Cũng theo Tiến sĩ, những quy định của Hiến pháp 1980 về hệ thống tư pháp cần phải được bổ sung nhằm tạo tiền đề cho việc tổ chức một hệ thống tư pháp đầy đủ, đồng bộ, tiện lợi và có hiệu
Trang 1
CƠ SỞ PHAP Li VA LÍ LUẬN cỦn Việc XAY DUNG BO LUAT TO TUNG DAN SU
1 Cơ sở pháp lí của việc ban hành
Bộ luật tố tụng dân sự
I.1 Pháp luật về tổ chức của TAND
là thống nhất cho hệ thống TAND trong
toàn quốc
a Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy
định: "7a án nhân dân tối cao, các tòa
án nhân dân địa phương, các tòa án quân
sự và các tòa án khác do luật định là
những cơ quan xét xứ của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Ngay trong tên gọi của chương X -
Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân
dân cũng đã thể hiện được tính thống
nhất trong việc tổ chức cũng như hoạt
động của hệ thống tòa án nhân dân và
viện kiểm sát hhân dân ở nước ta
Theo PTS Trịnh Hồng Dương thì
khái niệm tòa án nhân dân trong Hiến
pháp 1992 vừa được dùng theo nghĩa
rộng, vừa được dùng theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng thì nói đến tòa án nhân
dân là muốn nói đến hệ thống tất cả các
tòa án nói chung của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước ta là
nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân nên hệ thống tòa án hiện có của
nước Cóng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là được dùng theo nghĩa rộng và
đều là của nhân dân, do nhân dân, vì
Theo nghĩa hẹp, khi nói đến tòa án
nhân dân là nói đến tòa án cụ thể như là
tên gọi của tòa án đó Khái niệm tòa án
nhân dân được dùng theo nghĩa hẹp trong
PHAN HỮU THƯ *
các Điều 127, 129, 134, 135 Hiến pháp 19920)
TS Đào Trí Úc trong bài viết của mình cũng đã khẳng định tính thống nhất
trong việc tổ chức các cơ quan tư pháp của Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam từ Hiến pháp 1946 cho đến Hiến pháp 1992 Để bảo đảm cho
việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (được thể hiện cả ở việc bình
đẳng về các quyển và nghĩa vụ tố tụng)
theo TS Đào Trí Úc, cần phải có các điều
kiện để bảo đảm tính liên tục và ổn định của thủ tục tố tụng, tính phổ biến và thuận tiện của các thủ tục tố tụng, sử dụng các thủ tục tố tụng như nhau để giải quyết tranh chấp cùng loại Suy rộng ra,
để bảo đảm việc xét xử được khách quan,
đúng pháp luật không cần thiết phải đặt
ra nhiều thủ tục tố tụng Đó cũng chính là một trong những tư tưởng cho cải cách tư
pháp được thể hiện trong Hiến pháp
1992 Cũng theo Tiến sĩ, những quy định của Hiến pháp 1980 về hệ thống tư pháp
cần phải được bổ sung nhằm tạo tiền đề cho việc tổ chức một hệ thống tư pháp
đầy đủ, đồng bộ, tiện lợi và có hiệu quả trong các quan hệ tư pháp về hình sự, dân
sự, kinh tế, hành chính, lao động)
Mối liên hệ gắn bó có tính bản chất
giữa các tòa ấn trong hệ thống tòa án của
nước ta là tính độc lập khi xét xử "Thiên chức hàng đầu của hệ thống tư pháp, của
* Trung tâm đào tạo thẩm phán và các chức danh tư
pháp khác
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 47
Trang 2XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
tòa án là áp dụng đúng pháp luật, bảo
đảm sự bình đẳng và khách quan Sự độc
lập của tòa án khi xét xử chính là điều
kiện không thể thiếu được của việc thực
hiện yêu câu đó Sự độc lập đó của tòa
án, vì vậy, đến lượt nó là điều kiện để
khẳng định quyền lực của nhân dân, bởi
vì pháp luật và sự áp dụng đúng pháp
luật chính là phản ánh đúng quyền lực và
ý chí của nhân dân, của người làm luật,
cũng như đường lối chính sách cua Dang
được đề lên thành luật"®)
Tính độc lập”” của hoạt động xét xử
là một nguyên tắc hiến định (Điều 130_
Hiến pháp 1992)° Cùng với những
nguyên tắc hiến định khác (sẽ được trình
bày sau) tạo thành xương sống của việc
tổ chức và hoạt động của hệ thống tòa án
nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Tại Điều 127 Hiến pháp 1992 có đề
cập "các tòa án khác do luật định” Theo
PTS Trịnh Hồng Dương”, các tòa án
khác được quy định trong Hiến pháp
1992 chính là hệ thống các tòa chuyên
trách mà Quốc hội thấy cần thiết phải
thành lập để thực hiện việc xét xử, bảo
đảm có một mô hình tổ chức thích hợp
để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ pháp luật khác nhau?) Cũng
cần có một sự giải thích nhỏ rằng đây là
hệ thống các tòa chứ không phải các tòa
án Hai khái niệm này có thể làm cho
người ta bị nhầm lẫn và từ đó dẫn đến
cách hiểu sai rằng ở Việt Nam có thể tồn
tại nhiều hệ thống tòa án khác nhau
Cũng theo quy định của Điều 127 nêu
trên thì "Trong tình hình đặc biết, Quốc
hội có thể quyết định thành lập tòa án
đặc biệt" Chức năng, nhiệm vụ của tòa
án đặc biệt sẽ được quy định trong quyết
định thành lập của Quốc hội, tuy nhiên,
48 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
cũng như các tòa chuyên trách khác và
các tòa án khác, tòa án đặc biệt chịu sự
giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao
(xem giải thích Điều 134 ở đoạn dưới)
Điều 134 Hiến pháp 1992 khẳng định:
"Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét
xứ cao nhất của nước Cộng hòa xá hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của tòa án nhân dân địa phương và các tòa án quản sự;
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc
xét xứ của các tòa án đặc biệt và các tòa
án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập các tòa án đổ”
PTS Trịnh Hồng Dương đã bình luận ý tưởng này ở trong bài viết của mình rằng:
"Bằng quy định này, Hiến pháp 1992
khẳng định rằng việc tổ chức hệ thống các cơ quan tòa án ở nước ta dù theo mô hình nào thì Tòa án nhân dân tối cao vẫn
có vị trí, vai trò là cơ quan xét xử cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam Quy định này còn được cụ thể
hóa bằng Điều I8 Luật tổ chức tòa án
nhân dân năm 1992 mà theo quy định của điều này thì vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân tốt cao với tỉnh than la cơ quan xét xứ cao nhất còn được thể hiện ở việc
"Tòa án nhân dân tối cao hướng dân các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xứ của các tòa
an, Nhin chung, cdc quy dinh vé thẩm phán và hội thẩm trong các bản Hiến pháp Việt Nam tuy có sự khác nhau nhưng điểm giống nhau căn bản là nó được áp dụng chung cho tất cả các tòa án
nhân dân trong toàn quốc Nếu như trong Hiến pháp 1980 quy định chế độ bầu cử
thẩm phán và hội thẩm của tòa ấn nhân
dân các cấp thì Hiến pháp 1992 quy định
Trang 3
chế độ bổ nhiệm
Tất cả các thẩm phán các tòa án nhân
đân và tòa án quân sự các cấp đều do Chủ
tịch nước bổ nhiệm và cách chức, nhiệm
kì của thẩm phán tòa án các cấp là năm
năm, kể từ ngày được bổ nhiệm Để được
bổ nhiệm làm thẩm phán cấp nào, công
dân Việt Nam phải được hội đồng tuyển
chọn thẩm phán tòa án nhân dân cấp
tương ứng tuyển chọn và trình Chủ tịch
b Cụ thể hóa Hiến pháp 1992 về tổ
chức tòa án nhân dân là Luật tổ chức Tòa
án nhân dân 1992, Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật tổ chức tòa án nhân
dân 1993, Pháp lệnh về thẩm phán và hội
thẩm tòa án nhân đân 1993, Pháp lệnh tổ
chức tòa án quân sự
Như vậy, pháp luật về tổ chức tòa án
nhân dân được quy định thống nhất trong
toàn nước Việt Nam đối với tất cả các
loại hình tòa án Tòa án nhân dân tối cao
là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các điều
kiện để được bổ nhiệm thẩm phán cũng
được quy định thống nhất và không phân
biệt các điều kiện riêng biệt cho các tòa
khác nhau trong hệ thống tòa át nhân
dân Như vậy, việc tổ chức thành các tòa
riêng biệt trong hệ thống tòa án nhân dân
là để chuyên môn hóa hoạt động xét xử
Các thẩm phán sau khi đã được bổ nhiệm
có thể được phân công làm việc trong các
tòa khác nhau trong cùng một tòa án
Điều đó chứng tỏ rằng không có các quy
định riêng biệt và các điều kiện bổ nhiệm
cho từng loại hình thẩm phán Tuy nhiên,
nhìn chung để hoạt động tốt trong một
tòa chuyên trách, thẩm phán của tòa đó
phải được trang bị các kiến thức chuyên
sâu đối với loại hình công việc mà mình
phụ trách
1.2 Pháp luật quy định thống nhất về
chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân dân trong toàn quốc
Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định:
"Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự
và các tòa án khác do luật định là những
cơ quan xét xử-của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Rõ ràng, Hiến pháp 1992 (ciing như các Hiến pháp trước đó) của nước ta khẳng định rằng ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và các vụ án
khác theo quy định của pháp luật là của
tòa án nhân dân Các tòa án nhân dân có
thể được coi là những cơ quan xét xử duy
nhất mà bản án hoặc quyết định được
tuyên nhân danh Nhà nước và có hiệu lực cưỡng chế thi hành” °
Tòa án nhân dân tối cao với tư cách là
cơ quan xét xử cao nhất, ngoài chức năng xét xử còn có chức năng giám đốc việc xét xử của các tòa án nhân dân địa
phương và các tòa án quân sự Tòa án
nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các tòa án đặc biệt và các tòa án khác trừ trường hợp Quốc hội có quy định
khác khi thành lập các tòa án đó
Theo các quy định của Luật tổ chức
tòa án nhân dân năm 1992, Tòa án nhân
dân tối cao còn có chức năng hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật,
tổng kết kinh nghiệm xét xử và chuẩn bị
dự án luật để trình Quốc hội, dự án Pháp
lệnh để trình Ủy ban thường vụ quốc hội
Do đó, chức năng của các tòa án nhân
dân được thống nhất quy định trong Hiến pháp, trong các luật và pháp lệnh Ngoài những nét riêng biệt của các tòa án thì chức năng bao trùm của tất cả các tòa án
là chức năng xét xử Tòa án nhân dân tối
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 49
Trang 4
cao với tư cách là cơ quan xét xử cao
nhất của Nhà nước ta còn có chức năng
chỉ đạo, giám sát và hướng dẫn các tòa án
khác thực hiện chức năng của mình
Như vậy, chức năng nhiệm vụ của
TAND được quy định thống nhất trong
toàn quốc, xuất phát từ bản chất của tòa
án xã hội chủ nghĩa là cơ quan xét xử
nhân danh nhà nước
1.3 Pháp luật của nước CHXNCN
Việt Nam quy định thống nhất về những
nguyên tắc hoạt động của tòa án nhân
dan
Hiến pháp 1992 cũng như các Hiến
pháp trước đó của Việt Nam đều quy
định những nguyên tắc cơ bản đối với
hoạt động xét xử của tòa án nhân dân Từ
Điều 129 đến Điều 133 Hiến pháp 1992
quy định về những nguyên tắc đó
1.3.1 Viéc xét xử của tòa án nhân
dân có hội thẩm nhân dân, của tòa án
quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia
theo quy định của pháp luật Khi xét xử,
hội thẩm ngang quyền với thẩm phán
(Điều 129 Hiến pháp 1992)
Việc quy định cho hội thẩm tham gia
vào quát trình xét xử là nhằm phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều
kiện để nhân dân tham gia vào hoạt động
xét xử cũng như tham gia vào các hoạt
động khác của Nhà nước và xã hội
1.3.2 Pháp luật cũng thống nhất quy
định nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và
hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật (Điều 130 Hiến pháp 1992)
Nguyên tắc hiến định này còn được
lặp lại trong Bộ luật tố tụng hình sự và
các pháp lệnh về thủ tục tố tụng và áp
dụng thống nhất trong hoạt động xét xử
của các tòa án Đây là một nguyên tắc rất
quan trọng Nó khẳng định rằng khi xét
xử thẩm phán và hội thẩm không ràng
50 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
buộc bởi bất kì một quan điểm hoặc kết luận nào của viện kiểm sát; không bị chi phối bởi ý kiến của nhau; không chịu sự
ép buộc từ bất kỳ phía cấp trên hoặc tòa
án cấp trên Thẩm phán, hội thẩm làm việc độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân
về các hành vi của mình
Đối với thẩm phán và hội thẩm, pháp
luật là điều thiêng liêng nhất Thẩm phán
và hội thẩm, căn cứ vào các quy định của
pháp luật để giải quyết vụ án
1.3.3 Toa An nhân dân xét xử công
khai, trừ trường hợp do luật định Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định
theo đa số (Điều 131 Hiến pháp 1992)
1.3.4 Nguyên tắc quyền bào chữa của
bị cáo được bảo đảm (Điều 132 Hiến
Một trong những nguyên tắc chung
trong: hoạt động của tòa án nhân dân ở Việt Nam là các bị cáo có thể tự bào chữa
hay nhờ người khác bào chữa cho mình
Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị
cáo và các đương sự bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình và góp phần bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đã hình thành một số trung tâm tư vấn cho người nghèo Đây là một hình
thức thiết thực để tạo điều kiện về mặt thực tế cho các bị cáo hoặc các đương sự
không có khả năng về kinh tế nhưng vẫn được trợ giúp về mặt pháp lí Điều này càng chứng tỏ Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến quyền bào chữa của bị cáo
và các đương sự trong tố tụng
1.3.5 Nguyên tắc hoạt động xét xử
của tòa án nhân dân thống nhất chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước
(Điều 135 Hiến pháp 1992)
Như trên đã nêu, hệ thống tổ chức các
tòa án nhân dân được thống nhất từ trung
ương đến địa phương, kể cả các tòa án
Trang 5
tr TE
quân sự Các tòa án này đều hoạt động
theo các quy định thống nhất của luật
pháp Ngoài ra, theo Điều 135 Hiến pháp
1992 thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội
- không họp thì chịu trách nhiệm và báo
cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và
Chủ tịch nước Chánh án tòa án nhân dân
địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước hội đồng nhân dân
Nguyên tắc này khẳng định tòa án nhân
dân là công cụ của chính quyền nhân
dân, hoạt động vì lợi ích của nhân dân và
bảo vệ chính quyền nhân dân Không một
tòa án nào được phép hoạt động ngoài
quy định này
Ngoài ra, trong Hiến pháp 1992
(Chương X) và các văn bản pháp luật
khác còn đề cập nguyên tắc chung của
hoạt động xét xử tòa án nhân dân đó là
nguyên tắc tòa án nhân dân bảo đảm cho
công dân nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc được
quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân
tộc mình trước tòa án (Điều 133 Hiến
pháp 1992)
1.4 Nhà nước ta đã ban hành các
pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự, kinh tế, tranh chấp lao động, hành
chính
Từ năm 1989 đến nay, Nhà nước ta đã
ban hành bốn pháp lệnh về thủ tục tố
tụng Đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ ấn dân sự ngày 29/11/1989, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
ngày 16/3/1994, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động ngày
20/4/1996 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án hành chính ngày 21/5/1996
Các pháp lệnh này về cơ bản đã dựa trên
bố cục gần như giống nhau và trình bày
các vấn đề về thủ tục giống nhau, ngoại trừ một số chi tiết liên quan như: Thành phần hội đồng xét xử (trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế); thời hạn, thủ tục tiền tố tụng (Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính); hội đồng hòa giải (Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động) Từ khi
ban hành đến nay, các pháp lệnh này đã phát huy được tác dụng của nó Tuy vậy, các pháp lệnh này chỉ là những quy định
có tính chất chung và chưa thể đề cập hết các lĩnh vực của thủ tục tố tụng tại tòa án
Trên cơ sở các pháp lệnh này, Nhà nước
ta có thể xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự; xem các pháp lệnh này như những cơ sở pháp lí để hoàn thiện thủ tục tố tụng tại tòa án dùng chung cho việc xét xử tất cả các loại án có đối chiếu cho phù hợp với những nguyên tắc chung như đã trình bày
Ở trên
1.5 Mội vài nhận xét
1.5.1 Về mặt pháp lí, từ Hiến pháp
1992 đến các văn bản pháp luật khác như Luật tổ chức tòa án nhân dân 1992, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ
chức tòa ấn nhân dân năm 1993, Pháp
lệnh tổ chức tòa án ấn quân sự 1993,
Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm tòa
án nhân dân 1993, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ hành chính 1996, đều
cho thấy các tòa án ở Việt Nam được tổ
chức thống nhất và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao Tất cả các tòa án, kể cả tòa án quân sự đều tuân theo
những nguyên tắc tổ chức và hoạt động xét xử cũng như phải bảo đảm thực hiện
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 51
Trang 6| XÂY DỰNG PHÁP LUẬT |
các chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân
dân
1.5.2 Trong các văn bản kể trên,
trước mắt còn tồn tại một số điểm chưa
thống nhất về thành phần hội đồng xét
xử, về một số quy định về thời hạn, thời
hiệu, một số thủ tục quy định riêng đối
VỚI việc Xét xử từng loại án ở các tòa
khác nhau Nhưng nhìn chung, các quy
định đều xuất phát từ những nguyên tắc
chung của Hiến pháp 1992 và Luật tổ
chức tòa án nhân dân, Pháp lệnh về thẩm
phán và hội thẩm tòa án nhân dân Những
điểm khác trong việc tiến hành việc xét
xử các loại vụ án riêng thì dù khi có một
bộ luật thống nhất vẫn sẽ tiếp tục tồn tại
và đó là điều đương nhiên
1.5.3 Hiến pháp 1992 cũng như các
văn bản pháp luật nêu trên đã khẳng định
rằng ở Việt Nam không hề có một tổ
chức tòa án nào khác ngoài các tòa án
nằm trong hệ thống tòa án nhân dân
Điều này khác với một số nước trên thế
giới, nơi tổ chức các cơ quan tài phán có
thể phân biệt nhiều loại hình tòa án khác
nhau (các tòa án khác nhau chứ không
phải các tòa khác nhau trong cùng một
tòa án) Việc pháp luật nước ta không
phân biệt các loại tòa án khác nhau dẫn
đến việc không cho phép phân biệt nhiều
thủ tục tố tụng khác nhau Nhiều nước
trên thế giới cũng chỉ phân biệt hai loại
hình thủ tục tố tụng Đó là thủ tục tố tụng
nình sự và thủ tục tố tụng phi hình sự”)
2 Cơ sở lí luận của việc ban
hành Bộ luật tố tụng dẫn sự
2.1 Về mặt lí luận, có thể phân biệt
hai thủ tục tố tụng khác nhau Đó là thủ
tục tố tụng hình sự mà nội dung của nó là
tổng hợp những hành vi tố tụng do các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
52 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
tụng thực hiện trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình giải quyết vụ án hình
sự Thủ tục tố tụng còn lại là thủ tục tố tụng không mang tính chất hình sự (tạm
gọi là thủ tục tố tụng phi hình sự) Điều chủ yếu để phân biệt hai thủ tục tố tụng này là sự can thiệp của Nhà nước thể hiện
ở chỗ có nhiều chủ thể tiến hành tố tụng
ở thủ tục tố tụng hình sự Đối với thủ tục
tố tụng hình sự, tòa án nhân dân chỉ là một trong số các cơ quan tiến hành tố
tụng Tòa án nhân dân chỉ tham gia tố tụng từ khi hồ sơ được chuyển đến cho
tòa án, nghĩa là sau khi đã có kết luận
điều tra của cơ quan điều tra và đã có
quyết định truy tố bị can bằng bản cáo
trạng Việc điều tra, truy tố là nhiệm vụ
của cơ quan công an, viện kiểm sát Tòa
án nhân dân chỉ làm nhiệm vụ xét xử và
ra quyết định Trong thủ tục tố tụng phi hình sự (dân sự, kinh tế, lao động và hành
chính), việc điều tra, thu thập chứng cứ, hòa giải (nếu có), xét xử, ra quyết định là
nhiệm vụ của tòa án nhân đân Ở thủ tục
tố tụng phi hình sự, trong một số trường hợp viện kiểm sát có thể tự mình điều tra,
xác minh, thu thập chứng cứ nhưng viện
kiểm sát không tự mình lập hồ sơ vụ án với tư cách là một hồ sơ độc lập để
chuyển cho tòa án nhân dân Trong thủ tục tố tụng hình sự, trước khi nhận được
hồ sơ vụ án, tòa án không tự mình lập bất
cứ một hồ sơ nào về vụ án Còn trong thủ
tục tố tụng phi hình sự, tòa án nhân dân
có thể xem xét các chứng cứ do viện
kiểm sát hoặc các cơ quan, tổ chức cung
cấp, trên cơ sở tính xác thực của các
chứng cứ đó mà quyết định có sử dụng
chúng vào quá trình chứng minh hay
2.2 Từ đó, thủ tục tố tụng hình sự
Trang 7
còn phân biệt với thủ tục tố tụng phi hình
sự ở tính chất nhiều giai đoạn tố tụng độc
lập do các cơ quan tố tụng độc lập với
nhau tiến hành Trong tố tụng phi hình sự
cũng hình thành nhiều giai đoạn tố tụng
song các giai đoạn tố tụng này đều do tòa
án nhân dân tiến hành Vì vậy, tính nhiều
giai đoạn trong tố tụng phi hình sự gắn
liền với tính đơn chủ thể và không giống
với tính nhiều chủ thể trong thủ tục tố
tụng hình sự Trong thủ tục tố tụng phi
hình sự, các giai đoạn tố tụng cũng có
những điểm khác nhưng không phải là
căn bản và không cần thiết phải phân biệt
chúng thành những thủ tục tố tụng độc
lập
2.3 Có quan điểm cho rằng chỉ xây
dựng Bộ luật tố tụng chung về dân sự,
kinh tế, lao động thôi và không gộp thủ
tục tố tụng hành chính vào trong Bộ luật
này Những người này cho rằng thủ tục
hành chính là một thủ tục có nhiều điểm
khác so với thủ tục dân sự, kinh tế hoặc
lao động Hiểu như thế là chưa thực sự đi
vào xem xét một cách sâu sắc nội dung
của các thủ tục tố tụng phi hình sự Tất
nhiên, như trên đã nêu, ở mỗi thủ tục đều
có tính đặc thù của nó Điều này không
chỉ có ở thủ tục tố tụng hành chính mà
còn có ở tất cả các thủ tục tố tụng khác
Ví d„: Thủ tục phải thực hiện việc hòa
giải ở các hội đồng hòa giải trong các
tranh chấp lao động Ngay trong thủ tục
tố tụng dân sự đã chứa đựng những tranh
chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật
hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết
của tòa án nhân dân:
- Những việc xác định công dân mất
tích hoặc đã chết;
- Những việc khiếu nại cơ quan hộ
tịch về việc từ chối đăng kí hoặc không
chấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều
ghi trong giấy tờ về hộ tịch;
- Những việc khiếu nại về danh sách
cu tri;
Những việc khiếu nại cơ quan báo chí về việc không cải chính thông tin có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác
Trước đây, khi chưa có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì một số tranh chấp phát
sinh từ các quan hệ pháp luật lao độn ng
cũng đã thuộc thẩm quyền oe auvét SS eater taste wa ot “4 J
“
tòa án nhân dân Đó là các tranh chấp về
buộc thôi việc được chuyển cho tòa án để xết xử theo thủ tục tố tụng đân sự theo
Quyết định số 10/HĐBT ngày 14/1/1985
và Thông tư liên ngành : số 02 ngày
2/10/1985:
Các tranh chấp phát sinh từ các quan
hệ pháp luật về nội dung khác nhau thì khác nhau Thế nhưng không vì thế mà
lại áp dụng những thủ tục khác nhau để
xét xử các tranh chấp đó Tất nhiên, có
một số lĩnh vực, một số tranh chấp mà ngay sự tồn tại của nó trong lòng quan hệ
pháp luật nội dung đã là đặc biệt rồi Vì vậy, trong các quy định về thủ tục tố tụng của ngành đó cũng đã phân biệt bởi thủ tục tố tụng có nhiều nét đặc thù so với các tranh chấp khác phát sinh từ cùng một ngành luật về nội dung Ví đ: Việc giải quyết các cuộc đình công theo quy định của Bộ luật lao động được quy định thành một phần riêng trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động gồm chương XII, XIII từ Điều 79 đến Điều 102 Tương tự trong Dự thảo Bộ luật
tố tụng dân sự cũng trình bày một số thủ tục đặc biệt trong những phần riêng với những đặc thù nhất định mà phần nào đã
thể hiện trong Pháp lệnh thủ tục giải
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 53
Trang 8
quyết các vụ án dân sự như trên đã nêu
2.4 Cơ sở lí luận của việc ban hành
Bộ luật tố tụng dân sự còn thể hiện ở việc
phân biệt rõ ràng hai hình thức thi hành
án khác nhau được áp dụng cho thủ tục tố
tụng hình sự và thủ tục tố tụng phi hình
sự Đối với thủ tục tố tụng hình sự, việc
thi hành án được quy định trong Bộ luật
tố tụng hình sự và giao cho các cơ quan
công an; chính quyền xã, phường, thị trấn
hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án
cư trú hoặc làm việc; các cơ sở chuyên
khoa y tế cũng được giao thi hành những
quyết định về bắt buộc chữa bệnh (Điều
227 Bộ luật tố tụng hình sự) Việc thị
hành án tử hình được giao cho hội đồng
thi hành án tử hình quy định trong Điều
229 Bộ luật tố tụng hình sự Đối với việc
thi hành án dân sự, kinh tế, lao động,
hành chính về nguyên tắc đều tuân theo
Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày
17/4/1993 Xuất phát từ bản chất của các
quan hệ pháp luật phi hình sự là giống
nhau và khách thể của các quan hệ pháp
luật này đều là các quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự theo quy định của
các ngành luật về: nội dung đang tranh
chấp Vì vậy, việc thi hành các bản án và
quyết định của các tòa án nhân dân trước
hết phải dựa vào sự tự nguyện của chính
bản thân các đương sự Nhà nước chỉ áp
dụng các hình thức cưỡng chế khi các
đương sự không tự nguyện thi hành
Ngoại trừ quan hệ pháp luật về hành
chính là mang tính chất công quyền còn
các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao
động đều là các quan hệ pháp luật được
phát sinh giữa các công dân với nhau (là
chủ yếu), giữa các công dâr: với pháp
nhân, giữa các các pháp nhân với nhau
Hơn nữa, bản chất của các quan hệ pháp
luật này đều là các quan hệ pháp luật dân
54 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
sự theo nghĩa rộng Chính vì vậy, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đều có điều
quy định việc áp dụng Pháp lệnh thi hành
án dân sự để thi hành các bản án, quyết
định kinh tế, lao động và hành chính (Điều 88 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế, Điều 104 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp chấp lao động, Điều 74 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính)
2.5 Luật tố tụng dân sự và luật tố
tụng hình sự từ trước đến nay vẫn được giảng dạy thành hai môn học riêng với đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng Đây là hai ngành khoa
học luật độc lập nhau, có đối tượng nghiên cứu khác nhau Sau khi có Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, các phần về thủ tục tố tụng được xây dựng thành một chương trong chương trình giảng dạy pháp luật về nội dung Việc giảng dạy các thủ tục tố tụng thành một chương của
chương trình pháp luật về nội dung trong trường đại học như hiện nay không phải
là điều hợp lý Tất nhiên, việc giảng dạy các phần về thủ tục tố tụng trên cơ sở giới
thiệu các pháp lệnh mới ban hành song
song với việc giảng dạy luật nội dung chỉ
là bước ban đầu để đưa các phần giới thiệu về thủ tục tố tụng này vào luật tố
tụng dân sự và giới thiệu chúng như là
những phần của luật tố tụng dân sự - một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Như vậy, phạm vi điều chỉnh của luật tố tụng dân sự được mở rộng
Trang 9
sang cả các quan hệ pháp luật tố tụng
kinh tế, lao động và hành chính Không
thể tiếp tục duy trì lâu đài việc gộp các
phần về thủ tục tố tụng với chương trình
giảng dạy các môn học luật về nội dung
Tuy nhiên, việc xây dựng các phần về thủ
tục này thành một ngành luật độc lập thì
chưa thể tiến hành được Do đó, về mặt lí
luận, nhập các phần tố tụng của luật kinh
tế, luật lao động, luật hành chính và để
cho tổ bộ môn tố tụng dân sự giảng day
cùng với luật tố tụng dân sự là hợp lí và
đúng khoa học
2.6 Lí luận chung về nhà nước và
pháp luật chỉ ra rằng có mối liên hệ hữu
cơ giữa các ngành khoa học luật về nội
dung Nhất là đối với các ngành luật về
nội dung tương đối gần gũi nhau như luật
dân sự, luật kinh tế, luật lao động Các
ngành luật này trước đây được hiểu là
cùng một nguồn gốc Các bộ luật cổ của
nhiều nước trên thế giới”, kể cả Việt
Nam“* đều không phân biệt rạch rồi các
ngành luật với nhau Khi nhà nước và
pháp luật đã phát triển cho phép xác định
được rõ ràng đối tượng điều chỉnh và
phạm vi điều chỉnh của các ngàrh luật
độc lập với nhau thì việc phân chia hệ
thống pháp luật trong từng quốc gia
không hoàn toàn giống nhau Khi các
nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và
Liên Xô còn tồn tại thì việc phân định đối
tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của
các ngành luật trong bản thân các nước
này cũng không giống nhau Vi du, d6i
với Cộng hòa dân chủ Đức thì luật kinh tế
được xem là một ngành luật độc lập, có
đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều
chỉnh riêng và là một trong những ngành
luật được coi trọng và phát triển Trong
lúc đó ở Liên Xô cũ, trường phái luật
kinh tế của Giáo sư Laptiev lại tỏ ra yếu
kém và không thuyết phục được giới
chuyên môn cũng như các nhà lãnh đạo
để hình thành và phát triển một ngành luật kinh tế độc lập tại nước này Trường phái luật dân sự cho đến bây giờ ở Cộng
hòa liên bang Nga vẫn là mạnh nhất và cho rằng luật kinh tế chỉ là một bộ phận
của luật dân sự mà thôi
Do đó, việc xây dựng một Bộ luật tố tụng chung cho nhiều ngành khoa học
luật về nội dung là điểu hoàn toàn phù
hợp với lí luận
Trên đây là một vài suy nghĩ về việc
có thể và cần thiết phải ban hành Bộ luật
tố tụng dân sự với một phạm vi điều chỉnh bao gồm các thủ tục tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình và
hành chính./
(1).Xem: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB.Khoa học xã
hội, Tiến sĩ Đào Trí Úc chủ biên, H.1996, tr.354
(2),(3),(4).Xem: Binh ludn khoa học Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.52 (5).Xem: C.Mác, P.Ăngghen, Tuyển tập, Tập 1,
NXB Su that, H.1978, tr.90 - 92
(6).Điều 130 Hiến pháp 1992: "Khi xét xử thẩm phán
và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật"
(7).Xem: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viét Nam, Sdd, tr.356
(8).Từ sau khi ban hành Hiến pháp 1992, ở nước ta
đã thành lập các Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính
(9).Xem: Bình luận ban học Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sdd, tr.357, 358
(10).Xem: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sảd, tr.359
(11).Theo Luật tổ chức tòa án của Cộng hòa Liên
bang Nga thì các tòa án được xem là các cơ quan xét
xử duy nhất của CHLB Nga
(12).Ở Pháp mặc dù có Tòa án thương mại tồn tại độc lập nhưng thủ tục giải quyết các vụ án thương mại cũng phải tuân theo Bộ luật tố tụng dân sự (13).Xem: Montesquieu Tinh than pháp luật NXB
Gido duc, H.1996, tr.100
(14).Xem: Quéc triéu hinh ludt NXB Chinh tri quéc gia, H.1995
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 55