nhiên, trong một số trường hợp do không quy định chế độ kiểm tra việc chuyển giao cho người được tống đạt từ người trung gian dễ dẫn đến việc người trung gian không giao hoặc giao không đúng thời hạn cho người được tống đạt dẫn đến việc người được tống đạt không thể biết việc Tòa án triệu tập mình để tham gia tố tụng
Với trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này kí nhận, ngày kí nhận là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo
Ngoài ra, đối với việc cấp, tống đạt, thông báo qua dịch vụ bưu chính do BLTTDS 2015 không quy định rõ trình tự, thủ tục tiến hành nên thực tiễn các Tòa án gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Hiện nay, việc tống đạt văn bản tố tụng qua bưu điện qua hai hình thức: Tống đạt thường và chuyển phát nhanh Trong mỗi hình thức được chia ra hai cách thức là không hồi báo
và có hồi báo Tuy nhiên, các văn bản thể hiện việc chuyển giao giữa Tòa án
và bưu điện không có phần nội dung để Tòa án có thể ghi số hiệu, ngày tháng
Trang 9ban hành văn bản cũng như ghi thời gian triệu tập, mời đương sự, người tham gia tố tụng khác và càng không có mục nhân viên bưu điện phải giao tận tay cho người được tống đạt Hơn nữa, việc tống đạt thường được chuyển qua nhiều đầu mối nên người giao tận tay cho người được tống đạt văn bản tố tụng không phải là người nhận văn bản từ cán bộ Tòa án ban đầu Chính vì vậy, các văn bản chỉ chuyển đến địa chỉ mà Tòa án đã xác định trên bao thư còn việc người có tên trên bao thư ký nhận hay không, không được nhân viên bưu điện quan tâm Cho nên, rất nhiều trường hợp người khác sẽ nhận thay nhưng nhân viên bưu điện không ghi rõ người nhận là ai, quan hệ như thế nào với người được tống đạt Điều này dẫn đến trường hợp, khi đến thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đối chất và đưa ra xét xử, nếu đương sự được triệu tập không đến thì rất khó đảm bảo thủ tục tống đạt của Tòa án có hợp lệ hay không
2.3.2 Thủ tục niêm yết công khai.
Trong trường hợp không thể tống đạt trực tiếp thì phải niêm yết công khai các văn bản tố tụng Thủ tục niệm yết công khai các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 179*5 BLTTDS 2015 Theo quy định này, Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc ủy ban nhân dân cấp xã đương sự cư trú, cơ quan, tổ chức có trụ sở thực hiện việc niêm yết văn bản tố tụng Người thực hiện niêm yết phải chỉ lập biên bản phản ánh lại việc niêm yết công khai văn bản tố tụng Trong biên bản phải ghi
rõ ngày, tháng, năm tiến hành niêm yết Thời hạn niêm yết công khai văn bản
tố tụng dân sự là mười lăm ngày kể từ ngày niêm yết Tuy nhiên, có thể thấy việc niêm yết công khai văn bản tố tụng có hiệu quả thấp hơn việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp do đó, phương thức niêm yết công khai chỉ được thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, tống đạt, thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp
2.3.3 Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Trang 10Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện theo quy định tại Điều 180*6 BLTTDS 2015 Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên cổng thông tin điện tử của tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp và phát song trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp Có thể thấy, việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng kết quả thường thấp, không xác định được rõ ràng và chưa phù hợp với thực tiễn Quy định này không khả thi và trên thực tế rất ít Tòa án thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Bởi vì, BLTTDS 2015 không có quy định loại trừ những văn bản tố tụng nào được bỏ qua thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên về nguyên tắc tất cả các văn bản tố tụng đều phải lần lượt được tống đạt qua các bước từ trực tiếp đến thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Bên cạnh đó, về nghĩa vụ chịu chi phí cho việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, theo khoản 2 Điều 180 BLTTDS 2015 thì đương sự chỉ phải chịu chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng khi họ là người người yêu cầu Trong trường hợp họ không yêu cầu mà khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định
là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản thì đương sự không phải chịu lệ phí đăng báo, đài Trường hợp này, lệ phí có được Tòa án chi ra hay không và nếu Tòa án chịu thì được quyết toán vào đâu, đây cũng là một trong những bất cập hiện nay Chính vì vậy, hầu hết các Tòa án thường chỉ dừng lại ở mức niêm yết công khai, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ
thực hiện khi đương sự có yêu cầu
3 Ý nghĩa của các quy định về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng
Đối với các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc, thông qua hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS giúp cho họ nhận
Trang 11được, hoặc biết được nội dung của VBTTDS dân sự Qua đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết được các quyền và nghĩa vụ của mình, nhờ đó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp trước cơ quan tiến hành tố tụng Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự, thông qua việc cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS sẽ đảm bảo giúp họ thực hiện được nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự của mình Vì thông qua việc giao cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan VBTTDS hoặc báo cho họ biết nội dung VBTTDS cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự đã truyền đạt đến đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan nội dung VBTTDS Nhờ đó, người được cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS biết được quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện trong quá trình
tố tụng dân sự
Hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS tuy không phải mang tính chất quyết định đến các hoạt động trên, nhưng nó lại có sự ảnh hưởng nhất định đối với các hoạt động tố tụng Nếu việc cấp tống đạt không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật thì các hoạt động tố tụng liên quan đôi khi không có giá trị pháp lý Còn nếu hoạt động này được thực hiện đúng và đủ theo quy định pháp luật thì nó lại là cơ
sở, tiền đề để các hoạt động khác được thực hiện đúng quy định pháp luật Khi giải quyết các vụ việc dân sự, hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS nhanh hay chậm cũng ảnh hưởng rất lớn đối với thời gian giải quyết các vụ việc Nếu các hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS được thực hiện nhanh chóng, các hoạt động tố tụng khác cũng sẽ có cơ sở để thực hiện Tuy nhiên, nếu các hoạt động này không thực hiện được hoặc thực hiện chậm nó cũng làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự bị kéo dài theo Ngược lại, nếu thực hiện tốt hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS sẽ giúp cho việc giải quyết các vụ việc được diễn ra nhanh chóng, hạn chế các vụ việc giải quyết quá hạn luật định