Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Trong đó thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự. Nếu không có thu thập chứng cứ, thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Đó là lý do tại sao vấn đề thu thập chứng cứ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập pháp khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bằng sự học tập, hiểu biết của mình em xin được chọn đề bài 15: “Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự”để có thể đi sâu phân tích vấn đề trên
Trang 1
BÀI TẬP LỚN
MÔN:
Luật Tố tụng Hình sự
ĐỀ BÀI 15
Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự.
Trang 2Hà Nội, 2020
Mục lục
Trang 3MỞ ĐẦU Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Trong đó thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự Nếu không có thu thập chứng cứ, thì cũng không
có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Đó là lý do tại sao vấn đề thu thập chứng cứ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập pháp khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Bằng sự học tập, hiểu biết của mình em xin được chọn đề bài 15: “Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự”để có thể đi sâu phân tích vấn đề trên
NỘI DUNG
1 Khái niệm.
1.1 Chứng cứ
“Tố tụng hình sự của Nhà nước ta lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ
sở của chứng cứ Lý luận nhận thức khẳng định rằng: “Nhận thức là sự phản ảnh biện chứng tích cực, trong thế giới khách quan thì không có gì con người không nhận thức được, chỉ có những điều chưa nhận thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức được” Chính vì vậy, trong vụ án hình sự, dù người phạm tội có dùng mọi thủ đoạn tinh vi đến đâu để nhằm mục đích che dấu hành vi của mình thì tội phạm cũng được phản ánh lại bằng những dấu vết của
nó và trước sau dấu vết đó cũng bị phát hiện Những dấu vết đó được phản ánh qua các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm và các yếu tố liên quan đến người phạm tội Hay nói cách khác, chứng cứ là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự”1 Với vai trò quan trọng như vậy trong hoạt động tố tụng, Bộ luật tố tung hình sự 2015 đã đưa ra
1 Thu thập, đánh giá chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự: Luận văn thạc sĩ luật học/ Trần Duy Đức, Hà Nội, 2015.
Trang 4khái niệm tại Điều 86 về chứng cứ như sau:“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Trong tố tung hình sự, để xác định được tội phạm và người thực hiện hành
vi phạm tội cũng như những vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ
án các chủ thể có thẩm quyền có thể sử dụng những tình tiết đã biết trong mối liên hệ với tình tiết chưa biết nào đó Từ các tình tiết đã biết, các chủ thể chứng minh có thể kết luận về sự tồn tại của tình tiết cần biết nhưng chưa biết Khi những sự kiện (thông tin, dấu vết) riêng lẻ như vậy nằm trong mối liên hệ qua lại với nhau thì sự kiện này là chứng cứ của sự kiện kia , tức là nó chứng minh cho sự tổn tại của sự kiện kia Có nhiều quan điểm về chứng cứ trong tố tung hình sự nhưng về cơ bản đại đa số các quan điểm đều cho rằng: “Chứng
cứ là những cái có thật mang những thông tin xác thực, có liên quan đến vụ án hình sự được cơ quan và người có thẩm quyền thu thập theo trình tự thủ tục
do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, dùng làm căn cứ làm sáng tỏ những vấn
đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự”2
1.2 Thu thập chứng cứ.
“Những chủ thể được pháp luật giao quyền giải quyết vụ án hình sự không phải là những người chứng kiến những gì đã xảy ra Vì vậy để tìm ra sự thật, những chủ thể được pháp luật trao quyền phải tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh những vấn đề theo quy định của luật Tố tụng hình sự và giải quyết vụ án Quá trình này được gọi là quá trình chứng minh vụ án hình sự
Thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên của quá trình chứng minh Hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng toàn bộ quá trình chứng minh vụ án hình
2 Thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn : luận văn thạc sĩ Luật học / Triệu Thị Mai Liên ; PGS TS Hoàng Thị Minh Sơn hướng dẫn, Hà nội, 2019.
Trang 5sự Số lượng, chất lương chứng cứ thu thập được sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình gia quyết vụ án hình sự
Thu thập chứng cứ bao gồm các hoạt động Phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tượng, dấu vết, tài liệu lưu giữ những thông tin của vụ án Chứng cứ là hoạt động mô
tả truyền
tải những thông tin về các chứng cứ được phát hiện vào các văn bản tố tụng phù hợp Thu giữ chứng cứ được áp dụng khi chứng cứ thể hiện dưới dạng là vật Việc thu giữ được tiến hành kịp thời mới đảm bảo tính nguyên vẹn của thông tin lưu giữ trên vật đảm bảo cho việc đánh giá sử dụng chứng cứ chính xác Bảo quản chứng cứ là sử dụng các biện pháp cần thiết phù hợp để bảo vệ, giữ gìn tính nguyên vẹn của chứng cứ không để mất mát, hư hỏng, lẫn lộn, đánh tráo, làm thay đổi đặc điểm, thuộc tính, giá trị chứng minh của chứng
cứ
Bất kể chủ thể nào cũng có thể đưa ra những tài liệu đồ vật, dữ liệu điện tử
… chưa đựng thông tin liên quan đến vụ án hình sự nhưng chỉ những chủ thể được pháp luật quy định mới có thẩm quyền thu thập chứng cứ đó là những người có thẩm quyền tố tụng theo quy đinh của pháp luật và người bào chữa”2
Và khái niệm thu thập chứng cứ tác giả đồng quan điểm cho rằng: “Thu thập chứng cứ là việc cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện ghi nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu đồ vật có liên quan đến vụ án phục vụ cho việc giải quyết vụ án”3
2 Các thuộc tính của chứng cứ.
- Tính khách quan của chứng cứ
3 Hoàng Thị Minh Sơn (2009) , Hoàn thiện các quy định về thu nhập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự , Tap chi Luật học ( số 7/2008 ), tr 65-73.
Trang 6Tính khách quan là một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ Theo định nghĩa thì chứng cứ là những gì có thật Điều đó có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Các thông tin, tài liệu, đồ vật
đó phù hợp với các tình tiết của vụ án đang được chứng minh Trong luật tố tụng hình sự năm 2015, tính khách quan của chứng cứ được gọi là tính xác thực của chứng cứ khoản 1 Điều 108) Những thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan Vì vậy, những thông tin, tài liệu,
đồ vật đó không thể là chứng cứ của vụ án được
- Tính liên quan của chứng cứ
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự, thông thường nhiều thông tin, tài liệu được thu thập Tuy nhiên, không phải tất các thông tin, tài liệu thu thập được đều là chứng cứ mà chỉ các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án, tức dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án mới là chứng cứ Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở môi liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định Mối quan hệ này thể hiện ở hai mức độ khác nhau: Ở mức độ thứ nhất, mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng chứng minh Đây là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu; Ở mức độ khác, có những thông tin, tài liệu, đồ vật không được dùng làm căn cứ trực tiếp để giải quyết thực chất vụ án nhưng lại được dùng để xác định các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Trong trường hợp này tính liên quan của chúng được thể hiện một cách gián tiếp
Để coi một thông tin, tài liệu, đồ vật có phải là chứng cứ hay không, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án phải xác định được tính liên quan của thông tin, tài liệu, đồ vật đó ở cả hai mức độ Nếu thông tin, tài liệu, đồ vật không có ý nghĩa
trong giải quyết vụ án thì chúng thiếu tính liên quan, vì vậy không phải là chứng
Trang 7- Tính hợp pháp của chứng cứ
Tính hợp pháp của chứng cứ là sự phù hợp của nó với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Tính hợp pháp của chứng được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật Những thông tin, tài liệu, đồ vật tuy tồn tại trong thực tế và có liên quan đến vụ án nhưng không được lưu giữ trong nguồn mà pháp luật quy định thì không được coi là chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi không chỉ ở việc chứng cử phải được lưu giữ trong nguồn nhất định mà còn đòi hỏi mỗi loại chứng cứ phải được xác định bằng nguồn tương ứng xác định.Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi việc thu thập phải đúng trình tự do pháp luật quy định Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy có không ít trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành thu giữ đồ vật, tài liệu không đúng thủ tục rồi sau đó mới tiến hành hợp pháp hoá để đưa vào hồ sơ vụ án hoặc hợp pháp hoá tài liệu trinh sát để sử dụng làm chứng cứ Trong các trường hợp đó chứng cứ đều thiếu tính hợp pháp nên không thể có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự
3 Nguồn chứng cứ.
Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứa đựng các thông tin tồn tại trong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định Trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thường được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh Theo quy định của Điều 87 Luật tố tụng hình sự năm 2015 thì chứng cứ được xác định bằng các nguồn là vật chứng lời khai, lời trình bày,
dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp
và hợp tác quốc tế khác ; các tài liệu, đồ vật khác
Trang 84 Những quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự.
Điều 88 Thu thập chứng cứ Luật tố tụng hình sự 2015 quy định:
“1 Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án
2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe
họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa
3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án
4 Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án
do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này
5 Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục
và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”
Trang 9“Theo quy định tại Điều 88 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập chứng cứ bằng cách: Triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe
họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Luật tố tụng hình sự 2015 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp những tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Về thủ tục thu thập chứng cứ trong những trường hợp này phải tuân thủ những quy định như:
- Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: Thủ tục này được áp dụng trong các biện pháp hỏi cung; lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở, địa điểm
- Quy định về việc phải có người chứng kiến trong các trường hợp:
+ Đối với biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể bị can, bị hại, nhân chứng khám nghiệm hiện trường, khám nghiện tử thi, thực nghiệm điều tra, nhận dạng thì người chứng kiến là bất kỳ ai và chỉ cần một người (riêng biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể, thì phải là người cùng giới)
+ Biện pháp khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm đòi hỏi phải có người láng giềng, đại diện chính quyền địa phương (nơi làm việc thì đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc) chứng kiến Trường hợp vắng chủ nhà thì phải có hai người chứng kiến
+ Biện pháp thu giữ thư tín, điện tín, bưu phẩm tại bưu điện thì phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan bưu điện ”4
Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa,
bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ
4 Ts Phạm Minh Tuyên, Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh, Thu thập, kiểm tra, đánh giá và nguyên tắc sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, TCKS số 21/2017
Trang 10trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; xác minh tính xác thực trong các biên bản ghi lời khai do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa Chứng cứ của Luật sư thu thập và đưa ra nhằm chứng minh, có giá trị “gỡ tội”, mang tính phản biện cao (một phần hoặc toàn bộ) đối với chứng cứ buộc tội và luận điểm của cơ quan tiến hành tố tụng Để bào chữa
có hiệu quả, Luật sư sẽ có những hoạt động thu thập chứng cứ và đưa ra những kiến nghị điều tra bổ sung, điều tra lại, đình chỉ điều tra, rút quyết định truy tố, thay đổi tội danh Và những kiến nghị này của Luật sư cũng cần phải được các cơ quan xem xét một cách đầy đủ. “Lời trình bày của người bị buộc tội, bị can, bị cáo là chứng cứ quan trọng được sử dụng trong vụ án hình sự, bởi họ là những người trực tiếp nắm giữ những thông tin quan trọng Những lời trình bày, khai nhận tự nguyện trung thực, khách quan góp phần quan trọng làm sáng tỏ sự thật của vụ án Vấn đề đặt ra ở trường hợp này là hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư”5
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người bảo của thu thập chứng cứ bằng các hình thức sau:
- Thứ nhất thu thập chứng cứ liên quan đến việc bào chữa từ người bị buộc tội Đối với người bị buộc tội đang tại ngoại thì Luật sư không gặp khó khăn
gì trong việc gặp gỡ và trao đổi với họ nhằm thu thập những thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến việc bào chữa Tuy nhiên trường hợp họ bị tạm giam, người bào chữa có thể cùng điều tra viên tham gia vào việc lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can Trong trường hợp được sự đồng ý của điều tra viên, người bào chữa được hỏi bị can và nội dung hỏi, trả lời này được ghi vào biên bản Bên cạnh việc tham gia vào việc hỏi cung bị can, người bào chữa còn được gặp bị can Việc gặp gỡ này giúp người bào chữa khai thác được nhiều thông tin, tình tiết từ phía người bị buộc tội mà những
5 https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/phan-tich-noi-dung-quy-dinh-viec-thu-thap-chung-cu-cua- 02-chu-the-mot-la-nguoi-tham-gia-to-tung-la-luat-su-va-chu-the-co-quan-tien-hanh-to-tung-la-toa-an-theo-quy-dinh-cua-bltths-2015-bat-ca