Thực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phương Thực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phươngThực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phương
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN
Thực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình theo
thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phương
( MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ )
CƠ SỞ THỰC TẬP TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
NĂM 2021
Trang 2BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN
Thực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình theo
thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phương
( MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ )
CƠ SỞ THỰC TẬP TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
NĂM 2021
i
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôithực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếpnhận thực tập Các nội dung trong báo cáo làtrung thực, đảm bảo độ tin cậy./
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
iii
Trang 5MỤC LỤC
BÌA PHỤ i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
I Vắn tắt tình hình cơ sở thực tập 1
II Lý do lựa chọn nội dung của báo cáo thực tập 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG BÁO CÁO THỰC TẬP CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP 3
1.1 Đặc thù của vụ án hôn nhân và gia đình 3
1.2 Đặc điểm thẩm quyền dân sự theo loại việc về tranh chấp HN&GĐ của Tòa án 3
1.3 Tình hình giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình tại TAND huyện Y 4
1.4 Ví dụ minh họa 6
1.4.1 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 6
1.4.2 Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ 8
CHƯƠNG II NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CÔNG TÁC THỰC TẬP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ 9
1.1 Nắm chắc quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án 9
1.2 Trách nhiệm giải quyết vụ án HN&GĐ của Tòa án huyện Y 10
1.3 Chú ý nội dung và hình thức trình bày văn bản tố tụng trong thủ tục tố tụng 11
1.4 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân 12
CHƯƠNG III MỘT SỐ BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG CÁC VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 12
3.1 Ưu điểm 12
3.2 Một số vướng mắc 14
3.3 Kiến nghị, đề xuất 17
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
PHỤ LỤC 20
iv
Trang 6MỞ ĐẦU
I Vắn tắt tình hình cơ sở thực tập
Có thể nói, cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam, lịch
sử Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh H được hình thành và phát triển trải qua ba giai đoạn:1
Giai đoạn thứ nhất từ khi mới thành lập đến trước khi sáp nhập tỉnh H và HảiDương vào tháng 01- 1968
Giai đoạn thứ hai từ khi sát nhập tỉnh tháng 1 năm 1968 đến tháng 01- 1997 làthời kỳ hai tỉnh Hải Dương và H sáp nhập thành tỉnh Hải Hưng, là TAND tỉnh HảiHưng
Giai đoạn thứ ba từ tháng 1 năm 1997 đến nay, cùng với sự kiện chia tách tỉnhHải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và H; TAND tỉnh H được tái lập phải đối mặt vớimuôn vàn khó khăn, thiếu thốn về tổ chức cũng như về cơ sở vật chất; cán bộ thiếu,trình độ lại bất cập, cơ sở vật chất thiếu thốn, 04 đơn vị cấp huyện và Toà án tỉnh chưa
có trụ sở làm việc phải đi làm việc nhờ trụ sở, 06 đơn vị còn lại cũng trong tình trạngtrụ sở không còn đáp ứng được yêu cầu cần phải cải tạo nâng cấp, nhưng với sự quantâm lãnh đạo của TAND tối cao, của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh, TAND hai cấptỉnh HưngYên đã nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy, chủ động và linh hoạt bố tríđịa điểm làm việc và địa điểm xét xử, tận dụng mọi điều kiện trang thiết bị và cơ sởvật chất, bắt tay ngay vào hoạt động xét xử
Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, cùng toàn Đảng, toàn dân tiếp tục đẩymạnh công cuộc đổi mới, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, X, XI, XII củaĐảng về cải cách Tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhữngnăm gần đây ngành Tòa án H đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần tạo nên sựcông bằng trong xã hội đang phát triển từng ngày, từng giờ với bao mâu thuẫn phátsinh Có được kết quả đó không thể không nói đến vai trò của mạng lưới TAND cấphuyện, trong đó có TAND huyện Y Với những nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thànhnhiệm vụ, nhiều năm qua, TAND huyện Y luôn xứng đáng là cán cân công lý, là chỗdựa tin cậy cho nhân dân
Về cơ cấu cơ quan, tổ chức
Theo Điều 45 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, Tòa án nhân dân huyện Ygồm 09 cán bộ, trong đó gồm có 2 thẩm phán, 1 chánh án đồng thời là thẩm phán, 1phó chánh án cũng đồng thời là thẩm phán, 3 thư ký Tòa án, 1 thẩm tra viên đồng thời
là thư ký, 1 kế toán Tòa án Trong đó có 02 thẩm phán có trình độ Đại học, 02 thẩmphán có trình độ Cao học Ngoài ra, TAND huyện Y còn có 17 Hội thẩm nhân dântham gia Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật
TAND huyện Y hoạt động theo nguyên tắc phân công giải quyết vụ việc mộtcách ngẫu nhiên có thể đảm bảo tính minh bạch trong giải quyết và xét xử các loại án.Với số lượng 03 thẩm phán, năm 2020, TAND huyện Y đã giải quyết 379 vụ và 6tháng đầu năm 2021 là 144 vụ
1 https://hungyen.toaan.gov.vn/webcenter/portal/hungyen/gioithieu?dDocName=TAND017714 , truy cập ngày 12/07/2021.
1
Trang 7Như vậy, cơ cấu tổ chức của TAND huyện Y rất chặt chẽ nên đã hoàn thành tốtnhiệm vụ trong việc giải quyết án mà đặc biệt là loại án về hôn nhân và gia đình Đểđáp ứng yêu cầu giải quyết số lượng án tăng hằng năm và tính chất, mức độ vụ ánngày càng phức tạp, trong những năm vừa qua TAND huyện Y đã chú trọng công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán Hiện nay, ở TANDhuyện Y đã có 04 cán bộ theo học cao học tại Hà Nội và có 02 cán bộ đã có chứng chỉTrung cấp lí luận chính trị.
Về nhiệm vụ, quyền hạn
Theo quy định tại Điều 44 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, TAND huyện
Y có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
(1) Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật
(2) Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật
II Lý do lựa chọn nội dung của báo cáo thực tập
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụtrọng tâm là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vìdân Để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa cần có những gia đình mới và nhữngcon người mới, đó là đòi hỏi tất yếu khách quan
Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội.Không có gia đình tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồntại và phát triển được Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, màcòn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nên nhân cáchcon người Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và
cơ cấu dân cư của quốc gia Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải quanhững biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặcđiểm mới, hiện đại và tự do hơn Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập vàgiao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đìnhViệt Nam Nhận thức gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với quá trìnhphát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm công tác chăm lo xây dựnggia đình bằng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể
Kế thừa và phát huy thành tựu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm
1986 và năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014 là bước tiến mới, cónhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến
bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và pháthuy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Bên cạnh đó, quy trình tố tụng dân sựtại Tòa án được quy định trong BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi căn bản theo hướngbảo đảm cho việc giải quyết các vụ án dân sự, trong đó có hôn nhân và gia đình, đượcnhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật
Xuất phát từ những yếu tố trên, khi thực tập tại cơ sở thực tập, em lựa chọn tiếpcận sâu hơn về thực tiễn thực thi thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
2
Trang 8HN&GĐ tại TAND huyện Y với đề tài: “Thực tiễn giải quyết các vụ án về hôn nhân
và gia đình theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa án địa phương”.
NỘI DUNG CHƯƠNG I ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG BÁO CÁO THỰC TẬP CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP
1.1 Đặc thù của vụ án hôn nhân và gia đình
Tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích từ ngữ:
“1 Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn
2 Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyếtthống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhautheo quy định của Luật này.”
Từ quy định và giải thích cơ bản đó cùng với thực tế cuộc sống chúng ta có thểrút ra những đặc thù riêng của những vụ án hôn nhân và gia đình như sau:
Một là, những quan niệm, chuẩn mực đạo đức là tiền đề tư tưởng cho pháp luật.
Tuy nhiên, không có vụ án, vụ việc nào có mối quan hệ mật thiết với đạo đức nhưnhững vụ việc về hôn nhân và gia đình Điều này cho thấy pháp luật hôn nhân và giađình đã thừa nhận tập quán đạo đức, thuần phong mỹ tục trong quan hệ hôn nhân giađình của người Việt Nam
Hai là, hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam giới và một người
phụ nữ thành vợ chồng, quan hệ này dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bìnhđẳng theo quy định của pháp luật
Ba là, gia đình là một khái niệm rộng hơn khái niệm hôn nhân Gia đình là một
hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngườitrong đó hôn nhân là một trong những cơ sở để hình thành nên gia đình Gia đình làtập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau Do vậy, giađình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội khác nhau thìtính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau
Bốn là, tính chất đặc thù của vụ án hôn nhân và gia đình, nhằm bảo vệ quyền
lợi chính đáng của vợ, chồng, con
1.2 Đặc điểm thẩm quyền dân sự theo loại việc về tranh chấp HN&GĐ của Tòa án 2
Thứ nhất, thẩm quyền dân sự theo loại việc về tranh chấp hôn nhân gia đình
của Tòa án phát sinh khi có yêu cầu của đương sự và bị giới hạn bởi phạm vi yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Điều này thể hiện tính chất
bình đẳng, quyền tự định đoạt của đương sự trong các tranh chấp dân sự nói chung,
2 Nguyễn Hoàng Bảo Tuấn (2018), Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của Tòa án và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr 13-15.
3
Trang 9các tranh chấp HN&GĐ trong pháp luật dân sự nói riêng Tính chất bình đẳng là điểmrất đặc biệt trong việc xác định thẩm quyền giữa nhóm ngành luật tư và nhóm ngànhluật công Trong tố tụng hình sự, mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội là mốiquan hệ bất bình đẳng vì Nhà nước là bên mang quyền lực còn người phạm tội là kẻthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Do đó, pháp luật trao cho cơ quan điều traquyền tự phát động vụ án Còn trong tố tụng hành chính, để vụ án phát sinh cũng cần
có yêu cầu của đương sự nhưng yêu cầu này không có tính chất tự do, bình đẳng nhưtrong pháp luật tố tụng dân sự mà nó là một phương thức giải quyết khiếu kiện hànhchính, được tồn tại song song với cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính
Thứ hai, cơ sở pháp lý để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp HN&GĐ
của Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Mỗi cơ quan
nhà nước được pháp luật trao những quyền năng trong phạm vi nhất định để tránh sựlạm quyền, lộng quyền, cũng như chồng chéo về thẩm quyền giữa các CQNN Việcxác định những tranh chấp nào về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa ánphải tuân theo quy định của pháp luật TTDS nhằm đảm bảo Tòa án thực hiện đúngquyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của mình, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên đương sự
Thứ ba, việc xác định thẩm quyền của Tòa phải căn cứ vào quan hệ pháp luật
HN&GĐ mà các bên có tranh chấp Trong khi các tranh chấp trong các lĩnh vực kinh
doanh, thương mại, lao động thường gắn với quyền và nghĩa vụ về tài sản thì tranhchấp trong HN&GĐ thường gắn với quyền và nghĩa vụ về nhân thân Trong một số vụ
án về ly hôn, tòa án có thể giải quyết vấn đề liên quan về tài sản theo yêu cầu củađương sự nhưng thực chất quan hệ chính mà pháp luật hướng đến để giải quyết là quan
hệ về ly hôn, còn quan hệ về tài sản chỉ là quan hệ phụ
1.3 Tình hình giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình tại TAND huyện Y
Trong hoạt động tư pháp từ hoạt động của Tòa án là trung tâm có vai trò quantrọng trong hệ thống cơ quan tư pháp và Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhànước tiến hành hoạt động xét xử các loại án nói chung và án hôn nhân và gia đình nóiriêng Chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm trực tiếp giải quyết vụ án hôn nhân và gia đìnhmới được áp dụng các QPPL sao cho phù hợp và khoa học để giải quyết án hôn nhân
và gia đình trong khuôn khổ pháp luật Nhận thấy, giải quyết vụ án hôn nhân gia đìnhcũng tương tự như giải quyết vụ án dân sự nói chung, tuy nhiên có một số điểm khác
biệt cơ bản Trong giải quyết án hôn nhân gia đình, thường giải quyết cùng lúc ba
mối quan hệ: Mối quan hệ về tình cảm vợ chồng, mối quan hệ về con cái, mối quan
hệ về tài sản Mối quan hệ tài sản trong vụ án hôn nhân gia đình là một lĩnh vực trong
án dân sự nói chung
Trong những năm qua, việc áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân vàgia đình đã giải quyết được những mâu thuẫn bất hòa trong gia đình, đã bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, bên cạnh những mặt đã đạt đượctrong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết hôn nhân và gia đình vẫn còn những thiếusót, như có vụ án trong quá trình giải quyết còn để tồn đọng dây dưa kéo dài, có vụ bịsửa, hủy, đình chỉ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đương sự
Ở TAND huyện Y trong 3 năm trở lại đây, số lượng án hôn nhân và gia đình có
sự chênh lệch rõ rệt, mỗi vụ án có nội dung đa dạng và phức tạp khác nhau Đặc biệt
4
Trang 10là, trong năm 2020 và 6 tháng đầu năm 2021, với sự bùng phát của đại dịch
COVID-19 là khó khăn lớn từ khách quan mang lại, nên việc áp dụng pháp luật một cách linhđộng gặp nhiều rào cản Tuy vậy, quá trình giải quyết án hôn nhân và gia đình tạiTAND huyện Y đã đạt những kết quả nhất định, cụ thể như sau:
Theo số liệu thống kê của TAND huyện Y, năm 2018, thụ lý 233 vụ và giảiquyết, xét xử 233 vụ; năm 2019, thụ lý 132 vụ và giải quyết 89 vụ; năm 2020, thụ lý
211 vụ, giải quyết 211 vụ Trong 6 tháng đầu năm 2021, thụ lý 125 vụ và giải quyết 86
vụ
Đối với áp dụng pháp luật trong hòa giải thành:
Năm 2018 hòa giải thành 39/233 vụ; năm 2019 hòa giải thành 14/132 vụ; năm
2020 hòa giải thành 51/211 vụ; 6 tháng đầu năm 2021 hòa giải thành 21/125 vụ
Áp dụng pháp luật trong trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ vụ ánHN&GĐ
Năm 2018 là 38 vụ/ 233 vụ; năm 2019 là 12 vụ/ 89 vụ, năm 2020 là 21 vụ/211
án Hạn chế tiếp xúc với đương sự trong thời gian giãn cách là rất quan trọng và cầnthiết 100% các vụ án được thụ lý đều đúng thẩm quyền và thủ tục tố tụng, không có
vụ nào bị hủy án vì lý do sai sót trong thủ tục tố tụng dân sự; xấp xỉ 70% các vụ án đềuđược giải quyết sau khi thụ lý theo đúng trình tự và thời gian luật định
Số lượng vụ án hòa giải thành có số lượng rất lớn chủ yếu là Quyết định côngnhận thuận tình ly hôn và hòa giải thành, các quyết định hòa giải thành khác vềHN&GĐ không nhiều, chủ yếu nguyên nhân là do các đương sự không thể thỏa thuậnđược về tài sản chung, xác định trách nhiệm trả nợ chung, cấp dưỡng nuôi con chungkhi ly hôn Số lượng hòa giải thành các vụ án HN&GĐ là sự cố gắng không ngừng của
5
Trang 11TAND huyện Y trong công tác hòa giải, thể hiện trình độ năng lực, am hiểu pháp luậtcủa các Thẩm phán giải quyết, đặc biệt là thời gian dịch bệnh có diễn biến phức tạpnhư hiện nay.
Quá trình giải quyết sơ thẩm vụ án rất quan trọng, Tòa án trong quá trình ápdụng pháp luật để giải quyết vụ án, phải tuân thủ theo các bước của TTDS xây dựng
hồ sơ từ đầu, như thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh… Đối với vụ án HN&GĐ phứctạp, các đương sự tham gia khởi kiện, tính cách, trình độ, sự nhận thức xã hội, nghềnghiệp khác nhau nên đòi hỏi cách thức làm việc đối với từng vụ án cũng cần phải có
sự chuẩn bị khác nhau, nhưng cùng hướng đến mục đích cuối cùng là xét xử để đạtđược kết quả vụ án ở chất lượng cao nhất Khi xét xử Tòa án đã thực sự coi trọngphương châm hòa giải tại phiên tòa, tôn trọng quyền tự định đoạt, đảm bảo đượcquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy số lượng án về HN&GĐ trong nhữngnăm qua có chiều hướng không tăng cũng không giảm quá nhiều, nhưng cấp sơ thẩm
đã xét xử đạt được hiệu quả tốt nhất, số lượng án bị sửa, hủy gần như là không có
1.4 Ví dụ minh họa
1.4.1 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đượchiểu là mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng vẫn đang tồn tại, giữa họ không có yêucầu Tòa án giải quyết việc ly hôn mà chỉ yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồngxuất phát từ nhu cầu chính đáng của họ như để thực hiện nghĩa vụ về tài sản riêng hoặc
để thuận tiện cho các giao dịch riêng về tài sản Do vậy, nếu không thỏa thuận phânchia đượcthì trường hợp này pháp luật quy định là có tranh chấp về chia tài sản chungcủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và cũng là loại vụ án về HN&GĐ Các trườnghợp xảy ra tranh chấp về chia tài sản chung vợ, chồng trong thời kì hôn nhân bao gồm:
Trường hợp 1: Một bên vợ hoặc chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân nhưng bên còn lại không đồng ý chia
Trường hợp 2: Cả hai bên vợ chồng đều thống nhất được việc chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thỏa thuận được về phần tài sản đem chia,cách chia, v.v
Nếu giữa vợ chồng không có sự tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng mà
đã tự nguyện, thống nhất phân chia bằng văn bản và có yêu cầu Tòa án công nhận sựphân chia của họ về khối tài sản chung đó thì không thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án (hai bên đi công chứng) Trong trường hợp họ yêu cầu Tòa án công nhận sựthỏa thuận đó thì Tòa án không thụ lý vì không phải vụ án HN&GĐ quy định ở Điều
28 và cũng không phải việc HN&GĐ quy định tại Điều 29 Do vậy, cần hướng dẫnđương sự để họ liên hệ với cơ quan công chứng hoặc cơ quan hành chính nhà nước cóthẩm quyền để xác nhận Cần lưu ý là tranh chấp về chia tài sản chung trong thời kỳhôn nhân đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án nếu sau này có thỏathuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung thì được giải quyết theo trình tựviệc HN&GĐ theo quy định tại Khoản 7 Điều 29 BLTTDS.3
3 Chu Xuân Minh - Thẩm phán TAND Tối cao, Tài liệu tập huấn chuyên đề giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ngày 29/10/2018, tr.2
Xem tại: https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND048477 truy cập ngày 30/06/2021
6
Trang 12Ví dụ: Trong vụ án yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng giữa chị Nguyễn
Thị Minh A và anh Lương Văn H, đã được TAND huyện Y giải quyết ly hôn bằngquyết định thuận tình ly hôn số 55/2018/QĐST –HNGĐ ngày 09/4/2018 Trong thờigian là vợ chồng, vợ chồng chị A và anh H có những tài sản sau:
- 01 ngôi nhà 3 tầng xây năm 2015 nằm trên diện tích 132.2 m2.tại tờ bản đồ số
20, thửa số 506, vị trí thửa đất tại thôn Bắc Kênh Cầu, xã Đồng Than, huyện Y, tỉnh H.Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ sửdụng là anhLương Văn H và chị Nguyễn Thị Minh A Nguồn gốc mảnh đất do vợ chồng ôngLương Văn H và bà Lê Thị T là bố mẹ đẻ anh H cho
- 01 chiếc ô tô Trung Quốc biển kiểm soát 89C –13027 mang tên Lương Văn Hmua năm 2017 trị giá 140.000.000đồng, anh H đã bán chiếc xe này được97.000.000đồng, anh H đã trả Ngân hàng được 82.500.000đồng, số tiền còn lại là14.500.000đồng hiện anh H đang quản lý
=> Tại biên bản định giá tài sản ngày 02/8/2018 của Hội đồng định giá kết luận:-Về đất ở: 132.2m2 trị giá 2.000.000đ/m2= 264.400.000đ; 01 ngôi nhà 3 tầngtổng diện tích 231.3m2 và 01 lán tôn phía trước có diện tích 29.05m2 sau khi trừ khấuhao 6% còn lại trị giá 907.474.000đ; 01 bể nước cạnh nhà 8.73m3 sau khi trừ khấu hao6% còn lại là 9.615.000đ Vì vậy, tổng trị giá tài sản chung vợ chồng bao gồmcông trình xây dựng trên đất và đất: 1.181.479.000đ và 14.500.000đ hiện anh Hđang quản lý là: 1.195.979.000đ
-Về nợ: Ngày 11/01/2016, giữa Ngân hàng TMCP Q –Chi nhánh H (gọi tắt làNgân hàng) với vợ chồng chị NguyễnThị Minh A và anh Lương Văn H có ký hợpđồng tín dụng số 006/15/HĐHM/121 -11, theo đó Ngân hàng cho vợ chồng anh H, chị
A vay số tiền 250.000.000đ, thể hiện ở khế ước nhận nợ ngày 09/01/2017, mục đíchvay thanh toán tiền mua hàng, thời hạn vay 6 tháng từ tháng 09/01/2017, lãi suất10.5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn Để đảm bảo trả nợ giữa vợchồng chị A với Ngân hàng có ký hợp đồng thế chấp số 006/16/HĐTC–BĐS/121/ngày 11/01/2016 theo đó vợ chồng chị Anh thế chấp mảnh đất có số thửa
506, tờ bản đồ số 20, diện tích 132.2 m2và tài sản gắn liền với đất, vị trí thửa đất tạithôn Bắc Kênh Cầu, xã Đồng Than, huyện Y, tỉnh H Trong hợp đồng thế chấp thểhiện trong trường hợp vợ chồng anh Hùng và chị Anh không trả hoặc trả nợ không đầy
đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phátmại tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng chị A
và anh H đã trả được tổng số tiền 80.000.000đ (trong đó gốc 73.384.870 đ và nợ lãi là6.615.130 đ)
Tại thời điểm đó, chị Nguyễn Thị Minh A xác định hiện chị đã có chỗ ở ổnđịnh, đối với công trình xây dựng trên đất chị đề nghị Hội đồng xét xử giao cho anh Hđược quyền sở hữu, anh H có trách trả nợ ngân hàng và chị A theo quy định của phápluật Ông Mai Anh T xác định đến thời điểm ngày 19/3/2019, vợ chồng anh H còn nợtiền gốc là 176.615.130đ và lãi là 26.911.730đ
Quá trình giải quyết, tại Bản số 46/2019/HNGĐ-ST ngày 19/03/2019, đã xácđịnh tình trạng hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được bằng quyết định thuậntình ly hôn số 55/2018/QĐST –HNGĐ ngày 09/4/2018 là có cơ sở, phù hợp với quy
7