Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, những tài liệu, chứng cứ mà các cơ quan có thẩm quyền thu thập được như: công cụ, phương tiện phạm tội, đổ vật mang dấu vết tội phạm, luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định, chứng minh tội phạm và người phạm tội. Thực tế cho thấy, một phần đáng kể những tài liệu, chứng cử này được thu thập thông qua hoạt động điều tra khám xét. Khám xét là một trong những biện pháp điều tra có tính chất cưỡng chế, tác động đến những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Các quy định về khám xét là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tác động hợp pháp đến quyền cơ bản của công dân, phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu có ý nghĩa chứng minh trong vụ án. Do đó em xin được chọn đề bài số 23: “Hoạt động điều tra “khám xét” theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”.
Trang 1
BÀI TẬP LỚN
MÔN:
Kỹ năng
ĐỀ BÀI 23
Hoạt động điều tra “khám xét” theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự
Hà Nội, 2020
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Khái niệm khám xét 1
2 Bình luận những quy định về hoạt động điều tra khám xét trong Bộ luật tố tụng hình sự 2
2.1 Căn cứ khám xét 2
2.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét 4
2.3 Khám xét người 6
2.4 Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện 8
2.5 Trách nhiệm của người ra lệnh, người thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ 11
3 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động điều tra khám xét trong Bộ luật tố tụng hình sự 11
KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, những tài liệu, chứng cứ mà các
cơ quan có thẩm quyền thu thập được như: công cụ, phương tiện phạm tội, đổ vật mang dấu vết tội phạm, luôn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định, chứng minh tội phạm và người phạm tội Thực tế cho thấy, một phần đáng kể những tài liệu, chứng cử này được thu thập thông qua hoạt động điều tra khám xét Khám xét là một trong những biện pháp điều tra có tính chất cưỡng chế, tác động đến những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận Các quy định về khám xét là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tác động hợp pháp đến quyền cơ bản của công dân, phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu có ý nghĩa chứng minh trong vụ án Do đó em xin được chọn đề bài số 23: “Hoạt động điều tra “khám xét” theo quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự”
NỘI DUNG
1 Khái niệm khám xét.
“Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản
do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án”1
“Khám xét là hoạt động điều tra nhằm tìm kiếm dấu vết tội phạm vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án”2
“Khám xét là một biện pháp điều tra được quy định trong luật tố tụng hình
sự, do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát, cưỡng chế người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm để tìm kiếm, thu thập dấu vết của tội phạm, tài liệu, vật chứng hoặc
1 https://luatminhkhue.vn/kham-xet-la-gi -quy-dinh-phap-luat-ve-kham-xet.aspx
2 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI, Giáo trình luật tố tụng hình sự, 2020, NXB Công An Nhân Dân.
Trang 5nhiều đồ vật khác có liên quan đến vụ án theo các căn cứ , trình tự, thủ tục luật định”3
“Khám xét là biện pháp điều tra do những người có thẩm quyền tiến hành bằng cách lục soát, tìm kiếm trong người, đồ vật, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín bưu kiện, bưu phẩm của một người nhằm phát hiện và thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật tài liệu khác có liên quan trực tiếp đến vụ án”4
2 Bình luận những quy định về hoạt động điều tra khám xét trong Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1 Căn cứ khám xét.
“Điều 192 Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
1 Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân
2 Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm,
dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử”
- Về căn cứ khám xét, cơ quan có thẩm quyền chỉ được khám xét người, chỗ ở , nơi làm việc, địa điểm, phương tiện khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội,
3 https://www.slideshare.net/trongthuy3/luan-van-bien-phap-dieu-tra-kham-xet-theo-luat-to-tung-hinh-su-hay
4 https://hocluat.vn/wiki/kham-xet/
Trang 6tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ dữ liệu điện tử, tài liệu khác
có liên quan đến vụ án “Căn cứ để nhận định là kết quả của các hoạt động điều tra như lấy lời khai người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân Tương tự như vậy, khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử”5
- So với Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Điều 192 Bộ luật tố tụng hình
sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như sau6:
+ Bổ sung đối tượng có thể bị khám xét “phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện tử”
+ Thay cụm từ “khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án” bằng cụm từ “khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín,… tài sản liên quan đến vụ án” (Khoản 2)
- Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định nhưng trên thực
tế hoạt động khám xét phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện tử vẫn được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành Tuy nhiên việc phát hiện, thu giữ, quá trình phản ánh các thông tin có liên quan đến các đối tượng khám xét này và nhất là
ra lệnh khám xét, tiến hành lập biên bản khám xét ở từng trường hợp cụ thể theo đúng quy định sẽ gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo tính pháp lý
“Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định dữ liệu điện tử ở đây chính là ký hiệu, chữ viết, chữ
số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương
5 Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, PGS.TS Phạm Thanh Bình, Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2018.
6 Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự (hiện hành), Nguyễn Đức Mai chủ biên, Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2019.
Trang 7tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác Giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử được xác định căn
cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác Cho nên, người có thẩm quyền khi thu thập, bảo quản dữ liệu điện tử phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật”7
2.2 Thẩm quyền ra lệnh khám xét.
“Điều 193 Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1 Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành
2 Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét Trong thời hạn
24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án
3 Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi ro vào biên bản khám xét
4 Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án”
- Khám xét là biện pháp điều tra có tính hiệu quả Hoạt động khám xét cần
7 http://pup.edu.vn/index.php/news/Nghien-cuu-Trao-doi/Nhung-diem-moi-cua-quy-dinh-ve-bien-phap-kham-xet-trong-bo-luat-To-tung-hinh-su-nam-2015-1752.html
Trang 8bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời bảo đảm tính bí mật, bất ngờ Thẩm quyền ra lệnh khám xét được trao rộng (cho người tiến hành tố tụng của
cả 3 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) nhằm đảm bảo hiệu quả của biện pháp điều tra này “Tuy nhiên, do khám xét là biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, nhà làm luật cũng quy định, lệnh khám xét của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp
và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư… quy định tại khoản 2 điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành”5
- Ngoài ra, điều luật cũng quy định những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trường Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy
và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển , Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng , chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay , bến cảng
- Trường hợp khẩn cấp là trường hợp nếu không tiến hành khám xét thì bị can
sẽ tiêu hủy chứng cứ, tài liệu có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, người
bị truy nã sẽ bỏ trốn hoặc những người phạm tội và di chuyển nạn nhân bị bắt cóc Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong người ta lệnh khám xét
Trang 9phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án
- Khám xét là biện pháp điều tra có tính cưỡng chế và tác động trực tiếp tới các quyền cơ bản hiến định của công dân Đó biện pháp này phải được kiểm sát chặt chẽ bởi Viện kiểm sát Điều luật quy định trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trong trường hợp khám xét khẩn cấp kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì ghi ro vào biên bản khám xét
- So với Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung như sau6:
+ Bổ sung đối tượng có thể bị khám xét “phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện
tử
+ Khoản 2: thay cụm từ “không thể trì hoãn” bằng từ “khẩn cấp” và bổ sung cụm từ hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án
+ Bổ sung quy định “Điều tra viên phải thông báo Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét” (khoản 3) và “việc lập biên bản khám xét” (khoản 4)
2.3 Khám xét người.
“Điều 194 Khám xét người
1 Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh
và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét
và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ
Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu,
đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét
2 Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác
Trang 10cùng giới chứng kiến Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét
3 Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án”
- Khám người là lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo, người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét mà có căn cứ cho rằng người đó đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ những vật chứng và tài liệu liên quan đến
vụ án “Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể thủ tục khám người Khi bắt đầu khám người, thì Điều tra viên hoặc người được uỷ nhiệm tiến hành khám phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm cho đương sự biết ro người đã ra lệnh khám và
lý do khám xét”8
- Trước khi khám, Điều tra viên hoặc người thi hành lệnh khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự
từ chối thì mới tiến hành khám Khi tiến hành khám người, nam khám nam,
nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho người bị khám
- Thông thường việc khám người phải có lệnh khám xét, tuy nhiên trong trường hợp sau đây thì có thể tiến hành khám người mà không phải có lệnh khám xét:
+ Bắt người để tạm giữ, tạm giam;
+ Bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
+ Bắt người đang có lệnh truy nã;
8 https://luathoangphi.vn/quy-dinh-ve-kham-xet-nguoi-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2015/
Trang 11+ Khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi đang bị khám xét cất giấu trong người đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án cần bị thu giữ
- Có thể thấy so với điều 142 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Điều 194 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bổ sung quy định:
+ Sửa tên Điều luật “khám người” thành “khám xét người”
+ Khoản 1 bổ sung các cụm từ “hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án”
+ Quy định “Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét”
+ Bổ sung cụm từ “vũ khí, hung khí, chứng cứ” sau cụm từ “giấu trong người”
2.4 Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện.
“Điều 195 Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1 Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi ro lý do vào biên bản
2 Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi ro lý do vào biên bản
Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người
đó làm việc chứng kiến Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến