1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp truyền thông nâng cao năng lực nhận thức về biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư xã đức thắng, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang

81 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH NGÔ THỊ THU HIỀN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ XÃ ĐỨC THẮNG, HUYỆN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGÔ THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ

XÃ ĐỨC THẮNG, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGÔ THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO

NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

XÃ ĐỨC THẮNG, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thức cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Ngô Thị Thu Hiền

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập tại Khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội cũng như trong thời gian thực hiện luận văn, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, học viên đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ hết sức quý báu Học viên xin gửi lời cảm ơn đến GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ đã luôn tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức chuyên môn, tạo điều kiện để học viên có đủ cơ sở dữ liệu để thực hiện luận văn Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Và cuối cùng, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Do kiến thức và kỹ năng vẫn còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp từ các Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và có hướng nghiên cứu tiếp theo

Học viên

Ngô Thị Thu Hiền

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 11

1.2 Nội dung của thông điệp truyền thông về biến đổi khí hậu 16

1.2.1 Thông điệp về nhận thức 17

1.2.2 Thông điệp về hành động 19

1.3 Cơ sở của việc xây dựng các giải pháp truyền thông 22

1.3.1 Cơ sở pháp lý 22

1.3.2 Cơ sở thực tiễn 25

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 27

2.1 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2 Số liệu 30

2.2.1 Số liệu khí hậu 30

2.2.2 Số liệu điều tra, khảo sát 30

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 31

3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

3.2 Biến đổi của một số yếu tố khí hậu tại dịa phương 33

3.2.1 Nhiệt độ trung bình năm 34

3.2.2 Nhiệt độ tối cao trung bình năm 34

Trang 6

iv

3.2.3 Nhiệt độ tối thấp trung bình năm 35

3.2.4 Số ngày rét đậm, rét hại 35

3.2.5 Lượng mưa 37

3.2.6 Đánh giá chung về tình hình biến đổi khí hậu ở địa phương 38

3.3 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về BĐKH của cộng đồng dân cư 40

3.4 Xây dựng giải pháp truyền thông hiệu quả 48

3.4.1 Nguyên tắc xây dựng 48

3.4.2 Nội dung truyền thông về biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư 50

3.4.3 Giải pháp truyền thông hiệu quả 58

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(Association of South East Asian Nations) BĐKH : Biến đổi khí hậu

BVMT : Bảo vệ môi trường

CBCC : Tăng cường năng lực cho chương trình Biến đổi khí hậu

(Capacity Building for Climate Change Project) IPCC : Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

(Intergovernmental Panel on Climate Change) IMHEN : Viện khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu

(Vietnam Institute of Meteorology, hydrology and climate change) SRI : Hệ thống thâm canh lúa cải tiến

(System of Rice Intensification-SRI)

TB : Trung bình

UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

(United Nations Development Programme) UNEP : Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

(United Nations Environment Programme) UNFCC : Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu

(United Nations Framework Convention on Climate Change) VACB : Vườn - Ao - Chuồng - Biogas

VNGO&CC : Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Biến đổi khí hậu

(Network of Vietnamese Non-Governmental Organisations and Climate Change)

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả điều tra trước khi xây dựng giải pháp……… 41 Bảng 3.2 Kết quả trước và sau khi kiểm nghiệm ………63

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Xu thế biến đổi của nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1961 – 2010 34

Hình 3.4 Xu thế biến đổi số ngày rét đậm trong thời kỳ 1961 – 2010 36

Hình 3.5 Xu thế biến đổi số ngày rét hại trong thời kỳ 1961 – 2010 37

Hình 3.6 Xu thế biến đổi của tổng lượng mưa năm trong thời kỳ 1961 – 2010 37

Hình 3.7 Tỷ lệ số người biết đến biến đổi khí hậu từ các nguồn khác nhau ở 03 xã 43

Hình 3.8 Tỷ lệ biết đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cuộc sống hàng ngày 44

Hình 3.9 Tỷ lệ mức độ quan tâm đến biến đổi khí hậu 45

Hình 3.10.Tỷ lệ hiểu biết về các hiện tượng thời tiết cực đoan 46

Hình 3.11 Tỷ lệ nhận thức ứng phó với biến đổi khí hậu 47

Hình 3.12 Tỉ lệ tham gia vào hoạt động tuyên truyền của các tổ chức 47

Hình 3.13 Sơ đồ các bước tiến hành xây dựng các giải pháp truyền thông 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác cũng đang gia tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới

Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2007/2008 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thì người dân ở những vùng nông thôn nghèo có nguy cơ bị tổn thương cao do tác động của BĐKH và có ảnh hưởng trực tiếp tới những tài nguyên trong hệ sinh thái mà họ phải dựa vào để gìn giữ sinh kế (như các cây trồng, thủy sản, nguyên liệu, nhiên liệu, v.v…) [2] Trong bối cảnh BĐKH như hiện nay thì cuộc sống hàng ngày của cộng đồng dân cư dù ở thành thị hay nông thôn, miền núi hay ven biển đều phụ thuộc chặt chẽ vào thiên nhiên, trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất và có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong vài thập kỷ sắp tới do thiên tai như lụt lội, hạn hán và bão xảy ra ngày càng nhiều với cường độ tăng

Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua (1951-2000), nhiệt độ trung bình năm

đã tăng lên 0,7oC, xu thế biến đổi của lượng mưa không rõ rệt theo các thời kỳ và rất khác nhau giữa các khu vực Theo số liệu quan trắc trong khoảng thời gian trên ở các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20

cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam [7] Về

sự biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan, có thể nhận thấy số ngày nắng nóng có xu thế tăng lên và số ngày rét đậm có xu thế giảm đi ở các vùng khí hậu;

độ ẩm tương đối cực tiểu có xu thế tăng lên trên tất cả các vùng khí hậu nhất; số lượng bão có cường độ mạnh tăng; mùa bão kết thúc muộn hơn, ghi nhận nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường [10]

Theo tính toán xu thế BĐKH ở Việt Nam, trên các khu vực, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 20C vào năm 2050 Đối với lượng mưa ở các khu vực, trừ Trung

Bộ, đều tăng 0-5% vào năm 2050 và đáng chú ý ở những vùng thường xảy ra hạn hán vào mùa khô, hạn hán có nhiều khả năng tăng lên cả về cường độ và diện tích Đối với mực nước biển dâng, trung bình trên toàn dải bờ biển có thể tăng 40cm vào năm 2050, ước tính có thể tăng 100 cm (1 m) vào năm 2100 [7]

Trang 11

Các hiện tượng thiên tai khí tượng xảy ra hầu như quanh năm và trên khắp mọi miền lãnh thổ của Việt Nam, có những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường [10]

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu mực nước biển dâng lên 1 m thì dự báo có khoảng 40 nghìn km vuông diện tích đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong đó có 90% diện tích thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn [1]

Nhận thức rõ được điều đó, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH, Nghị định thư Kyoto và xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Đồng thời kêu gọi cộng đồng các nhà tài trợ cùng các bộ, ngành và địa phương triển khai nhiều dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của BĐKH cũng như các biện pháp ứng phó với BĐKH Mục đích chính của các hoạt động này là nhằm cung cấp cho mọi tầng lớp xã hội, cộng đồng dân cư có những kiến thức cơ bản trong việc thích ứng với BĐKH; nâng cao năng lực nhận thức; thay đổi thói quen, hành vi đối xử thân thiện với môi trường, giảm thiệt hại do tác động của BĐKH

Tỉnh Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, nằm ở tọa độ từ 21độ

07 phút đến 21 độ 37 phút vĩ độ bắc; từ 105 độ 53 phút đến 107 độ 02 phút kinh độ Đông Bắc Giang là tỉnh miền núi, có đặc điểm địa hình gồm 2 tiểu vùng: Miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực Đông Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa rõ rệt: mùa Đông có khí hậu khô, lạnh; mùa

Hè khí hậu nóng, ẩm; mùa Xuân và mùa Thu có tính chuyển tiếp, có độ ẩm trung bình năm là 83%, một số tháng khác trong năm có độ ẩm trung bình trên 85% Các tháng mùa khô có độ ẩm không khí dao động khoảng 74% - 80% [28]

Lượng mưa trung bình năm 1.533 mm, mưa nhiều trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng nước bốc hơi trung bình năm khoảng 1.000 mm, 4 tháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa là từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau [28]

Chế độ gió cơ bản chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam (mùa Hè) và gió Đông Bắc (mùa Đông) Một số khu vực thuộc miền núi cao có hình thái thời tiết khô lạnh, rét đậm, có sương muối vào mùa Đông, hầu như ít xuất hiện gió Lào vào mùa Hè Một

Trang 12

số huyện miền núi có hiện tượng lốc cục bộ, mưa đá, lũ vào mùa mưa Tỉnh Bắc Giang

ít chịu ảnh hưởng của bão do có sự che chắn của nhiều dãy núi cao [28]

Do chịu tác động của BĐKH, tình hình diễn biến của các yếu tố thời tiết và thiên tai ở địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây có những dị thường Mặc

dù nằm sâu trong đất liền, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, áp thấp nhiệt đới hay các hiện tượng thời tiết cực đoan khác nhưng mỗi khi đổ bộ vào các tỉnh ven biển phía Bắc, hoàn lưu của bão kết hợp với áp thấp nhiệt đới thường gây mưa to đến rất to, gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản trên địa bàn tỉnh

Cộng đồng dân cư đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu của tác giả, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang chịu ảnh hưởng bởi tác động của biến đổi khí hậu chung ở toàn tỉnh trong thời gian qua, có biểu hiện ở một số yếu tố khí hậu cụ thể

ở địa phương như: nhiệt độ có xu thế tăng lên, nhiệt độ trung bình trong 10 năm gần đây phổ biến tăng 0,2-0,8oC; nắng nóng có xu thế xuất hiện sớm và kết thúc muộn, xảy

ra cục bộ và diễn biến phức tạp, số ngày nắng nóng gay gắt nhiều hơn; không khí lạnh

có nhiều biểu hiện bất thường, mùa lạnh đến muộn hơn, số đợt nhiều hơn, cường độ không mạnh như nhiều năm trước đây song lại có những năm xuất hiện rét đậm, rét hại kéo dài mang tính lịch sử; tổng lượng mưa năm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong 50 năm trở lại đây có xu hướng giảm Hơn thế nữa, tác động BĐKH tới địa phương ở đang ở mức độ tiềm tàng, chưa thực sự rõ nét nên người dân chưa thực sự quan tâm đến hậu quả của BĐKH trong tương lai

Cho đến nay, đã có một vài chương trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường gắn với ứng phó với biến đổi khí hậu diễn ra tại một số huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm hưởng ứng các ngày lễ như: Ngày Môi trường thế giới, Giờ Trái Đất, Tại địa bàn tác giả nghiên cứu, các hoạt động phòng chống thiên tai như bão, lũ lụt,… hàng năm đều được ủy ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch để hạn chế tối đa thiệt hại về người và của Tuy nhiên hiệu quả của các chương trình này còn hạn chế và vai trò, sự tham gia của cộng đồng dân cư chưa được quan tâm, đề cập nhiều

Vì vậy, nhằm thích ứng và giảm nhẹ những tác động của BĐKH đã, đang và sắp xảy ra ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân, trước hết cần phải đánh giá đúng nhận thức về BĐKH, mức độ quan tâm và tầm hiểu biết của người dân; tỉm hiểu cơ

Trang 13

bản tình hình phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố khí hậu tại địa phương từ đó xây dựng các giải pháp truyền thông với các thông điệp truyền thông gần gũi, gắn bó với cuộc sống của người dân Kết quả đạt được là cộng đồng dân cư thống nhất được một

số quy ước chung trong thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH

Chính vì những lý do trên tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp truyền

thông nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” Đây là việc làm cấp thiết và quan trọng, là kết quả

bước đầu trong việc xây dựng các mô hình truyền thông ở quy mô lớn hơn, phổ biến

sâu rộng trong điều kiện BĐKH đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, có những tín hiệu

khó lường

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

- Giúp cho cộng đồng dân cư có những kiến thức cơ bản về BĐKH, qua đó họ có

ý thức, thái độ, hành vi thân thiện đối với môi trường, cam kết thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

* Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được biểu hiện của BĐKH thể hiện ở một số yếu tố khí hậu cụ thể như: nhiệt độ TB năm; nhiệt độ tối cao TB năm; nhiệt độ tối thấp TB năm; số ngày rét đậm, rét hại; lượng mưa;

- Đánh giá được hiện trạng nhận thức về biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư trên địa bàn xã Đức Thắng;

- Xác định được nội dung truyền thông, hình thức, phương tiện truyền thông phù hợp với đối tượng nghiên cứu;

- Đánh giá được hiệu quả, tính khả thi, khả năng nhân rộng của việc áp dụng các giải pháp truyền thông về BĐKH

* Đóng góp chính của luận văn:

- Cung cấp cho đối tượng nghiên cứu những kiến thức cơ bản về BĐKH, hành động dễ thực hiện có liên quan trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt và sản xuất hàng ngày

Trang 14

- Việc đánh giá hiện trạng về nhận thức của đối tượng nghiên cứu về vấn đề BĐKH là cơ sở bước đầu để các cấp chính quyền địa phương xây dựng các chương trình truyền thông, tập huấn, phổ biến chính sách lồng ghép liên quan đến thích ứng với BĐKH phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương

- Các giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu có thể ứng dụng nhân rộng ra các vùng lân cận khác

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát, thu thập số liệu

- Tổng quan tài liệu các vấn đề nghiên cứu liên quan tới đề tài

- Xác định nội dung truyền thông phù hợp với đối tượng (gồm thông điệp về nhận thức và thông điệp về hành động)

- Nghiên cứu, lựa chọn giải pháp truyền thông

- Xây dựng các giải pháp truyền thông phù hợp với đối tượng (truyền thông dựa vào cộng đồng)

- Xây dựng cam kết để người dân ký kết hành động

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a/ Đối tượng nghiên cứu:

- Các giải pháp truyền thông hiệu quả, chú trọng truyền thông về môi trường

b/ Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Ngoài ra, để có

cơ sở để so sánh về thực trạng nhận thức của địa bàn nghiên cứu, tác giả đã điều tra 02 xã lân cận là xã Danh Thắng và xã Thái Sơn đều thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

- Về thời gian: Các chuỗi số liệu thống kê khí hậu được thu thập từ trạm khí tượng thành phố Bắc Giang trong khoảng thời gian 50 năm (1961-2010)

Đề tài chỉ nghiên cứu, phân tích, đưa ra các giải pháp thiết thực, gắn bó với hoạt động sản xuất hàng ngày nhằm nâng cao năng lực nhận thức, thay đổi hành vi của cộng đồng dân cư đồng thời đưa ra các cam kết hành động để người dân cùng tham gia góp ý,

bổ sung và thống nhất ký kết

Do điều kiện thời gian và nguồn lực tài chính có hạn nên tác giả không trực tiếp xây dựng mô hình cụ thể cho địa phương

Trang 15

5 Giả thuyết nghiên cứu

a/ Vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời những câu hỏi chính sau:

- Những nhận thức, hiểu biết của người dân về biến đổi khí hậu hiện nay?

- Việc xây dựng các giải pháp, các chương trình truyền thông như thế nào để phù hợp với đối tượng truyền thông và bảo đảm hiệu quả ?

- Những thuận lợi và thách thức trong việc xây dựng và triển khai các giải pháp truyền thông về BĐKH với người dân?

b/ Giả thuyết nghiên cứu

1 Là địa bàn nằm trong khu vực có thể chịu các ảnh hưởng của BĐKH trong tương lai nhưng nhận thức của người dân về BĐKH còn hạn chế do đó việc đưa ra các giải pháp truyền thông về BĐKH phù hợp, khả thi sẽ nâng cao nhận thức cho người dân, tăng khả năng thích ứng với BĐKH

2 Có giải pháp khắc phục được những rào cản (bối cảnh truyền thông, ngôn ngữ truyền tải, kinh phí thực hiện, ) có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện đề tài

Ví dụ: Đối với khó khăn trong quá trình truyền tải các thông tin về BĐKH (chủ yếu là ngôn ngữ khoa học nghiên cứu) thì có phương pháp diễn giải chúng theo ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu hơn phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau; chọn bối cảnh truyền thông tùy theo đặc điểm của đối tượng,

3 Giải pháp truyền thông được xây dựng phù hợp, hiệu quả và có thể nhân rộng

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm các nội dung chính sau:

Mở đầu

Chương I Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương II Phương pháp nghiên cứu và số liệu

Chương III Giải pháp truyền thông về biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 16

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Thời tiết là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể được xác

định bởi các đại lượng vật lí đo được như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa, v.v (gọi là các yếu tố khí tượng) và các hiện tượng quan sát được như nắng, mưa, bão, dông, sương mù, v.v (gọi là các hiện tượng khí tượng) [7] Thời tiết thường thay đổi trong khoảng thời gian ngắn theo ngày, giờ hoặc ngắn hơn

Khí hậu là sự tổng hợp trạng thái thời tiết ở một địa điểm nhất định, đặc trưng

bởi các giá trị thống kê trung bình và các cực trị đo được hoặc quan sát được của các yếu tố và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm Một cách đơn giản, có thể hiểu khí hậu là trạng thái trung bình và những cực trị của thời tiết, được xác định trên một khoảng thời gian đủ dài ở một nơi nào đó Do vậy, khác với thời tiết, khí hậu có tính ổn định tương đối [7]

Biến đổi khí hậu, theo IPCC 2007, là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu

so với trạng thái trung bình trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [20]

BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển

Chương trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với BĐKH đã định nghĩa “BĐKH là

sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là

do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc trong quản lý sử dụng đất”[11]

Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong

tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và

Trang 17

mực nước biển dâng Lưu ý rằng, kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế - xã hội và

hệ thống khí hậu [16]

Đánh giá tác động do biến đổi khí hậu (UNEP, 2009) thường được dựa trên các

kịch bản của BĐKH trong tương lai và được biểu hiện như thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và những thông tin khác Có thể phân tích những thay đổi

và xu hướng trong các thông số khí hậu bằng cách sử dụng trường thông tin và dữ liệu sẵn có [29]

Đánh giá tác động do BĐKH là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng của BĐKH lên môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương, bao gồm các ảnh hưởng bất lợi và các ảnh hưởng có lợi Bên cạnh đó, đánh giá tác động của BĐKH cũng bao gồm việc xác định và đánh giá các giải pháp thích ứng với BĐKH [16]

Nguyên nhân của biến đổi khí hậu: do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo

Hầu hết giới khoa học đều công nhận BĐKH là do nồng độ của khí nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao Khi nồng độ các khí nhà kính (Gồm: Hơi nước, CO2,

CH4, N2O, O3, các khí CFC) trong khí quyển tăng lên làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất nóng lên, tạo ra các biến đổi trong các vấn đề thời tiết

Các yếu tố tự nhiên có thể làm cho khí hậu của trái đất thay đổi bao gồm sự thay đổi về cường độ bức xạ của mặt trời, sự thay đổi chậm về quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời, các hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, các hoạt động núi lửa, sự thay đổi chuyển động của các dòng hải lưu trong các đại dương [7]

Các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển (ví dụ đốt nhiên liệu hóa thạch) và làm thay đổi bề mặt trái đất (như nạn phá rừng, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa,…) [7]

Phần lớn các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân do con người được xác định

là chủ yếu Hoạt động của con người bao gồm sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên ), chặt phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất; đã

và đang làm gia tăng nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính Theo IPCC (2007), BĐKH toàn cầu có xu hướng diễn biến phức tạp hơn vào giữa và cuối thế kỷ 21 do lượng phát thải khí nhà kính tiếp tục tăng lên [20]

Trang 18

Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng

và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH [16] Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH

Thích ứng với BĐKH (Adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [20]

Giảm nhẹ BĐKH (Mitigation) là sự can thiệp của con người nhằm làm giảm nhẹ áp lực lên hệ thống khí hậu; bao gồm chiến lược giảm nguồn phát thải khí nhà kính và tăng bể chứa khí nhà kính [21]

Năng lực thích ứng và giảm nhẹ phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội, môi trường và tính chủ động của hệ thống thông tin và trình độ của mỗi quốc gia, khu vực, địa phương

Cộng đồng dân cư: Trong các cuốn từ điển tiếng Việt, không có khái niệm cộng

đồng dân cư mà chỉ có khái niệm về cộng đồng hay cộng đồng xã hội Theo Từ điển tiếng Việt, cộng đồng được hiểu là "chung nhau và công khai" Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, cộng đồng xã hội là một tập đoàn người, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát

Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn [32]

Tuy vậy, khi sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật (dân sự, đất đai, môi trường), thuật ngữ thường được sử dụng là cộng đồng dân cư

Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia

sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của công đồng xã hội [8]

Trang 19

Truyền thông thông tin bao gồm các yếu tố [4]:

- Thành phần chính của một quá trình truyền thông thông tin gồm: người gửi

và người nhận

- Công cụ truyền thông chủ yếu gồm: thông điệp và phương tiện truyền thông

- Các chức năng của truyền thông thông tin gồm: mã hóa, giải mã, phản ứng và phản hồi

- Yếu tố cuối cùng là sự nhiễu thông tin trong hệ thống này

Những yếu tố trên được giải thích như sau:

- Người gửi: là bên gửi thông điệp cho một bên khác;

- Mã hóa: là quá trình diễn dịch tư duy thành hình thức biểu tượng;

- Thông điệp: là tập hợp các biểu tượng mà người gửi chuyển đi;

- Phương tiện truyền thông: là những kênh truyền thông mà thông qua đó thông

điệp di chuyển từ người gửi đến với người nhận;

- Giải mã: là quá trình mà nhờ đó người nhận ấn định ý nghĩa cho các biểu

tượng đã được mã hóa bởi người gửi;

- Người nhận: là bên tiếp nhận thông điệp được gửi từ một bên khác;

- Phản ứng: là hành động phản hồi của người nhận sau khi xem thông điệp;

- Thông tin phản hồi: là một phần phản ứng của người nhận được truyền thông

ngược lại cho người gửi;

- Nhiễu thông tin: là trạng thái ngoài dự kiến hay sự méo mó của thông tin xảy

ra trong suốt quá trình truyền thông thông tin, nó gây hậu quả là người nhận sẽ tiếp nhận một thông điệp khác hẳn so với thông điệp ban đầu của người gửi

Một số phương thức truyền thông chủ yếu thường được sử dụng, gồm:

- Truyền thông một chiều: Bằng phương thức này người truyền thông gửi thông điệp truyền thông tới người nhận thông điệp truyền thông qua kênh truyền thông mà không có điều kiện nhận được sự phản hồi của đối tượng truyền thông [6]

Ví dụ như các thông điệp mang tính chất thông báo như thời gian họp, tin phát khẩn cấp (hỏa hoạn, lũ lụt, )

Trang 20

- Truyền thông hai chiều: Thông điệp được trao đổi giữa người gửi và người nhận thông điệp thông qua các kênh truyền thông Người gửi có thể nhận được thông tin phản hồi từ phía người nhận và quá trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần [6]

Truyền thông hai chiều được sử dụng trong các chương trình thăm dò ý kiến, dư luận xã hội về chủ trương, chính sách, dự án, hoặc về một sản phẩm, dịch vụ, chương trình, cần tham khảo ý kiến rộng rãi, nhằm đạt được sự đồng thuận của người dân trước khi triển khai

- Phương thức truyền thông nhiều chiều: Để thực hiện được phương thức này, người làm truyền thông phải thực hiện 03 bước gồm: tiến hành thu thập thông tin (điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tế tại cơ sở); gửi thông điệp truyền thông và nhận thông tin phản hồi từ phía đối tượng truyền thông [6]

Phương thức truyền thông nhiều chiều tập trung vào mục đích chia sẻ thông tin

có tính đến tất cả các yếu tố khác của quá trình truyền thông, kể cả những trở ngại, khó khăn có thể ảnh hưởng đến Đây là một phương thức mô tả tốt nhất của truyền thông hiệu quả, thường được sử dụng trong các chiến dịch truyền thông quy mô lớn, ví dụ: chương trình xóa đói giảm nghèo, di dân-tái định cư, Các kênh truyền thông trong phương thức này thường là các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, ) hoặc kết hợp với các chương trình (mít tinh, cổ động, hội thảo, )

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính toàn cầu, bắt đầu được quan tâm nghiên cứu khoảng giữa thế kỷ 19, từ những năm 1960 [26] Truyền thông về BĐKH ban đầu chủ yếu là các báo cáo tổng hợp trong các diễn đàn, hội nghị; tổng kết các kết quả nghiên cứu và phát hiện khoa học về các hiện tượng cực đoan

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu trở thành chủ đề nóng trên nhiều diễn đàn và hội nghị cấp cao trên toàn thế giới với sự chú ý, tham gia của các bên như: Liên Hợp Quốc (các báo cáo của IPCC, hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc, báo cáo của UNDP), nhóm G8, Ngân hàng thế giới và các

tổ chức phi chính phủ

Trang 21

Cộng đồng nghiên cứu khoa học trên thế giới đều đang chỉ ra rằng tầm quan trọng của truyền thông biến về biến đổi khí hậu Hầu hết các quốc gia, tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đều đang rất tích cực hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức về BĐKH cho các nhóm đối tượng khác nhau Theo kết quả điều tra của UNFCCC, tại các quốc gia trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thì các nhà quản lý và hoạch định chính sách đã công nhận giáo dục về BĐKH và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng là những ưu tiên hàng đầu [22]

Năm 2007, tại Phần Lan, chương trình truyền thông BĐKH được tài trợ và phối hợp với một số sáng kiến truyền thông quy mô nhỏ, được hướng dẫn thực hiện bởi Bộ Môi trường Mục đích của nhóm hướng dẫn là đảm bảo các công dân được cung cấp thông tin về các biện pháp giảm thiểu và thích ứng

Năm 2007, Ngân hàng Toàn cầu am hiểu địa phương (HSBC) đã thực hiện khảo sát điều tra thái độ của cộng đồng dân cư về những thay đổi của các yếu tố khí hậu tại các quốc gia lớn, từ Mỹ đến Trung Quốc [3] Các câu hỏi điều tra của nghiên cứu này bao gồm những câu hỏi như: "Theo bạn hiện nay các nhóm đối tượng nào đang đóng vai trò lãnh đạo trong công tác thích ứng với BĐKH ?", "Nhóm nào nên đóng vai trò lãnh đạo" và mức độ hành vi khác nhau gồm: Quan tâm tới BĐKH; tin tưởng vào những giải pháp đang thực hiện; cam kết cá nhân cho những đóng góp vào các giải pháp hiện tại; lạc quan tin tưởng rằng các vấn đề về BĐKH sẽ được giải quyết Các kết quả nghiên cứu trên là cần thiết cho việc thiết kế các biện pháp truyền thông

có hiệu quả nhằm tiếp cận các nhóm đối tượng khác nhau, cung cấp những thông tin rất hữu ích liên quan tới BĐKH hiện nay và thiết kế các thông điệp có ý nghĩa

Năm 2008, Đại học Yale, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và triển khai dự án về truyền thông BĐKH quy mô lớn cho toàn thể người dân nước Mỹ [23] Mục đích của

dự án là nâng cao hiểu biết của công chúng về BĐKH, các giải pháp thích ứng và giảm thiểu các tác động của BĐKH đồng thời thúc đẩy hành động của các nhà lãnh đạo, quần chúng, các doanh nghiệp, giới học giả và truyền thông nhằm cải thiện hơn nữa kiến thức và hiểu biết cho người dân Mỹ

Năm 2011, tác giả Harshal T.Pandve và nhóm cộng sự đã thực hiện nghiên cứu

"Đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu trong một cộng đồng đô thị" và được đăng tải trên tạp chí Y học lao động và môi trường Ấn Độ [19] Bằng phương pháp phỏng vấn

Trang 22

trực tiếp 733 người trên 18 tuổi tại khu vực sinh sống thuộc trường Cao đẳng y tế ở thành phố Pune, kết quả thu được cho thấy có 91,68% người nhận thức được hiện tượng BĐKH đang diễn ra, có 81,4 % người cho rằng các hoạt động của con người là nguyên nhân gây ra BĐKH, có 54,57% người thấy rằng giáo dục BĐKH, nâng cao nhận thức về BĐKH rất quan trọng trong giảm nhẹ vá thích ứng với BĐKH Các nguồn thông tin phổ biến nhất về BĐKH là truyền hình (59,78%), báo và tạp chí (42,11%), đài phát thanh (13,39%) và internet (9,23%) [19] Cuộc điều tra tạo cơ sở để các nhà quản lý thiết lập và đưa ra các quyết định hành động đối với biện pháp giảm nhẹ tác động BĐKH, nghiên cứu đề xuất và khuyến khích các chương trình, chiến dịch, phổ biến các thông điệp về nhận thức và hành động tới mọi tầng lớp dân cư

Năm 2015, tác giả Ali Said Al Buloshi và Elnazir Ramadan đã công bố kết quả nghiên cứu về "Nhận thức về biến đổi khí hậu và nhận thức của người dân ở Muscat Governorate, Oman" trên tạp chí Hoa Kỳ về BĐKH [18] Tác giả tiến hành khảo sát

350 đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên bằng bảng câu hỏi, tập trung về một số nội dung chính gồm: các kiến thức tổng quát của BĐKH, nguyên nhân gây ra BĐKH, các nguồn cung cấp thông tin mà người tham gia khảo sát được tiếp cận Các kết quả chính thu được cho thấy đa số người dân cho rằng BĐKH là sự gia tăng nhiệt độ (86,7%), nguyên nhân gây ra BĐKH là do các hoạt động sản xuất của con người và BĐKH tác động tới mọi khía cạnh của tự nhiên, đời sống kinh tế xã hội (thiên tai, bệnh tật, suy giảm năng suất nông nghiệp, ) Từ kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng người dân tiếp cận thông tin đa dạng, từ nhiều nguồn khác nhau: kênh truyền hình, các chương trình phổ biến giáo dục, internet,

Tại New Zealand, Chính phủ đẩy mạnh truyền thông về BĐKH thông qua các chiến dịch như: Chiến dịch tiết kiệm năng lượng; chứng nhận quản lý cacbon và giảm cacbon; chương trình chứng nhận môi trường, nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin hữu ích để giúp họ đưa ra những quyết định giảm phát thải khí nhà kính, thay đổi hành vi Đồng thời, chính phủ thiết lập trang web liên kết với các tổ chức chính phủ, phi chính phủ đăng tải các thông tin về nguyên nhân, biểu hiện, các nghiên cứu về BĐKH để mọi công dân có thể truy cập nhanh và có cái nhìn toàn diện về BĐKH

Tại Nhật Bản, các chiến dịch nâng cao nhận thức được phát động bởi chính phủ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các khu vực kinh tế, các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh như: Chiến dịch tiết kiệm năng lượng "Cool Biz", chiến dịch tiết kiệm điện

Trang 23

“Super Cool Biz (Siêu hạ nhiệt)”, nhằm cung cấp thông tin, khuyến khích mọi người giảm phát thải khí nhà kính trong sinh hoạt hằng ngày

Như vậy có thể thấy vấn đề truyền thông BĐKH đang được chính phủ các nước

và các tổ chức trên thế giới đặc biệt quan tâm và sử dụng các phương tiện truyền thông khác nhau nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đưa ra một kết quả tổng quan chung hay một mô hình xác định, để từ đó có những giải pháp phù hợp nhất với từng nhóm đối tượng

1.1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tính đến thời điểm này hiện có ít những khảo sát về kiến thức, thái độ và hành vi trên diện rộng có quy mô lớn về BĐKH Tuy nhiên, bênh cạnh đó vẫn có một số những kết quả khảo sát định tính ở cấp địa phương, ví dụ như một nghiên cứu của oxfam tại Bến Tre và Quảng Trị chỉ ra rằng các chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ vấn đề biến đổi khí hậu và họ thiếu thông tin, phương pháp, công cụ và kinh nghiệm để đối phó với nó [9]

Mạng lưới các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Biến đổi khí hậu (VNGO&CC) được thành lập năm 2008, đến nay đã có khoảng 300 tổ chức/cá nhân thành viên đã và đang thực diện dự án “Tăng cường vai trò các tổ chức Phi chính phủ Việt Nam trong hoạt động truyền thông và vận động chính sách về BĐKH”từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc kết nối, nâng cao hiệu quả hoạt động và tầm ảnh hưởng các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam, khuyến khích các hoạt động vận động chính sách cũng như hỗ trợ các thành viên trong công tác xây dựng năng lực biến đổi khí hậu [27]

Dự án "Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH ở Việt Nam, nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính" (CBCC), do UNDP tài trợ, Viện khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (IMHEN), Bộ Tài nguyên và Môi trường

và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện, kéo dài từ năm 2009 đến năm

2012 tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Bình Định và Ninh Thuận [3]

Kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu môi trường, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ về hoạt động truyền thông thích ứng với BĐKH của cộng đồng dân cư ven biển ở xã Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) và xã Đất Mũi (tỉnh Cà Mau) cho thấy, có điện 58,7% số người chưa từng nghe đến khái niệm biến đổi khí

Trang 24

hậu; 35,3% số người chưa từng nghe đến khái niệm BĐKH; 35,3% số người đã từng nghe đến BĐKH nhưng không biết ý nghĩa của của cụm từ này [30]

Trung tâm nghiên cứu bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng đã thực hiện Dự án: "Thực tập sinh và đại diện cộng đồng chung tay ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại các khu dự trữ sinh quyển Việt Nam" trong giai đoạn 2013-

2015 với mục tiêu huy động sự tham gia, trí tuệ và năng lực của thanh niên sinh viên Việt Nam để tăng cường tính bền vững, độ lan tỏa và sức mạnh cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Việt Nam, qua đó tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng ven biển dễ bị tổn thương trước tác động của thay đổi khí hậu, biến đổi khí hậu và thiên tai [31]

Dưới sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID, Trung tâm nghiên cứu bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng đang phối hợp cùng với Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI).Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng (CECR) đang thực hiện Dự án “Thúc đẩy vai trò tiên phong của thanh niên trong thích ứng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng” trong giai đoạn từ năm 2015-

2018 Mục tiêu của Dự án là nhằm thúc đẩy các sáng kiến thích ứng BĐKH vùng đồng bằng sông Hồng hiệu quả, sáng tạo và tăng cường vai trò tiên phong của thanh niên trong công tác ra quyết định và hành động thích ứng BĐKH [31]

Trong khuôn khổ dự án "Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho địa phương trong việc thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc và Nghị định thư Kyoto về BĐKH (mã số: VN/05/009) do Chương trình tài trợ các dự án nhỏ, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF SGP) tài trợ, các tỉnh Lào Cai, Ninh Thuận và Bến Tre là tổ chức đồng tài trợ, Trung tâm Khoa học công nghệ khí tượng thủy văn và môi trường, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là tổ chức đề xuất và chủ trì thực hiện dự án trong 2 năm 2006-2007, nhằm mục đích nâng cao nhận thức về BĐKH và tăng cường năng lực quản lý của các địa phương tham gia dự án trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Đồng thời, tuyên truyền và phổ biến kiến thức về BĐKH trong cộng đồng các địa phương tham gia dự án, góp phần nâng cao nhận thức trong toàn xã hội [8]

Trang 25

Một số chương trình lớn được chính phủ các nước tài trợ như: Chương trình Thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH ở Việt Nam do Chính phủ Đan Mạch viện trợ, Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH do Chính phủ Nhật Bản và Cộng hòa Pháp hỗ trợ, Chương trình Giảm phát thải khí nhà kính do Liên Hợp quốc hỗ trợ,…đều nhằm mục tiêu lồng ghép các vấn đề ứng phó BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của địa phương đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với BĐKH

1.2 Nội dung của thông điệp truyền thông về biến đổi khí hậu

Truyền thông về BĐKH là một loại truyền thông môi trường [8] Do đó, truyền thông về BĐKH mang những đặc điểm chung của truyền thông môi trường, đó là:

- Các vấn đề môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi người, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con người, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả đến các thế hệ tương lai [8]

- Phạm vi tác động, ảnh hưởng của các vấn đề môi trường đến điều kiện tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội thay đổi rất rộng, từ cá nhân, xóm, thôn, bản đến quốc gia, khu vực và toàn cầu [8] Do đó, vấn đề môi trường là vấn đề chung của cộng đồng

- Những tác động và hậu quả tác động của sự thay đổi môi trường đến các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng nhận ra, xác định, đánh giá được, mặt khác, nó không chỉ có những hậu quả trước mắt

mà có cả những hậu quả tiềm tàng trong tương lai, có khi phải đến các thế kỷ sau [8]

Biến đổi khí hậu là vấn đề chung của cộng đồng, không riêng của đối tượng nào nên truyền thông về BĐKH không chỉ là truyền đạt thông tin đơn thuần mà quan trọng hơn là thu hút mọi người cùng tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự nhận thức chung về những vấn đề liên quan tới BĐKH để từ đó cùng có trách nhiệm và thống nhất hành động trong việc giải quyết các vấn đề của BĐKH đặt ra

Nội dung chủ yếu của thông điệp truyền thông về BĐKH hiện nay gồm thông điệp về nhận thức và thông điệp về hành động

Trang 26

1.2.1 Thông điệp về nhận thức

Hiện nay trên toàn thế giới, hầu như mọi quốc gia, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đều đang rất nỗ lực đưa ra các hoạt động, biện pháp truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, phổ biến các kiến thức cơ bản về BĐKH cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau Theo Điều 6, Công ước Khung về BĐKH của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) đã kêu gọi các quốc gia cần tăng cường các công tác đào tạo, giáo dục; tạo cơ hội cho các nhóm cộng đồng tham gia và tiếp cận các thông tin về BĐKH [22] Nghị định thư Kyoto cũng đưa ra các đề xuất với mục đích là các bên liên quan cùng nhau phối hợp, thống nhất các kế hoạch hợp tác cấp quốc gia và quốc tế nhằm xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục đào tạo gồm: tăng cường năng lực quốc gia đồng thời điều phối các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH [25] Vai trò của truyền thông là giúp cộng đồng hiểu rõ được bản chất

có thể dự đoán được của BĐKH và những tác động liên quan do BĐKH gây ra đến cuộc sống an toàn và sinh kế của họ hiện tại và trong tương lai Họ cần biết rằng những hoạt động và những hành vi ứng xử của mình, trên thực tế có thể gây ra những ảnh hưởng trước những tác động của BĐKH

Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do các tác động của BĐKH Trong một cuộc khảo sát trên quy mô toàn cầu được thực hiện bởi Nielsen (công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu, trụ sở chính tại thành phố New York, Hoa Kỳ) năm 2007 về mối quan tâm đối với hiện tượng nóng lên toàn cầu, Việt Nam là một trong những nước ít quan tâm lo lắng về BĐKH [9] Ở Việt Nam hiện nay chỉ có những khảo sát về kiến thức, thái độ và hành vi ở góc độ địa phương, ví dụ như một số những kết quả khảo sát định tính ở cấp địa phương của tổ chức Oxfam (liên minh quốc tế của 17 tổ chức làm việc tại 94 quốc gia trên toàn thế giới) tại Bến Tre và Quảng Trị đã chỉ ra rằng các cấp chính quyền địa phương chưa nhận thức được các vấn đề cơ bản của BĐKH và họ thiếu thông tin khoa học chính xác, phương pháp đánh giá, công cụ thực hiện và kinh nghiệm thực tiễn để ứng phó với BĐKH [9] Chính vì vậy, các thông điệp nhận thức trong truyền thông về BĐKH càng trở nên cần thiết và đóng vai trò quan trọng

Vấn đề cốt lõi của thông điệp nhận thức là cần chỉ ra cho cộng đồng thấy BĐKH đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra trên quy mô toàn thế giới, ảnh hưởng tới từng khu vực trong một khoảng thời gian kéo dài hàng thập kỷ

Trang 27

Tác động của BĐKH ngày càng mạnh mẽ đến các điều kiện tự nhiên, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan (thiên tai, bão, lụt, hạn hán, ), ảnh hướng tới các hệ sinh thái tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và đời sống, sức khỏe của con người hiện nay, các thế hệ tương lai, nhất là ở những khu vực dễ bị tổn thương, nếu loài người không kịp thời có những giải pháp ứng phó thích hợp Nếu có

sự hợp tác thống nhất về đường lối, chủ trương chính sách, kế hoạch và mục tiêu hoạt động trong nỗ lực giảm phát thải khí kính, ổn định nồng độ của các khí nhà kính của tất cả các quốc gia, của từng địa phương, của toàn thể cộng đồng dân cư và đặc biệt là quá trình điều chỉnh hoạt động, hành vi của mỗi cá nhân thì có thể ngăn ngừa được các tác động do BĐKH mang lại

Hơn nữa, các nội dung của thông điệp phải gắn liền với việc truyền tải các giải pháp chiến lược ứng phó với BĐKH Các giải pháp thích ứng với BĐKH tập trung điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường, khí hậu thay đổi, nhằm ứng phó với những tác động hiện tại hoặc tương lai của khí hậu, do đó làm giảm những ảnh hưởng có hại và tận dụng được những ảnh hưởng có lợi Đối với mỗi địa phương, lĩnh vực, ngành cụ thể cần lựa chọn, xác định đối tượng cần được lồng ghép với các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, phù hợp với chính sách phát triển chung của quốc gia

Ứng phó với BĐKH phải được tiến hành trên các nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính thống nhất, tổng hợp giữa các ngành, vùng, khu vực; bình đẳng giới và xóa đói giảm nghèo [3] Đồng thời, các biện pháp được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên có kế hoạch thích ứng với những tác động cấp bách trước mắt và xây dựng chương trình ứng phó với các tác động tiềm tàng lâu dài; đầu tư tổng hợp các nguồn lực cho ứng phó với BĐKH nhằm đảm bảo phát triển bền vững Đảng và Chính phủ đã xác định ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn

xã hội, mọi cấp, ngành, các tổ chức dân sự, toàn thể người dân, được thực hiện với sự đồng thuận, thống nhất cao, từ phạm vi địa phương, vùng, quốc gia đến toàn cầu [11]

Về cơ bản, các thông điệp nhận thức trong truyền thông về BĐKH có thể được gộp lại thành các nhóm chính sau [8]:

- BĐKH đang xảy ra và có nhiều khả năng sẽ gây ra những tác động lớn đến quá trình phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 28

- Cộng đồng dân cư có thể tham gia chương trình hành động cụ thể nhằm thích ứng với BĐKH

- Cộng đồng dân cư có thể tham gia chương trình hành động cụ thể giảm thiểu phát thải khí nhà kính

Các chủ đề truyền thông có thể áp dụng [6]:

- Kiến thức chung về BĐKH và mối liên hệ giữa BĐKH tới đời sống sức khỏe, sản xuất kinh tế, xã hội của cộng đồng;

- Sự tham gia của mọi người vào chia sẻ thông tin, ứng phó với BĐKH?

- Các ví dụ nghiên cứu điển hình, các mô hình đã thực hiện đạt hiệu quả, số liệu

cụ thể liên quan đến các vấn đề BĐKH trong nước và quốc tế;

- Trao đổi các kinh nghiệm liên quan đến mối liên hệ giữa BĐKH với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng;

Đối với từng nhóm đối tượng cần tiến hành xác định đúng vị trí, vai trò, các nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn cụ thể liên quan đến công tác ứng phó, truyền thông về BĐKH Đặc biệt, cần chú ý tới cơ chế tham gia trong việc triển khai thực hiện hành động của các nhóm này [6]

Trang 29

Một số nhóm đối tượng tiếp nhận thông điệp hành động trong quá trình triển khai truyền thông về BĐKH gồm [8]:

- Chính quyền và cơ quan quản lý các cấp: Gồm các cơ quan, đơn vị và cá nhân

được chỉ đạo tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện, giám sát hay điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia Nhóm này phải chịu trách nhiệm về quản lý nhà nước đối với các công việc hàng ngày có liên quan đến BĐKH (tài nguyên nước, giao thông, năng lượng, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ,…) Bên cạnh đó, nhóm này còn có nhiệm vụ quan trọng trong việc lồng ghép các kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH vào các chương trình phát triển của ngành, địa phương

- Khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân: Có một bộ phận các

doanh nghiệp tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển cộng đồng Trong bối cảnh BĐKH, khối doanh nghiệp bao gồm cả nhà nước và tư nhân đóng vai trò là nhân

tố cần thiết tham gia vào các hoạt động liên quan đến BĐKH, là nguồn ủng hộ về mặt tài chính cho các chương trình, kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia, địa phương

- Các tổ chức chính trị xã hội và tổ chức đoàn thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên minh Hợp tác xã, Đoàn Thanh niên từ trung ương đến các cấp của địa phương (tỉnh, huyện, xã, thôn) là các nhóm đối tượng có mạng lưới hoạt động của thành viên trải dài và rộng khắp trên phạm vi cả nước Các nhóm này chịu trách nhiệm trong việc phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội, ví dụ như BVMT, nước sạch và vệ sinh nông thôn, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên thiên nhiên,

Các tổ chức chính trị xã hội đóng vai trò vừa là đối tượng cần truyền thông về BĐKH, vừa được coi là một trong những công cụ truyền thông hiệu quả do thành viên của các tổ chức này là những cá nhân tích cực tham gia mạng lưới báo cáo viên và cộng tác viên cơ sở về BĐKH Do đó, cần tăng cường năng lực truyền thông về BĐKH, cung cấp các thông tin, kiến thức cơ bản về BĐKH, các mô hình thích ứng và các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính cho nhóm đối tượng này

- Các tổ chức dân sự, xã hội: Là các tổ chức phi chính phủ phi lợi nhuận trong

nước và quốc tế, các hội, câu lạc bộ đóng trên địa bàn các tỉnh thành tại Việt Nam Những thông tin mới liên quan đến khung thể chế hay định hướng chính sách, chiến

Trang 30

lược phát triển, kế hoạch hành động của các cơ quan quản lý của Chính phủ thường xuyên được các tổ chức này quan tâm Từ đó, họ có cơ sở triển khai các nghiên cứu, thu thập các thông tin, số liệu từ thực địa, xây dựng dữ liệu, làm tham chiếu để các cơ quan quản lý của Chính phủ xây dựng các văn bản chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn

Chương trình môi trường quốc gia về BĐKH nhấn mạnh, các tổ chức dân sự xã hội sẽ tham gia vào các quá trình hoạch định chính sách, chương trình, kế hoạch ứng phó với BĐKH trong vai trò phản biện; hỗ trợ cộng đồng trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức, triển khai các biện pháp phòng tránh thiên tai; giúp đỡ người dân áp dụng các biện pháp canh tác, chăn nuôi ít phát thải; tăng cường sử dụng nhiên liệu sính học, hạn chế dùng than

- Các cơ quan nghiên cứu và đào tạo: Nhóm đối tượng này rất cần được cung

cấp đầy đủ, chính xác các thông tin chi tiết, cập nhật kiến thức khoa học liên quan đến

BĐKH nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và thực hiện các công trình nghiên cứu

- Các cơ quan truyền thông: Đây vừa là nhóm đối tượng cần được đào tạo,

nâng cao nhận thức; vừa là đối tác đóng vai trò quan trọng trong việc tiến hành các hoạt động truyền thông chiến lược Ở Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn, đã có nhiều bài viết, phóng sự, phim tài liệu, chuyên đề về BĐKH được phát sóng, đăng tải trên nhiều tờ báo, tạp chí, chương trình phát thanh, truyền hình, từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, thông tin về BĐKH mà các phóng viên, nhà báo có được và đưa tin còn tương đối chung chung, chưa có nhiều luận chứng khoa học cũng như các bài học, kinh nghiệm và nghiên cứu thực tiễn để cung cấp cho khán giả Đội ngũ phóng viên, nhà báo cần được các cơ quan quản lý nhà nước tạo điều kiện trong việc tiếp cận, tham gia tập huấn kỹ năng trong truyền thông nhằm có thông tin và phương thức đầy

đủ về các kịch bản BĐKH, kết quả điều tra nghiên cứu, văn bản chính sách pháp luật, các tài liệu hướng dẫn

- Cộng đồng dân cư: Cộng đồng dân cư, đặc biệt là người dân nghèo sinh sống

tại vùng duyên hải, vùng nông thôn, vùng núi là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương từ các ảnh hưởng của BĐKH Xây dựng thông điệp truyền thông phải đảm bảo cho cộng đồng dân cư hiểu rõ được các thông tin cơ bản về BĐKH, nguyên nhân chính gây ra BĐKH là do hoạt động của con người, từ đó hình thành ý thức, có thái độ và hành vi

Trang 31

ứng xử thân thiện với môi trường thiên nhiên Hơn nữa, cần lồng ghép các kiến thức thích hợp về BĐKH nhằm thu hút người dân tham gia hành động

Cộng đồng dân cư, đặc biệt là các cộng đồng nghèo sinh sống tại vùng duyên hải, vùng trung du miền núi là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất từ các ảnh hưởng của BĐKH [2]

Cuộc sống hàng ngày của cộng đồng dân cư dù ở thành thị hay nông thôn, miền núi hay ven biển thì đều phụ thuộc chặt chẽ tới thiên nhiên, trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất Trong bối cảnh BĐKH như hiện nay, khi các hiện tượng bất thường của thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt, mưa bão, xảy ra thì cuộc sống của người dân bị ảnh nghiêm trọng từ sức khỏe, đến chăn nuôi, quá trình sản xuất nông nghiệp

Nếu như nhận thức của người dân về BĐKH được nâng cao, con người có những hành vi ứng xử thân thiện với môi trường và có những kỹ năng cơ bản xử lý các vấn đề liên quan đến BĐKH trong cuộc sống hàng ngày thì gánh nặng trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên sẽ không còn là của riêng những nhà quản lý nữa mà sẽ được san sẻ trong cả cộng đồng

Chính vì vậy, sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hình thức truyền thông (như các cuộc thi tìm hiểu, mô hình trình diễn, các câu lạc bộ, tổ tự quản hay các hoạt động mang tính phong trào) đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, hình thành ý thức thích ứng với BĐKH

1.3 Cơ sở của việc xây dựng các giải pháp truyền thông

1.3.1 Cơ sở pháp lý

Nhận thức rõ những tác động của BĐKH đến sự phát triển bền vững của đất nước, trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành một số chính sách, chương trình về BĐKH được xây dựng và triển khai, tập trung vào các giải pháp lồng ghép với hoạt động bảo vệ môi trường ứng phó với BĐKH, định hướng trong sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của truyền thông, luôn coi truyền thông

là vấn đề quan trọng hàng đầu trong tất cả các hoạt động ứng phó BĐKH

Để ứng phó hiệu quả trước những tác động tiêu cực của BĐKH, Thủ tướng

chính phủ đã ban hành các Quyết định: số 2139/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về BĐKH ngày 05/12/2012; số 321/QĐ-TTg sửa đổi Điều 3 Quyết định số 43/QĐ-

Trang 32

TTg ngày 09/01/2012 về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu có tầm nhìn xuyên thế kỷ, là nền tảng cho các chiến lược khác; số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh [24]

Ngày 08 tháng 10 năm 2014, Chính phủ đã phê duyệt văn kiện sửa đổi Khung chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) được ban hành kèm theo Quyết định số 1824/QĐ-TTg nhằm mục tiêu đạt được kết quả là xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với BĐKH (Kết quả số 7) trong đó có nội dung: nâng cao năng lực ngành

y tế ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao nhận thức, giáo dục và đào tạo cộng đồng về các vấn đề ứng phó BĐKH [11]

Ngày 03/6/2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa

XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT)

Nghị quyết đã đề cập đến một số giải pháp chủ yếu sau:

1- Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường [5]

Đa dạng hoá hình thức, đổi mới nội dung, xác định các đối tượng ưu tiên tuyên truyền, giáo dục; đưa nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học phổ thông, đại học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý

Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tạo dư luận xã hội lên án và thống nhất nhận thức về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã

Nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, doanh nghiệp và mọi người dân Xây dựng tiêu chí, chuẩn mực về bảo vệ môi trường trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cán

bộ, đảng viên Hình thành các thiết chế văn hoá, đạo đức môi trường trong xã hội Thực hiện đánh giá, phân hạng về môi trường đối với các ngành, địa phương

2- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [5]

Trang 33

3- Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường [5]

4- Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hoá nguồn lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [5] 5- Coi trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [5]

Ngày 23/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Chương trình xác định các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu của Chính phủ về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm giảm nhẹ tác động của BĐKH; khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên quốc gia hợp lý, hiệu quả và bền vững; nâng cao chất lượng môi trường sống

và bảo đảm cân bằng sinh thái, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước mà Nghị quyết số 24-NQ/TW đã đề ra [5]

Tại Bắc Giang, UBND tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn đến năm 2020 tại Quyết định số 253/QĐ-UBND ngày 13/7/2011 [12]; ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08/NQ-CP ngày 23/01/2014 của Chính phủ và Kế hoạch số 50-KH/TU ngày 01/8/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tại Quyết định số 345/QĐ-UBND ngày 13/6/2014 [13] Trong đó, đối với kế hoạch tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với BĐKH, UBND tỉnh Bắc Giang giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Sở, ban ngành, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trên địa bàn tỉnh Bắc Giang triển khai thực hiện

Ngày 28/3/2016, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Giang, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Giang thống nhất Chương trình phối hợp hành động

“Bảo vệ môi trường phát triển bền vững, ứng phó với BĐKH góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh (giai đoạn 2016-2020)” tại Công văn số 07/CTrPH-MTTQ-

Trang 34

TNMT ngày 28/3/2016 Mục đích của chương trình phối hợp nhằm tạo sự chuyển biến

về nhận thức, hành động từ mỗi cá nhân, gia đình đến các khu dân cư trong toàn tỉnh; duy trì thường xuyên các hoạt động phòng, chống, khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường, nâng cao chất lượng môi trường sống, môi trường lao động; bảo vệ, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên của tỉnh; ứng phó với BĐKH [15]

Bằng các hình thức phổ biến quy định pháp luật về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước trên các phương tiện thông tin đại chúng; cung cấp tài liệu tuyển chọn các văn bản pháp luật tới 10 huyện, thành phố và

232 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng thời phối hợp với các đơn vị xây dựng các chuyên đề tuyên truyền lồng ghép với các dịp kỷ niệm, ra quân như: Ngày Nước thế giới 23/3, Ngày Khí tượng thế giới 23/3, Ngày Môi trường thế giới 05/6 diễn ra hàng năm

Các chương trình, dự án, kế hoạch đã đạt được những kết quả nhất định tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề xuất phát từ nhận thức của người dân về BĐKH còn hạn chế dẫn đến khả năng thích ứng thấp; khả năng thay đổi thói quen trong cuộc sống hàng ngày (như hạn chế sử dụng túi nilong, phân loại rác, sử dụng than đá,…) cũng như trong quá trình sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn

Tại địa bàn tỉnh Bắc Giang nói chung, tại xã Đức Thắng nói riêng, hiện nay chưa có giải pháp truyền thông nào thực sự hiệu quả được xây dựng và triển khai sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân địa phương

1.3.2 Cơ sở thực tiễn

Tình hình diễn biến của BĐKH lên các mặt của đời sống có biểu hiện rất phức tạp, trước tiên là nhiệt độ trung bình trái đất tăng lên, băng tan nhanh ở các cực, mực nước biển toàn cầu dâng cao, lượng mưa và phân bố mưa thay đổi gây nên các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa lớn, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, tố lốc Tác động của BĐKH đang ảnh hưởng lớn cho phát triển kinh tế, xã hội, BĐKH cũng xóa đi nhiều thành quả to lớn nỗ lực nhiều năm mới tạo được, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ

Thời gian qua, công tác ứng phó (bao gồm các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ) với BĐKH, phòng ngừa thiên tai, quản lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT đã được quan tâm, có bước chuyển biến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng

Trang 35

Tuy nhiên, các công tác này còn bị động, chưa được triển khai đồng bộ trong khi đó thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản; tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng Đồng thời, việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm, đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng làm ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân [3]

Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là do chủ quan Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng

về công tác này chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trước mắt, chưa coi trọng phát triển bền vững

Một số chủ trương của Đảng chưa được quán triệt và thể chế hoá đầy đủ, kịp thời Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát với thực tế, thiếu tính khả thi Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao Chủ trương xã hội hoá chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân [3]

Bên cạnh đó, người dân chỉ có thể cảm nhận rõ nét nhất khi nghe thông tin dự báo khí tượng thủy văn và tiếp cận những bản tin thời tiết cụ thể, cũng như quan tâm hơn tới những tác động của BĐKH từ các phương tiện truyền thông phổ biến như tivi, internet, loa phát thanh, Còn lại để hiểu nguyên nhân căn bản về những điều liệt kê ở trên thì cần có một vốn kiến thức nhất định mà không phải đối với tầng lớp dân cư nào cũng có thể hiểu sâu sắc được [2]

Trang 36

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Luận văn sử dụng tích hợp hai phương pháp tiếp cận, đó là:

- Tiếp cận từ trên xuống (Top-Down) thông qua việc tổng hợp, phân tích, hệ thống các dữ liệu thứ cấp: Nghị quyết, Nghị định, Luật, Quyết định, Thông tư về truyền thông BĐKH; các kết quả nghiên cứu đa ngành ở các lĩnh vực khác nhau như: Khí tượng, khí hậu, thủy văn, đất đai, kinh tế - xã hội, hạ tầng nông thôn,

- Tiếp cận từ dưới lên (Bottom-Up) thông qua quá trình điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực trạng và kiểm nghiệm mô hình đã đề xuất Dựa trên kết quả khảo sát thực tế để nắm bắt rõ các đặc điểm địa hình, thủy văn, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm của cộng đồng dân cư từ đó xác định được một số giải pháp thích hợp có thể áp dụng

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu

2.1.2.1 Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa

Tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (Participatory/ Rapid Rural Appraisal – PRA/RRA) là một phương pháp đánh giá nhu cầu ở cộng đồng với sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan PRA là một hình thái đặc biệt của nghiên cứu mang tính định lượng được sử dụng để tìm hiểu và thu thập thông tin tại cộng đồng Ưu điểm của phương pháp PRA

so với các phương pháp khác là người dân tại cộng đồng tự phân tích thực tế nhu cầu

và đời sống của họ

Các thông tin sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu bằng phiếu điều tra, đồng thời mở rộng sang các khu vực xã lân cận Việc mở rộng sang các xã lân cận nhằm đối chứng đảm bảo có đủ số liệu cũng như tính đại biểu và khách quan cho số liệu

- Điều tra hộ gia đình bằng bảng hỏi: Thực hiện phương pháp điều tra hộ gia đình nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan đến hiểu biết về biến đổi khí hậu, nguyên nhân, tác động, các hiện tượng thời tiết cực đoan từng diễn ra, các hoạt động ứng phó với BĐKH đã tham gia,

Trang 37

Sử dụng bảng hỏi với những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận giúp cho quá trình điều tra được thuận lợi Trình tự thực hiện như sau:

+ Thiết kế, xây dựng bảng hỏi;

+ Tổ chức lấy thông tin từ bảng hỏi;

+ Phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel

- Xác định kích cỡ mẫu điều tra: Để đảm bảo độ tương đối chính xác cũng như loại trừ các bảng hỏi sau khi điều tra không đủ chất lượng, số hộ cần điều tra tại địa bàn nghiên cứu (xã Đức Thắng) là 200 hộ

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống trên thực địa

Tiến hành điều tra thực địa trong khoảng 2 tháng (mỗi tháng tính là 30 ngày làm việc) Với tổng số lượng hộ gia đình cần điều tra tại 01 xã nghiên cứu (xã Đức Thắng)

và 02 xã so sánh (xã Danh Thắng, xã Thái Sơn) là 600 hộ, trong 60 ngày thì trung bình mỗi ngày sẽ điều tra khoảng 10 hộ gia đình

- Quan sát trực tiếp là quan sát một cách hệ thống các đối tượng, sự kiện, quá trình, quan hệ hoặc con người và sau đó người quan sát phải ghi chép lại những điều

đã quan sát được Đây là một phương pháp tốt để kiểm tra chéo thông tin thu được từ người được phỏng vấn

Các phương pháp quan sát trực tiếp:

+ Ghi chép: sổ, giấy, biểu đồ, ảnh,…

+ Sử dụng một số câu hỏi để kiểm tra;

+ Quan sát theo địa điểm, quan sát các sự kiện diễn ra xung quanh

- Cách thức phỏng vấn (phỏng vấn cá nhân hay phỏng vấn hộ gia đình): Các cuộc phỏng vấn được tiến hành ngẫu nhiên, người phỏng vấn sẽ lựa chọn người được phỏng

vấn một cách ngẫu nhiên tuỳ theo mục đích của từng loại thông tin cần thu thập

- Địa điểm phỏng vấn: Tại từng hộ gia đình đối với phỏng vấn hộ gia đình; tại trụ sở thôn, xã khi phỏng vấn nhóm trọng tâm; tại một địa điểm do người phỏng vấn chọn khi phỏng vấn nhóm và tại bất cứ nơi nào khi người phỏng vấn thấy có thể tiến hành phỏng vấn như: trên cánh đồng, trong trường học, tại nhà ở của người được phỏng vấn

2.1.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, phân tích, xử lý số liệu

Phương pháp thu thập số liệu dựa trên các tài liệu, báo cáo tổng hợp của các cơ quan, đơn vị và cá nhân được tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện, giám

Trang 38

sát hay điều phối Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Thích ứng với Biến đổi khí hậu; Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH; Nghị định thư Kyoto; Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu toàn cầu của Liên Hợp Quốc (COP21), và lồng ghép các kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và giảm phát thải khí nhà kính trong chương trình, phát triển của ngành tại địa phương liên quan tới BĐKH

Thu thập, phân tích, xử lý tài liệu là công việc quan trọng trong quá trình nghiên cứu, đánh giá Trên cơ sở mục đích của đề tài, chúng tôi đã xác định các tài liệu, số liệu cần thu thập tại khu vực nghiên cứu như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các số liệu quan trắc từ các trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh trong khoảng thời gian đủ dài để đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Các tài liệu, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn: báo cáo tổng kết của UBND tỉnh Bắc Giang; các đề án, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu…

- Nắm bắt các số liệu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, chế độ thủy văn, số liệu quan trắc về các điều kiện khí hậu và hạ tầng nông thông

-Tổng hợp và xử lý số liệu thu thập được bằng Exel, Word,

2.1.2.3 Phương pháp chuyên gia

Đề tài nghiên cứu giải pháp truyền thông nâng cao năng lực nhận thức về biến

đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư là một nội dung có ý nghĩa thực tế, đòi hỏi tính liên

ngành Do đó, trong đề tài tác giả có tham vấn nhiều kiến thức, ý kiến khác nhau từ các chuyên gia như là xác định đối tượng nghiên cứu, các giải pháp, chính sách thích hợp để hỗ trợ, nâng cao nhận thức, giáo dục cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng nhằm thích ứng với BĐKH

Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia chia thành ba giai đoạn:

- Lựa chọn chuyên gia

- Trưng cầu ý kiến chuyên gia

- Thu thập và xử lý đánh giá các dự báo

Áp dụng trong quá trình xây dựng kế hoạch triển khai nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, xây dựng giải pháp truyền thông, trong kiểm nghiệm, đánh giá kết quả và

đề xuất hoàn thiện

Trang 39

2.1.2.4 Phương pháp phân tích thống kê

- Sử dụng các phương pháp thống kê thông thường gồm tính tỷ lệ phần trăm, so sánh các tỷ lệ,

- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thực hiện chức năng vẽ và hiệu chỉnh biểu đồ trong phân tích xu thế BĐKH

2.2 Số liệu

2.2.1 Số liệu khí hậu

- Các chuỗi số liệu thống kê khí hậu được thu thập từ trạm khí tượng thành phố

Bắc Giang trong khoảng thời gian 50 năm (1961-2010)

- Đề tài phân tích một số yếu tố khí hậu đặc trưng gồm: Nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ tối cao trung bình năm, nhiệt độ tối thấp trung bình năm, số ngày rét

đậm, rét hại, lượng mưa

2.2.2 Số liệu điều tra, khảo sát

- Tại địa bàn nghiên cứu là xã Đức Thắng, tác giả tập trung thu thập các số liệu

về đặc điểm về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội

- Sử dụng bảng hỏi với các câu hỏi khảo sát mang tính chất đơn giản, dễ tiếp cận về các nội dung của BĐKH: nguyên nhân, biểu hiện, hành động của con người

- Khối lượng điều tra: Số phiếu điều tra là 600 phiếu tại 3 xã (xã Đức Thắng, xã Danh Thắng và xã Thái Sơn) Tại mỗi xã điều tra, chọn ngẫu nhiên 200 hộ gia đình để tiến hành khảo sát

Trang 40

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Xã Đức Thắng là một trong 26 xã và thị trấn của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang - Nằm ở vị trí trung tâm của huyện, có diện tích tự nhiên 10,7 km2, cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách trung tâm thành phố Hà Nội là 50 km

Về địa giới: Xã Đức Thắng giáp ranh 08 xã và 01 thị trấn gồm:

- Phía Bắc: Giáp xã Hoàng An

- Phía Tây - Tây Bắc: Giáp xã Hoàng Vân và xã Thái Sơn

- Phía Tây - Tây Nam: Giáp xã Hùng Sơn và xã Thường Thắng

- Phía Nam: Giáp xã Danh Thắng

- Phía Đông: Giáp xã Ngọc Sơn

- Phía Đông Đông Nam: Xã Đức Thắng tạo thành hình trăng khuyết, ôm lấy 03 phía của thị trấn Thắng và một phần giáp xã Lương Phong

106o2'20'' kinh tuyến đông và 21013'20" đến 21026'10'' vĩ tuyến Bắc

Về địa hình: Chủ yếu là đổi núi thấp, xen kẽ đồng bằng ô trũng, bị chia cắt ở

mức trung bình, hình sóng lượn 8 đến 150, thoải dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam

và chạy dọc ven đồi

Về cấu tạo địa chất: Nằm trong vùng đất phù sa cổ, bạc mầu nặng Thế đất bậc

thang, bị rửa trôi, sét hóa và ong hóa Các chất dinh dưỡng có trong đất gồm các thành phần như mùn, đạm, lân, kali đều từ nghèo đến rất nghèo Nơi trũng có phản ứng chua Tuy nhiên, khi sử dụng nhiều phân bón hữu cơ, giữ độ nước sẽ khiến đất tơi bở, thoáng khí, có thể phù hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đỗ tương, ) cây ăn quả (vải, nhãn, bưởi, ) hoặc cây lấy gỗ (xoan, bạch đàn, mỡ, keo, )

Về tài nguyên khoáng sản: Xã Đức Thắng nằm trên vỉa than non, chưa đến tuổi

khai thác

Ngày đăng: 21/01/2019, 00:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w