§inh ThÞ Mai Ph−¬ng *ừ trước đến nay, việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình được thực hiện theo các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, việ
Trang 1§inh ThÞ Mai Ph−¬ng *
ừ trước đến nay, việc giải quyết các vụ
án dân sự, hôn nhân gia đình được thực
hiện theo các quy định của Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989,
việc giải quyết các vụ án kinh tế thực hiện
theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế năm 1994, việc giải
quyết các vụ án lao động thực hiện theo
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp
lao động năm 1996
Việc xây dựng những quy trình tố tụng
riêng để giải quyết những tranh chấp dân
sự, kinh tế, lao động là xuất phát từ tư duy
lập pháp coi các luật nội dung điều chỉnh
các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động là
những ngành luật độc lập Tuy nhiên, thực
tế áp dụng giải quyết các vụ án dân sự, kinh
tế, lao động của các tòa án đã cho thấy còn
nhiều bất cập Ví dụ, việc phân định thẩm
quyến giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế
còn chưa rõ ràng, khoa học đã dẫn đến tranh
chấp về thẩm quyền giữa các tòa chuyên
trách trong hệ thống tòa án nhân dân với
nhau
Ngoài ra, một số vấn đề quan trọng
cũng chưa được các pháp lệnh đề cập như
chưa quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án
hay không quy định cụ thể trách nhiệm của
người yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời cũng như trách nhiệm của tòa
án trong việc ra quyết định áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời Bên cạnh đó, nhiều
quy định về tố tụng hiện hành đến nay không còn phù hợp với những chuyển biến của thực tiễn kinh tế xã hội Việt Nam nữa; chẳng hạn các pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động đều quy định trách nhiệm chứng minh và cung cấp các chứng cứ không xuất phát từ các đương sự mà lại thuộc về tòa án - quy định này làm hạn chế tính chủ động của các đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp Hơn thế nữa, một số vấn đề tuy đã được điều chỉnh trong pháp luật nội dung như việc tuyên bố một người là mất tích, tuyên bố chết, tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự nhưng lại chưa được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tố tụng trong các văn bản về tố tụng
Những thiếu sót và bất cập trên trong các quy định về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động đã và đang đặt ra yêu cầu cần phải được hoàn thiện Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu lập pháp cho thấy, xét về bản chất, các tranh chấp kinh tế, lao động mặc
dù cũng có những đặc thù riêng nhưng đều
có chung bản chất pháp lí là tranh chấp giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lí Sự giống nhau về bản chất pháp lí giữa các tranh chấp sẽ dẫn đến sự giống nhau về thủ tục pháp lí giải quyết các tranh chấp Hiện T
* Viện khoa học pháp lí - Bộ tư pháp
Trang 2nay, các quy định trong các pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao
động về cơ bản là giống nhau chỉ có một số
khác biệt không đáng kể về thời hạn xét xử
vụ án, thành phần hội đồng xét xử Ngoài
ra, trong những năm qua, việc chúng ta quy
định các trình tự tố tụng cơ bản ở cấp độ
pháp lệnh mà không phải luật là chưa tương
xứng với tầm quan trọng của nó, mặt khác,
nếu việc hoàn thiện và nâng cấp các quy
định này theo hướng xây dựng một loạt các
luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động với
các thủ tục không mấy khác nhau cũng là
điều khó khăn, tốn kém và không cần thiết
Chính vì vậy, sự ra đời của Bộ luật tố
tụng dân sự trong giai đoạn hiện cũng như
việc thống nhất các trình tự, thủ tục tố tụng
chung để giải quyết các vụ việc dân sự, kinh
tế, lao động, hôn nhân và gia đình là hoàn
toàn phù hợp với thực tiễn khách quan và
đảm bảo tính khoa học Việc nghiên cứu Dự
thảo Bộ luật tố tụng dân sự sắp được Quốc
hội thông qua vào kì họp tới cho thấy hầu
hết các quy định trong Dự thảo Bộ luật tố
tụng dân sự là rất tiến bộ, cơ bản đã khắc
phục được những thiếu sót, bất cập trong
các các quy định về tố tụng hiện hành đồng
thời, thể hiện được quan điểm của Đảng về
cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân, bảo đảm tốt hơn cho việc giải quyết
các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động,
hôn nhân gia đình được nhanh chóng, công
minh và đúng pháp luật, đáp ứng được
những yêu cầu mà thực tiễn khách quan
đang đặt ra
Tuy nhiên, qua nghiên cứu Dự thảo Bộ
luật tố tụng dân sự (lần thứ 12), trên quan điểm cá nhân, tôi cho rằng vẫn còn một số vấn đề bất cập, chưa giải quyết triệt để các vướng mắc trong quá trình thực hiện các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự, kinh tế và lao động, chưa hoàn toàn phù hợp với các quy định tương ứng của pháp luật nội dung
1 Về phạm vi điều chỉnh
Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự chưa dự liệu hết các trường hợp cần phải điều chỉnh Việc xây dựng Dự thảo Bộ luật tố tụng dân
sự chưa bám sát hoạt động xây dựng pháp luật nội dung trong các lĩnh vực tương ứng Hiện tại chúng ta đang tiến hành việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự năm 1995, Luật thương mại năm 1997 và hoàn thiện pháp luật kinh doanh bao gồm Luật doanh nghiệp
và Luật đầu tư… Chính vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và giá trị lâu dài, để khi Bộ luật tố tụng dân sự được thông qua có thể đi vào cuộc sống thì việc soạn thảo Bộ luật cũng cần phải tính đến những yếu tố đó
2 Về cách sử dụng thuật ngữ trong
Dự thảo
Theo quy định tại Điều 1 Dự thảo thì
“Bộ luật tố tụng dân sự quy định trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu các tòa án giải quyết các vụ án dân sự, các việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) "
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật tố tụng dân sự ở đây là giải quyết các
vụ án dân sự theo nghĩa rộng (bao gồm: Giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động) và công nhận các việc dân sự theo nghĩa rộng (là yêu cầu
Trang 3công nhận các sự kiện pháp lí là căn cứ
phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, kinh
tế, lao động hoặc yêu cầu được hưởng
quyền về dân sự, kinh tế, hôn nhân gia
đình, lao động)
Tuy nhiên, xuyên suốt nội dung của Dự
thảo, việc quy định các vụ án dân sự, các
việc dân sự và trình tự, thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự hoặc các việc dân sự được
sử dụng không thống nhất Có những điều
luật thì sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa
rộng (Điều 1 và nhiều quy định khác của
Dự thảo) và có điều luật đã sử dụng thuật
ngữ này theo nghĩa hẹp (Điều 25, 26) dẫn
đến việc hiểu và theo dõi Bộ luật rất khó
khăn và dễ tạo ra một tư duy không nhất
quán trong việc xây dựng và áp dụng luật
sau này
3 Về thẩm quyền xét xử của toà án
(từ Điều 25 đến Điều 32 của Dự thảo)
Chúng ta đều biết, Bộ luật tố tụng dân
sự là sự thống nhất hoá các trình tự tố tụng
điều chỉnh các quan hệ có cùng bản chất
theo một tư duy mới, lấy dân sự làm gốc,
coi các quan hệ về kinh tế, lao động, hôn
nhân gia đình là những lĩnh vực đặc thù của
luật dân sự, nhằm loại bỏ những mâu thuẫn,
chồng chéo, lấp đầy những lỗ hổng và rút
gọn những quy định thừa không cần thiết
Thế nhưng các quy định về thẩm quyền của
toà án trong Dự thảo vẫn phân định các vụ
việc dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia
đình, theo đó, liệt kê tất cả các loại tranh
chấp trong từng lĩnh vực thuộc thẩm quyền
giải quyết của toà án… Cách phân định như
vậy chưa thể hiện rõ tính thống nhất của các
loại tố tụng đã nêu trên Vì vậy, một số
điểm hạn chế cũ vẫn bị lặp lại và chưa được giải quyết triệt để như việc phân định vụ việc hay phân định thẩm quyền xét xử cho các toà chuyên trách dựa trên quá nhiều tiêu chí chồng chéo nhau, theo đó, vừa căn cứ vào tính chất của các quan hệ được điều chỉnh, vừa căn cứ vào mục đích của các quan hệ đó (như mục đích lợi nhuận hay không lợi nhuận), lại vừa dựa trên tiêu chí chủ thể… Việc phân định thẩm quyền xét
xử trên cơ sở những tiêu chí không nhất quán như vậy là chưa thật sự khoa học và vẫn phụ thuộc vào cách tư duy cũ, tất yếu sẽ gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật sau này Đặc biệt khi mà chúng ta thực hiện tăng thẩm quyền cho toà án nhân dân cấp huyện, việc tổ chức hệ thống toà án cũng sẽ có những thay đổi (như thành lập toà hôn nhân và gia đình, toà về sở hữu trí tuệ ) cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì rõ ràng trong tương lai gần, sự phân định đó sẽ nhanh chóng lại trở nên bất hợp lí Chẳng hạn, Dự thảo quy định các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ mà một trong các bên không có mục đích lợi nhuận là vụ
án dân sự còn các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và cùng có mục đích lợi nhuận là vụ án kinh tế thì khi chúng ta thành lập toà án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, sự phân định ấy sẽ không còn hợp lí
Hơn nữa, việc xác định các tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật tố tụng dân sự theo phương pháp liệt kê, cũng
Trang 4chưa hợp lí, tất yếu sẽ không tránh được
những thiếu sót Ví dụ:
Điều 27: Đã liệt kê các vụ án về hôn
nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án nhưng vẫn còn thiếu:
“Tranh chấp về giám hộ”
Điều 28: Liệt kê các vụ án về hôn nhân
và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
tòa án nhưng vẫn còn thiếu: “Yêu cầu công
nhận thoả thuận về cấp dưỡng, yêu cầu
công nhận thoả thuận về giám hộ”
Điều 29: Về các vụ án về kinh tế thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án Thực tế
quy định tại điều luật này đã liệt kê quy
định về hợp đồng trong Luật thương mại
Tuy nhiên, còn thiếu loại “tranh chấp về ủy
thác thực hiện hợp đồng”
Đặc biệt, trong thời gian tới, khi mà
chúng ta có sự sửa đổi hàng loạt các luật về
nội dung như Bộ luật dân sự, Luật thương
mại, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, pháp
luật về hợp đồng… theo nhiều chiều hướng
khác nhau như thay đổi tư duy về luật dân
sự - coi đó là luật chung của hệ thống luật
tư hay mở rộng phạm vi điều chỉnh của
Luật thương mại, thống nhất hoá pháp luật
nội dung về hợp đồng xoá bỏ sự phân định
hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại, xây
dựng Luật doanh nghiệp chung, thống nhất
Luật đầu tư trong nước và nước ngoài…
trong khi Bộ luật tố tụng dân sự không dự
liệu được những vấn đề này để khái quát
hoá các quy định của mình thì tất yếu sẽ bị
tụt hậu hoặc lại phải tiếp tục sửa đổi cho
phù hợp
Từ sự phân tích ở trên chúng tôi nhận
thấy không nên phân biệt các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình hoặc các việc dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình như trong Dự thảo
Theo chúng tôi, Mục 1 Chương III, Phần thứ nhất (từ Điều 25 đến Điều 32) cần quy định gọn lại thành 2 điều: Một điều về những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án và một điều về những việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Trong đó việc quy định các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa
án cần được thể hiện thành những nhóm
tranh chấp có cùng một bản chất: Ví dụ, các
tranh chấp về hợp đồng (không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế); các tranh chấp về sở hữu; các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (không cần phân biệt về có mục đích lợi nhuận hay không), các tranh chấp lao động Có như vậy thì sẽ tránh được sự trùng lặp và chồng chéo về thẩm quyền trong một số loại tranh chấp trong thực tế khi phát sinh
Việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự là nhu cầu mang tính khách quan và cấp thiết Trên cơ sở ý kiến đóng góp của mỗi cá nhân
và toàn thể nhân dân, hi vọng Bộ luật tố tụng dân sự ra đời sẽ là một bộ luật hoàn thiện, phản ánh được một cách sâu sắc những yêu cầu của thực tiễn khách quan để góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo tốt hơn cho quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nói chung và các bên đương sự trong từng vụ án nói riêng./