ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN CÁT HẢI,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Cự
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VEN BIỂN TẠI HUYỆN CÁT HẢI,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Cự
HÀ NỘI – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Cự, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp
đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thành bài luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS.Phạm Văn Cự đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý, chỉ bảo ân cần của các thầy, cô giáo Khoa các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cát Hải, Ủy ban nhân dân xã Phù Long, Ủy ban nhân dân xã Xuân Đám đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu 5
1.2 Tổng quan về đánh giá khả năng thích ứng và đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển 10
1.2.1 Sinh kế vùng ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu 10
1.2.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu 14
CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Cát Hải 16
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 16
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 17
2.2 Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu tại huyện Cát Hải 20
2.2.1 Diễn biến các yếu tố khí hậu 20
2.2.2 Dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu huyện Cát Hải 24
2.3 Tác động và tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến huyện Cát Hải 33
2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu tới các lĩnh vực 33
2.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân 40
2.4 Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào bộ chỉ số 42 2.5 Phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá khả năng tổn thương và thích
Trang 6ứng với biến đổi khí hậu huyện Cát Hải 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Kết quả đánh giá khả năng tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu tại các xã ven biển huyện Cát Hải 53
3.1.1 Kết quả đánh giá mức độ nhạy cảm 53
3.1.2 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng 56
3.1.3 Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế 60
3.2 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tại các xã Phù Long, Xuân Đám từ điều tra định tính 62
3.2.1 Tại xã Phù Long 62
3.2.2 Tại xã Xuân Đám 70
3.2.3 Nhận xét và khuyến nghị chính sách 77
3.3 Đánh giá năng lực thích ứng của cộng đồng ven biển huyện Cát Hải 79
3.3.1 Nguồn lực tự nhiên 80
3.2.2 Nguồn lực tài chính 81
3.3.3 Nguồn lực xã hội 83
3.3.4 Nguồn lực con người 85
3.3.5 Nguồn lực vật chất, cơ sở hạ tầng 86
3.3.6 Các hoạt động tự thích ứng 88
3.3.7 Phân tích các chính sách thích ứng 88
3.4 Đề xuất giải pháp ứng phó, thích ứng – giảm nhẹ với biến đổi khí hậu 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AC Chỉ số khả năng thích ứng
BĐKH Biến đổi khí hậu
CVCA Phương pháp luận phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương
E Chỉ số mức độ phơi nhiễm
GSO Tổng cục thống kê Việt Nam
IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
LVI Chỉ số mức độ tổn thương sinh kế
PCLB Phòng chống lụt bão
S Chỉ số mức độ nhạy cảm
TDBTT Tính dễ bị tổn thương
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu tại vùng ven biển và hải đảo Việt Nam [5] 6Bảng 1 2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu [4] 13Bảng 2 1 Tổng hợp đặc trưng nhiệt độ trung bình nhiều năm giai đoạn 1961-
2015 22Bảng 2 2 Xu thế đặc trưng mưa và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015 với 1961-
2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận 23Bảng 2 3 Số lần xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra 24Bảng 2 4 Tần suất xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra 24Bảng 2 5 Mức tăng nhiệt độ (0C) trung bình năm so với thời kỳ 1980-1999 Cát Hải 25Bảng 2 6 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) so với thời kỳ 1980-1999 theo các kịch bản 25Bảng 2 7 Mực NBD (cm) trung bình huyện Cát Hải theo các kịch bản 26Bảng 2 8 Thống kê số lượng ATNĐ và bão thời kỳ 1986 –2015 ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến huyện Cát Hải 29Bảng 2 9 Đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015 theo số liệu quan trắc tại trạm Hòn Dấu 30Bảng 2 10 Bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng và khả năng tổn thương huyện Cát Hải 47Bảng 3 1 Kết quả chỉ số đánh giá mức độ nhạy cảm với BĐKH năm 2006 và
2016 huyện Cát Hải 56Bảng 3 2 Kết quả chỉ số đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH năm 2006 và
2016 huyện Cát Hải 57Bảng 3 3 Kết quả chỉ số đánh giá mức độ tổn thương sinh kế năm 2006 và 2016 60Bảng 3 4 Tác động của thời tiết đối với nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long 63Bảng 3 5 Hoạt động trồng rau tại xã Xuân Đám 70
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Khung đánh giá tính tổn thương với BĐKH của IPCC [1] 8
Hình 1 2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển 11
Hình 2 1 Xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm và so sánh 2006-2015 với 1961-2005 tại trạm KT Hòn Dấu 21
Hình 2 3 Xu thế mực nước trung bình và so sánh mực nước trung bình đo tại trạm Hòn Dấu qua các năm từ 1961 – 2015 23
Hình 2 4 Kịch bản BĐKH về nhiệt độ trung bình năm tại Cát Hải 25
Hình 2 5 Kịch bản BĐKH về mức tăng lượng mưa năm ở Cát Hải 26
Hình 2 6 Bản đồ nguy cơ ngập theo kịch bản phát B2 năm 2030 ứng với NBD trung bình và cao tại huyện Cát Hải 27
Hình 2 7 Biểu đồ diện tích ngập ứng với các kịch bản NBD (B2) 28
Hình 2 8 Biểu đồ thống kê các đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015xảy ra ở Cát Hải 31 Hình 2 9 Khung xây dựng chỉ số thích ứng với Biến đổi khí hậu [24] 43
Hình 2 10 Khung xây dựng bộ chỉ số đánh giá khả năng tổn thương 46
và thích ứng ở các xã ven biển huyện Cát Hải 46
Hình 3 1 Mức độ nhạy cảm sinh kế với BĐKH tính cho 2006 của các xã trong huyện 53 Hình 3 2 Mức độ nhạy cảm sinh kế với BĐKH tính cho 2016 của các xã trong huyện 54 Hình 3 3 Bản đồ mức độ nhạy cảm với Biến đổi khí hậu huyện Cát Hải năm 2006 và 2016 54
Hình 3 4 Khả năng thích ứng với BĐKH tính cho 2006 của các xã trong huyện 58
Hình 3 5 Khả năng thích ứng với BĐKH tính cho năm 2016 của các xã trong huyện 58 Hình 3 6 Bản đồ khả năng thích ứng với Biến đổi khí hậu huyện Cát Hải năm 2006 và 2016 59
Hình 3 7 Các chỉ số nhạy cảm và thích ứng xã Phù Long năm 2006 và 2016 61
Hình 3 8 Các chỉ số nhạy cảm và thích ứng xã Xuân Đám năm 2006 và 2016 62
Hình 3 9 Bản đồ vị trí xã Phù Long và Xuân Đám 65
Hình 3 10 Kết quả phỏng vấn 42 hộ dân xã Xuân Đám 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là thành phố cảng biển, là đầu mối giao thông quan trọng giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế, có vị trí chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng của cả nước Thành phố có tổng diện tích tự nhiên là 1.523 km2, diện tích mặt nước biển là 4.000 km2, đường bờ biển dài trên 125 km với khoảng 360 hòn đảo lớn nhỏ Địa hình của Hải Phòng rất đa dạng, hệ thống sông ngòi chiếm 20,1% diện tích toàn thành phố với 5 cửa sông chính đổ ra biển Bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên, hiện nay thành phố cũng đang phải đối mặt với những thách thức do tác động của biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường
Huyện Cát Hải là một trong những đơn vị hành chính ven biển của thành phố Hải Phòng, một địa bàn chiến lược có tầm quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở vùng duyên hải Bắc Bộ nước ta Trong chiến lược phát triển kinh tế của thành phố, Cát Hải nằm trong vùng trọng điểm kinh tế, có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch Những năm gần đây do ảnh hưởng của nước biển dâng đã làm tăng xói lở đường bờ biển, bão lụt, nhiễm mặn gây ra thiệt hại và rủi ro đến đời sống kinh tế xã hội và nguồn lợi ven biển
Xói lở làm ảnh hưởng 16,1 km trên tổng số 125 km bờ biển tại Hải Phòng và xói sạt diễn biến phức tạp tại khu vực đảo Cát Bà và một số xã thuộc huyện Cát Hải, ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng dân cư do người dân sống chủ yếu nhờ vào nguồn tài nguyên tại chỗ Các hiện tượng thời tiết cực đoan (mưa kéo dài và bão ) tái biến thiên nhiên thường xuyên xảy ra phức tạp đã ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển [33] Vấn đề mà các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư quan tâm là khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư tại đây có đủ để giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu gây ra không? Một cách cụ thể hơn, vấn đề được đặt ra
là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giữa các xã, sự khác biệt này có ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của các xã hay không?
Với các nhận thức như vậy, học viên đã chọn nghiên cứu đề tài: Đánh giá khả
Trang 11năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển tại một số xã huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng cho luận văn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển tại huyên Cát Hải, thành phố Hải Phòng
3 Đối tượng nghiên cứu
Các tác động của biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng của cộng đồng dân
cư ven biển
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi 02 xã ven biển thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, xác định mức độ ảnh hưởng và đề xuất giải pháp ứng phó, thích ứng và giảm nhẹ để nâng cao tính chống chịu và tận dụng những ảnh hưởng tích cực của biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Dự kiến tiến hành luận văn từ tháng 3/2018 đến hết tháng 9/2018, số liệu được hồi cứu trong các thập kỷ đã qua
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Tiếp cận liên ngành: Luận văn sử dụng một số khung lý thuyết và dữ liệu, số
liệu thuộc các chuyên ngành khác nhau Cụ thể là các lĩnh vực khí tượng, khí hậu,
sử dụng đất đai, sinh kế cộng đồng, kinh tế - xã hội…
Tiếp cận hệ thống: Luận văn nghiên cứu quan hệ mang tính hệ thống giữa tác
động của biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư các xã huyện đảo Cát Hải, Hải Phòng
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Tổng quan tài liệu: Học viên tiến hành thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
nhằm đưa ra được một cái nhìn tổng quan về Biến đổi khí hậu, về sinh kế bền vững và các phương pháp đánh giá khả năng bị tổn thương và khả năng thích ứng
của cộng đồng dân cư vùng ven biển trên thế giới và Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận văn sử dụng các phương pháp
phân tích thống kê để phân tích các thông số kỹ thuật về khí tượng thủy văn để đánh
Trang 12giá sự thay đổi của khí hậu trong vòng 30 năm và phân tích các số liệu về điều tra Nông nghiệp nông thôn cấp nông hộ ở huyện Cát Hải trong vòng 10 năm để đánh giá sự thay đổi các loại hình sinh kế và tính toán các chỉ số đưa vào đánh giá khả
năng thích ứng của cộng đồng dân cư
Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận văn cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu định tính gồm các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu trực tiếp các cá nhân trong ban lãnh đạo xã, đại diện các hộ gia đình để thấy được cảm nhận các tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu tới người dân và cách thức ứng phó của người dân với biến đổi khí hậu
+ Tham quan thực địa: Đã tiến hành khảo sát việc trồng rau của người dân xã Xuân Đám và đầm nuôi trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn của người dân xã Phù Long Thông qua việc lấy ý kiến của người dân đã thu thập được các tư liệu phục vụ cho việc phân tích các mô hình, thu thập được hình ảnh, lời dẫn của người dân, các ưu nhược điểm và đưa ra được các khuyến nghị
+ Họp nhóm cộng đồng: Có sự tham gia của cán bộ xã và đại diện các nhóm sinh kế
+ Phỏng vấn sâu cán bộ xã: Tại mỗi xã, Chủ tịch Hội phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính được phỏng vấn sâu với các câu hỏi liên quan
+ Phỏng vấn người dân: Các thông tin đánh giá về năng lực thích ứng với BĐKH của người dân địa phương được thực hiện tại 02 xã (20 mẫu cho xã Xuân Đám và 20 mẫu cho xã Phù Long); Lựa chọn một số hộ điển hình tham gia mô hình trồng rau tại xã Xuân Đám và nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long (9 hộ gia đình đang tiến hành sinh kế trồng rau tại xã Xuân Đám; 10 hộ gia đình nuôi trồng thủy sản tại xã Phù Long)
Phương pháp đánh giá khả năng bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu: Dựa trên việc tổng quan các phương pháp đánh giá khả năng
bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam, nghiên cứu lựa chọn một phương pháp đánh giá phù hợp với khu vực huyện đảo
Trang 136 Ý nghĩa và thực tiễn của đề tài
- Đánh giá diễn biến của thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây tại huyện Cát Hải và tại 02 xã nghiên cứu
- Đánh giá được những tác động của biến đổi khí hậu đối với cộng đồng dân
cư ven biển tại địa bàn nghiên cứu
- Xây dựng được bộ chỉ đánh giá khả năng tổn thương và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng 10 xã nông thôn huyện Cát Hải
- Đánh giá chuyên sâu khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển của 02 xã (tìm hiểu các biện pháp thích ứng mà người dân đang áp dụng)
- Cung cấp các cơ sở thực tiễn phục vụ khuyến nghị và đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu
7 Những đóng góp của đề tài
- Đánh giá hiện trạng của biến đổi khí hậu đang diễn ra tại địa phương và cộng đồng dân cư ven biển, qua đó đề xuất những giải pháp ứng phó để thích ứng phù hợp với thực tế như:
- Đề xuất bổ sung, sửa đổi những chính sách gắn liền với thích ứng về biến đổi khí hậu
- Xây dựng năng lực thích ứng cho cộng đồng dân cư gắn với bối cảnh thực
tế về biến đổi khí hậu, như: thích ứng trong hoạt động sản xuất của hộ dân, kiến thức, kỹ năng trong việc ứng phó biến đổi khí hậu
- Đề xuất các khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư ven biển
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương với nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan và cơ sở lý luận
Chương 2 Khu vực nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Một số khái niệm:
Biến đổi khí hậu (BĐKH) được định nghĩa bởi Ban liên chính phủ về BĐKH
(IPCC) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể
do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu
tạo của khí quyền [2] Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu là: Nhiệt độ trung bình
năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng; Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao; Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn [3]
Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi Cộng đồng dễ bị tổn thương nhất bao gồm: nông dân, ngư dân, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo nhất ở đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn [2] Những tác động trên cho thấy biến đổi khí hậu là vấn
đề phát triển quan trọng hiện nay Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của con người đều đang
có nguy cơ bị hủy hoại bởi biến đổi khí hậu Do phụ thuộc trực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với biến đổi khí hậu, nông nghiệp sẽ là ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu Sự gia tăng nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ làm cho các khu vực thích hợp với sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, độ dài của mùa sinh trưởng bị rút ngắn, từ đó năng suất nông nghiệp có thể bị giảm sút trên toàn thế giới, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới, ngay cả khi có những thay đổi trong tập quán canh tác
Có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn,
Trang 15dải ven biển và vùng núi, trong đó vùng ven biển là khu vực sẽ bị tổn thương nhiều nhất Các vùng duyên hải ngày càng có nhiều nguy cơ bị ảnh hưởng bởi bão, ngập lụt, xâm thực bờ biển và những ảnh hưởng này đều có nguy cơ gây ra những tác động mang tính thảm họa và không thể đảo ngược [4].
Bảng 1.1 Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu tại vùng
ven biển và hải đảo Việt Nam [5]
đô thị/nông thôn
- Môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn đề xã hội khác
- Kinh doanh dịch vụ, thương mại và du lịch
- Nông dân và ngư dân nghèo ven biển
- Người già, trẻ em, phụ nữ
Tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu: Khái niệm về tính dễ bị
tổn thương do biến đổi khí hậu đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2001): tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội bị thay đổi trạng thái ban đầu theo hướng xấu đi dưới tác động bất lợi của BĐKH dẫn đến không thể ứng phó với các tác động bất lợi do BĐKH (bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu” Để định lượng tính tổn thương do BĐKH, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) là một hàm số của 3 yếu tố sau: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các tác động bất lợi của BĐKH (Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm của hệ thống trước những thay
Trang 16đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực thích ứng với BĐKH (Adaptive Capacity - AC)
Đến Báo cáo Thứ 4 (FAR), định nghĩa tính tổn thương được phát triển và nêu
cụ thể hơn so với Báo cáo Thứ 3 IPCC nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương là một chỉ
số tổng hợp của nhiều yếu tố thành phần Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố
là (1) yếu tố tự nhiên: các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết; (2) yếu tố con người: các tác động do con người tạo ra Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh được tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương
về môi trường (environmental vulerability) và tổn thương về xã hội (social
vulnerability) [6] Trong đó các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội như
giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động của tập thể ngày càng quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phó với BĐKH IPCC cũng nêu rõ tính tổn thương do BDKH phụ thuộc vào nhiều địa điểm khảo sát và quy mô đánh giá
Đến năm 2010, tác giả Armitage và Plummer cũng đưa đánh giá khả năng bị tổn thương của con người trước tác động của biến đổi khí hậu phụ thuộc vào 4 yếu
tố sau [7] : (i) Bản chất và độ lớn của biến đổi khí hậu, (ii) Mức độ phụ thuộc của con người vào các nguồn lực nhạy cảm với biến đổi khí hậu (bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội), (iii) Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của biến đổi khí hậu, và (iv) Năng lực thích ứng của con người trước những thay đổi của các nguồn lực nhạy cảm với biến đổi khí hậu
Như vậy áp dụng quan điểm lý thuyết của IPCC và được nhiều nhà khoa học
áp dụng trong đánh giá, mối quan hệ của chỉ số tính tổn thương với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán học là:
VI = f(E,S,AC)
Trang 17Hình 1.1 Khung đánh giá tính tổn thương với BĐKH của IPCC [1]
Thích ứng với biến đổi khí hậu: Thích ứng với BĐKH là “sự điều chỉnh hệ
thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [2] Thích ứng với biến đổi khí hậu từ trước đến nay vẫn được coi là mối quan tâm thứ yếu của các chương trình quốc tế về xóa đói giảm nghèo, bởi vì giảm nhẹ biến đổi khí hậu mới được coi là yêu cầu bắt buộc
và cấp bách vì nó quyết định triển vọng tránh được các hiểm họa của biến đổi khí hậu trong tương lai để hướng tới một xã hội ít các bon Tuy nhiên, đối với các cộng đồng dễ
bị tổn thương trước biến đổi khí hậu thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết [8] Mục tiêu của thích ứng là nâng cao năng lực thích ứng và giảm nhẹ khả năng dễ bị tổn thương do tác động biến đổi khi hậu, góp phần duy tài các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương tiến đến phát triển bền vững [5] Người nghèo và những người dễ bị tổn
MỨC ĐỘ PHƠI NHIỄM (E)
BIẾN
ĐỔI KHÍ
HẬU
TÍNH NHẠY CẢM (S)
TÁC ĐỘNG TIỀM NĂNG PI
= f (S,E)
NĂNG LỰC THÍCH ỨNG (AC)
TÍNH DỄ
BỊ TỔN THƯƠNG (V=PI,A C)
Trang 18thương trước tác động của biến đổi khí hậu cần được hỗ trợ để tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu
Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của biến đổi khí hậu, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội có lợi từ biến đổi khí hậu Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương, là hợp phần trong đánh giá tổn thương Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các chiến lược thích ứng BĐKH hiệu quả
- Thích ứng dựa vào cộng đồng được tổ chức CARE (2009) đưa ra trong
cẩm nang phân tích năng lực và thích ứng với biến đổi khí hậu [9], đó là một quá trình do cộng đồng xây dựng và làm chủ dựa vào các ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng Mục đích của quá trình này là nâng cao khả năng của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH Thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia, kinh nghiệm của cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng có hiệu quả Các mô hình thích ứng thân thiện với môi trường sẽ được khuyến khích phát triển bởi vì họ
là người hiểu rõ nhất đặc điểm của địa phương mình Bên cạnh đó phương pháp này còn giúp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách theo cả hai chiểu từ trên xuống và từ dưới lên cũng như tăng cường khả năng của cán bộ địa phương về kỹ năng và ý thức phục vụ người dâncho công việc thực tiễn của họ Từ đó bảo đảm tính bền vững của các chính sách cả về kinh tế, xã hội và môi trường
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng để hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho
họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH Đồng thời thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng cố gắng tính đến tác động tiềm tàng của BBĐKH lên sinh kế và giảm tình trạng đễ bị tổn thương với thiên tai bằng cách sử dụng tri thức bản địa và kiến thức khoa học về BĐKH và tác động có thể của nó Hiện nay phương pháp thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng kế thừa và phát triển dựa trên các phương pháp quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, phát triển cộng đồng có sự tham gia hay các phương pháp cho từng ngành cụ thể như
Trang 19phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân Các phương pháp mới cũng đưa vào áp dụng nhằm cùng cộng đồng phân tích nguyên nhân và hậu quả của BĐKH, đồng thời kết hợp các số liệu khoa học và kiến thức bản địa về khí hậu để đưa ra các giải pháp ứng phó
1.2 Tổng quan về đánh giá khả năng thích ứng và đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển
1.2.1 Sinh kế vùng ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu
Khái niệm về sinh kế thường được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu sau này đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway (1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện để kiếm sống Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là: “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo
ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cả cấp địa phương và cấp toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn” [10] Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình, thôn, vùng… nhưng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình Theo quan điểm của Chambers và Conway, sinh kế bền vững là một khái niệm lồng ghép của 3 yếu tố cơ bản là: khả năng, công bằng và bền vững Sau này, Scoones (1998) [11], Ashley, C
và Carney, D (1999) [12], DFID (2001) [13] và Solesbury (2003) [14] đã phát triển
tính bền vững của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế
Khung sinh kế bền vững được sử dụng như một công cụ để phân tích các nguồn lực sinh kế được sử dụng, các chiến lược sinh kế được thực hiện từ việc sử dụng các nguồn lực sinh kế đó và các kết quả sinh kế đạt được từ việc thực hiện các chiến lược sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp hộ gia đình và cộng đồng Trong báo cáo của MARD năm 2008 [15], IMM đã sửa đổi tổng hợp các khung sinh kế bền vững được đưa ra của Scooner và
Trang 20DFID để áp dụng cho các cộng đồng ven biển Trong khung phân tích này, sinh kế của các hộ gia đ.nh ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố Các yếu tố thuộc nhóm thứ nhất bao gồm các nguồn lực sinh kế (5 loại nguồn lực) mà hộ gia đình sử dụng để thực hiện các chiến lược sinh kế Thuộc nhóm thứ hai là các yếu tố về đặc điểm cá nhân (như tuổi tác, giới tính, tôn giáo ) và các yếu tố xã hội (như cơ cấu chính trị, chính sách, luật pháp…) bao quanh cộng đồng ven biển và có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng ven biển Nhóm thứ ba bao gồm các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp như tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài… Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của cộng đồng ven biển dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa 3 nhóm yếu tố cơ bản này
Hình 1 2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển
Trang 21Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của biến đổi khí hậu, có thể nhận thấy rằng, biến đổi khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường sá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậu hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu hay không [2, 16]
Sinh kế ven biển cũng được rất nhiều nghiên cứu đề cập đánh giá trong bối
cảnh Biến đổi khí hậu [4, 15, 17] Sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của hộ gia đình thường phụ thuộc vào những nguồn lực sinh kế mà hộ gia đình nắm giữ và các yếu tố tác động từ bên ngoài như yếu tố mùa vụ, thời tiết, chính sách và thể chế tại địa phương Tại hầu hết các cộng đồng ven biển, với nguồn lợi hải sản phong phú, đánh bắt là một sinh kế chính Ngoài ra, các sinh kế khác cũng phụ thuộc vào đánh bắt như dịch vụ nghề cá, chế biến thủy hải sản và thương mại nghề cá Do đó, nguồn lợi thủy sản là một nguồn lực sinh kế quan trọng đối với cộng đồng ven biển Bên cạnh đó nuôi trồng thủy sản đang dần dần trở thành một sinh kế thay thế mặc
dù hoạt động nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát thường gây ra các tác động môi
trường và không khả thi đối với các hộ nghèo Nông nghiệp cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo việc làm và đảm bảo an ninh lương thực ở nông thôn, nhưng trong một số trường hợp, người dân không có khả năng tiếp cận với việc sử dụng
đất, đặc biệt đối với các đảo nhỏ vùng ven biển Một số ngành dịch vụ như buôn
bán nhỏ, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, cũng từng bước được hình thành và phát triển ở các cộng đồng ven biển Tất cả những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên sinh kế ven biển được tổng hợp theo bảng dưới đây:
Trang 22Bảng 1 2 Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển
trước tác động của biến đổi khí hậu [4]
Sản lượng thu hoạch giảm Thu nhập giảm
Đất nông nghiệp bị nhiễm mặn
Không thể thực hiện các hoạt động trồng trọt trên đất bị nhiễm mặn
Sản lượng thu hoạch giảm Thu nhập giảm
Độ mặn của nước thay đổi, ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài thủy sản
Hoạt động đánh bắt
và nuôi trồng bị ảnh hưởng
Năng suất/sản lượng nông nghiệp, thuỷ sản giảm; doanh thu từ du lịch giảm Thu nhập giảm
Cơ sở hạ tầng hiện tại (đê điều, hệ thống thủy lợi, cầu đường)
Các hoạt động nông nghiệp, thủy sản, du lịch bị ảnh hưởng
Năng suất/sản lượng nông nghiệp, thuỷ sản giảm; doanh thu từ du lịch giảm Thu nhập giảm
Hạn hán
Đất canh tác bị khô hạn
Hoạt động trồng trọt
bị ảnh hưởng do thiếu nước tưới
Năng suất cây trồng giảm Thu nhập giảm
Tăng độ mặn của nguồn nước và nhiệt độ
Hoạt động đánh bắt
và nuôi trồng bị ảnh hưởng
Năng suất giảm Thu nhập giảm
Lũ lụt
bị ảnh hưởng
Năng suất/sản lượng trồng trọt giảm
Thu nhập giảm
Sự di chuyển các
Năng suất/sản lượng nuôi trồng giảm
Thu nhập giảm Phá vỡ cơ sở hạ
tầng hiện tại (đê điều, thủy lợi, đường xá)
Hoạt động nông nghiệp, thủy sản, du lịch bị ảnh hưởng
Năng suất/sản lượng nông nghiệp, thuỷ sản giảm; doanh thu từ du lịch giảm Thu nhập giảm
Bão, triều cường
Phá vỡ hệ thống
đê của các đầm nuôi trồng thủy sản
Hoạt động đánh bắt
bị ảnh hưởng
Năng suất/sản lượng giảm Thu nhập giảm
Trang 231.2.2 Tổng quan về phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu
Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu là đánh giá mức độ dễ bị
ảnh hưởng của một (các) đối tượng (các cộng đồng, khu vực, nhóm người hoặc hoạt động kinh tế - xã hội/ngành) dưới tác động của biến đổi khí hậu Mức độ dễ bị tổn thương của một đối tượng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của biến đổi khí hậu mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của đối tượng đó Kết quả đánh giá tổn thương
có thể được thể hiện trên ma trận hoặc các bản đồ tổn thương chỉ ra các vùng/khu vực
và nhóm dân cư có khả năng dễ bị tổn thương cao do biến đổi khí hậu
Theo IPCC [18], các phương pháp đánh giá tính DBTT nhìn chung được chia thành 02 nhóm chính (i) Tuyệt đối hoá và (ii) Tương đối hoá mức độ tổn thương đánh giá mức độ tổn thương tuyệt đối hoá, tất cả các mối ràng buộc đều được mô hình hoá và kết quả đạt được là mức độ tổn thương được thể hiện bằng tiền Cách tiếp cận này mang tính minh bạch cao bởi định lượng được mức độ tổn thương bằng tiền, tuy nhiên tồn tại nhiều nguy cơ sai số vì rất khó xây dựng được tất cả các mô hình sát với thực tế Hơn nữa, khối lượng công việc sẽ rất lớn khi mức độ tổn thương tổng quát do nhiều hiện tượng cùng gây ra Theo cách tương đối hóa, mức
độ tổn thương được đánh giá bằng cách liệt kê các yếu tố gây tổn thương (xây dựng
bộ chỉ thị); cho điểm theo một thang định sẵn; tổng hợp lại bằng cách sử dụng trọng
số cho từng chỉ thị Kết quả đạt được là một giá trị định tính (điểm trung bình) chứ không được qui đổi ra thành tiền Khó khăn lớn nhất trong phương pháp này là xây dựng thang điểm và xác định các trọng số cho từng chỉ thị; kết quả tính toán thường gây tranh cãi về tính thuyết phục Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn được sử dụng rộng rãi bởi cung cấp bức tranh tổng quát mang tính so sánh tương đối giữa các vùng [19]
Song song với hai nhóm phương pháp trên là hai cách tiếp cận đánh giá tính
dễ bị tổn thương: tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên Tiếp cận từ trên xuống tập trung đánh giá các rủi ro khí hậu trong dài dạn như vài thập kỷ và thường đến 2100 và thường dựa trên các kịch bản BĐKH Tiếp cận từ dưới lên dựa trên dựa trên các chiến lược đối phó của địa phương, công nghệ và kiến thức bản địa, năng
Trang 24lực và khả năng đối phó của cộng đồng và chính quyền trước các dao động khí hậu hiện tại Đối với cách tiếp cận này, nhiều nghiên cứu sử dụng định nghĩa về mức độ BĐKH, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng để định lượng TTDBTT Hầu hết các khung và phương pháp đánh giá tính DBTT được sử dụng tại Việt Nam đều theo cách tiếp cận từ dưới lên [19]
Trang 25CHƯƠNG 2 KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội huyện Cát Hải
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cát Hải nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long, phía Bắc giáp huyện Yên Hưng (Quảng Ninh); phía Tây giáp đảo Đình Vũ, phía Đông và Nam là vịnh Bắc
Bộ Huyện gồm quần đảo Cát Bà (hơn 300 km2
) và đảo Cát Hải (khoảng 40 km2) hợp thành với tổng diện tích tự nhiên là 345 km2 trong đó rừng núi chiếm 2/3 Huyện có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 2 thị trấn Cát Bà, Cát Hải và các
xã Đồng Bài, Nghĩa Lộ, Văn Phong, Hoàng Châu, Phù Long, Trân Châu, Xuân Đám, Việt Hải, Gia Luận, Hiền Hào
Địa hình Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi và một số đồi đất thấp xen kẽ nhiều thung lũng lớn nhỏ, rừng núi chiếm 2/3 diện tích
2.1.1.2 Tài nguyên, môi trường
Địa hình
Địa hình chủ yếu tại quần đảo Cát Bà là địa hình Karst nhiệt đới bị ngập chìm
do biển tiến Điều này đã tạo nên cảnh quan độc đáo, nhiều dạng địa hình đặc biệt như đảo đá, hang động, đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái, các loại động thực vật phong phú Đảo chính Cát Bà rộng khoảng 144km2, chỗ cao nhất 331m, là đảo đá vôi lớn nhất trong hệ thống quần đảo phía Nam vịnh Hạ Long và vùng ven
bờ Tây biển Đông Trên đảo có các thung lũng Karst và nhiều hang động nổi tiếng như: Hoa Cương, Trung Trang, Quân Y, Áng Mả, Phù Long, Quả Vàng, v.v
Thổ nhưỡng
Đất của huyện đảo Cát Hải gồm: 1) Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi với diện tích 4.482,2 ha, có nhiều tại các xã Trân Châu, Gia Luận, Việt Hải; 2) Đất Feralit nâu đỏ với diện tích: 900,2 ha, phân bố hầu hết các xã trong quần đảo, đất thích hợp trồng cây ăn quả như Cam, Quýt, Nhãn Vải; 3) Đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc tụ hỗn hợp, diện tích: 1.001,5 ha; 4) Đất dốc tụ thung lũng, khoảng 342,5 ha, đã được khai phá trồng lúa và hoa màu; 5) Đất mặn Sú vẹt, diện tích: 826,7 ha, tập trung chủ yếu vùng Cái Viềng, Phù Long và rải
Trang 26rác ở vài nơi quanh đảo; 6) Đất bồi chua mặn, diện tích nhỏ, chỉ khoảng trên 40ha, phân bố ở xã Xuân Đám về phía biển Phân theo mục đích sử dụng thì Cát Hải có các loại nhóm đất, gồm: đất đồi, núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên với 32.311,3ha; đất nông nghiệp: 375ha; đất lâm nghiệp: 171.34ha, đất chuyên dùng 620,4ha; đất ở 360ha và đất chưa sử dụng 10.821ha
Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái chính:
Vườn quốc gia, Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ) quần đảo Cát Bà là nơi có đa dạng sinh học cao với sự đa dạng về loài, các hệ sinh thái và nguồn gen Khu DTSQ
có tổng diện tích 26.241ha (gồm phần đảo và phần biển), được chia thành 3 vùng: vùng Lõi, vùng Đệm và vùng Chuyển tiếp Các hệ sinh thái (HST) tiểu biểu, đặc thù gồm: HST rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi; HST rừng ngập mặn; HST vùng triều; HST rạn san hô; HST hồ nước mặn; HST đáy mềm; HST hang động
Rừng nguyên sinh trên đảo đã thống kê được: 745 loài thực vật trong đó có nhiều dược liệu quả và 200 loài động vật trên cạn trong đó điển hình nhất là loài voọc đầu trắng đặc hữu (voọc Cát Bà) Sinh vật biển thuộc vùng biển - đảo Cát Hải cũng rất phong phú, đa dạng, với trên 1.200 loài Vịnh Lan Hạ (Cát Bà) là một trong những vịnh biển đẹp nhất trong quần thể danh thắng vịnh Hạ Long
Hệ sinh thái rừng ngập mặn: phân bố chủ yếu ở khu vực xã Phù Long với
tổng diẹ n tích là 775,98 ha và đuợc phân chia ra làm 2 loại: rừng ngạ p mạ n phân bố ngoài khu đầm nuôi thủy sản và rừng ngạ p mạ n phía trong khu đầm nuôi thủy sản Các dải rừng ngập mặn ven đảo là ngôi nhà của hàng chục loài thủy sản, cung cấp thức ăn với nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cua, tôm, cá, v.v
Với các giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học (ĐDSH), đảo Cát Bà nói riêng và khu DTSQ quần đảo Cát Bà được xem như lá phổi xanh của thành phố Hải Phòng, điển hình cho mô hình “phòng thí nghiệm học tập về phát triển bền vững” (UNESCO)
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
2.1.2.1 Kinh tế
Trong khoảng 10 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của huyện Cát Hải đạt mức khá GDP bình quân đầu người tăng hàng năm Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
Trang 2710,3% /năm, trong đó tốc độ tăng trưởng nhóm ngành nghề du lịch – dịch vụ tăng bình quân 11,7% /năm, công nghiệp – xây dựng tăng 12,3% /năm, nông lâm – thủy sản tăng bình quân 2% /năm;
Cơ cấu giá trị sản xuất: Nhóm ngành du lịch-dịch vụ: 72,9%, nhóm ngành công nghiệp-xây dựng: 16,4%, nhóm ngành nông-lâm-thuỷ sản: 10,7% (2017)
Du lịch, dịch vụ:
Du lịch là lĩnh vực kinh tế chủ đạo, phát triển và hiện chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu kinh tế của huyện Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành du lịch đạt 6,6% /năm Khách du lịch đạt 2.160.000 lượt, trong đó khách quốc tế đạt 477.500 lượt Tổng doanh thu từ dịch vụ lưu trú ăn uống ước đạt 1.250 tỷ đồng (2017)
Hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú, hình thức kinh doanh linh hoạt, thị trường ổn định đáp ứng nhu cầu của nhân dân và
du khách Tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ ước đạt 1.060 tỷ đồng (2017)
Thủy sản:
Ngành nghề thủy sản phát triển cả về khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch
vụ Tổng sản lượng thủy sản đạt bình quân 9.970 tấn/năm Khai thác thủy sản chủ yếu là khai thác ven bờ, sản lượng khai thác đạt bình quân 4.292 tấn/năm; nuôi trồng thủy sản bình quân đạt 5.678 tấn/năm Chế biến thủy sản phát triển với đa dạng sản phẩm và chất lượng cao
Dịch vụ và cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thủy sản cơ bản được hoàn thiện,
hệ thống các cảng biển, khu neo đậu tàu thuyền, các trung tâm dịch vụ hậu cần và phát triển thủy sản được đầu tư nâng cấp đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành thủy sản trên vùng biển Cát Bà
Nông, lâm, diêm nghiệp:
Sản xuất nông nghiệp đã có sự phát triển tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật, chú trọng chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi có sản lượng và giá trị kinh tế cao Năm 2017, diện tích trồng lúa đạt 18 ha đạt 84% kế hoạch năm Diện tích trồng rau màu đạt 34 ha đạt 99% kế hoạch năm, v.v Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng bình quân 2,8%/năm, sản lượng lúa bình quân đạt 81 tấn/năm Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 8,5 %/năm Cụ thể vào
Trang 28năm 2017, huyện có 15.000 con lợn, 5.000 con dê, 88.300 con gia cầm, 2.302 đàn ong, công tác thú y phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được quan tâm Sản xuất muối: năng suất và diện tích giảm, hiệu quả thấp
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Sản lượng nước mắm bình quân đạt 6.500.000 lít năm (2017), các doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình sản phẩm mở rộng thị trường, v.v Tổng giá trị sản xuất bình quân đạt 147 tỷ đồng/năm Sửa chữa tàu thuyền tăng trưởng khá, sản lượng sửa chữa tàu thuyền bình quân đạt 12.000 phương tiện/năm; sản lượng sản xuất nước đá bình quân đạt 350.000 tấn năm 2017
Giao thông vận tải:
Năm 2017, vận chuyển hành khách của các doanh nghiệp vận tải đường bộ, đường thủy trên địa bàn huyện đạt: 2.969.000 lượt Trong đó vận chuyển khách đường bộ ước đạt: 2.673.000 lượt, vận chuyển khách đường thủy ước đạt 296.000 lượt Vận tải hàng hóa đường thủy ước đạt 78.000 lượt
2.1.2.2 Xã hội
Dân số, lao động và việc làm:
Dân số: 30.659 người (2016), tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,53%, cơ cấu lao động được phân bổ như sau: du lịch – dịch vụ chiếm: 44%, công nghiệp – xây dựng chiếm 15,6%, nông lâm – thủy sản chiếm 13,5% Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%
Lao động và việc làm: Năm 2017, huyện đã mở 6 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn (210 học viên); tạo việc làm mới cho 3.150 lao động Tỷ lệ hộ nghèo là 1,96%, cận nghèo là 2%
Văn hóa, Giáo dục, Y tế:
Văn hóa, thể thao: Trung tâm Văn hóa- Thể thao huyện đạt chuẩn, có nhiều hoạt động văn hóa thể thao kết nối với các xã có hiệu quả Toàn huyện hiện có 40 nhà văn hoá, trong đó 12 Nhà văn hóa xã, thị trấn, 28 nhà văn hóa tổ dân phố và có
33 công trình thể dục, thể thao, trong đó có 12 sân bóng chuyền, 12 sân cầu lông, hai sân tenis và 7 sân bóng đá Đài phát thanh huyện và các xã, thị trấn thực hiện
Trang 29tốt công tác truyền thông, xây dựng được 290 chương trình phát thanh Toàn huyện hiện có 74 trạm thu phát sóng di động (BTS), 19 điểm kinh doanh dịch vụ internet Giáo dục - Đào tạo: Toàn huyện có hai trường trung học phổ thông với chất lượng đào tạo tốt, có 17 trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục ở cấp độ cao nhất, giữ vững bảy trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt trên 96% Niên học 2016 – 2017, lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo đã có
15 sáng kiến khoa học – công nghệ được công nhận
Y tế: Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3 trở lên, trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, y tế được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng: Toàn huyện có 6/12 trạm y tế xã và thị trấn đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế, 32 bác sỹ và 100% các thôn/ xóm có y tế thôn/ xóm Có 127 đơn vị
và 2.584 người tham gia bảo hiểm xã hội và 29.809 người tham gia bảo hiểm y tế
Tình hình thực hiện Chương trình Nông thôn mới:
Đến cuối năm 2017, huyện Cát Hải đã hoàn thiện hồ sơ báo cáo UBND Thành phố xét, công nhận huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới năm 2017 (riêng 4 xã trên đảo Cát Hải không tham gia chương trình Nông thôn mới vì thuộc vùng quy hoạch cảng Đình Vũ) Huyện đã kiện toàn Văn phòng điều phối Nông thôn mới của huyện, đánh giá kết quả bước đầu thực hiện đề án phát triển Kinh tế nông thôn giai đoạn 2017 – 2020 Các xã của huyện Cát Hải đã được công nhận xã đảo (theo Quyết định 1859/QĐ-TTg ngày 23 tháng 11 năm 2017) Đây là cơ hội mới cho các xã sẽ được hưởng những chính sách ưu đãi trong phát triển KT-XH đối với xã đảo theo quy định của Luật biển Việt Nam và theo Quy hoạch phát triển kinh
tế đảo Việt Nam đến năm 2020
2.2 Biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu tại huyện Cát Hải
2.2.1 Diễn biến các yếu tố khí hậu
Ở vị trí đặc thù của một huyện đảo, Cát Hải đã ghi nhận nhiều biến động trong các yếu tố khí hậu trong vòng ba thập kỷ qua Kết quả tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, mực NBD, v.v được thu thập từ mạng lưới các trạm khí tượng thủy văn trên địa bàn huyện và lân cận
Trang 302.2.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình (NĐTB) năm trên địa bàn huyện Cát Hải có xu hướng tăng
dần từ năm 1961 đến 2005 Trong hơn 50 năm nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng
0,70C, tuy nhiên, mức độ tăng của các thập kỷ khác nhau Tại trạm khí tượng Hòn
Dấu, trong 2 thập kỷ đầu (1966-1975, 1976-1985), NĐTB năm ít thay đổi và duy trì ở
mức 23,4-23,50C, thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,3-0,40C; 2 thập kỷ tiếp theo
(1986-1995 và 1996-2005) nhiệt độ có xu hướng tăng mạnh lên 0,30C/thập kỷ
Nhưng từ năm 2006 đến 2015, nhiệt độ không tăng so với thập kỷ trước đó So sánh
thập kỷ 2006-2015 với thời kỳ 1961-2005, NĐTB năm tăng 0,40C với tỷ lệ tăng
1,68% (Hình 4)
Hình 2 1 Xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm và so sánh 2006-2015 với
1961-2005 tại trạm KT Hòn Dấu
Nhiệt độ tăng giảm không đều giữa các mùa NĐTB trong các tháng mùa đông
(từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) tại Hòn Dấu có xu thế tăng mạnh
trong hơn 5 thập kỷ qua (1961-2015) khoảng 0,80C, nhưng NĐTB tháng thấp nhất
(tháng 1) lại tăng ít hơn, khoảng 0,30C Tuy nhiên, trong thập kỷ gần đây NĐTB
tháng lại có xu hướng giảm rõ rệt; so với trung bình nhiều năm giảm 0,20C Nhiệt
độ mùa đông có xu hướng giảm trong thập kỷ gần đây do có một số mùa đông rét
bất thường Nhưng nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối lại có xu thế tăng mạnh trong hơn
50 năm qua và trong thập kỷ gần đây so với 4 thập kỷ trước tăng 0,70C (Bảng 1)
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối tại Cát Hải cũng có xu thế tăng mạnh, đặc biệt là
trong 10 năm trở lại đây Nhiệt độ cao nhất trung bình trong thập kỷ 2006-2015 tăng
0,40C (tăng khoảng 1,03%) so với hơn 4 thập kỷ trước đó (1961-2005)
Trang 31Bảng 2 1 Tổng hợp đặc trưng nhiệt độ trung bình nhiều năm
bình 16,6 17,3 19,3 23,2 27,2 29,2 29,4 28,7 27,6 25,1 22,0 18,4 23,7 Cao
nhất TB 23,6 24,4 25,8 29,6 33,7 34,7 35,1 34,7 33,4 31,4 29,2 26,0 30,1 Cao
nhất TĐ 32,0 35,4 34,0 35,3 38,9 38,8 39,0 36,8 36,0 33,8 34,0 29,3 39,0 Thấp
Hình 2 2 Xu thế lượng mưa năm và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015 với 1961-2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
Lượng mưa trung bình mùa khô (tháng 11- tháng 4) ở Cát Hải trong thập kỷ gần đây có xu thế tăng mạnh so với trung bình những năm trước đó (28,42%) trong khi mùa mưa cũng tăng nhưng không nhiều
Trang 32Bảng 2 2 Xu thế đặc trưng mưa và so sánh giữa thời kỳ 2006-2015 với
1961-2004 tại các trạm đo mưa ở huyện Cát Hải và lân cận
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
2.2.1.3 Nước biển dâng
Trong hơn 50 năm, mực nước biển trung bình năm tại trạm Hòn Dấu tăng gần
20cm/ 50 năm (khoảng 4mm/ năm) So sánh mực nước trung bình của thập kỷ gần
đây (2006-2015) với mực nước trung bình từ 1961-2005 thấy có sự tăng mạnh, tới
8cm (tỷ lệ tăng 4,52%)
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
Hình 2 3 Xu thế mực nước trung bình và so sánh mực nước trung bình
đo tại trạm Hòn Dấu qua các năm từ 1961 – 2015
Theo số liệu thống kê, có trên 50% cơn bão đổ bộ vào Bắc Bộ gây nước dâng
trên 1m, 30% cơn bão gây nước dâng 1,5m trở lên và 11% cơn bão gây nước dâng trên
2m Khi bão đổ bộ vào ven biển thường kèm theo nước dâng, là hiệu ứng nước dồn khi
gió thổi mạnh và quá trình giảm áp suất khí quyển Bão Kate gây nước dâng trùng kỳ
triều cường ngày 26/9/1955 gây thảm hoạ lớn cho Hải Phòng trong đó có huyện Cát
Trang 33Hải Tháng 7/2005, bão đổ bộ vào Hải Phòng với gió cấp 12 đã gây ra nước dâng trên 2m, nước biển làm ngập nhiều diện tích đảo Cát Hải và một số vùng thuộc Cát Bà tới
50 - 60cm, có nơi tới 100cm Tháng 7/1980, bão đổ bộ vào Hải Phòng gây ra nước dâng cao 1,76m Hiện tượng nước dâng thường xảy ra trễ khoảng 1 ngày so với thời gian bão đổ bộ vào đất liền, thời gian tồn tại nước dâng thường từ 12 - 30 giờ, đa số các lần nước dâng ngắn hơn 24 giờ với khoảng 7 giờ nước dâng tới đỉnh và 9 - 12 giờ nước rút tới chân, thời gian duy trì mực nước dâng cao nhất khoảng 3 giờ
Bảng 2 3 Số lần xuất hiện mực nước dâng do bão gây ra Mực nước dâng (m) < 0,5 0,5 – 1,0 1,0 – 1,5 1,5 – 2,0 2,0 – 2,5 > 2,5
2.2.2 Dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu huyện Cát Hải
Xuất phát từ tình hình thực tế, huyện Cát Hải (với sự hỗ trợ của dự án READY) đã lựa chọn để tính toán xây dựng kịch bản BĐKH là kịch bản phát thải trung bình (B2) và thực hiện thêm kịch bản phát thải trung bình của nhóm phát thải cao (A2) Thời kỳ cơ sở
để so sánh là 1980 – 1999 Các kịch bản BĐKH với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho huyện đảo Cát Hải, lấy trạm khí tượng-hải văn Hòn Dấu làm chuẩn
Trang 34Bảng 2 5 Mức tăng nhiệt độ ( 0 C) trung bình năm
so với thời kỳ 1980-1999 Cát Hải
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), 2016)
Hình 2 4 Kịch bản BĐKH về nhiệt độ trung bình năm tại Cát Hải
2.2.2.2 Lượng mưa
Theo các kịch bản phát thải, vào giữa thế kỷ 21, mức tăng lƣợng mƣa trên địa bàn huyện Cát Hải có thể từ 2,1% (B1) đến 2,4% (A2); đến cuối thế kỷ 21, lƣợng mƣa tăng khá mạnh, từ 2,9% (B1) đến 5,7% (A2) Đến cuối thế kỷ, tỷ lệ tăng giữa các kịch bản
có sự chênh lệch nhiều, tới 30% và gần gấp 2 lần giữa kịch bản A2 và B1
Bảng 2 6 Mức thay đổi lƣợng mƣa năm ( ) so với thời kỳ 1980-1999
Trang 35Hình 2 5 Kịch bản BĐKH về mức tăng lượng mưa năm ở Cát Hải
Lượng mưa mùa khô có xu thế giảm chậm và đến cuối thế kỷ 21 mức giảm nhiều hơn Lượng mưa mùa hè tăng không đánh kể nhưng đến cuối thế kỷ 21 thì lượng mưa tăng lên nhiều hơn, từ 3,8% (B1) đến 7,3% (A2) Lượng mưa ngày lớn nhất vào cuối thế kỷ 21 ở Cát Hải có thể tăng khoảng 50% so với thời kỳ 1980-
1999 Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện lượng mưa ngày dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
2.2.2.3 Xu thế nước biển dâng cho huyện đảo Cát Hải
Mực NBD trung bình cho khu vực ven biển huyện đảo Cát Hải ứng với các kịch bản được trình bày trong Bảng 7 và Hình 6 Đến năm 2030 mực NBD vùng biển quần đảo Cát Hải khác nhau không nhiều đối với cả 3 kịch bản thấp, trung bình và cao, trị
số dao động từ 12-13cm so với thời kỳ cơ sở 1980-1999 Vào giữa thế kỷ 21, mực NBD trung bình có thể ở mức 21cm với kịch bản phát thải thấp (B1), 22cm với kịch bản B2 và 24cm với kịch bản A2 Tương ứng với các kịch bản này đến cuối thế kỷ
Trang 36Hình 2 6 Bản đồ nguy cơ ngập theo kịch bản phát B2 năm 2030 ứng với NBD
trung bình và cao tại huyện Cát Hải
Cát Hải có hệ thống đê biển khá kiên cố, vì vậy ngập lụt ở Cát Hải chủ yếu do ảnh hưởng ngập úng do mưa lớn và NBD Do có hệ thống đê bảo vệ nên các kịch bản NBD đến năm 2050 và cuối thế kỷ 21 chỉ gây ngập khu vực đảo Cát Hải và ven
bờ phía Tây Bắc đảo Cát Bà, còn các khu vực là núi cao hầu như không bị ngập Các chuyên gia đã xây dựng các kịch bản NBD cho Cát Hải đến năm 2030, năm
2050 và đến cuối thế kỷ 21 với mức tăng trung bình và cao cho mỗi kịch bản trong trường hợp xấu nhất là không có hệ thống đê biển bảo vệ hoặc trường hợp gió bão mạnh ≥ cấp 10 ảnh hưởng trực tiếp làm vỡ đê Nguy cơ ngập lụt theo kịch bản trung bình B2 được lựa chọn để xem xét các giải pháp ứng phó cho huyện Cát Hải trong giai đoạn 5 – 10 năm tới Mức độ diễn biến ngập lụt trong kịch bản B2 với mức trung bình và cao như sau:
Theo kịch bản B2, năm 2030, mực nước biển dâng lên ở mức trung bình là 12cm thì diện tích ngập của huyện Cát Bà (chủ yếu ở đảo Cát Hải) khoảng 655ha,
Trang 37chiếm 2,8% diện tích toàn huyện Đến năm 2050, khi mực NBD lên 22cm, thì diện tích ngập khoảng 1.058ha, chiếm 4,6% diện tích toàn huyện Đến cuối thế kỷ 21, khi mực nước biển dâng lên ở mức trung bình là 57cm, thì nguy cơ ngập của huyện đảo Cát Hải khoảng 3.038ha, chiếm 13,1% diện tích toàn huyện Diện tích ngập dự báo bao trùm hầu hết đảo Cát Hải và xã Phù Long - phía Tây đảo Cát Bà (Dự án READY, 2016)
Hình 2 7 Biểu đồ diện tích ngập ứng với các kịch bản NBD (B2)
2.2.3 Đánh giá biểu hiện cực đoan khí hậu tại địa bàn nghiên cứu
2.2.3.1 Bão và áp thấp nhiệt đới
Trong 30 năm gần đây (1986-2015), trung bình mỗi năm có khoảng 2,2 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ bộ (ảnh hưởng trực tiếp) hoặc gián tiếp (gây mưa) đến khu vực Hải Phòng, bao gồm huyện đảo Cát Hải, trong đó ATNĐ và bão cấp 8-9 chiếm gần 80%, bão mạnh cấp 10-11 chiếm 15% và 5% là bão rất mạnh (≥ cấp 12) So sánh giữa 2 thập kỷ 1996-2005 và 2006-2015 cho thấy có sự gia tăng số lượng cơn bão và ATNĐ trong giai đoạn này, trong đó đáng chú ý là tăng số lượng bão mạnh (cấp 10-11) và rất mạnh (≥ cấp 12) Nếu như trong thập kỷ 1986-1995 chỉ
có 2 cơn bão mạnh và rất mạnh đổ bộ vào Bắc Bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến huyện Cát Hải thì trong 2 thập kỷ 1996-2005 và 2006-2015 đã tăng lên 13 cơn Từ năm
2006 đến 2015, có tới 28 cơn bão và ATNĐ và hầu như năm nào cũng có bão hoặc ATNĐ ảnh hưởng tới Cát Hải Tần suất của bão xuất hiện nhiều hơn, mức độ ảnh hưởng ngày càng lớn tới các lĩnh vực và khu vực
Trang 38Bảng 2 8 Thống kê số lượng ATNĐ và bão thời kỳ 1986 –2015
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến huyện Cát Hải
8-9
Bão cấp 10-11
(Nguồn: Trung tâm KTTV Quốc gia, 2016)
Trong hơn 10 năm trở lại đây, tần suất bão, ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến huyện Cát Hải ngày càng nhiều và gây thiệt hại đáng kể cho địa phương Sau đây là một số cơn bão đã gây thiệt hại lớn như vỡ đê và ngập lụt khu vực huyện Cát Hải Các trận bão, ATNĐ với mưa lớn kết hợp với triều cường đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân, đặc biệt là các xã Gia Luận, Trân Châu, Phù Long, đảo Cát Hải và thị trấn Cát Bà
2.2.3.2 Mưa lớn kéo dài, ngập lụt
Ngập úng ở đảo Cát Hải và đảo Cát Bà chủ yếu do mưa lớn kéo dài nhiều ngày hoặc mưa bão kết hợp với triều cường, NBD và sóng biển cao gây ra Các đợt ngập nghiêm trọng đều trùng với các trận bão lớn, điển hình như bão số 2 số 7 năm
2005, đợt năm 2012, 2015, 2017 Trước đây, mức độ ngập không lớn và ít kéo dài, khi mực nước triều xuống được rút qua hệ thống cống, qua đê Tuy nhiên những năm gần đây tình trạng ngập cục bộ ở các điểm thấp trũng diễn ra thường xuyên hơn vào mùa mưa, ảnh hưởng nhiều đến cây trồng, giao thông đi lại và việc cung cấp nước sạch Lý do một phần do việc xây dựng rầm rộ các dự án hạ tầng lớn trên đảo mà chưa đảm bảo được hệ thống thoát nước ở các khu vực trọng yếu Trong vòng 15 năm qua đã xảy ra các đợt ngập lụt lớn như:
- Năm 2005, bão số 2 đã gây mưa lớn và NBD cao làm ngập úng nghiêm trọng hầu như toàn bộ đảo Cát Hải và một số vùng thuộc Cát Bà Phần lớn các điểm ngập sâu tới 50 - 60cm, nhiều nơi tới 100cm, hàng trăm ha nuôi trồng thuỷ sản bị tràn, vỡ, v.v
- Năm 2012, mưa lớn kéo dài đã làm tràn vỡ nhiều đầm, hồ nuôi thủy sản trên
Trang 39huyện đảo, gây thiệt hại khá lớn, làm hư hại nhiều vị trí đê kè, cống trên các tuyến
đê biển Cát Hải
- Năm 2015, mưa lớn kéo dài từ ngày 27/7-29/7/2015 đã gây ngập lụt nghiêm trọng tại hai xã Gia Luận, Việt Hải và gây thiệt hại lớn đến ngành du lịch, dịch vụ, đời sống, sản xuất hoa màu của nhân dân Ngập lụt gây ách tắc giao thông, sạt lở 4,3 km đường đến xã Việt Hải, huyện Cát Hải Sạt lở đất đá, gây bồi lấp, vỡ đập dâng hồ thoát nước xã Việt Hải; bồi lấp hang thoát nước tự nhiên Áng Bèo, xã Việt Hải
- Năm 2017: Bão số 10 vào tháng 9/2017 với mưa lớn kéo dài đã làm ngập lụt nhiều điểm trên đảo Cát Hải, đặc biệt là khu vực thị trấn Cát Hải
2.2.3.3 Nắng nóng kéo dài, hạn hán
Nắng nóng kéo dài, hạn hán thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9 Nắng nóng xảy ra nhiều, nắng gắt hơn, nhiệt độ tăng cao hơn so với những năm trước đây Hạn hán trong mùa khô xảy ra thường xuyên hơn; nắng nóng, hạn hán kéo dài làm cho thủy sản chết hàng loạt, giảm năng suất, gia súc gia cầm và cây trồng chậm phát triển, năng suất lúa bị giảm 50%, người già và trẻ em bị bệnh tim mạch, huyết áp, bệnh về đường tiêu hóa, v.v
Bảng 2 9 Đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015 theo số liệu quan trắc tại trạm
Trang 40
Hình 2 8 Biểu đồ thống kê các đặc trưng nắng nóng từ 1996-2015
xảy ra ở Cát Hải
(Nguồn: Trung tâm KTTV quốc gia và Dự án READY, 2016)
Do đặc thù là một huyện đảo, xã đất liền, không có sông nên nguồn cung cấp nước mặt và nước ngầm ở huyện Cát Hải đều rất hạn chế Có một số suối nhỏ chủ yếu tập trung ở đảo Cát Bà Những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn mưa
và ngừng ngay sau khi mưa Vào mùa mưa, nước đọng lại ở một số vùng nhỏ, thấm dột trong những hang động Vì vậy, tình trạng thiếu nước, khô hạn thường xuyên xảy ra ở một số vùng trên huyện đảo Hệ thống nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất của một số nơi ở huyện còn thiếu, đặc biệt vào mùa hè khi lượng khách du lịch đến đảo tăng cao Nhiều khu dân cư phải sử dụng nguồn nước chưa qua xử lý, không đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường; có nơi phải mua nước ở nơi khác chuyển đến bán
Trong 30 năm lại đây (1986-2015), vào các năm 1987, 1988, 1993, 1998,
2010, nắng nóng kéo dài kết hợp với thiếu hụt lượng mưa đã gây nên tình trạng hạn vừa và nặng vào mùa khô Hạn hán thường xảy ra 2 hoặc 3 năm liền, chu kỳ xuất hiện hạn hán từ 9 đến 10 năm Hạn bắt đầu xảy ra ở huyện đảo Cát Hải từ tháng 1 đến tháng 4, nhưng hạn nặng thường vào thời kỳ tháng 2–4 Tình hình cấp nước cho sản xuất, trồng trọt và sinh hoạt gặp khó khăn Trong thời kỳ này, hạn hán kết hợp với mặn gây thiệt hại nặng nề đến lĩnh vực nông nghiệp và đời sống sinh hoạt
Trong những năm vừa qua, hạn hán về mùa khô đã xảy ra nghiêm trọng theo chiều hướng rất bất lợi Gần đây, vào tháng 5-6/2010, hạn hán xảy ra cục bộ ở một
số địa phương gây thiếu nước trầm trọng ảnh hưởng đến tưới tiêu, gây thiệt hại cho