Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình Abstract: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương và năng
Trang 1Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình
Abstract: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng với biến đổi khí hậu tại xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Phân tích điều kiện tự nhiên; hiện trạng sử dụng đất qua một số thời điểm và tình hình kinh tế, xã hội tại xã Tây Phong Đề xuất giải pháp thích ứng với
biến đổi khí hậu của cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế
Keywords: Biến đổi khí hậu; Ô nhiễm môi trường; Cao
Trang 2Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước (Bộ tài nguyên và môi trường, 2009) Nước ta có phần lớn dân số sinh sống ở vùng nông thôn, vùng miền núi, ven biển và nguồn sinh kế của họ đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên Biến đổi khí hậu (BĐKH) đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sinh kế bền vững Chính
vì vậy đây là nơi dễ bị tổn thương nhất do tác đổng bởi biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên toàn cầu và ở Việt Nam, vùng núi Tây Bắc trong đó có xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình là một trong những nơi bị ảnh hưởng do tác động BĐKH (Bộ tài nguyên và môi trường, 2009) Tây Phong là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, có những đặc điểm đại diện cho vùng núi tỉnh Hòa Bình nói riêng, vùng núi Tây Bắc nói chung Biến đổi khí hậu ở đây biểu hiện rõ rệt nhất là các hiện tượng khí hậu cực đoan như hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường, rét đậm rét hại các hiện tượng này xuất hiện thất thường khó dự đoán Những kiểu thời tiết cực đoan này tác động tới đời sống người dân đặc biệt là hộ nghèo sống trong cộng đồng làm cho họ dễ bị tổn thương hơn, cuộc sống của họ trở nên bất ổn, nguồn sinh kế của họ bị đe dọa Cụ thể diện tích lúa giảm do hạn hán, năng suất cây trồng giảm hoặc mất trắng, gia súc chết
do rét, dịch bệnh tăng, chi phí đầu tư sản xuất lớn, lợi nhuận thu lại ít Hiện nay chưa có nghiên cứu nào liên quan tới tính dễ bị tổn thương, năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực này
Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tính dễ
bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình”
Mục tiêu của luận văn
Trang 3- Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng với biến đổi khí tại xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình
- Bước đầu đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế
Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng địa phương của xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình và sinh kế của họ bị tác động bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình vì xã Tây Phong có điều kiện tự nhiên, khí hậu đại diện cho vùng núi Tây Bắc, thường xuyên xuất hiện các hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa lũ, hạn hán, rét đậm, rét hại, là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao so với các xã trong vùng và là nơi thuận tiện cho quá trình nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 1985 đến nay
vì đây là giai đoạn gắn với thời kỳ cải cách và đổi mới nền kinh
tế
- Về nội dung nghiên cứu: BĐKH thể hiện bằng thay đổi nhiệt
độ, lượng mưa và hiện tượng thời tiết cực đoan tăng về tần suất
và cường độ, và mức độ khó dự báo, nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này chỉ tập trung một số khía cạnh của các hiện tượng khí hậu cực đoan, đặc biệt là hạn hán, mưa lũ, rét đậm rét hại và tác động của chúng lên sản xuất nông nghiệp, sinh kế của những người nghèo
Kết cấu chính của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương và năng lực thích
ứng với biến đổi khí hậu
Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và khuyến nghị
Trang 4Tài liệu tham khảo
Phụ lục
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 Một số khái niệm
Biến đổi khí hậu
Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu
có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Theo Nguyễn Đức Ngữ (chủ biên), 2008, các biểu hiện của biến đổi khí hậu là
- Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng;
- Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao;
- Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt,hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ
và độ khác thường lớn hơn
Khí hậu cực đoan
Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment Panel on Climate Change – IPCC), 2007 định nghĩa “hiện tượng thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau: Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một nơi
cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Hiếm có thể hiểu là các hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường được có tần suất xuất hiện của nó nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực mà
Trang 5đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự nhiên, bức xạ, địa hình…
Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định, trung bình tự nó đã là cực đoan Hiện tượng khí hậu cực đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện hay không
Tính dễ bị tổn thương
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính dễ bị tổn thương: “Khả năng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu” (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động
và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đánh giá tính dễ bị tổn thương
Tính dễ bị tổn thương được nghiên cứu nhiều năm qua trong
đó ở lĩnh vực BĐKH: Theo nghiên cứu của IUCN đã nêu trong báo cáo về “người bản địa và biến đổi khí hậu” (2008), tính dễ bị tổn thương được phân làm 2 nhóm yếu tố: Xã hội (nghèo đói, bất bình đẳng, mù chữ… ); lý sinh (sức khỏe và dinh dưỡng) Theo Cục biến đổi khí hậu và năng lượng Australia, 2011, tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu được phân thành 3 yếu tố là sinh thái học, kinh tế và xã hội
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khác nhau
để đánh giá tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu Alex de Sherbinin và cộng sự (2010) sử dụng phương pháp tiếp cận dựa
Trang 6vào các kịch bản kết hợp với những phương pháp tiếp cận mới đánh giá tính dễ bị tổn thương từ dưới lên để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương tại 3 thành phố là Mumbai, Rio de Janeiro và Thượng Hải Nghiên cứu này đã đánh giá một số cản trở về mặt chính trị để chuẩn bị tốt hơn trong việc phòng ngừa thiên tai
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận thích ứng với BĐKH như: Thích ứng dựa trên hệ sinh thái, cộng đồng và quyền lợi….Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về cộng đồng thường sử dụng cách tiếp cận dựa trên cộng đồng để nghiên cứu khả năng thích ứng của cộng đồng dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu
Cách tiếp cận thích ứng với BĐKH dựa trên cộng đồng là một phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia Nó cũng tính đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng (CARE International, 2010) Ngoài ra, Hannah Reid và cộng sự (2009) cũng sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH Phương pháp này tập trung vào việc thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng giúp cộng đồng phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong việc tích hợp các kiến thức khoa học và kiến thức cộng đồng để lập kế hoạch thích ứng
Các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng với BĐKH của hộ nghèo
Năm 2007, báo cáo về nghèo đói với BĐKH của Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh kế của người nghèo; nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh hưởng tới nhiều người đặc biệt là hộ nghèo, người nghèo không
có sức mạnh để chống chịu lại các thảm họa
Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và An ninh con người” (Siri E.H Eriksen, 2007) đề cập tới mối quan hệ
Trang 7giữa nghèo đói và thích ứng với biến đổi khí hậu, báo cáo cũng xem xét tới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp giải pháp thích ứng với biến đối khí hậu của việc thực thi các chính sách
hỗ trợ phát triển hiện nay
Nông nghiệp là đối tượng bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của BĐKH
Trong nghiên cứu của Helal Ahammad, 2007 đã đề cập tới “ các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp) có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu Nghiên cứu này cũng phát hiện vai trò tiềm năng của thích nghi trong việc làm giảm những chi phí do những ảnh hưởng này
Các nghiên cứu nêu trên đã phần nào khái quát tình hình nghiên cứu trên thế giới về tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và nổi bật lên các vấn đề sau: Tính dễ bị tổn thương bao gồm các yếu tố: Xã hội (nghèo đói, bất bình đẳng, mù chữ… ), lý sinh (sức khỏe và dinh dưỡng), sinh thái học và kinh tế;
- Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp dựa vào cộng đồng, dựa vào các kịch bản, phương pháp tiếp cận từ trên xuống để nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH;
- Nông nghiệp và hộ nghèo bị ảnh hưởng rất lớn bởi biến đổi khí hậu;
- Lồng ghép thích ứng với BĐKH trong hoạch định chính sách và lâp kế hoạch;
Thông qua các nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu mà trực tiếp tác động là thời tiết cực đoan (hạn hán, mưa lũ, rét đậm, rét hại ) tới đảm bảo sinh kế của hộ nghèo còn được đề cập rất ít và nếu có chỉ là các khía cạnh riêng rẽ như cộng đồng nghèo, nông nghiệp Với nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
Trang 8và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tập trung vào các hiện
tƣợng thời tiết cực đoan và sinh kế dựa vào nông nghiệp của các hộ nghèo miền núi sẽ bổ xung thêm các nghiên cứu nói trên 1.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trong bối cảnh BĐKH ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực chống lại biến đổi khí hậu với các hoạt động, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nông nghiệp, giao thông, thủy lợi… với nhiều cơ quan chuyên môn cũng như các tổ chức quốc tế nghiên cứu và triển khai trong những năm qua
Tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHEN) (2011) đã nghiên cứu và xây dựng hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng” nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động của các Bộ, ngành địa phương với biến đổi khí hậu Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận như sau:
- Đánh giá tác động của BĐKH ở thời điểm hiện tại sau đó đánh giá tác động trong tương lai dựa vào các kịch bản kết hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường;
- Đánh giá tác của BĐKH theo ngành, theo vùng địa lý, theo ranh giới hệ sinh thái…
Các nghiên cứu tác động của BĐKH tới sinh kế (nông nghiệp) của
- Mức chuẩn cận nghèo (cập nhật CPI): so sanh thu nhập hộ gia đình với mức 600 ngàn đồng khu vực nông thôn và 750 ngàn đồng khu vực thành thị
Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải quyết rủi ro do hạn hán
Trang 9ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán.(Oxfam Việt Nam, 2010)
Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu cho thấy người nghèo
và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE International)
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CSRD) (Lâm Thị Thu Sửu và nnk, 2010) nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào:
- Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều tổ chức đã thực hiện;
- Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước;
- Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương
Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên cứu và thực thiện liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu” tập chung vào các vấn đề như: BĐKH và Nông nghiệp bền vững, Biển và Ven biển với BĐKH, Sức khỏe cộng đồng và BĐKH, Tài nguyên môi trường
và BĐKH, Nghiên cứu và vận động chính sách với BĐKH Tuy nhiên nghiên cứu các hiện tượng thời tiết cực đoan và sinh kế dựa vào nông nghiệp của các hộ nghèo khu vực miền núi được
Trang 10đề cập rất ít chính vì vậy nghiên cứu sẽ bổ sung thêm các nghiên cứu nói trên
1.4 Các nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu
Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi như hiện nay, tỉnh Hòa Bình nói chung và xã Tây Phong nói riêng khí hậu cũng ngày càng biến đổi, theo số liệu quan trắc của Trung tâm quan trắc khí tượng thủy văn Thành phố Hòa Bình nhiệt độ mùa hè tăng cao trung bình
, hạn hán kéo dài, mưa lũ thất thường Sự thay đổi này tác động rất lớn tới sinh kế của cộng đồng đặc biệt là người nghèo Theo một cán bộ thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường Hòa Bình, tại tỉnh Hòa Bình vấn đề “biến đổi khí hậu” được quan tâm và chú ý nhiều hơn trong mấy năm gần đây nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu hoặc kế hoạch cụ thể nào liên quan tới
“tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu” Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu các khía cạnh về biến đổi khí hậu là hết sức cấp thiết và là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu giảm thiểu thiệt hại mà nó gây ra đảm bảo
sinh kế bền vững cho người dân đặc biệt là hộ nghèo
CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu tại xã Tây Phong huyện Cao Phong Tỉnh Hòa Bình
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình có tọa độ
Bắc giáp thị trấn Cao Phong và xã Bắc Phong, phía Đông giáp
xã Dũng Phong, phía Nam giáp xã Nam Phong, phía Tây giáp huyện Tân Lạc Từ năm 2003 kể về trước, xã Tây Phong thuộc huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, nay thuộc huyện Cao Phong sau
Trang 11khi huyện Kỳ Sơn được tách thành 2 huyện Cao Phong và Kỳ Sơn
Đặc điểm địa hình
Với diện tích tự nhiên là 2246 ha, Xã Tây Phong có đặc điểm địa hình khá đặc trưng của vùng miền núi, phần lớn diện tích là đồi thấp và núi đá vôi, diện tích đất nông nghiệp và đất ở chiếm tỷ lệ ít khoảng 12 % tổng diện tích Theo đặc điểm địa hình xã chia làm 2 vùng khá rõ rệt: vùng giáp núi đá gồm các xóm Chao, Khạ, Đồi, Nếp và Lãi
Đặc điểm khí hậu
Xã Tây Phong nằm tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Bắc Bộ
và Tây Bắc Bộ chính vì vậy khí hậu của xã Tây Phong có đặc điểm khí hậu của vùng tiếp giáp giữa hai vùng này, do đó khí hậu vùng tương đối phức tạp Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
C (2010) Lượng mưa trung bình 25 năm trở lại đây vào khoảng 1817,7 mm/năm, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
10 hàng năm mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm (Trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Hòa Bình, 2011)
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất qua một số thời điểm
Hiện trạng mục đích sử dụng đất đã thay đổi từ năm 2000 trở lại đây, diện tích đất trồng lúa giảm một cách rõ rệt 157,332
ha (2004) chỉ còn 56,7 ha năm (2007) Ngược lại diện tích đất trồng mía tăng rất mạnh từ 43,01 ha năm 2004 tăng lên 250,5 ha năm 2007
Trang 12người đạt 8,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo 19,9 % (UBND
Phương pháp phân thích tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng dựa vào cộng đồng (CVCA)
Khái niệm: CVCA là một phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi
có sự tham gia Nó cũng tính đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng (CARE International, 2010)
CVCA tập trung vào mức độ cộng đồng nhưng kết hợp phân tích những vấn đề ở cấp độ vùng và quốc gia trong một nỗ lực để thúc đẩy một môi trường hỗ trợ cho sự thích ứng dựa vào cộng đồng
Khung sinh kế bền vững (SLF)
SLF là chữ viết tắt của Sustainable Livelihoods Framework (Khung Sinh kế Bền vững) do Bộ Phát triển Hải ngoại Anh Quốc – DFID (Department For International Development, 2001) phát triển, đã nêu lên những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người dân
DFID sử dụng định nghĩa sinh kế bền vững như sau:
“Một sinh kế thì bao gồm những năng lực, tài sản (bao gồm cả tài sản vật chất và tài nguyên xã hội) và các hoạt động cần thiết để làm phương tiện sinh sống Một sinh kế là bền vững khi có thể đối phó và phục hồi từ các stress, các cú sốc, và
Trang 13duy trì được hoặc tăng cường được các khả năng và các tài sản này cho cả hiện tại và tương lai, trong khi không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên”
Hình 2.2: Khung sinh kế bền vững (SLF)
(Nguồn: DFID, 2001)
5 loại vốn trong khung sinh kế
Human capital (H): Nguồn vốn con người
Natural capital (N): Nguồn vốn thiên nhiên
Financial capital (F): Nguồn vốn tài chánh
Social capital (P): Nguồn vốn xã hội Physical capital (S): Nguồn vốn vật chất
Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp dụng khung sinh kế bao gồm:
- Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo;
- Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo;
- Giảm rủi ro
- Nâng cao an toàn lương thực
- Sử dụng bền vững hơn các nguồn lợi tự
nhiên
Chiến lược sinh kế
N h ằ m đ ặ t đ ư ợ
g 2 chiều
Tài sản sinh kế
Trang 14- Giúp định ra các ưu tiên hành động;
- Giúp tìm ra chiến lược sinh kế phù hợp;
- Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính
dễ bị tổn thương
Cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo cần kết hợp cả năm loại vốn để cải thiện chất lượng cuộc sống Chỉ một loại vốn không thì có thể không đủ để tạo ra sinh kế bền vững nhưng không phải là phải cần tất cả các loại vốn với mức độ như nhau
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp kế thừa tài liệu: Phương pháp kế thừa tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập các thông tin
từ các nguồn tài liệu sẵn có như: Sách, báo, luận văn trước, các báo cáo…
Các loại số liệu cần thu thập
- Số liệu quan trắc: các chỉ số quan trắc cần thu thập để
phục vụ nghiên cứu trong luân văn được thể hiện trong bảng sau
Trung tâm quan
Trung tâm quan
Bình
Trang 15- Số liệu về số hộ nghèo, thu nhập bình quân, các nguồn sinh kế
của cộng đồng và hộ nghèo Chúng tôi thu thập từ các báo cáo
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã Tây Phong các năm 2008, 2009, 2010 và tổng hợp kết quả phỏng vấn hộ dân
Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:
Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc nhằm thu thập thông tin mang tính đại diện, các thông tin chuyên sâu, các kiến thức hay hiểu biến của cộng đồng hay hộ dân về BĐKH Các
đối tượng cần phỏng vấn như sau:
Phỏng vấn hộ dân: Để có được thông tin về các nguồn sinh kế;
thu nhập; nhu cầu…của các hộ dân đặc biệt là nhận thức của họ về BĐKH, chúng tôi sử dụng danh mục câu hỏi (phụ lục 3), cách thức lựa chọn và phỏng vấn như sau:
Cách lựa chọn hộ: Lựa chọn 90 hộ nghèo tương đương với
30% số hộ nghèo toàn xã (theo tiêu chí hộ nghèo của Bộ thương binh và xã hộ năm 2011) để đảm bảo tính đại diện số hộ nghèo chia 3 vùng là: vùng núi cao, vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa tương ứng 3 xóm (xã Tây Phong có 10 xóm) đại diện của 3 vùng, các hộ nghèo trong xóm được lựa chọn theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên và ít nhất 30% số người tham gia trên 45 tuổi
Cách phỏng vấn: Các hộ được lựa chọn được mời tới địa điểm
nhất định (nhà văn hóa thôn, nhà hộ dân…) các hộ được phỏng vấn theo danh mục câu hỏi đã chuẩn bị trước