Tác động của BĐKH đối với sản xuất, sức khỏe và nước sinh hoạt đã được nhận biết, trầm trọng nhất là đối với trẻ em và người già của các hộ nghèo.. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô
Trang 1SINH KẾ VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Lê Xuân Sinh 1 , Huỳnh Văn Hiền 1 , Đỗ Minh Chung 1 &
Nguyễn Thị Kim Quyên 1
ABSTRACT
Aquaculture, wildfish capture and horticulture are the most important livelihoods of coastal community in the Mekong Delta In general, the successfulness of occupations tends to be worse and poverty rate is still high
On average, the household size was 4.8 persons with the living expenditures of VND 2.9 million/household/month, covering 32.7% of total monthly net income The households have to find water for living about 6 months per years with an average cost of VND 220,600/household/month, and the cost of fuels for living of VND 192,200/household/month Coastal community recognizes the evidents and reasons of climate change It was said that climate now is worse than before and it would become worse in the next 10-20 years The impacts of climate change on the livelihoods, health and water for living are recognized, especially to children and elderly persons of the poor households Community can adjust at different levels to climate change at different level but mainly depend on the supply of inputs and the marketing of outputs Livelihoods and supply of water for living should be appropriate to vulnerable groups Reduction of production costs, improved perception on food safety, and better marketing of products are more important In addition, further study on all of three ecological regions: coastal area, area where is seasonally intrusted by saline water and the area yearly affected by floods are recommended
Keywords: Adaptation, clean water, climate change, impacts, livelihoods Title: Livelihhods and adaptation to climate change of coastal communities
in the Mekong River Delta
TÓM TẮT
Nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và trồng trọt là những hoạt động sinh
kế quan trọng nhất đối với cộng đồng tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long Nhìn chung, mức độ thành công của các ngành nghề có xu hướng giảm dần và
tỷ lệ số hộ nghèo còn cao Bình quân mỗi hộ có 4,8 người với mức chi phí sinh hoạt 2,9 triệu đồng/hộ/tháng, chiếm 32,7% tổng lợi nhuận bình quân hằng
Trang 2
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454 Trường Đại học Cần Thơ tháng Nhiều hộ phải tìm nước sinh hoạt khoảng 6 tháng/năm với chi phí 220,6 ngàn đồng/hộ/tháng và chi phí cho chất đốt là 192,2 ngàn đồng/hộ/tháng Thông tin về biến đổi khí hậu (BĐKH) được cộng đồng ven biển tiếp nhận khá phổ biến Khí hậu hiện nay được cho là xấu hơn và bất thường hơn trước, đồng thời sẽ tệ hơn trong 10-20 năm tới Tác động của BĐKH đối với sản xuất, sức khỏe và nước sinh hoạt đã được nhận biết, trầm trọng nhất là đối với trẻ em và người già của các hộ nghèo Việc cải thiện hiệu quả sản xuất nông lâm ngư và diêm nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra Các mô hình sinh kế và việc cung cấp nước sạch cần phù hợp hơn với những nhóm dễ bị tổn thương Cần chú ý hơn tới giảm chi phí sản xuất, nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm và tổ chức tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả Cũng nên mở rộng nghiên cứu ở cả ba vùng sinh thái: vùng ven biển, vùng bị xâm nhập mặn theo mùa và vùng chịu tác động bởi nước lũ hằng năm
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, các hoạt động sinh kế, thích ứng, nước sạch, tác động
1 MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) theo quan điểm của WWF là bất cứ những thay đổi quan trọng nào của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, hoặc gió) quan trắc được trong vòng ít nhất 10 năm BĐKH có thể dẫn tới khan hiếm các nguồn tài nguyên và làm tăng mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng các nguồn tài nguyên thiết yếu như nước, đất nông nghiệp… từ đó ảnh hưởng tới an ninh lương thực và gia tăng sự phân hoá giàu nghèo Dự báo đến năm 2050, thế giới
có khoảng 150 triệu người phải di dời khỏi khu vực duyên hải do nước biển dâng, lũ lụt và nước ngọt bị nhiễm mặn (Duy Hữu, 2009) Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và BĐKH gồm: Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar (Duy Hữu, 2009) Gần đây thì các yếu tố khí tượng thuỷ văn luôn thay đổi theo chiều hướng xấu, thiên tai như bão, lũ lụt, xâm nhập mặn và rét hại kéo dài xảy ra thường xuyên hơn gây thiệt hại lớn cho nền nông nghiệp (Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
thuộc các huyện ven biển Dân số năm 2008 là 17,71 triệu người với 78,4% sống ở vùng nông thôn, nhưng đóng góp của khu vực 1 trong GDP của toàn vùng giảm chỉ còn 38,7% (theo giá cố định 1994) (Tổng cục Thống kê, 2008; Cục Thống kê Cần Thơ, 2010) Khi mức nước biển dâng lên lên 75 cm vào giữa tới cuối thế kỷ 21 thì có khoảng 0,5 triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp và
nghiệp bị ngập) Những đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến nay đã làm cho vùng ngoài đê của 8 tỉnh/thành vùng nội đồng bị ngập (Duy Hữu, 2009; Bộ Tài Nguyên & Môi Trường, 2009) Các công trình thủy lợi được xây dựng chỉ
Trang 3nhằm phát triển cây lúa nên đã làm giảm diện tích ngập nước của ĐBSCL khoảng 60% so với 40 năm trước Mâu thuẫn giữa nuôi tôm và trồng lúa thường xuyên xảy ra ở những vùng chuyển đổi đất lúa qua nuôi tôm ven (Trần Nhật, 2010) Các hội thảo khoa học gần đây cũng đều nhấn mạnh lo ngại về việc xây dựng hàng loạt công trình thủy điện trên sông Mêkông đối với ĐBSCL
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả được bức tranh tổng thể về nhận thức của cộng đồng ven biển ĐBSCL về BĐKH, về tác động của BĐKH đối với sinh kế, nước sạch và sinh hoạt của cộng đồng cũng như khả năng thích ứng của họ Từ đó đề xuất giải pháp hỗ trợ cộng đồng ven biển tăng khả năng thích ứng về sinh kế nông nghiệp của họ đối với BĐKH Các nhóm dễ bị tổn thương cũng được đề cập trong nghiên cứu này
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ 12/2009 và kết thúc vào 05/2010 Số liệu thứ cấp được căn cứ vào các tài liệu có liên quan đã được công bố Tổng cộng có
68 cán bộ cấp tỉnh, huyện và xã từ các ban ngành nông lâm ngư nghiệp và tài nguyên-môi trường ở 8 tỉnh ven biển ĐBSCL được phỏng vấn Ở 3 tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang tiếp tục chọn từ 2 đến 3 huyện ven biển đại diện cho từng tỉnh, để từ đó chọn phỏng vấn ngẫu nhiên 2-3 xã đại diện Tổng cộng
có 220 hộ dân được phỏng vấn sử dụng biểu mẫu soạn sẵn sau khi đã phỏng vấn thử và được hiệu chỉnh (trong đó có 3 mẫu bị loại) Thông tin thu thập tập trung về sinh kế, nước sạch và nhận thức đối với BĐKH Phương pháp thống
kê mô tả và thống kê câu hỏi nhiều chọn lựa được kết hợp sử dụng trong phân
tích số liệu
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về hộ tham gia các hoạt động canh tác trong địa bàn khảo sát
Trung bình mỗi hộ có 5 nhân khẩu (4,8±1,7 người/hộ), trong đó 2-3 người là
nữ (2,3±1,1 người/hộ) Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ rất cao so với số nhân khẩu (76,0% trong số thành viên nam và 78,3 % số thành viên nữ)
Tỷ lệ số hộ có người khuyết tật là 1,4% (thấp hơn so với tỷ lệ 6% của toàn quốc), đây là một trong những đối tượng cần được chú ý khi nghiên cứu tác động của BĐKH Các chủ hộ có độ tuổi trung bình 45,0 tuổi (±11,8) và tỷ lệ
nữ chủ hộ chiếm 28,2% Các hộ định cư ở nơi hiện nay khoảng 34,6 năm (±18,3), học vấn của các chủ hộ khá thấp (9,4% mù chữ và hơn 81% cấp 1-cấp 2) Nhóm cán bộ địa phương có tuổi trung bình 39,9 năm (±8,5) với kinh nghiệm công tác khoảng 12 năm và học vấn chủ yếu là cấp 3 (88,1%), số có trình độ chuyên môn từ trung cấp tới đại học là 11,9% Độ tuổi, số năm kinh
Trang 4Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454 Trường Đại học Cần Thơ
nghiệm và thời gian định cư dài có thể giúp phản ánh chính xác hơn về nhận thức của cả hai nhóm đối với BĐKH
3.2 Các hoạt động sinh kế của nông hộ trong địa bàn khảo sát
Nuôi trồng thủy sản (NTTS) và trồng trọt (lúa và hoa màu) là hai hoạt động quan trọng nhất đối với sinh kế của người dân ở địa bàn khảo sát (tương ứng 36,0% và 32,9 % số hộ khảo sát) Khai thác thủy sản tự nhiên (KTTS) đứng hàng thứ 3 (12,3%) trong khi 5,0% số hộ dân tham gia làm muối, chủ yếu ở các
xã ven biển, còn lại là các nghề khác Mức độ thành công (lợi nhuận dương hay
có lời) trong sản xuất có xu hướng giảm dần so với 10-20 năm trước KTTS có
tỷ lệ thành công của 3-5 năm vừa qua là 65,0%, giảm 22,6% Kế đến là trồng trọt với 77,8%, giảm 15,6% Riêng làm muối và nuôi nghêu sò ít thay đổi hơn, với làm muối thì tỷ lệ thành công 3-5 năm vừa qua vẫn ở mức trên 87% (Hình
1)
%
0,0
20,0
40,0
60,0
80,0
100,0
Lúa/màu Cây ăn
trái/lâu năm
KTTS Nuôi tôm,
cua, cá
Nuôi nghêu, sò
Làm muối Mức thành công 3-5 năm qua Mức thành công 10-20 năm trước
Hình 1: Mức độ thành công của các ngành nghề qua các năm
Mỗi hộ hằng năm phải bỏ ra tổng chi phí trung bình là 97,6 triệu đồng cho các hoạt động kinh tế của họ NTTS nói chung tiêu tốn hơn hơn 1/2 tổng chi phí (56,0%), trong khi làm muối có tỷ lệ chi phí thấp nhất (7,8%), một phần do có
ít hộ tham gia làm muối Mức thu nhập trung bình hàng năm là 190,0 triệu đồng/hộ, đạt lợi nhuận 93,4 triệu đồng/hộ/năm, nhưng rất khác biệt (±198,1) Tương tự với chi phí thì tỷ lệ lợi nhuận từ NTTS nói chung cũng là cao nhất (39,7%), nhưng đứng thứ 2 là làm muối (20,5%), trong khi làm lúa/màu có mức đóng góp cho thu nhập và lợi nhuận đều chỉ khoảng (10,0%) (Bảng 1) Theo Mai Thanh Cúc (2006): sinh kế của người nghèo ven biển rất đa dạng như: trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệp… Nhưng NTTS mới mang lại lợi nhuận quan trọng nhất và cũng được đánh giá là hoạt động có tiềm năng lớn và bền
Trang 5vững Nghiên cứu này cho thấy lợi nhuận đi kèm với chi phí sinh hoạt, những
hộ tham gia nuôi nghêu, sò có mức lợi nhuận bình quân cao nhất (2,3 triệu
đồng/người/tháng) và cũng có mức chi phí sinh hoạt bình quân cao nhất (0,9
triệu đồng/người/tháng) Kế đến là những hộ trồng trọt (lúa hoặc hoa màu) có
mức lợi nhuận 1,5 triệu đồng/người/tháng và chi phí sinh hoạt 0,6 triệu
đồng/người/tháng Đứng thứ 3 là các hộ nuôi tôm, cua, cá với lợi nhuận và chi
phí sinh hoạt tương ứng khoảng 1,4 triệu đồng 0,7 triệu đồng/người/tháng
(Hình 2)
Bảng 1: Chi phí, thu nhập và lợi nhuận hàng năm từ các hoạt động canh tác của hộ
Diễn giải Chi phí (N=150) Thu nhập
(N=150)
Lợi nhuận (N=150)
+ Trung bình (Tr.đ/hộ/năm) 97,6 ± 114,1 190,0 ± 196,3 93,4 ± 198,1
Nước sinh hoạt là một trong những vấn đề rất quan trọng đối với khu vực ven
biển, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết khô hạn và xâm nhập mặn ngày càng
gia tăng Nước mưa từ lâu đã là thiết yếu đối với sinh hoạt ở khu vực ven biển
của ĐBSCL Thống kê nhiều chọn lựa cho thấy: hiện có 30,7% số hộ chỉ sử
dụng nước mưa để uống và có hơn 50% số hộ sử dụng nước mưa để nấu ăn Kế
đến là nguồn nước từ cây/giếng nước được 39,0% số hộ dân sử dụng, hầu hết
cho tắm giặt hàng ngày (68,0%) Rất ít hộ sử dụng nước máy (3,6%) vì vùng
ven biển có mật độ dân cư thưa và đầu tư hệ thống ống dẫn nước rất tốn kém
Chất lượng nước sinh hoạt hiện được 42,6% số hộ đánh giá là tốt và 41,6% cho
là trung bình Tuy nhiên, còn nhiều hộ dân đánh giá chất lượng nước hiện nay
xấu mà họ vẫn phải sử dụng để nấu ăn (18,9%) và tắm giặt hàng ngày (18,8%)
Hàng năm mỗi hộ phải đổi nước khoảng 6,8 tháng (±2,9) với trung bình 200
ngàn đồng/hộ/tháng (100-500 ngàn đồng) Cũng có nhiều thông tin cho rằng:
các khu vực bị xâm nhập mặn sẽ làm giảm chất lượng nước, tăng nguy cơ về
bệnh tật và các thảm họa về sinh thái dễ xảy ra
Trang 6Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454 Trường Đại học Cần Thơ
Tr.đ
0,0
0,5
1,0
1,5
2,0
2,5
Lúa/màu Cây ăn
trái/lâu năm
KTTS Nuôi tôm,
cua, cá
Nuôi nghêu, sò
Làm muối Lợi nhuận/người/tháng (Tr.đ) CP sinh hoạt/người/tháng (Tr.đ)
Hình 2: Lợi nhuận và chi phí sinh hoạt bình quân hằng tháng trên đầu người
Dùng điện để phục vụ sinh hoạt đã phổ biến ở vùng ven biển (92,1%), do điện lưới quốc gia đã được nhà nước đầu tư, nhưng một số ít hộ ở riêng biệt khá xa cụm dân cư nên chưa sử dụng (7,9%) Gas cũng là chất đốt đã trở thành phổ biến vì tính tiện lợi và dễ sử dụng (67,6%) Củi vẫn được dùng để nấu ăn theo cách truyền thống do chi phí thấp và sẵn có (63,9%) Than và dầu làm chất đốt rất ít được nhắc tới (0,5-6,9%), chủ yếu để thắp sáng hoặc nấu ăn đối với những hộ chưa có điện sử dụng và ở nơi sẵn có nguồn than đước Chi phí mua chất đốt bình quân là 200 ngàn đồng/hộ/tháng (100-400 ngàn đồng)
3.3 Nguồn thông tin và nhận biết về biến đổi khí hậu
Hầu hết số người dân (81,6%) và cán bộ (94,0%) đều đã nhận thấy những dấu hiệu của BĐKH Vẫn còn 12,9% số hộ dân và 1,5% số cán bộ chưa nhận thấy điều này trong khi số còn lại nói rằng họ không rõ (Bảng 2) Gần đây, thông tin
về BĐKH được cung cấp khá phổ biến qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua tivi/radio (95,19% đối với hộ và 97,06% đối với cán bộ) Thông tin từ Internet là rất phong phú, nhưng chỉ thích hợp cho nhóm cán bộ
sử dụng và tiếp cận (64,7%), nhưng người dân thì hầu như khó có thể tiếp cận nguồn thông tin này (chỉ có 0,5%) Thông tin từ các buổi họp và tập huấn cũng khá phổ biến đối với nhóm cán bộ quản lý ngành Như vậy, nhóm cán bộ quản
lý ngành có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận thông tin về BĐKH và các lãnh vực khác
3.4 Xu hướng và nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Xu hướng về BĐKH được tính theo điểm trung bình của các yếu tố quan trọng
về BĐKH như: biến động về thời tiết nói chung, nhiệt độ, số ngày mưa, số
ngày nắng, bão và xâm nhập mặn (1= Xấu hơn; 2= Bình thường; 3= Tốt hơn)
Kết quả cho thấy: người dân nhận định BĐKH có xu hướng xấu đi (trung bình
Trang 7là 1,4) so với 10-20 năm trước, xu hướng này được xác định rõ hơn bởi nhóm
cán bộ (trung bình là 1,1) Có 71,0% số hộ dân và 92,5% số cán bộ xác nhận
rằng BĐKH ngày càng xấu hơn và bất thường hơn
Cả hai nhóm đều nhận định BĐKH trong 10-20 năm sau sẽ tiếp tục xấu đi và
bất thường hơn (tương ứng 1,2 và 85,6% với nhóm hộ dân; 1,2 và 94,0% với
nhóm cán bộ) Nhiệt độ trung bình của Việt Nam từ 1951-2000 đã tăng lên
2009) Cuối thế kỷ này: (1) Nhiệt độ có thể sẽ tăng lên 2-30C; (2) Lượng mưa
có thể tăng lên khoảng 10% vào mùa mưa nhưng giảm khoảng 5% vào mùa
nắng, đồng thời sự biến động trong từng mùa cũng tăng lên; (3) Mực nước biển
có thể sẽ dâng lên thêm khoảng 0,5-1,0 m (Bộ Tài nguyên & Môi trường,
2009)
Thống kê nhiều chọn lựa thể hiện BĐKH được 59,1% dân và 86,8% cán bộ
cho là hệ quả các hoạt động của con người Có 15,8% dân không biết nguyên
nhân, nhưng cũng có tỷ lệ khá cao (tương ứng 36,7% và 72,1%) xác định các
nguyên nhân mang tính tự nhiên
Bảng 2: Nhận biết về dấu hiệu và xu hướng của biến đổi khí hậu
Diễn giải Người dân (N=217) Cán bộ (N=68)
1 Nhận biết dấu hiệu của BĐKH
3.5 Những lo ngại về tác động của biến đổi khí hậu tại các địa phương
Khi BĐKH xảy ra thì hầu hết các đáp viên lo ngại trước hết về sản xuất (86,1%
với nhóm hộ dân và 93,8% với nhóm cán bộ) Lo ngại sức khỏe bị ảnh hưởng
xấu đứng hàng thứ 2 (tương ứng 78,2% và 73,4%) Nước sạch phục vụ sinh
hoạt và nấu ăn cũng được 56,5% số người dân và 64,1% số cán bộ quan tâm
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) thì lượng nước sạch theo đầu người
Trang 8Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454 Trường Đại học Cần Thơ
bình của thế giới (7.400 m3/người/năm) Priyantha Ranjan et al (2006) nhận
định rằng: mực nước ngầm sẽ bị giảm xuống trên toàn cầu và sẽ có tác động tới
kinh tế xã hội của tất cả các nước Thông tin đại chúng gần đây cho thấy sự sụt
giảm đáng báo động và nguy cơ ô nhiễm của nguồn nước ngầm ven biển
ĐBSCL, nhất là do khai thác bừa bãi cho nuôi tôm Tác động xấu đối với hệ
thống thuỷ lợi nói chung và hệ thống đê biển nói riêng cũng được nhóm cán bộ
rất quan tâm (62,5%) trong người dân ít quan tâm tới những vấn đề này (chỉ
6,0%) Một số lo ngại khác là: tác động xấu tới giao thông và sinh hoạt Đồng
thời cũng cần lưu ý rằng vẫn có 5,1% và 3,1% của hai nhóm cho rằng BĐKH
diễn ra trong thời gian dài và nhiều vấn đề có thể sẽ được giải quyết như là một
tiến trình tự nhiên nên họ thấy không cần phải lo ngại gì (tâm lý chủ quan?)
3.6 Tác động của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương
Các nhóm dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH được giả định bao gồm:
người nghèo, phụ nữ (nhất là phụ nữ mang thai) trẻ em, người già và người
khuyết tật Đánh giá mức độ tác động bằng điểm trung bình theo 5 mức (0=
Không bị tác động; 1=Bị tác động rất ít;…; 5= Bị tác động rất nhiều) Kết quả
thể hiện rằng: người nghèo bị tác động nhiều nhất (trung bình là 4,0 đối với cả
hai nhóm người dân và cán bộ), kế đến là người già (tương ứng 3,2 và 3,7),
đứng thứ 3 là trẻ em (tương ứng với 3,4 và 3,4 cho hai nhóm khảo sát) Phụ nữ
và người khuyết tật không thực sự được xem là dễ bị tổn thương/tác động xấu
Bảng 3: Đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các nhóm dễ bị tổn thương
Nhóm bị tác động Người dân Cán bộ
N Đánh giá N Đánh giá
Trong nghiên cứu này, 6 lĩnh vực chịu tác động của BĐKH ở vùng ven biển
được đánh giá mức xấu, tốt theo điểm trung bình trên cơ sở thang điểm 10
(1=Rất xấu; 10=Rất tốt) gồm: thu nhập, việc làm, lương thực/thực phẩm, nước
sạch, sức khỏe và sinh hoạt Kết quả cho thấy: sức khoẻ là lĩnh vực chịu tác
động xấu nhất do BĐKH gây ra (trung bình là 6,2 với người dân và 6,4 với cán
bộ), kế đó là các hoạt động sinh hoạt (Bảng 4)
Trang 9Bảng 4: Nhận xét về cách thức tác động của BĐKH tới các lĩnh vực
Lĩnh vực bị tác động Người dân Cán bộ
N Đánh giá N Đánh giá
Theo báo Tia Sáng (số 06/2008) thì người già và trẻ em là những người phải
gánh chịu hậu quả nặng nề nhất do BĐKH gây ra và BĐKH cũng được đánh
giá là kẻ hủy diệt đứng hàng thứ năm đối với sức khoẻ của con người sau:
chiến tranh, đói nghèo, dịch bệnh và cái chết tự nhiên Ngoài ra, nước sạch, thu
nhập và việc làm cũng được cả người dân và cán bộ trong nghiên cứu này nhận
xét là chịu tác động xấu do BĐKH gây ra
3.7 Tác động của các yếu tố trong biến đổi khí hậu đến các ngành nghề
Mức độ tác động của BĐKH đến các ngành nghề chính được ước tính theo
tổng điểm trung bình của 6 cấp độ (0= Không bị tác động; 1= Bị tác động rất
ít;…; 5= Bị tác động rất nhiều) Các hoạt động sinh kế ở khu vực ven biển ở
ĐBSCL nói chung đều chịu ảnh hưởng xấu bởi BĐKH (Bảng 5) Nhưng NTTS
(nuôi tôm, cua, cá) bị ảnh hưởng xấu nhất (trung bình 4,0 với người dân và 3,9
với cán bộ) Kế tiếp là nghề muối với điểm trung bình 3,5 và 3,2 cho hai nhóm
được phỏng vấn và sau đó là sản xuất lúa/hoa màu (tương ứng với 3,2 và 3,8)
Martin Parry et al (1999) đã nhận xét rằng: BĐKH đã gây ra sự giảm năng
suất trong sản xuất nông nghiệp và gia tăng nguy cơ đói nghèo Tuy nhiên,
BĐKH chỉ làm giảm năng suất đối với cây trồng ở vùng nhiệt đới, nhưng sẽ
làm tăng năng suất của cây trồng vùng ôn đới, và người nghèo phải chịu ảnh
hưởng lớn nhất (Đinh Vũ Thanh và ctv, 2007)
Bảng 5: Đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành nghề
Các ngành nghề Người dân Cán bộ
N Đánh giá N Đánh giá
Trang 10Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 440-454 Trường Đại học Cần Thơ
Lê Lệ Hiền & Lê Xuân Sinh (2010) cũng như Lâm Trường Ân và ctv (2010)
cho thấy có sự khác biệt đáng kể về công trình, kỹ thuật và hiệu quả NTTS giữa vùng nội đồng nước ngọt và vùng chịu ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn Lê Xuân Sinh (2010b) đánh giá tác động của BĐKH đối với nghề nuôi cá tra và tôm
sú ở ĐBSCL trong khoảng 10 năm qua Người dân đã và sẽ tiếp tục thay đổi nhiều trong NTTS do tác động của 4 nhóm yếu tố chính (kỹ thuật, môi trường ao nuôi, thời tiết và thị trường) Năng suất và chi phí sản xuất cũng khác nhau theo địa bàn (5-15% thay đổi trong kết quả nuôi cá tra là do BĐKH, nội đồng chịu ít tác động hơn ven biển) và khác nhau theo mức độ thâm canh (10-20% thay đổi trong kết quả nuôi tôm là do BĐKH, nuôi quảng canh cải tiến chịu tác động nhiều hơn nuôi thâm canh)
Phan Minh Tiến & Trương Hoàng Minh (2010) cho thấy hiện tượng xâm nhập mặn cùng với việc chuyển đất lúa qua nuôi tôm trong khoảng 10 năm trở lại đây đã làm cho đất bị nhiễm mặn ở tỉnh Bạc Liêu, kết quả là 100% số hộ ở khu vực gần biển và 40% số hộ ở khu vực xa biển không thể trồng lúa Năm yếu tố của thay đổi về thời tiết biểu hiện rõ rệt nhất là: (1) Mực nước sông dâng cao; (2) Thời tiết thay đổi bất thường; (3) Nhiệt độ tăng cao; (4) Biến động lớn về nhiệt độ; và (5) xâm nhập mặn thường xuyên, mặn sâu hơn Tỷ lệ số hộ canh tác tôm-lúa ở gần biển bị thua lỗ cao hơn gấp 3 lần so với khu vực xa biển
3.8 Giải pháp nhằm ứng phó/thích ứng với BĐKH của cộng đồng ven biển ĐBSCL
Trần Thục & Lê Nguyên Tường (2008) định nghĩa sự thích ứng/ứng phó với BĐKH như sau:“Sự thích ứng có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH” Ứng phó với BĐKH là việc làm toàn cầu và một số giải pháp trong kinh tế nông lâm nghiệp ở Việt Nam được Lưu Văn Nghiêm (2008) đề xuất gồm: (1) Nâng cấp phát triển hệ thống sông, đê biển; (2) Qui hoạch hệ thống hồ chứa và hệ thống thuỷ lợi; (3) Phát triển lâm nghiệp bền vững; (4) Kết hợp hài hoà giữa sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp; (5) Thích nghi hoạt động sản xuất với BĐKH; (6) Phát triển công nghiệp hỗ trợ; (7) Tăng cường hợp tác quốc tế và (8) Vai trò của quản lý nhà nước Theo Trần Việt (2008): để ứng phó với BĐKH ở Việt Nam cần giải quyết ba cấp độ: cộng đồng, chính sách và năng lực về thể chế, trong đó năng lực về thể chế là quan trọng nhất Giải pháp về qui hoạch vùng sản xuất và sử dụng nước để phục vụ sản xuất cũng được đề xuất bởi Đinh Vũ Thanh & ctv (2007) Chính phủ đã dự kiến hỗ trợ khoảng 1.900 tỷ đồng cho nghiên cứu về tác động của BĐKH từ 2009 tới 2012, sau đó các giải pháp ứng phó sẽ được nghiên cứu từ 2012 tới 2014 (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2009)
Các giải pháp ứng phó hàng đầu trong sản xuất mà cả hai nhóm nhận thấy cần được thực hiện khi chi phí sản xuất ngày càng gia tăng, gồm: (i) Qui hoạch