Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2004, Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên ra đời đã đánh dấu một bướcchuyển lớn trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khẳng định sự nỗlực của Việt Nam trong việc đổi mới, hội nhập Với hệ thống những nguyên tắc
cơ bản trong hoạt động tố tụng; trình tự, thủ tục khởi kiện, xét xử; sự tham gia tốtụng dân sự của các chủ thể…được BLTTDS quy định đều nhằm mục đích giảiquyết các vụ việc dân sự được chính xác, công bằng và đúng pháp luật Nhưnghoạt động xét xử là hoạt động của thẩm phán, là hoạt động của những con người
cụ thể nên không tránh khỏi sai sót khiến những phán quyết của Toà án khôngđúng với sự thật khách quan hoặc trái pháp luật Những sai sót này có thể xuấtphát từ yếu tố chủ quan hoặc yếu tố khách quan nên dẫn đến việc có những bản
án, quyết định dân sự đã trải qua hai cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chíqua nhiều vòng xét xử lặp đi, lặp lại mà vẫn không đúng pháp luật Do đó, đểkhắc phục và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó cần có một thủ tục xét lại bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
Hiện nay, tình hình khiếu nại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lựcpháp luật của người dân đang tăng Công tác giải quyết đơn khiếu nại của Toà áncác cấp cũng gặp nhiều vấn đề phức tạp, quá tải; nhiều vụ án kéo dài nên chưađáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và gây dư luận bức xúc
Hơn nữa, sau hơn 5 năm thi hành BLTTDS đã cho thấy một số quy định
về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế như: vấn
đề khiếu nại, phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực mà có sai sót; thẩmquyền giám đốc thẩm, tái thẩm; quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm, táithẩm…Chính những quy định chưa rõ ràng và đầy đủ trong BLTTDS đã gây ranhững vướng mắc và giảm hiệu quả công tác xét lại bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật của ngành Toà án
Trang 2Mặt khác, xuất phát từ yêu cầu của Cải cách Tư pháp, Bộ Chính trị đã banhành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược Cải cách Tưpháp đến năm 2020” nhằm “cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theohướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ” và “hoàn thiện cácthủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch,tôn trọng và bảo vệ quyền con người” đòi hỏi các nhà lập pháp phải nghiên cứusửa đổi, hoàn thiện các quy định về thủ tục còn chưa rõ ràng dẫn tới những cáchhiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tế.
Vì những lý dó trên, học viên đã chọn đề tài “ Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài, trước đó đã có một số công trình nghiên cứu đến vấn
đề này, hoặc có liên quan sau:
- Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam của Ngô Anh Dũng, Luận văn thạc sỹ Luật
học năm 1996 Đề tài này đã nghiên cứu thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự
đã có hiệu lực pháp luật theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự vàđưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyếtđịnh của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, luận văn được thực hiện từnăm 1996, khi BLTTDS năm 2004 chưa ra đời
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân
sự, của Dương Thị Thanh Mai, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000 Trong tác
phẩm này, tác giả đã giải quyết một số vấn đề như: khái niệm, sự hình thành thủtục giám đốc thẩm, thực trạng giải quyết án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
và đưa ra một số kiến nghị như: quy định theo hướng cấp xét xử cao nhất theothủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là Uỷ ban thẩm phán TANDTC, còn Hội đồngthẩm phán TANDTC là cơ quan tổng kết và hướng dẫn việc xét xử Tuy nhiên,
Trang 3tác phẩm được viết trên cơ sở của PL TTGQCVADS nên nhiều vấn đề tác giả đềcập đã được giải quyết khi BLTTDS ra đời.
- Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam do Tiến sĩ Trần
Văn Trung làm chủ nhiệm đề tài, Đề tài khoa học cấp bộ của Viện khoa họckiểm sát- Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2003 Đây là đề tài nghiên cứuchuyên sâu về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự trong bối cảnh chưa cóBLTTDS
- Mố số suy nghĩ về cơ chế xét xử vụ án dân sự, của tiến sĩ Lê Thu Hà,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2003 Tác giả đã nghiên cứu tổng thể cáccấp xét xử của Toà án các cấp bao gồm: sơ thẩm, phúc thẩm và thủ tục xét lạibản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, do phạm vinghiên cứu của đề tài rộng nên tác giả chưa đưa ra các giải pháp toàn diện đốivới thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm
- Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Viết Nam, của Đào Xuân Tiến, Luận án tiến sĩ
Luật học năm 2009 Tác giả đã đưa ra khái niệm về thủ tục xét lại bản án, quyếtđịnh của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự, phân tíchpháp luật tố tụng kinh tế, dân sự và thực trạng áp dụng thủ tục xét lại bản án,quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Đồng thời,luận án cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục xét lại bản án,quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án như: tổ chức bộ phận giúp việc Hộiđồng thẩm phán TANDTC; thống nhất thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục táithẩm…Tuy nhiên, các kiến nghị mà tác giả đưa ra chưa mang tính giải pháp tổngthể mà chủ yếu là một số kiến nghị mang tính chất hình thức, thủ tục
- Giám đốc thẩm dân sự- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của Mai
Ngọc Dương, Luận án tiến sĩ Luật học năm 2010 Luận án giải quyết một số vấn
đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự như: bản chất, khái niệm, đặcđiểm pháp lý, ý nghĩa của giám đốc thẩm và nêu lên thực trạng công tác giám
Trang 4đốc thẩm của ngành Toà án Từ đó, tác giả đề xuất những kiến nghị nhằm hoànthiện pháp luật tố tụng dân sự về phần quy định giám đốc thẩm Tuy nhiên, luận
án chưa đưa ra được sự so sánh giữa thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạpchí của các tác giả như: Nguyễn Quang Lộc, Nguyễn Quang Tiến, Trần AnhTuấn, Đinh Văn Quế… được đăng trên các tạp chí Toà án nhân dân, Nhà nước
và pháp luật, tạp chí Luật học
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu hệ thống những quy địnhcủa pháp luật về thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực phápluật theo BLTTDS, nhận diện những mặt tích cực, những mặt tồn tại trong thựctiễn công tác xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của ngànhTAND nhằm hoàn thiệp các quy định của pháp luật về thủ tục này
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyếtnhững vấn đề cụ thể sau:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về thủ tục xét lại bản án, quyết định dân
sự đã có hiệu lực pháp luật như: khái niệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa, quá trìnhhình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục xét lạibản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về thủ tục xét lại bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trong đó phân tích những điểm giống vàkhác nhau giữa giám đốc thẩm với tái thẩm, những mặt hạn chế, tồn tại trongthực tiễn áp dụng của ngành TAND
Để có thể hướng tới mục đích trên, luận văn nghiên cứu trong phạm vi cácquy định trong BLTTDS 2004 về thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã cóhiệu lực pháp luật; Thực tiễn công tác giám đốc thẩm, tái thẩm trên cả nước từnăm 2004 đến 2010 của ngành Toà án và đề xuất những kiến nghị nhằm hoànthiện pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử củaTriết học Mác- Lênin về Nhà nước pháp quyền; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhànước và pháp luật; học việc cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa họckhác như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh,phương pháp thống kê và phương pháp lịch sử
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã tập trung nghiên cứu làm rõ bản chất của thủ tục xét lại bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, trong đó có các vấn đề như: kháiniệm, đặc điểm pháp lý, ý nghĩa pháp lý Trong luận văn, chúng tôi đã đưa rakhái niệm mới về thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực phápluật, cũng như khái niệm về giám đốc thẩm dân sự, tái thẩm dân sự Luận văncũng giúp người đọc hình dung được thực tiễn công tác giám đốc thẩm, tái thẩmcủa ngành Toà án trong những năm qua, những mặt còn tồn tại, nguyên nhân
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giám đốcthẩm, tái thẩm
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương
Trang 6Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH DÂN SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
Theo thuyết tam quyền phân lập của Montesquiơ thì trong Nhà nước có baloại quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; ba quyềnnày được trao cho ba hệ thống cơ quan tương ứng là: cơ quan lập pháp, cơ quanhành pháp và cơ quan tư pháp Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quốc gia tổchức bộ máy nhà nước theo mô hình này Trong đó quyền tư pháp được trao cho
hệ thống toà án
Có thể nói, Toà án có vị trí và vai trò đặc biệt, là biểu hiện tập trung nhấtcủa quyền tư pháp vì Toà án thực hiện chức năng xét xử, nơi mà kết quả của hoạtđộng điều tra, công tố, bào chữa được kiểm tra, xem xét một cách công khaithông qua thủ tục tố tụng luật định để đưa ra những phán quyết có tính chấtquyền lực nhà nước, phản ánh đầy đủ, sâu sắc nhất chính sách pháp luật của mộtquốc gia
Toà án là cơ cơ quan xét xử của Nhà nước Hoạt động xét xử của Toà án
là “hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phánquyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết địnhpháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khácnhau”[31, tr.264]
Khi tiến hành xét xử, với tư cách là chủ thể áp dụng pháp luật, Toà ánkhông được xét xử tuỳ tiện mà phải dựa trên cơ sở những quy định của phápluật, cả về luật nội dung và luật tố tụng nên hoạt động xét xử của Toà án đòi hỏi
sự vô tư, khách quan, công minh và đúng pháp luật Khi xét xử, Toà án là chủthể có quyền xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật của các chủ thể khác, rabản án, quyết định phán xét hành vi của các chủ thể đó Các bản án và quyết định
Trang 7này được Toà án tuyên nhân danh Nhà nước, thể hiện trực tiếp thái độ của Nhànước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyềnlợi, nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác Các bản án, quyết định củaToà án có hiệu lực pháp luật là phán quyết cuối cùng Vì vậy, hoạt động xét xửcũng như việc ra phán quyết của Toà án có vai trò vô cùng quan trọng và đòi hỏituân thủ pháp luật một cách chặt chẽ trong một trình tự tố tụng hợp lý.
Hiện nay, để đảm bảo tính chính xác trong hoạt động xét xử, đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định trật tự xã hội thì đa số các nướctrên thế giới đều thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử Theo nguyên tắc này, phápluật các nước quy định sau khi xét xử sơ thẩm, bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành Các bên đương sự có quyềnkháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục phúcthẩm Toà án cấp trên sẽ xem xét cả về tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản
án, quyết định sơ thẩm đồng thời xét xử lại vụ án về nội dung Như vậy, ngoàichức năng xét xử, phúc thẩm cũng là một hình thức kiểm tra việc xét xử củangành Toà án Bằng việc quy định nguyên tắc hai hoặc ba cấp xét xử đều nhằmmục đích đảm bảo cho việc xét xử được đúng pháp luật, khắc phục được nhữngsai lầm trong việc xét xử
Mặc dù đã có cơ chế để đảm bảo tình hợp pháp của các bản án hoặc quyếtđịnh trước khi có hiệu lực pháp luật thông qua thủ tục phúc thẩm nhưng nhữngbản án hoặc quyết định này vẫn có thể không hợp pháp Thực tiễn xét xử củangành Toà án đã chứng minh một thực tế rằng: không phải vụ án nào Toà áncũng xử đúng, công bằng; kể cả những vụ án đã qua hai cấp xét xử tức là xét xử
cả sơ thẩm, phúc thẩm và đã có hiệu lực nhưng vẫn có những sai sót Nguyênnhân có thể do lý do khách quan như cả cơ quan xét xử và đương sự đều khôngthể biết được những tình tiết phát sinh làm thay đổi nội dung vụ án, hoặc vìnhững lý do chủ quan, sự cố tình làm trái quy định pháp luật của cơ quan xét xử,những tiêu cực khi xét xử hoặc do trình độ thẩm phán còn hạn chế…Nếu mộtbản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nói chung hay bản án,
Trang 8quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nói riêng khi có những sai lầm màvẫn được thi hành thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự Do đó, cần có một cơ chế để kiểm tra, giám đốc việc xét xử củaToà án để nhằm phát hiện những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luậtsong có sai lầm
Hiện nay, pháp luật tố tụng của các quốc gia trên thế giới quy định cũngrất khác nhau về vấn đề xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực phápluật Có những quốc gia không đặt vấn đề xem xét lại các bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật như Philippines; có một số nước trước đây có quy địnhnhưng hiện tại đã bỏ như Tây úc; một số nước vẫn duy trì thủ tục này trong cácluật tố tụng như: các nước theo hệ thống pháp luật Civil law, Trung Quốc, ViệtNam Việc có quy định thủ tục xét lại bản án, quyết định có hiệu lực hay khôngcũng ảnh hưởng trực tiếp tới mô hình tổ chức hệ thống Toà án của các nước.Nhiều quốc gia đặt thêm một Toà án ở trên Toà thượng thẩm có nhiệm vụ xemxét những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới đã xửđúng hay sai
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật như thế nào để đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan Nhànước, của các tổ chức và cá nhân bị xâm phạm Không phải bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật nào cũng trở thành đối tượng của việc xét lại này mà chỉkhi có những căn cứ nhất định do pháp luật tố tụng của quốc gia đó quy định thìmới phát sinh thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực phápluật Hơn nữa, để ổn định các mối quan hệ xã hội, pháp luật Việt Nam cũng nhưpháp luật các nước quy định rất chặt chẽ về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật
Từ những điều phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Thủ tục xét lại bản án,
quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự
do Toà án có thẩm quyền thực hiện để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật khi có những căn cứ kháng nghị do pháp luật quy định.
Trang 9Từ quan niệm trên, có thể thấy rằng:
- Thứ nhất: Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật là một thủ tục tố tụng đặc biệt
Pháp luật nước ta quy định nguyên tắc hai cấp xét xử mà thủ tục xét lạibản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật không phải là mộtcấp xét xử nên nó là một thủ tục tố tụng mang tính đặc biệt khác với thủ tục
sơ thẩm, phúc thẩm
Tính chất của thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật là “xét lại” khác với “xét xử” trong thủ tục sơ thẩm hay “xét xử lại”trong thủ tục phúc thẩm
Đối tượng của việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là
“bản án, quyết định” của Toà án mà không phải là vụ án Đây cũng là điểm khácbiệt so với đối tượng xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Theo quy định củapháp luật, đối tượng xét xử sơ thẩm là các vụ án dân sự Trong đó, ở các giaiđoạn xét xử sơ thẩm, dựa trên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêucầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Toà án chỉ xét xửtrong phạm vi yêu cầu đó trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Còn đốitượng xét xử phúc thẩm là các vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Còn việc xét lại bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật không hướng tới đối tượng xét xử là vụ án dân sự
mà chỉ xem xét các bản án, quyết định của Toà án Đây là một đặc điểm quantrọng thể hiện thủ tục này không phải là cấp xét xử thứ ba mà là một thủ tụcđặc biệt
Bên cạnh đó, đối tượng của thủ tục này là bản án, quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật Theo quy định của pháp luật, các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật phải được thi hành trên thực tế Tuy nhiên, có nhiều trườnghợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bản án, quyết định đó cónhững vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn tới không đảm bảo được quyền và lợiích hợp pháp của đương sự, không bảo đảm công bằng xã hội Vì vậy, thủ tục
Trang 10này đặt ra để giúp Toà án sửa chữa chính những sai lầm đó Đây là một thủ tụcđặc biệt trong tố tụng tư pháp.
- Thứ hai, thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật không phải là một cấp xét xử
Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước
về việc xét xử các vụ án nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan trong phánquyết của Toà án, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân Các quốc gia khácnhau thì quy định khác nhau, có thể quy định nguyên tắc hai cấp xét xử hoặc bacấp xét xử Cấp xét xử không chỉ quy định đơn thuần về thủ tục tố tụng màcòn liên quan đến cách thức tổ chức tố tụng và tổ chức hệ thống Toà án đểthực hiện việc xét xử lại vụ án
Ở nước ta, ngay từ Luật tổ chức TAND đầu tiên năm 1960 đã quy địnhToà án thực hành chế độ hai cấp xét xử đó là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.Song song với việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử, luật cũng quy định thẩmquyền của Toà án các cấp trong việc xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Cấp xét xử sơthẩm và phúc thẩm phải đảm bảo các thủ tục tố tụng do pháp luật quy định: đảmbảo đầy đủ các cơ sở pháp lý và tổ chức xét xử sơ thẩm vụ án một cách kháchquan, toàn diện, chính xác, mọi vấn đề đều được cấp sơ thẩm giải quyết; đảmbảo tối đa quyền kháng cáo của đương sự…Phúc thẩm là một cấp xét xử vì chỉ
có Toà án cấp trên trực tiếp mới có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những
vụ án bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định Phiên toà phúc thẩmđược tổ chức giống như phiên toà sơ thẩm Trong khi đó, thủ tục xét lại bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ được tiến hành khi có kháng nghị củanhững người có thẩm quyền Như hiện nay thì TANDTC có thẩm quyền xét xửphúc thẩm, và cả thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm chính những bản án, quyếtđịnh đã xét xử phúc thẩm đó
Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm khắcphục, sửa chữa những sai sót trong những phán quyết của Tòa án nên nó đượccoi là cơ chế tự kiểm tra của bản thân nội bộ hệ thống tư pháp
Trang 11Tại các quốc gia có quy định về thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật có những cách phân chia khác nhau trong thủ tục này:
- Có quốc gia quy định chỉ có một thủ tục để xét lại đối với bản án hoặcquyết định đã có hiệu lực pháp luật kể cả vấn đề áp dụng pháp luật và cả vấn đềtình tiết mới như Mỹ, hay Đức [18]
- Một số nước phân biệt thành hai thủ tục khác nhau: thủ tục xét lại cácbản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm pháp luật trongviệc xử lý vụ án và thủ tục xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực phápluật khi phát hiện tình tiết mới như Pháp [20], Nhật Bản [40], Hàn Quốc [18]
- Có nước chỉ quy định thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật khi có vi phạm pháp luật trong xét xử mà không có thủ tục xét lại khi
có tình tiết mới như Đan Mạch Ngược lại, có nước chỉ xét lại bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật khi xuất hiện tình tiết mới như Na Uy [17]
Tại các quốc gia có quy định về thủ tục xét lại các bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án thì tên
gọi thủ tục này cũng khác nhau Có nước dùng thuật ngữ giám đốc thẩm do thủ
tục này là một hình thức giám sát và đôn đốc của Toà án cấp trên với Toà án cấp
dưới, có nước dùng thuật ngữ kháng án đặc biệt do hình thức kháng án để làm
phát sinh thủ tục này không phải là hình thức kháng án thông thường [19]
Ở Việt Nam, thủ tục xét lại bản án quyết định của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật bao gồm hai thủ tục: thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm
1.1.2 Khái niệm giám đốc thẩm dân sự
Có nhiều quan niệm “Giám đốc thẩm”: dưới góc độ ngôn ngữ học, theo
Từ điển Pháp- Việt “cassation” là danh từ có nghĩa là “sự phá án” [47]; theo từđiển Anh- Việt “cassation” cũng là danh từ có nghĩa là “sự huỷ bỏ” [48]; theo Từđiển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì không có giải nghĩa về cụm từ
“giám đốc thẩm” mà phải ghép “giám đốc” là “đôn đốc và giám sát” với
“thẩm” là “xét kỹ” [46]
Trang 12Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các tác giả đã đưa ra những khái niệmkhác nhau về giám đốc thẩm:
Quan điểm thứ nhất: “Giám đốc thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng cómục đích kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật” [49, tr.288] Quan điểm này nhìn nhận giám đốcthẩm là một giai đoạn tố tụng, cho rằng giám đốc thẩm là thủ tục để kiểm tra tínhhợp hiến, hợp pháp của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà
án Quan điểm này không đề cập đến việc kháng nghị giám đốc thẩm như là mộtcăn cứ của giám đốc thẩm
Quan điểm thứ hai: “Thủ tục giám đốc thẩm là một trình tự đặc biệt của
tố tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luậtnhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết
vụ án” [8] Quan điểm này nhìn nhận giám đốc thẩm như là một trình tự của tốtụng tư pháp, cho rằng căn cứ của giám đốc thẩm là kháng nghị Tuy nhiên điềunày cũng không hoàn toàn đúng Vì kháng nghị giám đốc thẩm chỉ là sự biểuhiện về mặt hình thức, thủ tục nên có có thể có quy định khác nhau ở các nước.Thực tế rất ít nước quy định kháng nghị của người có thẩm quyền là căn cứ củagiám đốc thẩm, các nước như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Trung Hoa đều quyđịnh việc kháng cáo giám đốc thẩm của đương sự là căn cứ để xét lại bản án,quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm [19]
Quan điểm thứ ba: “Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định củaToà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm củaToà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm phápluật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” [10] Quan điểm này cho rằng,bên cạnh căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án thìnhững sai lầm của Toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ áncũng là căn cứ của kháng nghị giám đốc thẩm
Quan điểm thứ tư: Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của
trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Giám đốc thẩm dân sự là việc
Trang 13xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án” [30].
Với khái niệm trên thì đối tượng của việc xét lại theo trình tự giám đốcthẩm là bất kỳ bản án, quyết định dân sự nào đã có hiệu lực pháp luật mà pháthiện có sai lầm tức là có vi phạm pháp luật thì vụ án cần được xem xét lại để bảođảm việc xử lý vụ án được chính xác Nên giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụngđặc biệt Theo quy định của pháp luật, khi bản án, quyết định của Toà án có hiệulực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn trọng, cácbên đương sự phải có nghĩa vụ Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hànhbản án, quyết định của Toà án cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về nhiệm vụ thi hành đó Do vậy, chỉ khi nào phát hiện có
vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án thì bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật mới được xem xét lại Việc xem xét này chỉ được tiến hành khi cókháng nghị của những người có thẩm quyền do pháp luật TTDS quy định.Những sai lầm nghiêm trọng của Toà án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật chính là những căn cứ để những người có thẩm quyền kháng nghị theothủ tục giám đốc thẩm
Theo chúng tôi, để nhận diện được đầy đủ bản chất của giám đốc thẩmdân sự thì cần làm sáng tỏ các vấn đề sau (đây cũng là những vấn đề tồn tại trongthủ tục tái thẩm):
- Đối tượng của giám đốc thẩm
Đối tượng giám đốc thẩm dân sự là bản án hoặc quyết định của Toà án màkhông phải là các vụ án Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm không xem xét,đánh giá, kết luận những vấn đề, nội dung vụ án vì đó thuộc thẩm quyền của cáccấp xét xử sở thẩm và phúc thẩm Đặc điểm này chỉ ra giám đốc thẩm khôngphải là cấp xét xử thứ ba
Những bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật thì khôngbao giờ là đối tượng của giám đốc thẩm Đây là điểm khác biệt giữa thủ tục giámđốc thẩm với thủ tục phúc thẩm Đối tượng của phúc thẩm là những bản án,
Trang 14quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật Đối tượng giám đốc thẩm là cácbản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà theo đánh giá của người có thẩmquyền kháng nghị phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Mục đích của giám đốc thẩm
Mục đích của giám đốc thẩm là nhằm đảm bảo hoạt động xét xử của Toà
án đúng pháp luật, đảm bảo tính hợp pháp của các bản án, quyết định của Toà
án, đảm bảo pháp chế trong hoạt động xét xử Giám đốc thẩm là một hình thứckiểm tra, giám đốc xét xử đặc biệt của Toà án Về thực chất, Toà án có thẩmquyền giám đốc thẩm không xử lại vụ việc mà chỉ đối chiếu bản án, quyết địnhvới quy định của pháp luật xem có phù hợp hay không
- Cơ sở làm phát sinh giám đốc thẩm
Cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm là kháng nghị giámđốc thẩm Theo Luật TTDS Việt Nam thì cơ sở làm phát sinh thủ tục giám đốcthẩm chỉ có kháng nghị của những người có thẩm quyền, mà không có kháng cáocủa đương sự Do tính chất đặc biệt của giám đốc thẩm nên kháng nghị giám đốcthẩm cũng khác với các loại kháng nghị khác là: kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm hay kháng nghị tái thẩm
- Thẩm quyền giám đốc thẩm
Do đối tượng xét lại của giám đốc thẩm là các bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật nên việc xét lại phải hết sức thận trọng Nên việc tập trungthẩm quyền giám đốc thẩm vào một cấp Toà án sẽ thể hiện được tính quyền lựctối cao của Toà án cấp cao trong việc giám đốc hoạt động xét xử Mặt khác việctập trung thẩm quyền giám đốc thẩm vào một cấp Toà án làm cho việc giám đốcthẩm được hiệu quả hơn, đảm bảo tính thống nhất cao trong việc hướng dẫn ápdụng pháp luật
- Thủ tục giải quyết
Do không xét xử lại vụ án về nội dung mà chỉ xem xét tính hợp pháp củabản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên Toà án có thẩm quyền giámđốc thẩm chỉ tiến hành xem xét việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp dưới trên
Trang 15cơ sở hồ sơ vụ án Một số nguyên tắc cơ bản của TTDS không được áp dụngtrong hoạt động giám đốc thẩm như: nguyên tắc xét xử công khai, quyền quyếtđịnh, tự định đoạt của đương sự Vì vậy, hoạt động này không mang tính hànhchính như hoạt động giám đốc, kiểm tra khác mà mang tính chất là một thủ tục
tố tụng
Qua những phân tích trên, chúng tôi đã đưa ra khái niệm giám đốc thẩm
trong TTDS như sau: Giám đốc thẩm dân sự là thủ tục tố tụng mà Toà án có
thẩm quyền xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động xét xử của Toà án nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng đúng đắn và thống nhất.
1.1.3 Khái niệm tái thẩm dân sự
Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên và xuất bản năm
1992 có đưa ra khái niệm “Tái thẩm là xét lại một bản án đã xử” Theo khái
niêm này thì tái thẩm được hiểu như một hoạt động của chủ thể, đó là Toà án.Hoạt động này là hoạt động xét lại một bản án đã xử Thủ tục phúc thẩm cũng làxét lại một bản án đã xử, và thủ tục giám đốc thẩm cũng là việc xét lại một bản
án đã xử Nên khái niệm như trên chưa giúp người đọc thấy được bản chất củathủ tục tái thẩm và nội hàm của khái niệm“thủ tục tái thẩm” trong TTDS
Tác giả Đinh Văn Quế thì: “Tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định củaToà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mớiđược phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định
mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó” [9, tr 102] Vớikhái niệm này thì đã thấy được căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết mớiphát hiện nhưng không đưa ra được quan điểm của tác giả về việc xác định thủtục tái thẩm là một giai đoạn tố tụng hay một thủ tục tố tụng đặc biệt
Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật
Hà Nội đã đưa ra khái niệm: “Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình
Trang 16tiết quan trọng của vụ án mà Tòa án và các đương sự đã không biết được khi Toà án giải quyết vụ án” [30, tr 335].
Với khái niệm này, thì đối tượng của việc xét lại theo thủ tục tái thẩm lànhững bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện được những tìnhtiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án nhưng lúc ra bản án,quyết định các đương sự và Toà án đã không thể biết Do mới phát hiện đượcnhững tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và Toà án đã không biếtđược nên làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án trở nênkhông phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, không đúng đắn
Điều 304 BLTTDS quy định tính chất của tái thẩm, đồng thời cũng chính
là khái niệm pháp lý về tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó”.
Để làm rõ bản chất của thủ tục tái thẩm, từ đó hình thành khái niệm táithẩm dưới góc độ tiếp cận là thủ tục TTDS thì cần xác định những dấu hiệu đặctrưng sau:
- Căn cứ kháng nghị tái thẩm
Căn cứ kháng nghị tái thẩm là do phát hiện được những tình tiết mới quantrọng làm thay đổi nội dung vụ án mà tại thời điểm giải quyết cả đương sự vàToà án đều không biết được Thực chất đó là những sai lầm trong việc chứngminh xác định sự thật của vụ án Những sai lầm do nguyên nhân khách quan ảnhhưởng đến việc nhận thức của những người tiến hành tố tụng
- Thời hạn kháng nghị tái thẩm
Do căn cứ kháng nghị tái thẩm là phát hiện tình tiết mới nên luật cho phépbất cứ khi nào phát hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án thì đều có thểkháng nghị tái thẩm Thời hạn kháng nghị tái thẩm không lấy mốc là ngày bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật như thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 17Điều này giúp cho việc khắc phục sai sót trong các phán quyết của Toà án đượchiệu quả và kịp thời.
Qua đó, chúng tôi đưa ra khái niệm về tái thẩm trong TTDS như sau: Tái
thẩm trong TTDS là thủ tục tố tụng mà Toà án xét lại những bản án hoặc quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết mới quan trọng của vụ án mà Tòa án và các đương sự đã không biết được khi Toà án giải quyết vụ án
1.2 Ý nghĩa của thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
1.2.1 Ý nghĩa chính trị, xã hội
- Về mặt chính trị: Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lựcpháp luật góp phần đáp ứng những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền và là mộttrong những cơ chế để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát pháp luật
Khi phát hiện những vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc những tình tiếtmới trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Toà án có thẩmquyền giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ huỷ bản án hoặc quyết định đó để xét xử lạihoặc đình chỉ vụ án Thông qua hoạt động của mình, các Toà án này đã góp phầngiáo dục ý thức pháp luật cho các cán bộ làm công tác xét xử Nội dung cácquyết định giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ chỉ rõ những sai lầm về phương diện phápluật trong việc xét xử của Toà án các cấp, đồng thời hướng dẫn cách khắc phụcnhững sai sót đó Những sai lầm này được nêu trong các hội nghị tổng kết ngành,hội thảo về xét xử giúp cán bộ làm công tác xét xử nói chung có được nhận thứcđúng đắn và tôn trọng pháp luật hơn Thông qua giám đốc thẩm, tái thẩm,TANDTC sẽ hướng dẫn việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, thống nhất,tránh việc nhận thức pháp luật sai lầm và áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện.Không chỉ có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật đối với cán bộ làm công tác xét
xử mà nó còn góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho những người có liên quanđến vụ việc và người dân nói chung
Trang 18Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dânđược coi là yêu cầu trung tâm của nội dung Nhà nước pháp quyền, thể hiện bảnchất tốt đẹp của Nhà nước ta Toà án trong hoạt động của mình phải đảm bảoviệc xét xử được đúng đắn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.Tuy Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm không trực tiếp xét xử vụ án, khôngtrực tiếp khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm nhưng bằngviệc huỷ những bản án, quyết định sai, tạo cơ sở pháp lý để vụ án được phục hồi
và xét xử lại nên đã góp phần khắc phục những vi phạm quyền lợi hợp pháp củanhân dân
Giám đốc thẩm, tái thẩm có nhiệm vụ xét lại những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật, vô hiệu các bản án, quyết định sai trái, đảm bảo việc xét
xử hợp pháp và hợp hiến Với mục đích này, giám đốc thẩm, tái thẩm góp phầnđảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN, đảm bảo tính thống nhất, ổnđịnh chặt chẽ của Nhà nước và pháp luật
- Về mặt xã hội: Giám đốc thẩm, tái thẩm góp phần đảm bảo công bằng xãhội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Toà án, góp phầnđảm bảo uy tín của cơ quan tư pháp
Việc đảm bảo pháp luật được giải thích và áp dụng thống nhất là điều kiệnquan trọng để hành vi của công dân được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luậtthống nhất, đảm bảo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cho phép người dân được quyền phát hiệnnhững vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án;những bản án, quyết định này có thể bị huỷ nếu có căn cứ, trình tự tố tụng để giảiquyết vụ án sẽ được khôi phục lại Những quy định đó sẽ giúp người dân tintưởng hơn pháp luật Việc Toà án thừa nhận sai lầm trong hoạt động của mìnhthông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm góp phần củng cố lòng tin của dânvào cơ quan tư pháp
Trang 191.2.2 Ý nghĩa pháp lý
Thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có ýnghĩa pháp lý to lớn Các quyết định của Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm,tái thẩm là cơ sở pháp lý để khẳng định tính đúng đắn của bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật; hoặc là cơ sở để hủy bỏ hiệu lực pháp luật của bản
án, quyết định đó hoặc khôi phục lại trình tự tố tụng đối với vụ án Toà án cóthẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm không trực tiếp khắc phục, sửa chữa những
vi phạm pháp luật, hay những thiết sót của Toà án cấp dưới nhưng đã tạo cơ sởpháp lý để Toà án cấp dưới sửa chữa những vi phạm và khắc phục hậu quả Từ
đó đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật TTDS
Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm còn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạtđộng lập pháp Trong khi tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm, Toà án có điều kiệnphát hiện những thiếu sót của pháp luật hiện hành, trên có sở đó đưa ra nhữngkiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Khi xét xử, nếu thấy điềuluật áp dụng mâu thuẫn với Hiến pháp, không phù hợp với Hiến pháp thì Toà án
sẽ đề xuất những kiến nghị cụ thể để sửa đổi hoặc huỷ bỏ điều luật đó; nếu pháthiện những trường hợp cụ thể chưa có điều luật để điều chỉnh thì tìm giải pháp
áp dụng tương tự và đề xuất bổ sung điều luật mới
Để giám đốc thẩm, tái thẩm đạt được những ý nghĩa như trên thì công tácgiám đốc thẩm, tái thẩm phải thực sự hiệu quả Việc này đòi hỏi nhiều yếu tốnhư: yếu tố pháp lý, con người, thời gian…và việc đánh giá cũng phải toàn diện
1.3 Lược sử những quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục xét lại bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989
Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, ngay sau khi giành được chínhquyền, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 13/SLngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và ngạch thẩm phán đã ghi nhận nguyên tắc
“Toà án thực hiện hai cấp xét xử” Ngày 09/01/1946, Quốc hội ban hành Hiếnpháp đầu tiên tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và quản lý bộ máy nhà nước,
Trang 20trong đó có ngành Toà án Tuy nhiên, trong giai đoạn này chưa có văn bản phápluật nào quy định về thẩm quyền của Toà án trong việc xét lại bản án, quyết địnhcủa Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Ngày 22/5/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85/SL mới có quy định
về thủ tục tiêu án Tại Điều 17 Sắc lệnh quy định: “Toà án chỉ thủ tục một phần
hoặc toàn bộ thủ tục nếu xét thấy một hay nhiều hình thức ghi trong Luật tố tụng hình hoặc hộ có hại cho việc thẩm cứu hoặc đến quyền lợi của đương sự.” Ngày
12/02/1958, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư 321/VHH-CT yêu cầu các Toà án phảinghiên cứu các đơn thư khiếu nại về các bản án đã xử chung thẩm Ngày13/01/1959, Bộ Tư pháp đã phối hợp với TANDTC ra Thông tư số 002/TTquy định về thẩm quyền và thủ tục xét lại những vụ án hình sự đã có hiệulực pháp luật
Ngày 31/12/1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1959 Nhưng trongHiến pháp năm 1959 cũng chỉ mới quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm của
Toà án mà chưa quy định về thẩm quyền và thủ tục tái thẩm: “Toà án nhân dân
tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Toà
án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án nhân dân địa phương, Toà
án quận sự và Toà án đặc biệt” [22] Luật tổ chức TAND năm 1960 đã quy định
khá đầy đủ các nguyên tắc trong việc xét xử, phân định thẩm quyền của Toà áncác cấp Bên cạnh việc xét xử hai cấp như trước đây, Toà án đã áp dụng một thủtục xét xử mới đặc biệt, đó là thủ tục giám đốc thẩm Điều 10 Luật tổ chức
TAND năm 1960 quy định: “Đối với các bản án và quyết định của Toà án nhân
dân đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có sai lầm thì Chánh án TANDTC đưa ra Uỷ ban thẩm phán TANDTC xét định” [25] Bên cạnh đó, pháp luật cũng
quy định điều kiện để có giám đốc thẩm là phải có kháng nghị của người cóthẩm quyền
Một trong những văn bản pháp luật trong giai đoạn này có quy định vềgiám đốc thẩm là Pháp lệnh ngày 23/3/1961 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyđịnh cụ thể về tổ chức của TANDTC và các TAND địa phương Trong Pháp lệnh
Trang 21này có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án TANDTC và một trongnhững nhiệm vụ, quyền hạn đó là việc kháng nghị những bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp nhưng phát hiện có sai lầm
Ngoài các văn bản pháp luật nêu trên, thời kỳ này TANDTC đã ban hànhnhiều văn bản hướng dẫn về giám đốc việc xét xử các bản án, quyết định củaToà án đã có hiệu lực pháp luật; đó là: Thông tư số 2397/TC ngày 22/12/1961hướng dẫn thi hành những quy định của Luật tổ chức TAND và Pháp lệnh ngày23/3/1961 quy định về tổ chức TANDTC và tổ chức của các Toà án địa phương
Hiến pháp năm 1980 quy định: “Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét
xử cao nhất nước CHXHCN Việt Nam Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quận sự Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt trừ trường hợp Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước quy định khác khi thành lập toà án đó”[23].
Cụ thể hoá quy định trên, Luật tổ chức TAND cũng được sửa đổi vào năm
1981 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức TAND năm 1988 quy định về việc
xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật: “Toà án nhân dân
tối cao hướng dẫn các Toà án địa phương và các Toà án quận sự áp dụng thống nhất pháp luật và đường lối xét xử, giám đốc việc xét xử của các Toà án đó và tổng kết kinh nghiệm xét xử Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt, trừ trường hợp Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước quy định khác khi thành lập các Toà án đó”[26] Trên cơ sở quy định chung này, Điều 23
đã cụ thể hoá: “Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là tổ chức…xét
xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm…Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao”[26]
Như vậy, thủ tục tái thẩm lần đầu tiện được quy định trong Luật tổ chứcTAND năm 1981 Cũng theo quy định của luật thì Uỷ ban thẩm phán TANDTC
sẽ có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của các toà thuộc TANDTC; các toà chuyên trách sẽ có
Trang 22quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tươngđương; TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền giám đốcthẩm hoặc tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cácTAND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Theo đó, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm cũng được quyđịnh khá rõ ràng: Chánh án TANDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp.Thông tư số 01/TATC ngày 01/02/1982 của TANDTC về thủ tục giám đốc thẩmdân sự ở TANDTC đã quy định rõ các trường hợp cần được kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm như: việc điều tra, thẩm vấn không đầy đủ, không kháchquan, chưa làm sáng tỏ được những tình tiết có ý nghĩa của vụ kiện; vi phạmpháp luật tố tụng; kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết thực
tế của vụ kiện mà Toà án xác định…Như vậy, có thể thấy các quy định về thủtục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong giai đoạn này đã có
sự phát triển hơn nhưng mới chỉ dừng lại ở các quy định trọng các thông tư liêntịch mang tính hướng dẫn
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến 2004
Đây là giai đoạn Nhà nước ta bước sang thời kỳ đổi mới, xoá bỏ nền kinh
tế bao cấp, xây dựng kinh tế phát triển theo hướng cơ chế thị trường định hướngXHCN Trên tinh thần Đại hội Đảng lần VI (ngày 12/01/1986) là tăng cườngquản lý bằng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, đáp ứng nhữngnhu cầu trước mắt của ngành Toà án, phù hợp với những khách quan của xã hộitrong giai đoạn phát triển đất nước Ngày 29/11/1989, Hội đồng Nhà nướcCHXHCN Việt Nam đã ban hành PLTTGQCVADS Tuy chỉ có 88 điều nhưngPháp lệnh đã giành hai chương để quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết địnhdân sự đã có hiệu lực pháp luật Trong đó, chương XII, từ Điều 71 đến Điều 77quy định về thủ tục giám đốc thẩm; chương XIII, từ Điều 78 đến Điều 82 quyđịnh về thủ tục tái thẩm Các vấn đề cơ bản như: căn cứ kháng nghị, người có
Trang 23thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị, thẩm quyền của Hội đồng giámđốc thẩm, tái thẩm…đều được quy định khá chi tiết trong Pháp lệnh.
Bên cạnh đó, thời kỳ này, Nhà nước ta cũng ban hành pháp luật quy định
về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án kinh tế và tranh chấp lao động tạihai Pháp lệnh là: PLTTGQCVAKT ngày 16/3/1994 và PLTTGQCTCLĐ ngày11/4/1996
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Ngày 15/6/2004, BLTTDS được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thìhành từ ngày 01/01/2005 Sự ra đời của BLTTDS là bước tiến quan trọng trongtiến trình phát triển của pháp luật TTDS nói chung, cũng như các quy định vềthủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nói riêng
Với thủ tục giám đốc thẩm, BLTTDS đã quy định cụ thể trong 22 Điều tạichương XVIII, từ Điều 282 đến Điều 303 Hàng loạt các vấn đề về giám đốcthẩm còn bất cập từ các văn bản pháp luật trước đã được BLTTDS sửa đổi, bổsung và cụ thể hoá như: điều khoản quy định về tính chất giám đốc thẩm; pháthiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét theo thủ tục giámđốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, thay đổi, bổ sung, rút quyếtđịnh kháng nghị giám đốc thẩm; gửi quyết định giám đốc thẩm, thời hạn mởphiên toà giám đốc thẩm; quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm…
Với thủ tục tái thẩm, BLTTDS đã giành 7 điều quy định tại chương XIX,
từ Điều 304 đến Điều 310 Thủ tục tái thẩm được quy định chi tiết và đầy đủ hơn
so với PLTTGQCVADS năm 1989 Ngoài các quy định về thủ tục tái thẩm đượcthực hiện như các quy định về thủ tục giám đốc thẩm thì BLTTDS đã có nhữngđiều luật thể hiện rõ nét khác biệt của thủ tục tái thẩm so với giám đốc thẩm như:tính chất của tái thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, thẩm quyền củaHội đồng tái thẩm
Như vậy, với việc bổ sung, cụ thể hoá các điều khoản quy định về thủ tụcgiám đốc thẩm, tái thẩm đã làm cho thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật được chặt chẽ hơn, bao quát và mang tính hiệu quả hơn
Trang 24Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ
THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Theo quy định của BLTTDS hiện nay thì thủ tục xét lại bản án, quyết địnhdân sự đã có hiệu lực pháp luật được quy định thành hai thủ tục riêng biệt là: thủtục giám đốc thẩm và tái thẩm Việc quy định riêng như vậy trong luật cũng đãphản ánh được bên cạnh những điểm giống nhau giữa hai thủ tục này thì còn cónhững điểm khác biệt ngay chính trong các quy định của pháp luật TTDS Do
đó, trong chương này thông qua việc phân tích, đánh giá những quy định củapháp luật TTDS về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ giúp chúng ta thấy đượcnhững điểm giống và khác nhau giữa hai thủ tục này
- Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;
- Quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
- Riêng đối với Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ
có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mà không thể bị kháng nghịtheo thủ tục tái thẩm
Như vậy, đối với các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật thì dù có sai lầm, vi phạm pháp luật hay có tình tiết mới thìcũng không phải là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, táithẩm mà là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
Trang 25Đối với tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều có thể bịkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có những căn cứ do phápluật quy định Tuy vậy, đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồngthẩm phán TANDTC thì không bị kháng nghị lại nữa vì Hội đồng thẩm phánTANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam Tuy nhiên,
có trường hợp quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC vẫn có những saisót gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự mà theo quy định của pháp luật hiện nay thì không có cơ chế đểkhắc phục
có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà án xem xét lại bản án, quyết định này theothủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Theo đó, chỉ có Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh,Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC mới có quyền kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm, tái thẩm Cụ thể: Chánh án TANDTC, Viện trưởngVKSNDTC có quyền kháng nghị những bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC;Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghịnhững bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện
Hiện nay, có ý kiến cho rằng: không nên quy định Chánh án TAND cấptỉnh và Chánh án TANDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm vìTANDTC và TAND cấp tỉnh không những vừa có thẩm quyền xét lại bản án,quyết định của Toà án cấp dưới sau khi có kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm mà còn là cơ quan quản lý Toà án cấp dưới về mặt tổ chức, nếu quy định
Trang 26như vậy sẽ dẫn đến khép kín cả về tổ chức, chuyên môn làm cho giám đốc thẩmkhông thể độc lập xét xử được Tuy nhiên, theo quan điểm của cá nhân thì việcquy định thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm như hiện nay là hợp lývì: trong thực tế, nhiều Toà án địa phương sau khi xét xử bản án, quyết định củaToà án mình có hiệu lực đã phát hiện thấy có sai lầm nên đã đề nghị TAND cấptrên xét lại nhằm kịp thời sửa chữa, khắc phục những sai lầm đó và việc quy địnhChánh án TAND tỉnh và Chánh án TANDTC có quyền kháng nghị cũng giúpnâng cao công tác quản lý chuyên môn.
Hiên nay, BLTTDS đều quy định Chánh án TANDTC không có quyềnkháng nghị đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phánTANDTC Nhưng thực tế hiện nay cho thấy trường hợp Quyết định giám đốcthẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC mà có sai sót thì không có cơchế để sửa chữa và khắc phục
Ngoài ra, pháp luật không cho đương sự quyền kháng cáo giám đốc thẩm,tái thẩm mà chỉ trao cho họ quyền khiếu nại giám đốc thẩm, tái thẩm Quy địnhnày là phù hợp vì tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ là “xét lại bản án,quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật”, là cơ chế tự kiểm tra của ngành tưpháp nên chỉ những người có thẩm quyền mới được pháp luật quy định có quyềnkháng nghị nhằm đảm bảo công tác kiểm tra, giám sát của ngành Toà án, mặtkhác cũng tránh việc đương sự lạm dụng quyền của mình gây tình trạng án kéodài không cần thiết
2.1.3 Hậu quả khi bị kháng nghị
Nếu ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, bản án hoặc quyết định của Toà án cấp
sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì phần của bản án hoặc quyết định bịkháng cáo hoặc kháng nghị chưa được đưa ra thi hành trừ trường hợp pháp luậtquy định cho thi hành ngay Nhưng ở giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm lạikhông phải như vậy Về nguyên tắc, quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, táithẩm chưa làm mất hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị
Trang 27nếu người có thẩm quyền kháng nghị không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành
án hoặc quyết định hoãn thi hành án
Theo Điều 286 BLTTDS, người có quyền kháng nghị bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sư có thẩmquyền hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét việckháng nghị; Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cóquyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyếtđịnh giám đốc thẩm, tái thẩm
Với quy định như trên sẽ khắc phục ngay được tình trạng các bản án,quyết định có sai lầm nghiêm trọng mà vẫn được thi hành trên thực tế, và cũngnâng cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự
Như vậy, chỉ khi người có thẩm quyền kháng nghị ra quyết định hoãn thihành án hoặc quyết định tạm đình chỉ thi hành án thì bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật đó mới chưa được thi hành Hiện nay, một số Toà án chưanắm vững các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nên sau khi bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đương sự gửi đơn khiếu nại yêu cầu xem xétlại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩmthường gửi giấy báo cho đương sự với nội dung: “sẽ xem xét giải quyết” hoặc
“sẽ trả lời” Khi nhận được các giấy báo này, các đương sự viện lý do là vụ ánđang được Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm đang xem xét để cố tình khôngthi hành bản án nên dẫn đến gây khó khăn lớn cho cơ quan thi hành án và gây ratình trạng án tồn đọng không thi hành được
Do đó, việc xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm và kháng nghịgiám đốc thẩm, tái thẩm không đương nhiên làm mất hiệu lực và việc thi hànhcác bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
2.1.4 Văn bản kháng nghị
Sau khi đã kiểm tra lại hồ sơ vụ án, nếu có căn cứ để kháng nghị bản án,quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc táithẩm thì người có thẩm quyền kháng nghị sẽ tiền hành kháng nghị bằng văn bản,
Trang 28đó là Quyết định kháng nghị Cả quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốcthẩm và quyết định kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đều phải có đầy đủ các nộidung sau:
- Số, ngày, tháng, năm của quyết định kháng nghị;
- Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
- Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bịkháng nghị;
- Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị khángnghị;
- Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
- Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
- Quyết định kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật;
- Tên của Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án đó;
- Đề nghị của người kháng nghị
Để đảm bảo việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Quyếtđịnh kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án đã rabản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quanthi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến nội dung kháng nghị Trong trường hợp Chánh án TANDTC hoặcChánh án TAND cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ
án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp Viện kiểm sát nghiên cứu hồ
sơ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Hết thời hạn đó,Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm, táithẩm Trong trường hợp Viện trưởng VKSNDTC hoặc Viện trưởng VKSND cấptỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị đó phải được gửi ngay cho Toà án cóthẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 292.1.5 Thẩm quyền xét xử
Theo quy định tại Điều 291 BLTTDS thì TANDTC, TAND cấp tỉnh mới
có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị, cụ thể:
- Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, táithẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bịkháng nghị
- Toà Dân sự, Toà Kinh tế, Toà Lao động thuộc TANDTC có thẩm quyềngiám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaTAND cấp tỉnh bị kháng nghị
- Hội đồng thẩm phán TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩmnhững bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà phúc thẩm, ToàDân sự, Toà Kinh tế, Toà Lao động thuộc TANDTC bị kháng nghị
Như vậy, thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật chỉ được giao cho TANDTC và Uỷ ban thẩm phán TANDcấp tỉnh Riêng ở TANDTC có hai cấp giám đốc thẩm, tái thẩm là Toà Dân sự,Toà Lao động, Toà Kinh tế thuộc TANDTC và Hội đồng thẩm phán TANDTC.Trong đó:
- Toà Dân sự, Toà Kinh tế, toà Lao động TANDTC giám đốc thẩm, táithẩm những bản án, quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) đã có hiệu lực pháp luậtcủa các TAND cấp tỉnh;
- Hội đồng thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án,quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của các Toà thuộc TANDTC, baogồm: các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của các Toà Kinh tế, Toà Dân sự,Toà Lao động thuộc TANDTC và các bản án, quyết định phúc thẩm của ba Toàphúc thẩm TANDTC
Theo chúng tôi thì quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm nhưhiện nay là chưa phù hợp vì thực tế hiện nay chức năng xét xử giám đốc thẩm,tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC là quá tải và chưa thực sự bảo đảm
Trang 30tính khách quan Thành viên Hội đồng thẩm phán bao gồm Chánh án TANDTC,các Phó Chánh án, một số thẩm phán các đơn vị thuộc TANDTC Hội đồng thẩmphán TANDTC có nhiệm vụ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tất cả các loại ándân sự, hình sự, hành chính, theo nguyên tắc biểu quyết, mà những vụ án thuộcthẩm quyền của Hội đồng thẩm phán TANDTC thường hết sức phức tạp nên với
cơ chế hoạt động xét xử như hiện nay thì sẽ kém hiệu quả Với quy định như trêncũng dẫn đến việc số lượng các vụ việc giám đốc thẩm, tái thẩm mà Hội đồngthẩm phán TANDTC phải xử là rất lớn, khó đảm bảo được thời hạn mở phiên toàgiám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Điều 293 BLTTDS Từ đó, dẫn đếntình trạng án tồn đọng, kéo dài và gây bức xúc trong đương sự, dư luận
Hơn nữa, theo khoản 4 Điều 291 BLTTDS thì những bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của các cấpToà án khác nhau được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 291 thì Toà án cóthẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án “Với quy định này thì thẩmquyền giám đốc thẩm, tái thẩm là không rõ ràng, có thể dẫn tới những cách hiểu
và vận dụng khác nhau Theo cách quy định này có thể dẫn tới cách hiểu là Toà
án có thẩm quyền cấp trên có thể giám đốc thẩm, tái thẩm toàn bộ vụ án màkhông bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị theo quy định về phạm vi xét xử tạiĐiều 296 BLTTDS Do vậy, cần phải có những giải thích, hướng dẫn cụ thể vềvấn đề này” [10]
2.1.6 Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên toà
Trong hội đồng xét xử không có sự tham gia của hội thẩm nhân dân.Thành phần của hội đồng xét xử được quy định tại Điều 54 BLTTDS như sau:
- Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm TAND cấp tỉnh là Uỷ ban thẩm phánTAND cấp tỉnh Khi Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh tiến hành giám đốcthẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất haiphần ba tổng số thành viên tham gia
- Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà chuyên trách TANDTC gồm có
ba thẩm phán
Trang 31- Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm TANDTC là Hội đồng thẩm phánTANDTC Khi Hội đồng thẩm phán TANDTC tiến hành giám đốc thẩm, táithẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần batổng số thành viên tham gia.
Theo Luật Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định tại Điều 21 và Điều 29thì Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh gồm: Chánh án, Phó chánh án và một sốthẩm phán cấp tỉnh do Chánh án TANDTC quyết định theo đề nghị của Chánh
án TAND cấp tỉnh, tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnhkhông quá 9 người Hội đồng thẩm phán TANDTC gồm: Chánh án, Phó chánh
án và một số thẩm phán TANDTC do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết địnhtheo đề nghị của Chánh án TANDTC, tổng số thành viên của Hội đồng thẩmphán TANDTC không quá 17 người Như vậy, nếu hội đồng giám đốc thẩm, táithẩm là Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh hoặc Hội đồng thẩm phán TANDTCthì phải đảm bảo số lượng các thành viên tham gia theo quy định của pháp luật
Trong phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm bắt buộc phải có sự tham giacủa VKSND cùng cấp Nhưng những người tham gia tố tụng không buộc phảitham gia phiên toà Toà án chỉ triệu tập những người tham gia tố tụng vànhững người khác liên quan khi cần thiết chi việc xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật
Trong phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm thì sự tham gia của đương sự vànhững người tham gia tố tụng khác rất hạn chế Thông thường, họ chỉ gửi đơnkhiếu nại, tài liệu bổ sung cho Toà án qua đường bưu điện hoặc trực tiếp nộptại Toà án Trong trường hợp đặc biệt, họ mới được triệu tập Theo quy địnhcủa BLTTDS thì sự có mặt của họ là không bắt buộc, chỉ được triệu tập trongnhững trường hợp cần thiết
Có ý kiến cho rằng, việc đương sự không có mặt tại phiên toà giám đốcthẩm, tái thẩm là hạn chế của pháp luật TTDS nước ta vì Hội đồng giám đốcthẩm, tái thẩm chỉ dựa trên hồ sơ để phán quyết thì vẫn có thể bị mắc sai lầm.Nếu đương sự vắng mặt thì trách nhiệm của thành viên Hội đồng giám đốc thẩm,
Trang 32tái thẩm không cao do sức ép của các bên không nhiều như khi họ có mặt đểtranh luận Tuy nhiên, theo chúng tôi lại không đồng tình với quan điểm này vìxuất phát từ tính chất và đối tượng của giám đốc thẩm, tái thẩm là bản án, quyếtđịnh của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, không phải là vụ án Đâyđược coi là cơ chế tự kiểm tra, khắc phục sái sót của ngành tư pháp Mặt khác,các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật thường đã qua xét xử sơthẩm, phúc thẩm nên về mặt chứng cứ, tài liệu đã có điều kiện để thu thập, nếuchứng cứ không đầy đủ thì chính là căn cứ để huỷ án theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc tái thẩm
Do vậy, với quy định như hiện nay của BLTTDS về sự tham gia củađương sự, những người tham gia tố tụng khác trong phiên toà giám đốc thẩm, táithẩm là hợp lý, mang tính mềm dẻo, linh hoạt
2.1.7 Phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm
Để sớm sửa chữa được những sai lầm trong các bản án, quyết định bịkháng nghị, Toà án cần phải mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm sớm Điều
293 BLTTDS quy định: phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm phải được tiến hànhtrong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án.Trong thời hạn này, Toà án tiến hành tất cả các công việc cần thiết cho việc mởphiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm
Sau khi nhận được kháng nghị cùng hồ sơ vụ án thì Chánh án toà án hoặcChánh toà chuyên trách TANDTC phân công một thẩm phán là thành viên củahội đồng xét xử chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị xét xử Thành viênnày có nhiệm vụ nghiên cứu lại hồ sơ vụ án, bản án, quyết định bị kháng nghị,bản kháng nghị, kết luận viết của Viện kiểm sát (nếu có) và chuẩn bị thuyết trình
về vụ án Các thành viên khác của hội đồng xét xử cũng tham gia nghiên cứu hồ
sơ vụ án, nắm vững nội dung vụ án để tham gia xét xử
Nội dung bản thuyết trình phải tóm tắt được nội dung vụ án và các bản án,quyết định của các cấp toà án, nội dung của kháng nghị Bản thuyết trình phải
Trang 33được gửi trước cho các thành viên hội đồng xét xử chậm nhất là bảy ngày trướcngày mở phiên toà.
Sau khi ấn định được ngày mở phiên toà thì tiến hành mở phiên toà theothủ tục do pháp luật quy định cụ thể tại Điều 295 BLTTDS Theo đó, phiên toà
sẽ được tiến hành như sau:
Phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm không mở công khai Nếu có ngườitham gia tố tụng đã được triệu tập mà vắng mặt thì phiên toà vẫn được tiến hành.Trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi mà không có ngườithay thế thì phải hoãn phiên toà
Sau khi chủ tọa khai mạc phiên toà, một thành viên của Hội đồng trìnhbày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyếtđịnh của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định củakháng nghị và đề nghị của người kháng nghị Sau đó, đại diện Viện kiểm sátpháp biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị
Trong trường hợp, có người tham gia tố tụng hoặc người khác được Toà
án triệu tập tham gia phiên toà thì họ được trình bày ý kiến của mình về quyếtđịnh kháng nghị sau khi các thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nộidung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của toà án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và
đề nghị của người kháng nghị Nếu thấy có vấn đề nào chưa rõ thì Hội đồng xét
xử có thể hỏi thêm Khi những người được triệu tập tham gia phiên toà trình bàyxong ý kiến của mình, các thành viên của Hội đồng xét xử hỏi xong thì đại diệnViện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị
Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thảo luận và phátbiểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát phát biểu
ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án Hội đồng biểu quyết về việc giải quyếttheo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị và ý kiến khác Quyếtđịnh giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, Hội đồngthẩm phán TANDTC phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm
Trang 34phán hoặc Hội đồng thẩm phán biểu quyết tán thành Trong trường hợp khôngđược quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh hoặcHội đồng thẩm phán TANDTC biểu quyết tán thành thì phải hoãn phiên toà.Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà, Uỷ ban thẩmphán TAND cấp tỉnh, Hội đồng thẩm phán TANDTC phải tiến hành xét xử lạivới sự tham gia của toàn thể các thành viên.
Có thể thấy, thủ tục phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm có sự khác biệt sovới thủ tục phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm Phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúcthẩm được tiến hành công khai, thông thường trải qua 5 bước: khai mạc phiêntoà, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án Trong khi đó, phiên toà giám đốc thẩm,tái thẩm không được mở công khai và thủ tục tiến hành phiên toà cũng khôngphải theo trình tự 5 bước trên Tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có sựthảo luận của các thẩm phán trong Hội đồng và đại diện Viện kiểm sát; ngoài ra
do quy định của pháp luật, đương sự chỉ được triệu tập tham gia phiên toà trongtrường hợp cần thiết nên thủ tục phiên toà không có phần tranh luận giữa cácđương sự với nhau Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm được đưa ra sau khi Hộiđồng giám đốc thẩm, tái thẩm thảo luận xong các vấn đề liên quan đến việc giảiquyết vụ án Sở dĩ, thủ tục phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định có
sự đặc biệt như vậy là do xuất phát từ tính chất giám đốc thẩm, tái thẩm là thủtục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do bị kháng nghị chứkhông phải là cấp xét xử thứ ba
2.1.8 Phạm vi xét xử
Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giámđốc thẩm hoặc tái thẩm là nhằm khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong cácbản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc xác định tình tiết mới được pháthiện Về nguyên tắc, để khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong các bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay để đánh giá chính xác tình tiết mới thìhội đồng giám đốc thẩm hoặc hội đồng tái thẩm phải được xét lại toàn bộ nộidung bản án, quyết định bị kháng nghị Nhưng để đảm bảo tính ổn định của bản
Trang 35án, quyết định, tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án nên Điều 296BLTTDS đã quy định: hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét lại phầnquyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc cóliên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị Ngoài ra, hội đồng giám đốcthẩm, tái thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xemxét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhànước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.
Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 76 và Điều 81PLTTGQCVADS thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có thể xem xét toàn bộ
vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung kháng nghị
Theo chúng tôi thì quy định phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm nhưBLTTDS hiện nay là hợp lý Bởi phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm như hiện naygiúp góp phần nâng cao trách nhiệm của những người có thẩm quyền khángnghị Khi những người có thẩm quyền kháng nghị phần bản án, quyết định nàothì sẽ ảnh hưởng tới hiệu lực của phần bản án, quyết định đó Do đó, quyết địnhkháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là quyết định rất quan trọng và để tránh tuỳtiện trong việc ra quyết định này thì người có thẩm quyền kháng nghị cần phảixem xét thận trọng, nghiên cứu kỹ từng vấn đề để có được quyết định đúng đắn.Ngoài ra, nếu mở rộng phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm thì sẽ làm tăng khốilượng công việc vốn đã quá tải cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm,tái thẩm
Bên cạnh đó, hiện nay BLTTDS cũng quy định phần quyết định của bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liênquan đến việc xem xét nội dung kháng nghị nhưng nếu phần quyết định đó xâmphạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sựtrong vụ án thì hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn có quyền xem xét Quyđịnh này góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như người thứ ba Bởingười thứ ba có thể chưa hiểu rõ được quyền và lợi ích của mình trong bản án,
Trang 36quyết định đã có hiệu lực pháp luật dẫn đến việc họ bị ảnh hưởng quyền và lợiích Chính vì vậy, quy định trên của BLTTDS đã góp phần bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của công dân, giúp tăng cường bảo đảm nguyên tắc pháp chếXHCN Do đó, quy định về phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm như hiện nay làhợp lý.
2.1.9 Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
Có thể hiểu, Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm là văn bản do Hội đồnggiám đốc thẩm, tái thẩm ban hành thể hiện ý chí của Hội đồng giám đốc thẩm,tái thẩm về việc giải quyết vụ án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luậtnhưng bị kháng nghị Đây là quyết định có ý nghĩa pháp lý quan trọng bởi nóquyết định huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của toà án cấp dưới hoặc bác kháng nghị của người có thẩm quyền Quyếtđịnh giám đốc thẩm, tái thẩm không chỉ làm thay đổi quyền và nghĩa vụ củađương sự, những người có liên quan mà còn đánh giá chất lượng xét xử của Toà
án đã ban hành kháng nghị cũng như của các toà án cấp dưới
Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm phải có các quy định tại khoản 2 Điều
301 BLTTDS:
- Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên toà;
- Họ, tên các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm Trường hợp hội đồnggiám đốc thẩm, tái thẩm là Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh hoặc Hội đồngthẩm phán TANDTC thì ghi họ, tên, chức vụ của chủ toạ phiên toà và số lượngthành viên tham gia xét xử;
- Họ, tên Thư ký Toà án, Kiểm sát viên tham gia phiên toà;
- Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử;
- Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật bị kháng nghị;
- Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
- Nhận định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm trong đó phải phân tíchnhững căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;
Trang 37- Điểm, khoản, điều của BLTTDS mà Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩmcăn cứ để ra quyết định;
- Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm;
- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực thi hành ngay
Sau khi ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, theo quy định tại Điều 303BLTTDS, trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Hội đồnggiám đốc thẩm, tái thẩm phải gửi ngày quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm chođương sự, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Toà án ra bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quanthi hành án dân sự có thẩm quyền Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệulực kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ra quyết định
Quy định về hình thức và hiệu lực của Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩmcủa BLTTDS đã góp phần bảo đảm cho quyết định giám đốc thẩm, tái thẩmđược thực hiện trên thực tế, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự
2.2 Khác nhau
Thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm tuy cùng là xét lại bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của những người cóthẩm quyền nhưng đây là hai thủ tục độc lập trong pháp luật TTDS nên ngoàinhững điểm tương đồng còn có những điểm khác biệt Điểm khác biệt cơ bảngiữa hai thủ tục này là việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dựatrên những căn cứ kháng nghị khác nghị khác nhau Từ điểm khác biệt cơ bảnnày, dẫn tới sự khác nhau trong các quy định về thời hạn kháng nghị và quyềnhạn của hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
2.2.1 Căn cứ kháng nghị
Do tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau nên đã chi phối cácquy định của pháp luật về căn cứ kháng nghị Nếu như kháng nghị giám đốcthẩm là do phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ
án thì kháng nghị tái thẩm là do có những tình tiết mới được phát hiện làm thay
Trang 38đổi nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không thể biếtđược khi Toà án ra bản án, quyết định đó Nghĩa là căn cứ kháng nghị giám đốcthẩm là xuất phát từ lỗi chủ quan của những người tiến hành tố tụng và cơ quantiến hành tố tụng, có những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ ándẫn đến việc giải quyết không đúng đắn, phù hợp với sự thật khách quan Còncăn cứ kháng nghị tái thẩm là xuất phát từ nguyên nhân khách quan, do có nhữngtình tiết mới mà tại thời điểm giải quyết vụ án thì chính Toà án và đương sự đãkhông thể biết được.
Cụ thể, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm được BLTTDS quy định gồm:
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiếtkhách quan của vụ án;
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
PLTTGQCVADS quy định các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm gồm: Việc điều tra không đầy đủ; kết luận trong bản án, quyết địnhkhông phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Nhưvậy, so với quy định tại PLTTGQCVDS thì BLTTDS đã bỏ đi căn cứ “việc điềutra không đầy đủ” Việc bỏ căn cứ này là hợp lý vì bản chất của tố tụng dân sự là
“việc của dân”, việc chứng minh thuộc về quyền, nghĩa vụ của đương sự Toà ánkhông có nhiệm vụ tiến hành điều tra mà chỉ thu thập chứng cứ khi đương sựkhông thể tự mình thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu Toà án giúp hoặctrong một số trường hợp đặc biệt khác do BLTTDS quy định thì Toà án có thể tựmình thu thập chứng cứ Do đó, không thể có căn cứ Toà án điều tra không đầy
đủ để làm căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
Mặc dù, BLTTDS đã quy định những căn cứ kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm nhưng chưa có những giải thích rõ ràng nên còn gây khó khăn trongviệc áp dụng