1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa

193 1,3K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa
Tác giả Nguyễn Đình Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Lâm Bá Nam, TS. Đào Thị Minh Hương
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Nhân Học Văn Hóa
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 5,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn, khóa luận, chuyên đề, đề tài, báo cáo,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

VÙNG ĐÔ THỊ HÓA

(Nghiên cứu trường hợp tại phường Định Công và xã Minh Khai, Hà Nội)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

VÙNG ĐÔ THỊ HÓA

(Nghiên cứu trường hợp tại phường Định Công và xã Minh Khai, Hà Nội)

CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC VĂN HÓA

MÃ SỐ: 62.31.65.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS LÂM BÁ NAM

2 TS ĐÀO THỊ MINH HƯƠNG

HÀ NỘI, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hànlâm Khoa học Xã hội Việt Nam; Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học xã hội, Viện Hànlâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi được học tậpcác chương trình nghiên cứu sinh khóa 2008 - 2012 và hoàn thành bản Luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cán bộ UBND và nhân dân hai địa bàn Luận

án nghiên cứu (phường Định Công, quận Thanh Xuân và xã Minh Khai, huyện TừLiêm, thành phố Hà Nội) đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhđiền dã, khảo sát thu thập tư liệu viết Luận án từ năm 2008-2012; các bạn sinh viênnăm thứ 4 (khóa 29) khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp tôithực hiện phỏng vấn bảng hỏi định lượng năm 2011

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tập thể giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS Lâm Bá Nam và TS Đào Thị Minh Hương đã tận tình hướng dẫn tôi

trong việc định hướng nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận nghiên cứu, thuthập tư liệu và những ý tưởng khoa học để tôi có thể hoàn thành tốt Luận án nghiêncứu này

Hà Nội, ngày 16 tháng 8 năm 2013

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Đình Tuấn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận án tiến sĩ “Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa” (Nghiên cứu trường hợp tại phường Định Công và xã Minh

Khai, Hà Nội) là do tôi viết Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực vàchưa từng được ai công bố

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 16 tháng 8 năm 2013

Tác giả viết Luận án

Nguyễn Đình Tuấn

Trang 5

Trang

Trang 6

MỞ ĐẦU

1

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án 2

1.2.2 Một số lý thuyết nghiên cứu về biến đổi văn hóa 26

CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI KINH TẾ, XÃ HỘI Ở PHƯỜNG ĐỊNH CÔNG VÀ

XÃ MINH KHAI - CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI VĂN HÓA

36

2.1.1 Phát triển đô thị ở Hà Nội trước thời kỳ Đổi mới 362.1.2 Phát triển đô thị ở Hà Nội từ 1986 đến nay 39

2.2.1 Định Công và Minh Khai trong quá trình hình thành và phát triển 412.2.2 Định Công và Minh Khai trong quá trình đô thị hóa 51

CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA Ở PHƯỜNG ĐỊNH CÔNG VÀ XÃ MINH

KHAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

68

3.1.3 Biến đổi trong quan hệ hàng xóm, láng giềng 82

Trang 7

3.2.1 Trong hôn nhân 923.2.2 Trong quan niệm về số con và giá trị con trai 101

3.4 Biến đổi trong tổ chức lễ hội và sử dụng thời gian rỗi vào

giải trí

113

3.4.2 Biến đổi trong sử dụng thời gian rỗi vào giải trí 119

4.3 Gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo 136

Danh mục các công trình đã công bố của tác giả 140

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.2 Loại nhà tắm các hộ gia đình tại hai địa bàn nghiên cứu sử dụng

Bảng 2.5 Đánh giá về tình trạng thanh, thiếu niên mắc vào các tệ nạn xã

Bảng 3.1 Số thế hệ sống trong gia đình hiện nay và 10 năm trước ở Định

Bảng 3.2 Đánh giá của người dân về các mối quan hệ trong gia đình hiện

Bảng 3.3 So sánh các hoạt động của dòng họ ở Định Công và Minh Khai

hiện nay so với 10 năm trước

7 8

Bảng 3.4 Mức độ nhờ sự giúp đỡ của họ hàng khi gia đình có việc lớn

Bảng 3.5 Mức độ nhờ hàng xóm giúp đỡ khi gia đình có công việc quan

trọng

89

Bảng 3.6 Khoảng tuổi kết hôn lần đầu trước năm 2002 và từ 2002 đến nay

Bảng 3.11 Mức độ sử dụng thời gian rỗi hiện nay và 10 năm trước vào các

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Mức độ xem tivi cùng của các thành viên trong gia đình hiện

Hình 3.2 So sánh giữa hai địa bàn nghiên cứu khi đánh giá về mối quan

hệ hàng xóm, láng giềng hiện nay so với 10 năm trước 83

Hình 3.3 Đánh giá về tính gắn kết cộng đồng hiện nay so với 10 năm

Hình 3.4 Tuổi kết hôn trung bình thành thị, nông thôn và kết quả của

Hình 3.6 Đánh giá về tổ chức đám cưới hiện nay so với 10 năm trước ở

Hình 3.7 Đánh giá về tổ chức đám tang hiện nay so với 10 năm trước ở

Hình 3.8 Mức độ thường xuyên (hàng ngày) sử dụng thời gian rỗi vào

việc giải trí thông qua truyền thông hiện nay và 10 năm trước 120

Hình 3.9 So sánh giữa kết quả khảo sát tại hai địa bàn nghiên cứu về

mức độ thường xuyên (hàng ngày) sử dụng thời gian rỗi vào

Trang 10

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 3.2 Khả năng thích nghi với những thay đổi trong sinh hoạt của

Hộp 3.8 Sử dụng thời gian rỗi đi “shopping” của người dân vùng đô thị

hóa

12 4

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Đô thị hóa là một quy luật tất yếu của quá trình phát triển xã hội và diễn ra ởtất cả các quốc gia trên thế giới Quá trình đô thị hóa thường diễn ra theo hai giaiđoạn, giai đoạn đô thị hóa theo chiều rộng và đô thị hóa theo chiều sâu Đô thị hóatheo chiều rộng diễn ra tại các quốc gia có nền công nghiệp đang phát triển Tại đó

có sự tăng lên về số lượng đô thị, sự mở rộng lãnh thổ của các đô thị và sự gia tăngdân số Còn đô thị hóa theo chiều sâu diễn ra ở các nước có nền công nghiệp pháttriển và các quốc gia này hầu hết đã trải qua giai đoạn đô thị hóa theo chiều rộng Đôthị hóa theo chiều sâu chú ý đến chất lượng tiêu chuẩn sống, tính đa dạng của cáckiểu mẫu văn hóa và nhu cầu hưởng thụ của cư dân đô thị… Việt Nam nằm trongnhóm các nước có nền công nghiệp đang phát triển, do đó, đô thị hóa ở nước ta hiệnnay chủ yếu diễn ra theo chiều rộng và có những đặc trưng riêng của Việt Nam

Ở Việt Nam, từ cuối những năm 90 trở lại đây, quá trình đô thị hóa diễn rangày càng rộng về quy mô và nhanh về tốc độ Quá trình đô thị hóa nhanh đã làmnhiều vùng nông thôn trở thành đô thị và sự mở rộng lãnh thổ của nhiều đô thị lớnnhư thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng… Đô thị hóa diễn ra kéotheo những biến đổi trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội từ cơ cấu tổ chức xãhội, phương thức sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, phân bố dân cư cho đến đời sốngvăn hóa của người dân vùng đô thị hóa Về thực chất thì đây là quá trình dẫn đếnnhững thay đổi trong cơ cấu tổ chức xã hội nông thôn sang tổ chức xã hội đô thị, từhoạt động nông nghiệp là chủ yếu sang hoạt động phi nông nghiệp và từ nhữngkhuôn mẫu của đời sống văn hóa nông thôn sang văn hóa đô thị Những tác động của

đô thị hóa đã và đang tạo nên một bức tranh đa dạng về vùng đô thị hóa

Cùng với tốc độ đô thị hóa của cả nước, quá trình đô thị hóa ở Hà Nội trongnhững năm gần đây cũng đang diễn ra một cách nhanh chóng Quá trình này đã khiếnnhiều khu vực ven đô chuyển thành nội đô và nhiều làng xã trở thành phố phường.Quá trình đô thị hóa một mặt đã có những tác động tích cực làm thay đổi bộ mặt của

Trang 12

vùng ven đô về cơ sở hạ tầng và nâng cao mức sống cho người dân nơi đây Mặtkhác, quá trình này cũng đang có những tác động tiêu cực và đặt ra những thách thứcđến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống cộng đồng cư dân ven đô Đó là nhữngvấn đề liên quan đến chuyển đổi nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường, bảo đảm an ninh,gia tăng tệ nạn xã hội, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa tinh thầncủa người dân ven đô Điều này cũng đã được khẳng định ở một số công trìnhnghiên cứu, trong đó nhấn mạnh “sự mở rộng các khu công nghiệp, khu dân cư, cácquận, huyện mới vừa tạo ra tiền đề cho sự phát triển của Hà Nội trong tương lai, vừalàm nảy sinh những mặt trái của xã hội mà lĩnh vực văn hóa xã hội thường gánh chịunhững hậu quả nặng nề nhất” [87, tr.43] Chính vì vậy, nếu như không có một địnhhướng đúng đắn và hợp lý về phát triển văn hóa ở vùng chịu tác động của đô thị hóatrên cơ sở nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa của những vùng này sẽ dẫn đến

sự mất cân đối trong phát triển và mất đi những giá trị văn hóa tốt đẹp Xuất phát từ

lý do trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa” (Nghiên cứu trường hợp tại phường Định Công và xã Minh Khai,

Hà Nội) làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục đích nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu tìm hiểu một số biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đôthị hóa dưới tác động của quá trình đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội Từ kết quảnghiên cứu đề xuất một số kiến nghị để có thể khuyến khích những yếu tố tích cực vàgiảm thiểu yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa ở những vùng đang chịu sự tácđộng của quá trình đô thị hóa

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biến đổi văn hóa ở cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa trong bối cảnh đô thịhóa và biến đổi kinh tế - xã hội

3.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân sống ở phường Định Công, quận Hoàng Mai và xã Minh Khai,huyện Từ Liêm, Hà Nội

Trang 13

3.3 Phạm vi nghiên cứu

* Về thời gian

Luận án nghiên cứu quá trình biến đổi văn hóa ở phường Định Công và xãMinh Khai diễn ra kể từ sau khi có Quyết định 543/TTg ngày 12 tháng 8 năm 1996của Chính phủ về thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Định Công và Quyếtđịnh số 156/QĐ-UB ngày 08/01/2004 của UBND thành phố Hà Nội về thu hồi,chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Minh Khai đến thời điểm nghiên cứu Cụ thể ởđây là từ 1996 đối với phường Định Công và năm 2004 đối với xã Minh Khai Đây

là thời điểm mà phường Định Công và xã Minh Khai bị thu hồi một phần lớn diệntích đất nông nghiệp để phục vụ mục đích phi nông nghiệp

* Về không gian

Nghiên cứu được thực hiện tại 2 cộng đồng dân cư ở thành phố Hà Nội cóđiểm khác nhau về thời gian chịu tác động của quá trình đô thị hóa đó là:

- Phường Định Công - quận Hoàng Mai Trước năm 90 đây vẫn là xã ven đô

và nằm giáp ranh giữa vùng đô thị và nông thôn Năm 1996, Định Công bị thu hồi 35

ha đất nông nghiệp để phục vụ cho xây dựng khu đô thị mới Định Công (đây là dấuhiệu cho thấy sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa đến Định Công) Về mặthành chính, đến năm 2004, Định Công từ xã được chuyển thành phường

- Xã Minh Khai - huyện Từ Liêm Là xã nằm giáp ranh giữa quận Cầu Giấy

và huyện Từ Liêm Năm 2004, xã Minh Khai có quyết định thu hồi 20 ha đất nôngnghiệp để phục vụ nhiệm vụ xây dựng khu công nghiệp vừa và nhỏ (đây cũng là thờiđiểm xã Minh Khai chịu sự tác động mạnh mẽ của đô thị hóa) Về mặt hành chính,Minh Khai hiện nay vẫn là xã

Bên cạnh lý do lựa chọn hai địa bàn nghiên cứu này vì có sự khác nhau vềthời gian chịu tác động của đô thị hóa và khác nhau về mặt quản lý hành chính(phường và xã) để nghiên cứu so sánh, thì còn do cả Định Công và Minh Khai đềunằm ở cửa ngõ dẫn vào trung tâm Hà Nội Do đó, sẽ chịu những tác động tương đồngcủa qúa trình đô thị hóa như bị chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp nhanh, thay đổi

cơ cấu kinh tế nhanh và có khả năng giao lưu văn hóa với vùng nội đô thuận lợi hơn(do đều nằm ở vùng giáp ranh giữa nội và ngoại đô)

Trang 14

* Vấn đề nghiên cứu

Văn hóa là một khái niệm rộng và đa dạng, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứucủa luận án, nghiên cứu sinh chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một số khía cạnh củabiến đổi văn hóa đặt trong bối cảnh đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội, đó là:

Quan hệ ứng xử gia đình, dòng họ và cộng đồng;

Một số giá trị trong hôn nhân, gia đình;

Phong tục tập quán (lễ hội, cưới xin, ma chay);

Sử dụng thời gian rỗi vào giải trí

4 Đóng góp của luận án

Luận án góp phần làm rõ thêm cách thức vận dụng các lý thuyết như: biến đổi

xã hội, biến đổi văn hóa, cơ cấu chức năng, cấu trúc văn hóa vào nghiên cứu biến đổivăn hóa dưới tác động quá trình đô thị hóa

Bổ sung những ý tưởng mới cho việc nghiên cứu về biến đổi văn hóa, nhất làbiến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay từ cách tiếp cận củangành nhân học văn hóa Cụ thể là cách tiếp cận lịch đại và đồng đại trong nghiêncứu so sánh văn hóa Nghiên cứu lịch đại thể hiện trong việc so sánh ý kiến (trảinghiệm) của cá nhân, nhóm (theo độ tuổi, địa phương nghiên cứu) về các đặc điểmvăn hóa từng giai đoạn, từ đó thấy được những biến đổi văn hóa dưới tác động của

đô thị hóa Nghiên cứu đồng đại thể hiện qua việc so sánh (về tốc độ biến đổi, mức

độ biến đổi các lớp văn hóa: hành vi, chuẩn mực, giá trị) biến đổi văn hóa ở hai địaphương nghiêu cứu tại cùng thời điểm - hiện tại và đặt vấn đề nghiên cứu trong bốicảnh đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Hai cách tiếpcận này giúp làm rõ hơn sự tác động của đô thị hóa lên biến đổi văn hóa và biến đổivăn hóa như hệ quả của đô thị hóa

Luận án góp phần biện giải những biến đổi văn hóa theo các lớp văn hóa(hành vi, chuẩn mực, giá trị) trong quá trình đô thị hóa và biến đổi kinh tế - xã hội ởnước ta hiện nay Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp cho cácnhà hoạch định, thực thi chính sách có thêm một góc nhìn về sự thay đổi trong đờisống văn hóa của cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa ở nước ta hiện nay, đặc biệt là ở

Hà Nội (chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi; những mặt tích cực và tiêu cực của qúa

Trang 15

trình biến đổi) qua đó có cơ sở để đưa ra các chính sách, hình thức quản lý phù hợpnhằm phát triển tích cực và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển củangười dân vùng chịu tác động của quá trình đô thị hóa.

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa về mặt ghi nhận đời sống văn hóa của cộngđồng dân cư tại địa danh cụ thể qua từng mốc thời gian và có thể là nguồn tài liệutham khảo cho sinh viên và học viên cao học, những người nghiên cứu về đặc điểmvăn hóa đặc thù của từng địa phương

5 Nguồn tài liệu của luận án

Tài liệu được sử dụng chính trong Luận án là các tài liệu điền dã, khảo sátgồm: tài liệu phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phiếu hỏi, các ghi chép được từ quansát; báo cáo tổng kết của các ban ngành đoàn thể và số liệu thống kê của hai địaphương khảo sát (phường Định Công và xã Minh Khai); kế thừa nguồn tài liệu đãđược các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước công bố

các yếu tố tác động đến biến đổi văn hóa

Chương 3: Biến đổi văn hóa ở phường Định Công và xã Minh Khai trong quá

trình đô thị hóa

Chương 4: Kết quả và bàn luận

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Biến đổi văn hóa được coi là quá trình vận động của mọi xã hội và là đốitượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có nhân học Nhân học nghiêncứu biến đổi văn hóa tập trung nhiều vào việc so sánh sự giao lưu văn hóa Tronglịch sử phát triển của nhân loại trên thế giới đã trải qua những tranh luận về học thuậtgắn liền với những học thuyết như: thuyết tiến hóa văn hóa của Edward B Tylor(1871), thuyết truyền bá văn hóa của G Elliot Smith (1919), thuyết vùng văn hóa củaC.L Wissler (1923), thuyết tiếp biến văn hóa mà đại diện Redfield (1934)…

Ngày nay dưới tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, biếnđổi văn hóa đã được nhiều nhà Nhân học để cập nhiều trong các công trình nghiêncứu Quá trình toàn cầu hóa được các nhà nhân học nhìn nhận như những dòng chảyvăn hóa, trong đó yếu tố kinh tế, chính trị, thể chế định hình hoặc bị định hình bởinhững dòng chảy này (Edelman Marc, Angelique Haugerud, 2004) Các nhà nhânhọc cho rằng, dòng chảy văn hóa đã có những tác động không nhỏ đến kinh tế vàchính trị của các quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa Do đó, các khái niệm: dòngchảy văn hóa, sự tương tác văn hóa, xung đột hay va chạm văn hóa… đã được cácnhà nhân học như Kearney, Arjun Appadurai và Anna Tsing đặt vào trọng tâmnghiên cứu về biến đổi văn hóa

Biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa được xem là một quá trình biếnđổi phức tạp và đa chiều Nghiên cứu về vấn đề này, khía cạnh được nhiều học giảnước ngoài quan tâm là sự lưỡng phân giữa hệ thống kinh tế công nghiệp và kinh tếnông nghiệp; sự lưỡng phân và tiếp nối giữa đô thị và nông thôn; và những biến đổitrong cấu trúc xã hội nông thôn Sự biến đổi của cấu trúc xã hội nông thôn luôn điliền với biến đổi của hệ thống giá trị, điều này đã được chỉ ra trong công trình nghiên

cứu về “Tác động của đô thị hóa đến quá trình nông nghiệp” của Gerald F.Winfield

Trang 17

(1973) và “Đô thị hóa ở nông thôn: một khung phân tích” của G.J.Lewis và

D.J.Maund (1976) Theo hai tác giả này, khi biến đổi cấu trúc của xã hội nông thôn,giá trị truyền thống dần dần bị chuyển đổi và một số giá trị mang tính địa phươngriêng biệt sẽ dần bị đồng dạng trên diện rộng Cùng nghiên cứu về sự lưỡng phân vàtiếp nối giữa đô thị và nông thôn nhưng một số tác giả như Jonathan Rigg (1994),

trong công trình “xác định lại khái niệm làng và cuộc sống nông thôn: những bài

học từ Đông Nam Á” và Holloway, Lewis và Moya Kneafsey (2004), “địa lý học về văn hóa và xã hội khu vực nông thôn” lại tập trung nghiên cứu và phân tích ở cấp độ

làng Kết quả nghiên cứu của các tác giả này đều đưa ra nhận định chung rằng, làngtrong các giai đoạn biến đổi thể hiện giống như cầu nối giữa nông thôn và đô thị, ở

đó diễn ra sự cấu trúc lại các mặt của đời sống từ kinh tế đến văn hóa xã hội vàkhông gian sống Mặc dù ở những làng vẫn còn tính tự trị nhưng đã có sự cởi mở vàlinh hoạt hơn

Từ một hướng tiếp cận khác xem xét về tác động của đô thị hóa đến đời sống

văn hóa, xã hội, Louis Wirth (1938), trong công trình nghiên cứu “Đặc trưng đô thị

như là một lối sống” đã mô tả về ảnh hưởng của đô thị hóa đến các khía cạnh của đời

sống xã hội Theo Louis Wirth, một trong những biến đổi rõ nét nhất do đô thị hóamang lại là sự biến đổi lối sống Trong công trình này Louis Wirth cũng chỉ ra rằng,

là nơi ngày càng tập trung đông dân cư với mật độ dân số cao - đô thị là nơi có sự đadạng xã hội và sự suy giảm các mối quan hệ gần gũi giữa các cá nhân Các quan hệ

xã hội ở đô thị thường mang tính tạm thời, ẩn danh, hời hợt và thu hẹp của quan hệhàng xóm láng giềng… Trong gia đình ở đô thị cũng thường có ít con hơn và quan

hệ gia đình lỏng lẻo hơn so với nông thôn

Ngoài ra, Louis Wirth còn cho rằng, đời sống thành thị dựa trên việc có một

số lượng lớn những người sống gần nhau mà không thực sự biết rõ về nhau Điều nàykhiến họ phải kiểm soát những sự vụ mang tính công cụ và bỏ qua những cuộc chạmtrán dẫn tới những mối quan hệ hời hợt, tạm thời và cạnh tranh Từ đây đi ra cảmgiác về sự xa lạ và bất lực Tuy nhiên, Wirth cũng chỉ ra cách người dân thành phốhình thành những liên kết với nhau dựa trên cách sống, văn hóa và tính sắc tộc [121,tr.523-524]

Trang 18

Vào những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX, các nhà nhân học Mỹ tập trungnghiên cứu nhiều hơn về biến đổi văn hóa và hiện đại hóa ở các nước thế giới thứ ba

và ở Mỹ Trong đó, nghiên cứu của Louise S.Spindler (1977) ở mô hình lớn của biếnđổi văn hóa xã hội đã xác định ba cấp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) trongnhững quá trình biến đổi đa dạng và Louise S.Spindler quan tâm đến những tác nhângây ra sự biến đổi nhìn cả từ trong và ngoài hệ thống Ở những mô hình nhỏ hơn,Louise S.Spindler đã phân tích sự đổi mới, truyền bá, sinh thái, tiếp biến văn hóa vàcông nghiệp hóa - hiện đại hóa cùng các khía cạnh biến đổi tâm lý - văn hóa cộngđồng [10, tr.19] Tính biến đổi song hành cùng với tính bền bỉ của văn hóa cũng là

chủ đề mà Louise S.Spindler đề cập trong công trình nghiên cứu của mình về “Biến

đổi văn hóa và hiện đại hóa: những hình mẫu nhỏ và nghiên cứu trường hợp” Qua

đó Louise S.Spindler khẳng định biến đổi văn hóa trong hiện đại hóa là quá trình đadạng về cả mô hình lẫn cấp độ

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa trên thế giới chothấy vấn đề này đã được các học giả nước ngoài quan tâm từ khá sớm Các côngtrình nghiên cứu trong những thập kỷ gần đây đã chỉ ra rằng, dưới tác động của quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đã dẫn đến những biến đổi văn hóa

Và biến đổi văn hóa là một xu hướng tất yếu, nó diễn ra khá đa dạng

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, vấn đề đô thị hóa và những tác động của nó đến đời sống xã hộiluôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, từ Trung ương đến địa phương,

từ các nhà lãnh đạo đến các nhà quản lý và từ giới khoa học tự nhiên đến khoa học

xã hội, Sở dĩ có sự quan tâm như vậy là do quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nayđang diễn ra khá nhanh chóng và tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đờisống xã hội Đô thị hóa kéo theo nó là sự chuyển đổi cơ cấu tổ chức xã hội, thay đổiquy mô dân số, cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa, lối sống và làm nảy sinh nhiều vấn đềđáng quan tâm khác

Trong lĩnh vực nghiên cứu về đô thị hóa, văn hóa đô thị và biến đổi văn hóacho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu có liên quan

Trang 19

Trần Văn Bính (1997) trong công trình nghiên cứu về “Văn hóa trong quá

trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay” đã đề cập đến một số khía cạnh văn hóa trong

quá trình đô thị hóa ở nước ta như vấn đề phát huy nhân tố văn hóa, quản lý vănhóa… và vai trò của văn hóa trong quá trình đô thị hóa Tác giả chỉ ra những khókhăn, thiếu thốn về vật chất tại các đô thị đã tác động không tốt tới đời sống tinh thầncủa người dân Việc thiếu thốn các địa điểm vui chơi, giải trí, hội hè làm cho cáccuộc giao tiếp có tính cộng đồng ở thành phố ít được diễn ra Chuyển từ đời sốngnông thôn sang đô thị cũng làm cho các quan hệ tình làng nghĩa xóm, quan hệ huyếttộc và các mối quan hệ trong gia đình bị suy giảm Sự suy giảm các mối quan hệ này

có nhiều yếu tố tác động, trong đó phải kể đến không gian sống và sinh hoạt của giađình Khi không gian sống bị thu hẹp cùng với sự bận rộn trong công việc của mỗithành viên trong gia đình đã làm cho các mối quan hệ họ hàng, quan hệ cha mẹ concái bị giảm sút

Xem xét văn hóa đô thị dưới góc độ biến đổi, tác giả Nguyễn Thanh Tuấn

(2006) trong sách: “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay” đã đi vào phân tích

sự biến đổi văn hóa đô thị trong thời kỳ đổi mới và chỉ ra những nhân tố thúc đẩybiến đổi văn hóa, xu hướng biến đổi văn hóa đô thị nước ta hiện nay Theo tác giả, có

6 cơ sở để thúc đẩy biến đổi văn hóa đô thị đó là: các nhân tố biến đổi kinh tế; cácnhân tố biến đổi khoa học và kỹ thuật - công nghệ; tư tưởng đóng vai trò thúc đẩy,đổi mới hoặc kìm hãm biến đổi văn hóa; phát triển dân số về quy mô cơ cấu, chấtlượng tác động đến sự biến đổi văn hóa đô thị; biến đổi thiết chế xã hội - văn hóatheo hướng phát triển nhiều dạng thiết chế Nhà nước và của xã hội; và cuối cùng là

sự giao lưu văn hóa với các thành phố, các tỉnh trong và ngoài nước sẽ tăng cườngnăng lực truyền bá những dạng văn hóa mới Bên cạnh đó, Nguyễn Thanh Tuấn cũngcho rằng, việc mở rộng diện tích và hiện đại hóa nội thất làm thay đổi nhiều thóiquen sinh hoạt của các gia đình khá giả Kiểu kiến trúc nhà cao tầng ở đô thị hiện nay

đã làm “mở rộng cách thức và sở thích sinh hoạt riêng tư, và làm giảm các quan hệgiao tiếp giữa các thành viên trong gia đình vốn đã được di truyền từ thế hệ này sangthế hệ khác” [108, tr.103] Nhận xét này của Nguyễn Thanh Tuấn có cùng quan điểmvới Trần Văn Bính (1997)

Trang 20

Không tập trung nhiều vào nghiên cứu văn hóa đô thị hay biến đổi văn hóa đô

thị như hai tác giả trên, Trịnh Duy Luân (1999) trong nghiên cứu “Những biến đổi

kinh tế - xã hội ở Dịch Vọng trong quá trình đô thị hóa từ làng, xã thành phường” đề

cập đến những biến đổi về kinh tế - xã hội tại Dịch Vọng Kết quả nghiên cứu chothấy, quá trình đô thị hóa ở Dịch Vọng đã dẫn đến sự gia tăng đột biến về dân số và

sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp nhanh chóng Sự gia tăng về dân số là do sự trở vềquê quán của tầng lớp cán bộ, bộ đội và nhất là dòng người nhập cư đông đảo: sinhviên và người lao động tự do Còn sự chuyển đổi nghề nghiệp từ sản xuất nôngnghiệp sang phi nông nghiệp là do việc mất đất canh tác, chuyển đổi chức năng sửdụng đất, từ đất canh tác sang đất xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị Theo tácgiả, việc mất đất canh tác là một hẫng hụt lớn đối với người nông dân, nhất là vớinhững gia đình từ nhiều đời nay gắn bó với ruộng đồng, với nghề nông [120, tr.46].Trong khi đó, họ lại chưa được chuẩn bị gì để bước vào đời sống kinh tế đô thị, vớicác ngành nghề phi nông nghiệp, đòi hỏi trình độ văn hóa, tay nghề và có thể cả vốnlớn Hơn nữa, thanh niên bước vào tuổi lao động chưa được trang bị vốn văn hóa,kiến thức, tay nghề để thích ứng với đòi hỏi lao động công nghiệp và các ngành nghềkhác Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thấtnghiệp và xuất hiện các tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút… Tuy nhiên, theo kếtquả nghiên cứu của tác giả, đời sống vật chất của người dân Dịch Vọng khá hơn sovới trước khi trở thành phường Phần lớn là do người dân nơi đây nhận tiền “đền bùđất, bán đất và có nhà cho thuê, chứ không phải do chuyển đổi nghề nghiệp hay pháttriển sản xuất, kinh doanh Mặc dù vậy, nếu người nông dân chỉ trông chờ vào số tiềntương đối lớn do được đền bù hay bán đất canh tác, đất thổ cư để cải thiện đời sốngvật chất trước mắt mà không đầu tư được vào sản xuất, mở mang ngành nghề, tạođiều kiện làm ăn lâu dài… thì con đường đó không đảm bảo cho bản thân các hộ giađình và cộng đồng sự phát triển bền vững Tìm hiểu về biến đổi trong đời sống vănhóa, tinh thần của người dân nơi đây cho thấy đã có sự thay đổi ít nhiều về nếp sống,nếp sinh hoạt hay việc tổ chức lễ cưới, lễ tang, Dù có sự thay đổi ít nhiều nhưngnhững mối quan hệ họ hàng, làng mạc truyền thống ở Dịch Vọng vẫn được gìn giữbảo tồn

Trang 21

Cùng nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa, nhưngkhông giống Trịnh Duy Luân khi chọn không gian nghiên cứu là làng, xã chuyển

thành phường, Nguyễn Hữu Minh (2003) trong công trình nghiên cứu “Biến đổi kinh

tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” đã chọn không gian

nghiên cứu là vùng ven đô Mặc dù, hai công trình được tiến hành nghiên cứu ởnhững không gian và thời gian nghiên cứu khác nhau, song giữa nơi chuyển đổi từlàng, xã thành phường và vùng ven đô ở Hà Nội dưới tác động của quá trình đô thịhóa có những điểm tương đồng trong quá trình biến đổi kinh tế - xã hội Đó là sựbiến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, mức sống, không gian sống và những khó khăntrong việc chuyển đổi việc làm của người dân ở những vùng này (trình độ học vấn,tay nghề thấp và thiếu vốn)

Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Hữu Minh cũng chỉ ra

sự chuyển biến quá đột ngột về hành chính có thể làm cho một bộ phận dân cư chưakịp chuẩn bị với những đòi hỏi của cuộc sống đô thị, dẫn đến những hẫng hụt Nhịpsống, cơ cấu xã hội và các mối quan hệ xã hội ở nông thôn có thể thay đổi một cách

cơ bản Bên cạnh sự thay đổi các chuẩn mực văn hóa cộng đồng là sự thay đổi thái

độ, hành vi và cách ứng xử của mỗi cư dân khu vực ven đô trong đời sống gia đình

và xã hội [119, tr.4] Tại vùng ven đô, hoạt động nông nghiệp có xu hướng giảm vàcác hoạt động phi nông nghiệp tăng Sự thay đổi này là do tác động của quá trình đôthị hóa, trong đó thể hiện rõ ở sự thay đổi chính sách vĩ mô của nhà nước, sự hìnhthành các khu công nghiệp, mạng lưới giao thông phát triển, sự thay đổi quyền sửdụng đất của dân cư, sự tồn tại các ngành nghề truyền thống của địa phương, thịtrường tiêu thụ và sự phát triển của khoa học và công nghệ Do có sự thay đổi trong

cơ cấu nghề nghiệp nên cơ cấu nguồn thu và mức sống của người dân vùng ven đôcũng thay đổi Đi cùng với những biến đổi về nghề nghiệp, cơ cấu nguồn thu và mứcsống là những biến đổi về kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng và môi trường Kết quảnghiên cứu của tác giả cho thấy, vùng ven đô đang diễn ra những biến đổi trong đờisống xã hội như biến đổi trong khuôn mẫu hôn nhân, đời sống tinh thần, quan hệ ứng

xử và sử dụng thời gian rỗi Theo tác giả, khi thu nhập tăng lên, đời sống được cảithiện người dân vùng ven đô đã chú trọng nhiều hơn đến đời sống tinh thần cũng nhưnâng cao trình độ học vấn Tính chất cộng đồng làng xã ở vùng ven đô vẫn được duy

Trang 22

trì Tuy nhiên, trong mối quan hệ hàng xóm, láng giềng cũng đang có những thayđổi, việc sang hàng xóm chơi vào những lúc nhàn rỗi không được thường xuyên nhưtrước đây Sự giao lưu cởi mở gần gũi với phong cách ứng xử xuề xoà, thân mật đãdần mất đi Thay vào đó là lối giao tiếp theo kiểu khép kín, tôn trọng cuộc sống cánhân [119, tr.11]

Có cùng lựa chọn không gian nghiên cứu là vùng ven đô Hà Nội, Phan Thị

Mai Hương (2010) trong công trình nghiên cứu “Những biến đổi tâm lý của cư dân

vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa”, đã chỉ ra những biến đổi trong đời sống tâm

lý của người dân ven đô dưới tác động của quá trình đô thị hóa Sự biến đổi đó diễn

ra không đồng đều giữa khía cạnh liên quan đến kinh tế và khía cạnh liên quan đếnvăn hóa, tinh thần Những mặt, những khía cạnh liên quan đến đời sống kinh tế có sựbiến đổi nhanh và mạnh mẽ, còn những mặt, những khía cạnh liên quan đến văn hóa,tinh thần thì biến đổi chậm hơn hoặc biến đổi theo chiều hướng tiêu cực [46, tr.321].Những kết luận này của tác giả cho thấy, dù tiếp cận dưới góc độ tâm lý học hay ởhướng tiếp cận khác thì những vùng đang chịu sự tác động của quá trình đô thị hóađều có những biến đổi ở các mặt trong đời sống xã hội

Nghiên cứu vùng ven đô nhưng là ngoại thành Hà Nội, tập thể tác giả Lê Du

Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa (2002) trong công trình “Ảnh hưởng của

đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội: thực trạng và giải pháp” đã phân tích

một cách khá bao quát những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến nông thônngoại thành Hà Nội Theo nhóm tác giả, quá trình đô thị hóa đã tác động và làm thayđổi mọi mặt của vùng ngoại thành từ cơ cấu kinh tế, dân số, lao động việc làm, đếnmôi trường sống Những tác động này vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêucực Để hạn chế những tiêu cực của đô thị hóa đến vùng nông thôn ngoại thành nhómtác giả đã đưa ra 7 nhóm giải pháp: 1/nhóm giải pháp quy hoạch phát triển kinh tế -

xã hội các huyện ngoại thành; 2/ nhóm giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn; 3/ nhóm giải pháp về dân số, lao động và việc làm; 4/ nhóm giải pháp về hạtầng kỹ thuật; 5/ nhóm giải pháp về môi trường sinh thái; 6/ nhóm giải pháp về quản lýhành chính; 7/ nhóm giải pháp về chính sách khác đối với nông thôn ngoại thành.Trong công trình này, mặc dù nhóm tác giả có đề cập đến ảnh hưởng của đô thị hóađến văn hóa ngoại thành Hà Nội [75, tr.131], tuy nhiên phần này còn khá ngắn gọn và

Trang 23

dường như không được nhóm tác giả đặt làm trọng tâm trong công trình nghiên cứunày Vì vậy, đây có thể coi là một điểm còn trống trong công trình nghiên cứu này.

Cùng chọn ngoại thành để nghiên cứu, Trần Đức Ngôn (chủ biên) trong công

trình “Văn hóa truyền thống ngoại thành Hà Nội dưới tác động của kinh tế thị

trường” đã chọn văn hóa làm đối tượng nghiên cứu Theo nhóm tác giả, trong nền

kinh tế thị trường hiện nay văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể ở ngoại thành HàNội đang có những thay đổi nhanh chóng Từ những kết quả nghiên cứu các tác giả

đã chỉ ra rằng “điều kiện và cơ cấu kinh tế thay đổi trực tiếp tác động đến quan hệ giađình, họ mạc, xóm giềng đã hình thành một lối sống năng động tích cực chủ động và

đề cao cá nhân Tuy nhiên, cũng chính ý thức đề cao đời sống của cái tôi cùng sựquyết đoán, độc lập đã khiến quan hệ gia đình, họ mạc trở nên lỏng lẻo, tinh thần và

ý thức trách nhiệm trong cộng đồng giảm bớt, tệ nạn xã hội vì thế có cơ hội pháttriển mạnh mẽ hơn” [74, tr.175]

Một nghiên cứu khác về biến đổi văn hóa có hướng tiếp cận nhân học văn hóa

phải kể đến là luận án của Trần Thị Hồng Yến (2011) “Những biến đổi về xã hội và

văn hóa ở những làng quê chuyển từ xã thành phường tại Hà Nội” Về phương diện

xã hội, từ những kết quả phân tích tại 3 làng là: làng Trung Kính Thượng (phườngTrung Hòa, quận Cầu Giấy), thôn Tây (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ), và làngThanh Trì (phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai) tác giả đã chỉ ra rằng, sau khichuyển đổi từ xã thành phường tại 3 làng đã có những thay đổi trong cơ cấu nghềnghiệp, cơ cấu tổ chức, môi trường sống, các quan hệ xã hội truyền thống và xuấthiện những tệ nạn xã hội Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa cũng có tác động dẫn đếnhiện tượng phân tầng xã hội ngày càng rõ rệt ở ba làng này Còn về phương diện vănhóa, tác giả cho rằng đô thị hóa theo phương thức chuyển từ xã thành phường đã làmnhiều di tích, nhiều yếu tố vật chất liên quan đến đời sống xã hội, tinh thần, tâm linhcủa cư dân các làng bị mất, bị biến dạng hoặc bị xâm hại, sử dụng sai mục đích Một

số di tích được phục dựng, cùng các di tích còn sót lại được tu bổ theo hướng làm to,làm mới, vừa làm mất đi những dấu tích và những giá trị về lịch sử văn hóa, vừa thiếutính thẩm mỹ Một số di tích bị các dãy nhà cao tầng bao vây, che kín làm mất đi vẻlinh thiêng, gây bất bình trong dư luận xã hội, nhất là các bậc cao niên Sự phục hồicủa các di tích đã làm “sống lại” hoạt động của các tổ chức phi quan phương gắn liền

Trang 24

với các di tích đó: Hội cụ ông, Hội cụ bà, Hội vãi Bên cạnh đó, các lễ hội cũng đượckhôi phục trở lại ở tất cả các làng [124, tr.189]

Ở một quần thể nghiên cứu rộng hơn so với Trịnh Duy Luân, Nguyễn HữuMinh, Phan Thị Mai Hương và Trần Thị Hồng Yến, hai tác giả Nguyễn Ngọc Thanh

và Nguyễn Thế Trường trong công trình nghiên cứu “Tác động của đô thị hóa - công

nghiệp hóa tới phát triển kinh tế và biến đổi văn hóa - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc” cùng

lấy sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội trong quá trình đô thị hóa làm đối tượngnghiên cứu Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy, dưới tác động của quátrình đô thị hóa đã làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp là chủyếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ Quá trình này làm thay đổi sự phân bố dân

cư, cơ cấu lao động ở Vĩnh Phúc Phân tích về biến đổi văn hóa, các tác giả đã chiavăn hóa thành hai dạng (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) Ở khía cạnh văn hóavật chất, nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy, có những thay đổi nhanh chóngtrong nhà ở, đồ dùng, phương tiện đi lại và ăn uống Trong khi đó, ở khía cạnh vănhóa tinh thần quá trình đô thị hóa không làm mất đi những nhu cầu về sinh hoạt tínngưỡng, văn hóa, lễ hội, nghi lễ đời sống theo truyền thống mà còn thúc đẩy sự phụchồi và cải biên các hoạt động đó cho phù hợp đời sống hiện đại Mặc dù không đặtvấn đề dòng họ, hôn nhân và gia đình dưới góc nhìn văn hóa như nhiều công trìnhnghiên cứu khác mà đặt dưới góc nhìn thiết chế xã hội, nhưng kết quả nghiên cứucủa nhóm tác giả cũng cho thấy, dưới tác động của quá trình đô thị hóa các mối quan

hệ họ hàng, gia đình đang có những thay đổi

Nghiên cứu văn hóa đô thị từ góc độ lối sống, Lê Như Hoa đã có những công

trình nghiên cứu về lối sống đô thị như: “Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay” (1993); “Lối sống đô thị miền Trung mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” (1996); và

“Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại” (2003) Các công trình này đã tập trung

vào phân tích lối sống đô thị và đưa ra những nhận xét về lối sống đô thị nước ta hiện

nay Trong cuốn “Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay”, tác giả đã bàn về lối

sống đô thị giai đoạn trước bao cấp, giai đoạn bao cấp và giai đoạn kinh tế thịtrường Nếu như ở đô thị trước kia, mối quan hệ cộng đồng khác với làng quê là lỏnglẻo thì trong thời kỳ bao cấp, chúng ta đã xây dựng được một lối sống theo địnhhướng của chủ nghĩa tập thể, giàu lòng nhân ái, có sự quan tâm lẫn nhau giữa người

Trang 25

với người; mối quan hệ cá nhân với phường, khóm, khu nhà ở tập thể được gia tăng.Nếp sống văn minh, trật tự nơi công cộng được đẩy mạnh, thuần phong mỹ tục củadân tộc được chú ý… Song nền kinh tế bao cấp cũng đã tạo ra cho con người có lốisống ỷ lại, trì trệ và thiếu trách nhiệm với cộng đồng [35, tr.10] Còn khi đất nướcchuyển sang nền kinh tế thị trường bên cạnh những thành tựu đạt được trong đờisống kinh tế - xã hội thì nó cũng làm cho lối sống đô thị có những thay đổi nhanhchóng Theo tác giả, trong xã hội biến động ở nước ta hiện nay, lối sống đô thị đang

bị phân hóa mạnh Lối sống của đô thị luôn bị đan xen những yếu tố tích cực và tiêu

cực Nhận định này được tác giả nhấn mạnh hơn trong cuốn sách “Lối sống đô thị

miền Trung mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” Tác giả đã viết: “Việc hình thành và

phát triển lối sống đô thị ở nước ta sẽ diễn ra phức tạp, đan xen giữa cái mới và cái

cũ, giữa yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực Chúng ta cần phải giải quyết hàng loạt cácvấn đề trong lối sống đô thị: giữa lối sống của nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu vớilối sống văn minh công nghiệp; giữa lối sống hiện đại với lối sống truyền thống dântộc; giữa lối sống thực dụng tôn thờ đồng tiền với lối sống nhân văn truyền thốngnhân nghĩa của dân tộc Việt Nam; giữa lối sống sa đọa, vị kỷ với đạo đức trong sángđoàn kết dân tộc của nhân dân ta…” [34, tr.16]

Trong cuốn sách “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại”, Lê Như Hoa cho

rằng việc hình thành lối sống đô thị hiện nay bị chi phối bởi một số nhân tố kinh tế - xãhội - văn hóa, đó là: sự biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp của dân cư đô thị; sựchuyển đổi định hướng giá trị của các nhóm xã hội; sự thay đổi chức năng, vai trò củacác bộ phận trong guồng máy điều hành quản lý đô thị; điều kiện hiện thực (mức sống)

Cùng bàn về lối sống đô thị ở nước ta, Trịnh Duy Luân (2004) cũng có đồngquan điểm với Lê Như Hoa khi cho rằng, trong bối cảnh đổi mới ở nước ta, kinh tếthị trường có sức thẩm thấu đặc biệt nhanh chóng ở các đô thị lớn Tác động của nóđược thấy ngay trong đời sống, cảnh quan phố phường ngày hôm nay, sự phong phúcủa hàng hóa, phương tiện sinh hoạt Sâu xa hơn là những biến đổi trong kết cấunghề nghiệp - xã hội của dân cư, mức sống vật chất và tinh thần, lối sống và khuônmẫu hành vi ứng xử của các nhóm xã hội, trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Nhữngthay đổi trong cấu trúc xã hội và điều kiện sống của cư dân đô thị tất yếu sẽ dẫn đếnnhững khuôn mẫu hành vi và lối sống của họ [58, tr.135] Với quan điểm này thì rõ

Trang 26

ràng khi quá trình đô thị hóa diễn ra làm biến đổi cấu trúc xã hội sẽ tất yếu dẫn đếnnhững thay đổi trong mô hình ứng xử, các quan niệm và định hướng giá trị… đểthích ứng với môi trường xã hội mới Đề cập đến các nhân tố tác động đến lối sống

đô thị nước ta hiện nay, Trịnh Duy Luân cũng cho rằng, với nhiều yếu tố tác độngkhác nhau, đang hình thành một lối sống đô thị “quá độ”, pha tạp với sự pha trộntrong việc tiếp thu và phổ biến các chuẩn mực khác nhau trong đời sống văn hóa - xãhội đô thị Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo cũng đang hình thành và phâncách rõ rệt lối sống của lớp người giàu có, trong sự tương phản với lối sống củanhóm người nghèo [58, tr.136-137] Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các yếu tố khác tácđộng đến lối sống đô thị như: hệ thống quản lý, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luậtcủa người dân, tính chất phức tạp về nguồn gốc xã hội của dân cư đô thị, cũng nhưđiều kiện sống còn khó khăn của họ

Không đi vào nghiên cứu biến đổi văn hóa của cộng đồng dân cư đô thị nhưcác tác giả trên, một số tác giả như: Lương Văn Hy (1992), John Kleinen (1999), TôDuy Hợp (2000)… đi vào nghiên cứu những biến đổi trong cộng đồng làng xã Đó lànhững biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa làng xã, phong tục tập quán, giá trịtruyền thống, không gian làng xã… và những biến đổi trong đời sống xã hội Kết quảnghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy, ở những cộng đồng làng xã đã có nhữngbiến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội

Cùng hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu là cộng đồng làng xã, tác giả

Nguyễn Thị Phương Châm (2009) trong công trình nghiên cứu của mình về “Biến

đổi văn hóa ở một số làng nghề thuộc Bắc Ninh trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện nay”, đã chỉ ra một số biến đổi, đó là, tại các làng nghề đang có rất

nhiều sự thay đổi trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa Những thay đổi đódiễn ra từ không gian sống, mức sống, kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục, y tế,…Tuy nhiên, tại các làng này vẫn còn có một dòng chảy của văn hóa làng nối tiếp từtruyền thống, dòng chảy này đã và đang được những người dân của các làng vun đắp,chăm lo Chính điều này đã bồi tự nên những giá trị văn hóa mới ở những làng nghềnày, những giá trị văn hóa đó vừa mang đậm bản sắc của một làng quê cổ lại vừa phùhợp với bối cảnh hiện đại Những kết quả nghiên cứu này của Nguyễn Thị PhươngChâm có đồng quan điểm với Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thế Trường (2009)

Trang 27

trong nghiên cứu về Tác động của đô thị hóa - công nghiệp hóa tới phát triển kinh tế

và biến đổi văn hóa - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Một hướng nghiên cứu khác về biến đổi văn hóa, tiếp biến văn hóa cũng đượcnhiều nhà dân tộc học (nhân học) và văn hóa học nghiên cứu, đó là biến đổi văn hóacủa các tộc người ở nước ta Trong đó, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu

của các tác giả như: Lê Ngọc Thắng, Lâm Bá Nam (1990), Bản sắc văn hóa các dân

tộc Việt Nam; Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (1999), Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang; Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam; Vương Xuân Tình - Trần Hồng Hạnh (2012), Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Đông bắc Kết quả nghiên cứu của

các tác giả này cho thấy, văn hóa của các tộc người có sự biến đổi trong chính nội tại,trong giao lưu văn hóa với các tộc người khác

Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn phải kể đến một số công trìnhkhác nghiên cứu về đô thị hóa, văn hóa đô thị và biến đổi văn hóa của các tác giả

như: Nguyễn Duy Quý (1998), Đô thị hóa trong quá trình công nghiệp hóa (kinh

nghiệm của Nhật Bản và một số nước khác); Hà Huy Thành (2002), Đô thị hóa - Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam; Mạc Đường (2002), Dân tộc học - đô thị

và vấn đề đô thị hóa; Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), Tiếp cận văn hóa đô thị; Trần Đức

Ngôn (2005), Văn hóa truyền thống ngoại thành Hà Nội dưới tác động của kinh tế

thị trường; Ngô Văn Giá (2007), Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ Đổi mới; Phạm Xuân Nam (2008), Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa một góc nhìn từ Việt Nam; Trương Minh

Dục, Lê Văn Định (2010), Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam - một cách tiếp cận; Ngô Đức Thịnh (2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền

thống Việt Nam trong Đổi mới và hội nhập; Lương Hồng Quang (2011), Câu chuyện làng Giang,

Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, các công trình này đã cónhững đóng góp về cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn trong nghiên cứu về

đô thị hóa, văn hóa đô thị và biến đổi văn hóa ở nước ta trong giai đoạn vừa qua.Hơn nữa, với các hướng tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu chỉ rõ đô thịhóa đã có những tác động đến đời sống văn hóa ở vùng ven đô và vùng chuyển đổi từ

Trang 28

xã thành phường Mặc dù vậy, cho đến nay dường như vẫn chưa có một công trìnhnào nghiên cứu so sánh một cách chính thức giữa nơi đã chuyển thành phường và nơivẫn còn là xã - vùng ven đô (trên cùng một trục vấn đề nghiên cứu và ở cùng mộtkhoảng thời gian nghiên cứu), khi mà hai nơi đều chịu sự tác động của quá trình đôthị hóa (vùng đô thị hóa) Vấn đề đặt ra là, tác động của đô thị hóa đến hai nơi này có

gì khác nhau không? Những biến đổi văn hóa ở hai nơi này hiện nay đang diễn ranhư thế nào? Nhằm giải đáp những câu hỏi đặt ra, luận án chọn địa bàn nghiên cứu làmột phường và một xã để có những phân tích xác thực hơn

Xuất phát từ những gợi mở, những điểm trống và kế thừa những kết quả

nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Biến đổi

văn hóa của cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa” làm đối tượng nghiên cứu, với mong

muốn làm rõ hơn những biến đổi và những nhân tố tác động đến đời sống văn hóa củacộng đồng dân cư nơi đây trong giai đoạn hiện nay dưới góc nhìn nhân học văn hóa.Bên cạnh đó, với những khác biệt về khách thể, không gian và thời gian nghiên cứu,luận án phác họa thêm những nét vẽ cho bức tranh đa diện về biến đổi văn hóa ở nước

ta nói chung và ở Hà Nội nói riêng trong quá trình đô thị hóa hiện nay

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Văn hóa

Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, do vậy tùy thuộc vào cách tiếp cận haymục đích khác nhau mà người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về vănhóa Chính vì tính đa nghĩa của nó mà A.L Kroeber và A.C Kluckhohn ngay từ năm

1952 đã thống kê có 164 định nghĩa về văn hóa Theo tiến trình thời gian, quan điểm

về văn hóa không ngừng phát triển Cho đến nay trên thế giới người ta cũng khó cóthể đưa ra một con số chính xác về số lượng khái niệm văn hóa

Edward B.Tylor - nhà nhân học Anh là một trong những người đưa ra kháiniệm khoa học về văn hóa sớm nhất Trong công trình Văn hóa nguyên thủy(Primitive Culture - 1871), Edward B.Tylor cho rằng “văn hóa hay văn minh, theonghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạođức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếmlĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [102, tr.13]

Trang 29

Theo định nghĩa này của Edward B.Tylor, văn hóa bao gồm mọi mặt hànhđộng của con người từ những gì thuộc về đời sống thường nhật đến những gì thuộc

về chính sách cho cuộc sống và từ những hình thức giải trí dân dã đến nghệ thuật.Quan niệm về văn hóa của Edward B.Tylor cho đến nay vẫn còn có giá trị và đượcnhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong công trình nghiên cứu của mình

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về văn hóa Trong đóphải kể đến định nghĩa về văn hóa của Đào Duy Anh và Chủ tịch Hồ Chí Minh ĐàoDuy Anh cho rằng “Văn hóa là cách sinh hoạt của con người” [2, tr.10-11] Còn Chủtịch Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu và tìm hiểu những giá trị văn hóa của nhiềudân tộc đã nhận xét “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng vớibiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống

và đòi hỏi của sự sinh tồn” [63, tr.431]

Tiếp cận văn hóa từ góc độ giá trị, Trần Ngọc Thêm và Ngô Đức Thịnh cónhững điểm tương đồng trong quan niệm về văn hóa Theo Trần Ngọc Thêm, “Vănhóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo vàtích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môitrường tự nhiên và xã hội” [93, tr.10] Còn Ngô Đức Thịnh cho rằng “Văn hóa lànhững sáng tạo của con người, mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cảgiá trị vật chất và giá trị tinh thần, nó rút ra từ đời sống thực tiễn của con ngườitương tác với môi trường tự nhiên và xã hội mà họ đang sống” [97, tr.19]

Theo UNESCO, “Văn hóa nên được xem là một tập hợp các đặc điểm nổi bật

về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội và ngoàivăn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệthống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” [114]

Từ những quan điểm trên cho thấy, khái niệm văn hóa có nội hàm khá rộng.Tuy nhiên, dù sử dụng khái niệm văn hóa ở cấp độ khái quát nào thì cũng phải quantâm đến hai khía cạnh: 1/ Văn hóa đã tự tái hiện như thế nào trong thời gian? 2/ Ta

có thể giải thích sự thay đổi văn hóa như thế nào? [28, tr.41]

Trong nghiên cứu này, khái niệm văn hóa được sử dụng bao gồm phương thứchoạt động và sinh hoạt của con người, hệ thống các giá trị, truyền thống, phong tụctập quán và tín ngưỡng

Trang 30

1.2.1.2 Biến đổi xã hội

Có nhiều cách hiểu khác nhau về biến đổi xã hội Theo G Endruweit và

Trommsdorff đã (2001), “Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về những thay đổi

trong cơ cấu của một hệ thống xã hội” 24, tr.26 Còn theo Phạm Tất Dong và Lê

Ngọc Hùng (1997), “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của

các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian” 18, tr.275.

Như vậy, có thể hiểu biến đổi xã hội là quá trình vận động của xã hội, trong đódiễn ra những thay đổi về cơ cấu xã hội, các thiết chế xã hội và các quan hệ xã hội

1.2.1.3 Biến đổi văn hóa

Có nhiều cách hiểu khác nhau về biến đổi văn hóa Hiểu một cách rộng nhất,

biến đổi văn hóa có thể hiểu là: một sự thay đổi so với một tình trạng văn hóa hoặc

một nền văn hóa có trước dưới những tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế

- xã hội Trong một phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi văn hóa được đề cập đến là sự biến đổi về cấu trúc của văn hóa, về các thành tố của văn hóa và các giá trị văn hóa Và sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên

của một xã hội [8, tr.36]

“Biến đổi văn hoá bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối

lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hoá Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi”

[134, tr.65-66]

Trong luận án này, biến đổi văn hóa được hiểu là sự vận động văn hóa theothời gian và dưới tác động của yếu tố chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội Biến đổivăn hóa tại các vùng đô thị hóa được hiểu là quá trình mà trong đó diễn ra sự thayđổi phương thức hoạt động sống, thay đổi lối sống, các phong tục tập quán, chuẩnmực và giá trị của người dân vùng đô thị hóa

Để biến đổi văn hóa cần phải có cơ sở và điều kiện để thúc đẩy Về cơ sở đểbiến đổi văn hóa bao gồm một số nhân tố cơ bản như: các nhân tố biến đổi kinh tế;các nhân tố biến đổi khoa học và kỹ thuật - công nghệ; nhân tố tư tưởng; phát triểndân số về quy mô cơ cấu, chất lượng; biến đổi thiết chế xã hội - văn hóa theo hướng

Trang 31

phát triển nhiều dạng thiết chế của Nhà nước và của xã hội; giao lưu văn hóa Cònđiều kiện biến đổi gồm: thời gian, không gian và nhu cầu văn hóa [108, tr.45].

1.2.1.4 Đô thị

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về đô thị giữa các nướctrên thế giới Phần lớn các quốc gia dựa vào tiêu chí quy mô dân số để xác định đôthị, nhưng quy mô dân số là bao nhiêu thì lại tuỳ thuộc vào từng quốc gia Ngoài ra,cũng có những quốc gia dựa vào tiêu chí chính trị để xác định các khu đô thị, chẳnghạn như ở Brazil, người ta không dựa vào quy mô dân số mà dựa vào chức năngchính trị

Ở Việt Nam, đô thị có thể hiểu là nơi đông dân, tập trung buôn bán như

 Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:

- Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liêntỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trongthành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện

- Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn, tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ cáchoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết

kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km2

Một số đặc trưng cơ bản phân loại xã hội đô thị và nông thôn

Nghề

nghiệp

Cư dân chủ yếu gắn với thương mại dịch vụ, quản trị, công chức, nghề tự do

-và các nghề phi nông nghiệp khác

Cư dân chủ yếu gắn với trồng trọt,chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thủysản và các nghề nông nghiệp khác

Trang 32

Môi trường Sự tách biệt với thiên nhiên lớn hơn.

Môi trường nhân tạo lấn át môi trường

tự nhiên

Môi trường tự nhiên ưu trội hơn môitrường xã hội - nhân văn Con ngườiquan hệ trực tiếp với tự nhiên

Kích cỡ

cộng đồng

Kích cỡ cộng đồng lớn hơn nhiều, gắnvới văn minh công nghiệp

Các cộng đồng nhỏ gồm nông trại vàlàng gắn với văn minh nông nghiệp.Mật độ dân

số

Lớn hơn cộng đồng nông thôn Tínhnông thôn và mật độ dân cư là tươngứng nhau

Thấp hơn cộng đồng đô thị, hìnhthành hai khái niệm tương phản: tínhnông thôn và mật độ dân cư

Thuần nhất hơn về đặc điểm chủngtộc và tâm lý

Khoảng cách khác biệt và phân tầng

xã hội ít hơn so với đô thị

Hướng di

động

Gia tăng mạnh hơn Tính đô thị và tính

di động là hai khái niệm tương ứngnhau Chỉ trong giai đoạn đặc biệt mới

có sự di động từ đô thị về nông thôn

Những kiểu di động theo kiểu lãnhthổ, nghề và những kiểu khác thường

có cường độ không lớn, thường là diđộng cá nhân từ nông thôn ra đô thị

Hệ thống

tương tác

Quan hệ xã hội ẩn danh, được tiêuchuẩn hóa và hình thức hóa

Quan hệ xã hội thường là các quan hệ

sơ cấp, dựa trên tình thân láng giềng

và huyết thống, ít phức tạp hơn

Nguồn: Tô Duy Hợp (1997), Xã hội học nông thôn (tài liệu tham khảo nước ngoài),

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.26-27

1.2.1.5 Đô thị hóa

Theo từ điển xã hội học, G Endruweit và Trommsdorff, khái niệm đô thị hóađược dùng theo ba nghĩa khác nhau:

(1) Sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân sống ở đô thị

so với toàn bộ dân cư ở một nước hay ở một lục địa;

(2) Sự tăng trưởng về dân cư hoặc diện tích của từng thành phố riêng;

(3) Sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị 24, tr.151

Theo Hà Huy Thành “đô thị hóa là một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh

quá trình chuyển hóa và chuyển dịch dân cư nông thôn với phương thức sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt nông nghiệp là chủ yếu sang phương thức sản xuất

và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt - phương thức đô thị” 89, tr.84

Trang 33

Còn từ hướng tiếp cận nhân học đô thị, “đô thị hóa được hiểu là một quá trình

kinh tế và xã hội để biến một vùng dân cư không có cuộc sống đô thị thành một vùng dân cư thuộc tính của xã hội đô thị; là một quá trình biến đổi văn hóa và ứng xử Văn hóa và cách ứng xử đô thị dần dần bao trùm lên và làm tan biến dần văn hóa và ứng xử truyền thống nông thôn” [22, tr.115].

Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song có thể thấy đô thị hóa trước hết làmột quá trình gắn liền với sự thay đổi về không gian và gia tăng mật độ dân cư trongmột khu vực theo thời gian Đó là sự tổ chức lại môi trường sống của con người vàbiến đổi cấu trúc xã hội

Đô thị hóa không chỉ làm cho thay đổi, phân bố dân cư và những yếu tố vậtchất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống xã hội, phổ biến lốisống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn xã hội Điều này có nghĩa là, quá trình đôthị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ,tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về chất lượng, nâng cao tiêu chuẩn sống,làm phong phú hơn các khuôn mẫu văn hóa và nhu cầu [65, tr.15]

Cùng đề cập đến đô thị hóa, người ta còn đưa ra khái niệm về đô thị hóa ngoại

vi Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do

kết quả phát triển công nghiệp hóa và kết cấu hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị, liên đôthị, góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn [75, tr.15]

1.2.1.6 Cộng đồng

Cộng đồng là một tập hợp dân cư sinh sống trên cùng một lãnh thổ, và do vậy họ thường có một ý thức/tình cảm về sự thống nhất trong một địa phương và một khả năng tham gia những hoạt động mang tính tập thể vì quyền lợi của địa phương đó [58, tr.101].

Như vậy có thể nói, cộng đồng là khái niệm dùng để chỉ những dân cư sốngtrong một vùng lãnh thổ nhất định Cộng đồng dân cư được sử dụng trong luận án lànhằm chỉ những dân cư sống ở cùng một phường/xã

Cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa: Là một tập hợp dân cư sinh sống trên cùng một vùng lãnh thổ đang có những thay đổi trong đời sống kinh tế, xã hội cũng như văn hóa và cách ứng xử do tác động của quá trình đô thị hóa.

Cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa trong nghiên cứu này được xác định là:

Trang 34

- Những người sống trên cùng một lãnh thổ về mặt địa lý hành chính (xã,phường).

- Địa bàn cư trú nằm giữa khu vực nông thôn và thành thị; là nơi có sự chuyển đổidiện tích đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp với mục đích phát triển đô thị

1.2.1.7 Giao lưu và tiếp biến văn hóa

Là khái niệm chỉ quá trình tiếp nhận và biến đổi của văn hóa Đó là hiệntượng xảy ra khi những nhóm người, cộng đồng dân cư có văn hóa khác nhau, tiếpxúc với nhau tạo nên sự biến đổi của văn hóa của một hoặc nhiều nhóm Giao lưuvăn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở cộng đồng Ở đó có sựkết hợp giữa các yếu tố “nội sinh” với yếu tố “ngoại sinh”, tạo nên sự phát triển vănhóa phong phú đa dạng và tiến bộ hơn Giao lưu và tiếp biến văn hóa còn là sự tiếpnhận văn hóa nước ngoài của mỗi chủ thể Quá trình này luôn đặt mỗi tộc người, mỗiquốc gia phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố “nội sinh” và yếu tố

“ngoại sinh” [124, tr.26]

1.2.1.8 Lối sống

Theo Trịnh Duy Luân “Lối sống dùng để chỉ các khuôn mẫu hành vi, ứng xử

của các cá nhân, các nhóm xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện sống, tình huống cụ thể” 58, tr.129

Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Lối sống là tổ hợp toàn bộ các mô hình, cách

thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống” [50, tr.29].

1.2.1.9 Lối sống đô thị

Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, Luis Wirth, nhà xã hội học người Mỹ đã

đưa ra định nghĩa về lối sống đô thị (urbanism) như là “các khuôn mẫu (patterns) của

văn hóa và cấu trúc xã hội, đặc trưng ở các đô thị và khác căn bản với văn hóa của các cộng đồng nông thôn”.

Theo Wirth, người dân đô thị tiếp xúc với nhau trong các vai trò đã bị cắt rời,chứ không phải trong những quan hệ có liên quan đến toàn bộ con người Họ có nhữngcông việc chuyên môn hóa cao Những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt địa vị

Trang 35

xã hội của họ là cực kỳ quan trọng Những cơ chế kiểm soát xã hội chính thức là quantrọng hơn những cơ chế không chính thức Các nhóm thân tộc và gia đình giữ vai tròkém quan trọng hơn trong đời sống đô thị, đặc biệt là ở các đô thị lớn [58, tr.129].

Lối sống nói chung và lối sống đô thị nói riêng được hình thành trên toàn bộ cơ

sở vật chất, điều kiện sống, hoạt động nghề nghiệp và các quan hệ xã hội Qua đây, cóthể thấy lối sống đô thị được hình thành trên một số điều kiện sau:

- Đó là lối sống được hình thành ở những nhóm dân cư hoạt động trong các lĩnhvực phi nông nghiệp Chính những hoạt động này đã tạo nên lối sống đô thịkhác với lối sống của những người ở nông thôn

- Lối sống đô thị được hình thành trong một môi trường nhân tạo rất cao và trongmột môi trường thiên nhiên bị biến dạng

- Lối sống đô thị được hình thành trên một địa bàn dân cư không thuần nhất

- Lối sống đô thị được hình thành trong một không gian mang tính xã hội cao bịđiều tiết bởi những thiết chế hành chính, quản lý điều hành hết sức chặt chẽ.Chính nhờ có các thiết chế đó mà các cá nhân và các nhóm xã hội có quyền lợikhác nhau mới sống được trong một không gian sinh tồn hết sức hạn chế vàcũng do vậy nó tạo ra một kiểu sống khác biệt hẳn với nông thôn [37, tr.627].Phân biệt sự khác nhau giữa các khuôn mẫu của đời sống đô thị với đời sốngnông thôn Luis Wirth đã đưa ra một số đặc trưng:

- Tính cơ động nghề nghiệp - xã hội và không gian - xã hội cao (khả năng chuyểnđổi nghề nghiệp, thay đổi nơi ở, thăng tiến xã hội)

- Sự phụ thuộc của các hoạt động trong đời sống thường ngày vào các dịch vụcông cộng (nhất là các hoạt động sinh hoạt gắn với các nhu cầu dịch vụ của cánhân và gia đình) Đối lập với nó là tính tự cung tự cấp ở nông thôn

- Phạm vi giao tiếp rộng với cường độ cao, tính ẩn danh trong giao tiếp; suy giảmcác giao tiếp truyền thống, sơ cấp, tăng cường các giao tiếp thứ cấp, theo chứcnăng và vai trò, theo sở thích… Sự khoan dung đối với những khác biệt và cácchuẩn mực

- Nhu cầu văn hóa - giáo dục đa dạng và ngày càng phong phú, do nhu cầu vềnghề nghiệp và thông tin đòi hỏi

Trang 36

- Việc sử dụng thời gian rỗi (tự do) rất đa dạng, góp phần phát triển nhân cách, cátính, tự do cá nhân.

- Tính tích cực xã hội, ý thức công dân và các hoạt động xã hội của cá nhân đượckhuyến khích [58, tr.134]

Ngoài ra lối sống đô thị và nông thôn còn khác nhau ở đặc trưng:

- Con người đô thị có tính năng động cao, có ý chí tiến thủ mạnh trong đời sốngvật chất, địa vị xã hội cũng như đời sống tinh thần

- Mức độ cố kết theo địa bàn dân cư và huyết thống của con người đô thị thấphơn ở nông thôn [37, tr.628-629]

1.2.2 Một số lý thuyết nghiên cứu về biến đổi văn hóa

Hướng tiếp cận nghiên cứu chủ đạo của luận án là Nhân học văn hóa Hướngtiếp cận này cho phép nghiên cứu sinh có thể nhìn nhận và lý giải sâu hơn về nhữngbiến đổi văn hóa ở cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa Ngoài ra, luận án cũng sửdụng hướng tiếp cận của xã hội học để mô phỏng rõ hơn những vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về biến đổi văn hóa là một trong những chủ đề thu hút được sựquan tâm của nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, văn hóa học, tâm lýhọc, lịch sử, nhân học các ngành này đều vận dụng những lý thuyết khác nhau đểluận giải về vấn đề nghiên cứu Trong luận án này, cơ sở lý thuyết được vận dụng đểphân tích biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa chủ yếu dựa trên hai lý thuyết là

biến đổi văn hóa và cơ cấu chức năng.

1.2.2.1 Lý thuyết biến đổi văn hóa

Từ giữa thế kỷ XIX các nhà nhân học bắt đầu có những quan sát, thu thập các

dữ liệu về văn hóa và các nền văn hóa khác nhau nhằm giải thích cho sự khác biệt,

tương đồng và biến đổi của các nền văn hóa Những nhà khoa học ủng hộ thuyết tiến

hóa văn hóa như Lewis Henry Morgan (1877) và Edward B.Tylor (1871) được coi là

những người đầu tiên đề cập đến vấn đề biến đổi văn hóa Theo thuyết tiến hóa vănhóa, mọi xã hội loài người đều biến đổi theo một mô hình với hướng biến đổi từ thấpđến cao (từ xã hội nguyên thủy đến xã hội văn minh) Thuyết này đề cao văn hóaphương Tây hơn so với văn hóa phi phương Tây khi cho rằng văn hóa phương Tâyvăn minh hơn, biến đổi nhanh hơn còn văn hóa phi phương Tây biến đổi chậm hơn

do trung thành với phong tục tập quán Quan điểm này đã bị phản đối rộng khắp trong

Trang 37

giới Nhân học thời bấy giờ Tuy vậy, thuyết này cũng đã tạo tiền đề quan trọng choviệc ra đời và phát triển của các học thuyết khác nghiên cứu về biến đổi văn hóa cuốithế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX như thuyết truyền bá văn hóa, thuyết vùng văn hóa, thuyếttiếp biến văn hóa, thuyết chức năng

Sự xuất hiện các quan điểm khác nhau về biến đổi văn hóa đã giúp cho việcnhìn nhận về văn hóa và biến đổi văn hóa trở lên phong phú và đa dạng hơn Trongmỗi thời kỳ các quan điểm lý thuyết này đều có ý nghĩa nhất định trong việc nhìnnhận về biến đổi văn hóa Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, thuyết truyền bávăn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà nhân học Bắc Mỹ khi nhìn nhận vềbiến đổi văn hóa Những người theo thuyết truyền bá văn hóa cho rằng, trọng yếucủa biến đổi văn hóa chính là sự truyền bá hay vay mượn những đặc trưng văn hóacủa xã hội này sang xã hội khác

Ngoài việc quan tâm đến thuyết truyền bá văn hóa, các nhà nhân học Mỹ cònquan tâm đến thuyết tiếp biến văn hóa Theo thuyết này, quá trình biến đổi văn hóadiễn ra khi có sự tiếp xúc giữa hai nền văn hóa độc lập nhau, sự tiếp xúc đó sẽ làmtăng những đặc tính của nền văn hóa này với nền văn hóa kia Sự biến đổi văn hóadiễn ra theo hình thức này được những người theo thuyết tiếp biến văn hóa đề cậpđến khi có sự tiếp xúc lâu dài giữa xã hội phương Tây và phi phương Tây

Một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng trong những năm

1920 đến 1950 ở Anh là thuyết chức năng Những người có đóng góp xây dựngthuyết chức năng trong ngành nhân học là Bronislaw Malinowski và RadcliffeBrown Quan điểm của Radcliffe Brown về thuyết chức năng có ảnh hưởng lớn từnhững quan điểm của Durkheim - nhà xã hội học người Pháp Ông nhìn nhận nhânhọc như một ngành xã hội học so sánh chéo văn hóa và ông cũng cho rằng cấu trúc

xã hội là khung cơ bản để phân tích so sánh Theo thuyết chức năng thì mọi nền vănhóa đều có sự hòa nhập tương đối tốt và ổn định, do đó văn hóa sẽ ít có những thayđổi và nếu có thì chủ yếu là do những tác động từ bên ngoài Quan điểm này chothấy, những người theo thuyết chức năng chủ yếu quan tâm đến các mối quan hệ qualại giữa các chức năng của hệ thống xã hội và văn hóa chứ chưa chú ý nhiều đến sựthay đổi của xã hội và văn hóa

Trang 38

Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hóa đã tác động đến mọi mặtcủa đời sống xã hội, vì vậy, nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa cũng được đặt trongbối cảnh của toàn cầu hóa, sự hội nhập kinh tế, xã hội, công nghiệp hóa và đô thịhóa Dù vẫn còn những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa,song các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và các nhà nhân học nói riêngđều tương đối thống nhất với luận điểm cho rằng biến đổi văn hóa là một xu hướngtất yếu của quá trình toàn cầu hóa và nó đang diễn ra khá đa dạng với nhiều cấp độ

và chiều hướng khác nhau Điều này có thể nhận thấy rõ nhất trong những xã hộiđang có sự chuyển đổi kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và chuyển đổi từ xãhội truyền thống sang xã hội hiện đại Qua đây có thể thấy, những quan điểm nghiêncứu về biến đổi văn hóa chịu sự tác động của bối cảnh phát triển xã hội

Như vậy, biến đổi văn hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu nhân học ở nhữngthế hệ khác nhau nghiên cứu trong sự gắn kết với quá trình chuyển đổi xã hội, côngnghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa Nó trở thành một trong những trọng tâmnghiên cứu của các nhà nhân học Cũng chính vì vậy mà có khá nhiều quan điểm vềbiến đổi văn hóa, song có thể đưa ra một quan điểm tương đối thống nhất trong nhânhọc đó là: “Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đốilâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xãhội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi”[133, tr.55-56]

Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa còn phải nhắc đến Dennis O’Neil Trongcông trình nghiên cứu về quá trình biến đổi văn hóa, Dennis O’Neil cho rằng, tất cảcác nền văn hóa đều phải đổi thay, đồng thời cũng xuất hiện xu hướng chống lại sựthay đổi Theo tác giả có ba nguồn gốc dẫn tới thay đổi hoặc chống lại sự thay đổibao gồm: áp lực về công việc; sự liên hệ giữa các xã hội; sự thay đổi của môi trường

tự nhiên

Trong một xã hội, quá trình thay đổi bao gồm sự can thiệp và mất văn hóa Sựcan thiệp bao gồm cả kỹ thuật và tư tưởng; còn mất văn hóa là kết quả của thay thếnền văn hóa cũ bằng nền văn hóa mới Các thiết chế văn hóa hội nhập với nhau và sựảnh hưởng lẫn nhau là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi Quá trình dẫn đến sự

Trang 39

thay đổi như là kết quả liên hệ giữa các xã hội, đó là sự truyền bá (suffusion), tiếpbiến (acculturation) và liên văn hóa (transculturation) [99, tr35-36]

Lý thuyết quá trình thay đổi văn hóa được Dennis O’Neil tóm tắt như sau:

 Năng động củanhóm bên trong

1.2.2.2 Lý thuyết cơ cấu chức năng

Sự phát triển của lý thuyết cơ cấu chức năng gắn liền với tên tuổi của nhiềunhà khoa học như: Auguste Comte (1798-1858), Herbert Spencer (1820-1903),Emile Durkheim (1858-1917), Vilfredo Pareto (1848-1932), Athur Radcliffe Brown(1881-1955), Talcott Parsons (1902-1979), Robert Merton (1910-2003) và nhiều nhà

xã hội học khác

Trang 40

Talcott Parsons được đánh giá là một trong những người phát triển lý thuyết

cơ cấu chức năng khá hoàn thiện Với lý thuyết cơ cấu chức năng, Parsons có thamvọng giải thích sự vận động tổng thể của một hệ thống xã hội Để giải thích điều đó,ông đã đề ra một phương thức phân tích gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất nhằm phát hiện từ trong lòng hệ thống xã hội được nghiêncứu những bộ phận cấu thành tương đối ổn định, chúng tạo thành cơ cấu của hệthống xã hội và do tính độc lập của chúng trong những biến động ngắn hạn đượcxem xét là những “hằng số” Những “hằng số” là những cơ sở quy chiếu để tiến hànhnghiên cứu

Giai đoạn thứ hai nhằm tìm ra một lời giải bằng các cơ chế tạo nên sự thíchhợp của hệ thống xã hội đối với những điều kiện môi trường có liên quan đến kết cấunội tại của nó Ở đây, các phân tích đòi hỏi một sự quan tâm sâu sắc đến các quátrình và ý nghĩa của chúng theo quan điểm của lý thuyết cấu trúc - chức năng đối với

sự duy trì của hệ thống xã hội

Để giải quyết vấn đề thứ nhất, Talcott Parsons đưa ra những đòi hỏi về chứcnăng đối với mọi hệ thống hành động cũng như đối với các yếu tố cơ cấu tương ứngvới hệ thống đó Những đòi hỏi về chức năng đó gồm có bốn yếu tố được thể hiệnthành một sơ đồ AGIL với những nội dung sau:

A (Adaptation): sự thích nghi với môi trường bên ngoài

G (Goal): sự thực hiện các mục đích

I (Integration): sự hội nhập và các hành động

L (Latents): sự duy trì các mô hình tiềm ẩn

Trên thực tế, bản thân hệ thống xã hội với những cơ sở vật chất, sinh học, tinhthần, văn hóa đã làm thành môi trường xã hội cho các hoạt động của con người Nóđược phân chia thành những yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau - những “vai trò”làm cho hành động xã hội thích nghi với môi trường thông qua các cá thể và những

“tập thể” xác định kiểm soát các “vai trò” Những “chuẩn mực” như là những thước

đo cho sự hội nhập của các cá thể vào các tập thể đó

Đối với vấn đề thứ hai (những phương thức của hành động xã hội trong quátrình vận động của hệ thống xã hội); hành động xã hội theo hướng nào đó có liênquan đến sự đánh giá của các tác nhân với đối tượng hành động của nó cũng như đến

Ngày đăng: 25/10/2013, 15:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tỷ lệ dân số nội thành Hà Nội từ 1990-2011 - Biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa
Bảng 2.1. Tỷ lệ dân số nội thành Hà Nội từ 1990-2011 (Trang 50)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w